3.2. Ngôn ngữ “bình dân”
3.2.2. Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại kịch tính theo lối “bình dân”
Trong một bộ phim của Trung Quốc, có lời dạy trên thảo nguyên rằng: "Một nắm cỏ nếu nằm im chỉ là thức ăn cho cừu, nhưng nếu nó làm chất dẫn cháy có thể đốt cháy cả thảo nguyên". Người anh hùng, đứa con xuất sắc của thảo nguyên kia, luôn ghi dấu lời dạy đó, một ngày bị lãnh chúa đuổi đánh cùng đồng bào của mình, anh liền búi một lọn cỏ vào đầu mũi tên, châm lửa và bắn về phía đối phương, lửa bùng lên dìm tất cả cỏ và người, cùng thảo nguyên vào trong lửa. Văn học cũng vậy, nếu không có kịch tính hay đối thoại, nó chỉ là năm câu vần vè nhẵn nhụi như những hòn sỏi bên bờ suối, hay chỉ là lọn cỏ tươi ngon trôi xuống bụng những con cừu.
Muốn tạo ra kịch tính hay đối thoại nhà văn cần phải dùng đến ngôn ngữ. Vì thế, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng rất mực trong nỗ lực hướng tới thính giác của người cảm thụ tác phẩm, đặc biệt là ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm. Sử dụng các hình thức khác nhau của đối thoại và độc thoại, văn học hiện diện như nghệ thuật tái tạo những tiếng nói của con người, lưu giữ trong nó sự phong phú của ngôn từ nói miệng của các thời đại, các dân tộc, các nền văn hóa khác nhau. Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại là phương tiện nghệ thuật chủ yếu để tái tạo hành vi của con người và các giao tiếp về tinh thần giữa họ, ngôn từ nghệ thuật trở thành đối tượng miêu tả quan trọng nhất trong mọi thể loại và thể tài văn học. Về cơ bản, trong tác phẩm tự sự, cụ thể là ở đây là truyện ngắn, các phát ngôn của nhân vật thường là phát ngôn đối thoại hoặc độc thoại, độc thoại nội tâm.
Là một nhà văn, Nguyên Hồng hiểu được rằng giữa hình tượng nhân vật và cấu trúc ngôn ngữ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ. Nhân vật thế nào thì ngôn ngữ thế ấy. Nhà văn dùng ngôn ngữ để xây dựng, thể hiện tính cách nhân vật. Tính cách nhân vật bộc lộ qua hệ thống ngôn ngữ. Chính vì vậy, không thể nào nhân vật là những kẻ bần cùng ít học có thể nói ra những lời kiểu cách, sang trọng, mỹ miều. Với những con người như thế chỉ có ngôn ngữ bình dân là phù hợp nhất và khi nhà văn để cho nhân vật nói chuyện với nhau, cãi nhau hoặc đấu tranh tư tưởng với nội tâm của mình là lúc ngôn ngữ thực hiện tốt nhất vai trò của mình trong việc bộc lộ tính cách và cái nhìn của nhân vật về cuộc sống, con người.
Qua khảo sát khoảng 30 truyện ngắn của Nguyên Hồng, có thể rút ra một nhận định:
ngôn ngữ đối thoại và độc thoại kịch tính theo lối bình dân.
3.2.2.1. Ở mỗi nhà văn có một sở trường ngôn ngữ khác nhau. Với Nguyễn Công Hoan thì ngôn ngữ trong truyện ngắn của ông trong sáng, giản dị, mang tính cách bình dân.
