Đây là giọng điệu chủ yếu không chỉ riêng trong thể loại truyện ngắn mà bao trùm toàn bộ sáng tác của Nguyên Hồng. Nhắc đến giọng điệu này không thể không thấy nó gắn liền với cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Đó là lòng yêu thương con người, là tinh thần nhân đạo sâu sắc. Xét về bản thân Nguyên Hồng, ông là một con người giàu tình cảm, nhưng cuộc sống thiếu thốn tình thương của gia đình, của con người trong xã hội, đã trở thành một mầm cây cắm rễ sâu vào tâm thức của nhà văn khiến ông dễ bị rung động trước những cảnh ngộ của người đời. Đó là cơ sở tạo nên giọng điệu cảm thương trong sáng tác của Nguyên Hồng.
Trong truyện ngắn của Nguyên Hồng, người đọc thường gặp các nhân vật yếu đuối, thật thà, dại dột, không có khả năng tự vệ và dễ dàng bị xúc phạm, tổn thương. Hướng điểm nhìn vào những nhân vật này, giọng điệu trần thuật trong truyện của ông có đặc trưng riêng.
Âm hưởng thương cảm là giọng điệu chủ yếu. Đối tượng được ông quan tâm nhiều trong tác phẩm của mình là số phận của những người phụ nữ. Nhà văn viết về họ bằng tất cả tình yêu
thương, trân trọng và sự thấu hiểu cảm thông. Người đọc có thể cảm thấy được giọng điệu ngậm ngùi của nhà văn khi kể lại cuộc đời của nhân vật Hai mươi hai: “Thuở còn bé dại thì mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải đi chăn trâu chăn bò, lớn lên tuy được làm con nuôi một bà lý trong làng, song hai mùa cấy hái vất vả chẳng ngơi tay; đến năm kia được anh Tín thương yêu xin bà Lý cho ra ở riêng thì nàng lại mò cua bắt ốc đỡ cực chồng…Rồi đến ngày nay, nhà đoan hai lần khám thấy rượu lậu trong nhà, nàng đi chịu tám tháng tù thay chồng giữa lúc nàng bụng mang dạ chửa. ” [63, 152]. Một sự cảm thông lẫn lòng ngưỡng mộ toát lên qua giọng kể, và cuộc đời cô gái mồ côi ấy kết thúc rất thương tâm: chết trong tù cùng cái thai sắp sinh vì bị cưỡng hiếp tàn bạo. Ở một truyện ngắn khác: Hai mẹ con, cũng số phận côi cút tạo nên sự mủi lòng lại được hòa âm với giọng kể buồn buồn khi tái hiện cuộc đời bà mẹ Thưởng: “tên bà là Gái - nhỡ. Cái tên không biết của ai đặt cho. Con người bồ côi cha mẹ từ khi chưa biết nói này đã chuyển qua tay nhiều người và ném đi nhiều tỉnh. Mãi đến năm lên chín, cái tên Gái - nhỡ mới là tên nhất định” [63,117]. Số phận bơ vơ, được cha mẹ nuôi nhận về, cái ân nghĩa cưu mang ấy bật lên thành tiếng khóc thống thiết: “Cha mẹ ơi!
Giờ đây con biết lấy gì mà giả nghĩa công ơn nuôi nấng dạy bảo sớm hôm? Hờ cha ơi! Hờ mẹ ơi!” [63,118]. Cuộc đời làm con, làm vợ, làm mẹ của bà chồng chất những bất hạnh. Viết về những người phụ nữ, sự thương cảm của Nguyên Hồng thể hiện rõ trên từng trang viết.
Cuộc đời họ thăm thẳm trong cam chịu và nhẫn nhịn từ trẻ cho đến lúc già như bà cụ Nấu.
Những dòng khắc hoạ chân dung bà cụ làm lay động lòng người đọc: “Nhiều nếp nhăn chất thêm lên cái trán lặng lẽ dưới những sợi tóc cứng, bạc lam nham. Hai gò má bà cụ trũng thêm làm chìa hàm răng móm mém. Trên cái thân hình còm cõi ấy, vẫn cái thứ áo nâu mỏng tứ thời, lúc nào cũng nhớp nháp dãi của con bé cháu. tất cả người bà cụ đã cằn như một que củi ” [63,115].