Ông đưa hẳn tiếng nói hằng ngày của những bố cu, mẹ đĩ, phu xe, của lính tráng, những thằng nhỏ, chị vú con sen,… vào trong văn học. Chẳng hạn đây là ngôn ngữ của một bà nhà quê khi đối đáp với quan trên: “Thưa thầy, từ đây lên huyện những chín cây-lô-mếch, sợ nhà con đi nắng thì cảm, rồi phải lại thì oan gia…” (Tinh thần thể dục); ngôn ngữ đứa ở khi bị chủ tra hỏi việc mất ví tiền: “Lậy ông bà, chúng con có biết cái ví tiền của ông mặt ngang mũi dọc thế nào, thì chúng con cứ chết một đời cha ba đời con!” (Mất cái ví), lời kêu rên của kẻ ăn mày: “Giàu hai con mắt, đói khó hay bàn tay, con kêu van cửa ông cửa bà thí bỏ cho con bát cháo lưng hồ…” (Cái vốn sinh nhai). Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một thứ ngôn ngữ rất gần gũi với đời sống nhân dân: linh lợi, tươi tắn, hoạt bát và rất đời. Nếu như Nguyễn Công Hoan có phần mô phỏng lại lời ăn tiếng nói của những kiểu người khác nhau trong xã hội thì Nguyên Hồng lại đem đến một sắc thái mới trong ngôn từ đối thoại giữa các nhân vật với nhau.
Trước tiên có thể nhận ra rằng trong những mẩu đối thoại cũng như độc thoại của mình, nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng thường dùng nhiều cách nói dân gian quen thuộc : miếng trầu nên vợ nên chồng, ưng thuận mười mươi (Linh hồn), nước mũi xanh luôn luôn thò lò, quần xắn móng lợn, nghèo túng lần hồi, tiện ai nấy xoay xở (Đây bóng tối), Cái con chết phải gió, rẻ thối, đuổi như đuổi ăn mày, người đông như kiến, đứng đường đứng chợ, đền nọ phủ kia (Hàng cơm đêm),, ép mình ép xác (Nhà sư nữ chùa Âm Hồn) thở bằng tai (Hai nhà nghề), hai bữa ăn chắc bụng, (Nhà bác Nấu), mặc giời kiêng cho, rách mướp mườm mượp, bát cơm đổi bằng bát mồ hôi (Mợ Du), ăn thật lực, cái lá cái lẩu, cái giống nhà quê, hễ thấy tiền là y như tối mắt lại (Cô gái quê), giời rét chết cò, trên không chằng dưới không rễ, ăn mày ăn nhặt, cùn đời rạc rài (Bố con lão Đen), khóc hết hơi, rát cổ bỏng họng, con ăn đầy tớ, ngày rét chết cò, chửi như tát nước, mặt dày như mặt mo, con giống con má, hốc lấy hốc để, cướp công cướp của (Cái xích cũ), con cá rô đực, trêu gan chọc tiết, cái đồ bám gấu váy đàn bà, tiền nghìn bạc vạn (Người mẹ không con), bữa rau bữa cháo, con vàng nanh đỏ mỏ, quân thù quân hằn, thua anh kém bạn (Người con gái)…Sắc thái biểu cảm của những thành ngữ quen thuộc này đều rất mạnh, nó vừa khắc sâu thêm tính chất của vấn đề, làm tăng kịch tính trong đối thoại giữa các nhân vật
vừa tạo ra sự sinh động đáng kể cho lời văn nghệ thuật. Hơn nữa, với cách nói dùng những thành ngữ, quán ngữ như vậy tạo ra một cái gì đó gần gũi, thân quen, đặc biệt là dễ cảm, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người đọc.
Sau đây là đoạn đối thoại giữa mẹ Vịnh và người đàn bà đi chợ giùm:
“- Mày chợ búa gì mà đến giờ mới về? Có chết đâu thì cũng phải dối dăng chồng con nhà mày và người ta lấy một câu chứ.
- Gớm! Mẹ chỉ được cái độc miệng. Mua bán cho mẹ còn phải mặc cả chứ. Ngày tư phiên chính, người đông như kiến, dễ chen chân lắm đấy” [70,200].
Chuyện giữa bà Phó và đứa cháu gái nhiều lời: “À thế ra trong cái nhà này bà chỉ là con ăn đầy tớ chúng bay thôi ! …Và cái thằng bố mày nó nghe chúng nghe bạn vào Sài Gòn Sài chéo kia, hỏi nó có gửi cho bà chục nhớn chục bé gì mà từ khi mày còn như cái ghẻ rách vắt vai, bà phải giường cứt chiếu đái cho mày, cho tới ngày nay, mày bắt chước con mẹ mày miếng một miếng hai với bà ?!” [63,213]. Một đoạn đói thoại mang đậm chất khẩu ngữ bình dân của người đàn bà chân chất mắng con mắng cháu.
Một đặc điểm nữa là trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, để tăng kịch tính, nhà văn thường dùng những động từ mạnh để diễn tả. Chẳng hạn, để phủ đầu những kẻ lao vào can ngăn mình đánh vợ, lão Đen hét lên, rít lên những câu đại loại như: “A! thằng này, có phải mày chim vợ ông không ?”, “A!, cái con này chính mày xúi bẩy vợ ông theo giai đây”,
“A! những nhãi ranh này, chúng bay vào nhà ông ăn cắp à?” [63,199]. Những động từ này, nó vừa là động từ nhưng đồng thời nó vừa mang sắc thái biểu cảm cao với tính chất khẩu ngữ rõ rệt. Hay để thể hiện lòng người mẹ đau đớn vô cùng trước quyết định ra đi của người con trai duy nhất, bà đã nói “Thì anh cứ đi, tôi sẽ đón anh lúc xuống tàu, rồi đâm đầu xuống sông chết trước mặt anh” [63,128]. Lời đuổi xua của cha Lưu cũng nặng những động từ chỉ hành động có tính chất dữ dội, khắc nghiệt: “Ông cấm cửa! Xéo! Chết đâu thì chết”. Trong lời nói của bà cụ chủ nhà, hoàn cảnh của mợ Du hiện lên thê thảm vô cùng: “Chị ta chỉ có mấy cái quần áo mặc theo đi ấy là lành lặn thôi, còn mấy cái kia rách mướp mườm mượp tôi còn để đấy mà cũng chẳng ai muốn lấy cả” [63,181]. Lời can ngăn của mụ Đen khi thằng Bùng liều mạng: “Không! Bùng ơi ! con mà đi bây giờ thì bu cắn lưỡi chết ngay đấy”
[63,207]. Như vậy, trong lời thoại đối đáp, những động từ vừa biểu hiện hành động vừa phản ảnh được tính chất cao trào sự việc, giúp ích rất nhiều cho nhà văn trong việc tạo nên những
kịch tính mà đồng thời nó lại mang hơi hướng của khẩu ngữ bình dân giản dị, giàu hình ảnh, cảm xúc.
Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, ngôn ngữ đối thoại kịch tính theo lối bình dân còn được biểu hiện rõ ở những từ thuộc lớp từ khẩu ngữ như sự hiện diện và hoạt động của những từ thưa gửi (dạ, thưa), các từ cảm thán (ôi, ối, trời ơ, trời đất ơi, cha mẹ ơi…) ở các khía từ (à ơi, nhỉ, nhé).
Uất ức mụ Đen chỉ biết kêu trời “Ối giời đất ơi!... Anh đánh chết tôi đi, anh cứ việc đánh chết tôi đi. Ối thiên địa giời đất ôi!”, “Ối giời đất thiên địa ơi, ối giời cao đất dầy ơi, tôi chết mất!…”. [63,198].
Nỗi đau đớn, tủi nhục của bác Nấu:
“- Giời ơi! Mày có vay mượn ai cũng phải cho trong biết chứ. Chỉ thậm thụt, thậm thụt để người ta đương réo rắt chửi bới kia kìa” [63,111].
Nỗi đau của ông lão mất con chó vàng: “Nó bỏ bả chết con quýt của tôi rồi! Tôi chết mất giời ơi! ”.
Nỗi nhục nhằn vì phải quị luỵ của vợ Lưu: “Giời đất !... Sao anh cứ thế … Anh cứ ngăn giữ, cấm đoán tôi một cách vô lý thế”
Trong truyện ngắn Ngòi lửa, những lời đối thoại của chị Bồng với bọn lý trưởng tiên chỉ trong làng được xen vào những câu ca dao tục ngữ và những lời chửi dân dã, quê mùa:
“Những con đĩ voi giày kia, Cha tiên sư chúng mày…Hờ chường ơi là chường ơi! Khi đi trúc chửa mọc măng…Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre…Một nong tằm là năm nong kén, một nong kén là chín nén tơ…” [48, 389- 390], “À ơi ơi …con cò mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. A ời ơi”. Đó là những lời ca, lời ru, lời chửi thắt ruột của người đàn bà điên. Ngôn ngữ của chị, khi ru con thì êm ả với những giai điệu của ca dao dân tộc, khi chửi mắng lũ người bán nước, làm tay sai cho Nhật thì đào xới cả cha mẹ chúng nó lên, đúng theo cái kiểu của những kẻ nông thôn, quê mùa, chất phác.
Ngoài ra, trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật còn sử dụng nhiều lối xưng hô thân mật hoặc đậm màu sắc bày tỏ thái độ mà thường đó là những từ ngữ có sắc thái thông tục, thậm chí thô thiển. Chẳng hạn, về xưng hô, nhiều nhân vật trong truyện của Nguyên Hồng thường gọi mày, xưng tao, gọi kẻ khác là y, hắn, mụ, con mụ, thậm chí Mão Chột còn gọi vợ
hắn là con cá rô đực, Ký Phát gọi là con cá mắm. Con gái bà Phó gọi mẹ Thuột là con đĩ nọ, con mẹ nó…
Trong một số truyện ngắn viết về đối tượng lưu manh hoá, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật cũng mang màu sắc riêng biệt thuộc thế giới nhân vật này. Họ gọi nhau là “dân yêu dân vỏ”, dùng những từ tiếng lóng trong ngôn ngữ giáo tiếp như “mổ (ăn), trô (hút sách), chơi, rệp (hèn nhát), phế (bỏ), bùng (truy nã), vạng (đánh), nhẩu (nhanh), đoàn (dao)”
(Bảy Hựu), “trõm (ăn cắp), trộ (chọc), lộ tẩy” (Con chó vàng)…
Như vậy, trong truyện ngắn của mình, Nguyên Hồng đã đưa vào trong những cuộc hội thoại những thành ngữ, tục ngữ làm sinh động thêm ngôn ngữ nhân vật. Với những đối thoại bình dị, tự nhiên, dân dã, đời thường như vậy, Nguyên Hồng đã phản ảnh được đời sống hiện thực của lớp người cần lao, đói khổ dưới đáy xã hội thực dân phong kiến những năm 30-45.
3.2.2.2. Trong ngôn ngữ độc thoại hay độc thoại nội tâm cũng mang những đặc điểm tương tự như thế.
Nghiên cứu truyện ngắn Nguyên Hồng có thể nhận thấy độc thoại nội tâm của nhân vật thườngg biểu hiện dưới hai dạng: một là xuất hiện sau những từ ngữ chỉ tình thái hành động, cảm nghĩ, nói năng của nhân vật như: tự nhủ, nhủ thầm, thầm nghĩ, cười thầm, tự hỏi rồi tự trả lời, tưởng tượng ra…Hai là độc thoại nội tâm của nhân vật hoà lẫn với lời dẫn thuyết minh tâm lý, mô tả tâm trạng nhân vật của người trần thuật bằng những lời nửa trực tiếp không có ranh giới rạch ròi. Như sự hiện diện của ý thức nhân vật Hưng (Miếng bánh) qua lời tự bào chữa cho hành động ích kỷ của mình cho ta thấy những mâu thuẫn trong Hưng: “Mình còn phải đi làm kiếm tiền. Hàng tháng trong người thiếu hẳn chất đường giờ mình có ăn cả mấy miếng bánh hay thêm mấy hào bánh nữa cũng chẳng thấm thía gì. Vả lại mình đâu có ăn uống phung phí, đâu có quên sự vợ con cũng chịu khổ như mình” [63,251].
Nếu như trong ngôn ngữ đối thoại, nhân vật của Nguyên Hồng thường sử dụng những động từ mạnh để diễn đạt điều mình cần nói, thì trong ngôn ngữ độc thoại nhân vật thường dùng hàng loạt như câu hỏi tu từ. Những câu hỏi tu từ được đặt ra liên tiếp như những cơn sóng cồn cào đang nổi lên trong lòng nhân vật, thể hiện những nội tâm đang giằng xé một cách dai dẳng và âm thầm. Trong hoàn cảnh đó độc thoại nội tâm là cách dễ dàng nhất để người đọc có thể hiểu và lắng nghe những tâm sự, nỗi lòng trong cảnh ngộ khốn cùng.
Láng nghèo, nợ nần chồng chất cùng gánh nặng phải nuôi ba đứa em còn nhỏ dại khiến Láng lo lắng trước hạnh phúc lứa đôi: “Nhưng Tỵ và Láng cũng như bao đôi lứa khác, có thể thương yêu nhau và ăn ở với nhau, dễ dàng như một sự tất nhiên sao được? và làm sao tất nhiên trong thương yêu nhau, cùng nhau gắn bó đem hết sức ra mà sống, họ được hưởng những hạnh phúc giữa bao nhiêu nghịch cảnh của cuộc đời ? Tỵ và Láng làm sao cùng nhau vựơt qua những quãng đường đêm tối có chông gai bưng bít để khỏi phụ lòng nhau, đau khổ lòng nhau, sống với nhau mà vun xới sự yên ấm vui vẻ ?” [63,304]. Đọc được những dòng độc thoại của nhân vật, hiểu được những trăn trở thông qua những câu hỏi tu từ liên tiếp đặt ra, người đọc không khỏi mến thương người con gái chịu thương chịu khó, nhọc nhằn vất vả lo cho đàn em thơ dại và mái nhà mục nát không người chống đỡ. Láng độc thoại với chính mình mà như đang nói chuyện cùng người yêu, Láng sôi nổi cùng những ý nghĩ cứ tuôn tràn ra trong luồng suy nghĩ dường như không bao giờ cạn của cô “Về phần Tỵ, Tỵ muốn nghĩ xa xôi thế nào cũng mặc !...Nếu Tỵ có nghĩ như thế, mặc ! LÁng cũng mặc giời với Tỵ ” [,304]. Cái quyết liệt của người con gái được biểu hiện qua như từ ngữ như
“mặc, mặc giời” mang tính khẩu ngữ bình dân hết sức gần gũi với cách nghĩ của những con người lao động.
Để diễn tả những suy nghĩ như tự vấn về bản thân của nhân vật Huyên (Hai dòng sữa) bên cạnh hình thức dùng những câu hỏi tu từ như xoáy vào lòng người đọc: “Huyên sống bao năm như thế có nghĩa gì? …Nhưng đâu? Và những cái gọi là hay, là tuyệt diệu ấy có ích lợi chút nào cho đời người, hay chỉ để vui tai, mê hồn và đắm đuối cho một hạng người lười biếng và nhẫn tâm ? ” [63,338], Nguyên Hồng còn sử dụng thêm những tính từ chỉ tính chất để khắc hoạ thêm cái tâm trạng đau đớn của Huyên khi nhìn về quá khứ của mình: “Huyên ghê rợn, Huyên thấy rõ ràng đời mình đen tối và khốn nạn vô cùng, không còn một cách gì để tô điểm, che đậy lấp láp được nữa” [63,338].
Để thể hiện những chuyển biến dữ dội trong tâm trí nhân vật, nhà văn còn đưa thêm ngôn ngữ tả đan xen ngôn ngữ kể để làm khắc họa rõ nét hơn những biến đổi sâu sắc đó.
Ngôn ngữ miêu tả cảm xúc trước khi đi vào hồi tưởng của bà Phó “Tâm trí bà đã hoàn toàn bâng khuâng và như có những làn gió lạnh thổi vang, trong đó sự chua xót lại thắt lấy lòng bà” [63,218]. Hay để cho người đọc thấy được sự thay đổi theo chiều tăng dần trong tâm trí đang đau đớn giằng xé của nhân vật Hưng vì chót ăn vụng vợ con miếng bánh “Chợt Hưng