Trong xã hội cũ, ngoài số phận cút côi, người phụ nữ còn phải chịu nhiều nỗi bất hạnh khác: hạnh phúc dở dang, bất đắc dĩ thành hạng gái sống ngoài vòng pháp luật hay bỏ xác nơi quê người… Những đối tượng này chi phối giọng điệu của nhà văn. Có lẽ ảnh hưởng phần nào từ cuộc đời người mẹ đầy đau khổ của mình nên Nguyên Hồng đã dành trọn những tình cảm tốt đẹp nhất, thương yêu nhất của ông khi viết về người phụ nữ. Dù đứng ở điểm nhìn trần thuật nào, giọng người trần thuật cũng thể hiện nỗi cảm thương. Mợ Du, câu truyện về cuộc đời người phụ nữ phải xa lìa con thơ, nỗi nhớ con chỉ được trút thỏa sau những lần
lén lút gặp con, cuối cùng từ giã cuộc đời trong cô đơn lạnh lẽo của kiếp người chỉ toàn là
“những sự đọa đày, cái kiếp làm thân đàn bà không chồng con, không thân thích, đâu có kẻ thân mến là quê hương, gia đình” [63, 182-183].
Tác giả đã hoá thân vào nhân vật để chia sẻ cùng họ nỗi đau, nỗi khốn khổ của sự mất mát, chia lìa. Câu văn gợi nỗi buồn, mang cái cảm giác nhẹ nhàng, man mát mà da diết, thâm trầm. “Nhìn sự chia lìa đau xót của hai mẹ con Dũng, tôi có cảm giác chính tôi là Dũng và tôi cũng có ý muốn ôm ghì lấy mợ Dũng, ôm ghì mãi mãi, ôm ghì để rồi chết cũng cam tâm” [63, 177].
Nước mắt, nỗi đau của phận đàn bà gắn liền với nhiều mối sầu thương cảm. Cuộc đời họ, nếu không rơi vào nghịch cảnh thì cũng kết thúc mịt mờ tăm tối hoặc chết dần chết mòn trong âm thầm, đau khổ. Xây dựng hàng loạt những tình huống như thế nên trong truyện ngắn Nguyên Hồng âm điệu cảm thương cứ bàng bạc khắp nơi. Một cô gái mồ côi sống nương tựa vào người chú. Cuộc đời người con gái ấy cũng kéo dài trong âm thầm và lặng lẽ, kìm nén tình yêu của mình, bởi cô nhận rõ tình yêu thương và sự hy sinh lặng thầm của người chú. Tất cả nỗi niềm của cô gái hình như được nhà văn thấu hiểu cảm thông: “Người con gái ấy hồi hộp nhìn người chú luôn tay kìm búa dưới ánh đèn, thỉnh thoảng mới ngửng lên. Y cảm thấy rõ sự yên lặng thấm thía của chú mà ứa thầm nước mắt. Y tưởng nhớ tới hình ảnh của bố mẹ mà y chỉ còn có thể nhớ được lờ mờ. Mười mấy năm rồi, người đàn ông này không bao giờ nói đến chị em y một lời. Bố mẹ y cũng chỉ hiền từ đến thế ” [63, 272- 273]. Cả kiếp người sống mòn mỏi trong cơ cực kia hiện lên qua lời kể của Nguyên Hồng càng gieo vào lòng người đọc sự thấm thía và xót xa cho phận nghèo khó.
Tác giả đã viết lên những dòng tâm tư của Vịnh (Hàng cơm đêm) bằng một giọng cảm thương sâu sắc. “Vịnh chua xót nghĩ không biết đến ngày nào Vịnh mới thoát khỏi sự đè nén ấy. Nước mắt Vịnh đã mọng lên nhưng Vịnh không dám khóc. Lòng Vịnh lại mở ra đón lấy những giọt nước mắt thầm nọ trút xuống với những tiếng ngẹn ngào trong cổ họng” [70, 205 ]. Người đọc hình dung như nhà văn đứng bên người con gái nhỏ, lắng nghe những rung động mãnh liệt nhất trong mạch rung cảm để thấu hiểu tâm hồn cao đẹp của cô. Từ đó nói lên tiếng lòng của cô bằng một giọng điệu yêu thương lẫn xót xa.
Hầu như tất cả nỗi đau, bi kịch của người phụ nữ đều được Nguyên Hồng khai thác và phản ảnh vào sáng tác của mình. Khi viết về họ, giọng điệu của ông chan chứa tình
thương hơn bao giờ hết. Khác với Nguyên Hồng, Thạch Lam tuy cũng viết về người phụ nữ với âm hưởng thương cảm nhưng nhà văn khai thác nỗi đau của họ là để phát hiện và nhìn nhận những khía cạnh của đức tính tốt đẹp, tấm lòng đôn hậu, bao dung, chịu thương chịu khó (Cô hàng xén, Hai lần chết, Hai đứa trẻ, tối ba mươi). Giọng kể của ông lúc nào cũng đằm thắm, dịu dàng, trầm buồn như để khắc họa chính cuộc đời và phẩm chất của họ. Còn Nguyên Hồng, cũng xuất phát từ mối quan tâm sâu sắc về những con người yếu đuối này, nhưng nỗi đau của người phụ nữ mà nhà văn khắc họa là nỗi đau của số phận bao đời đè nén, nỗi đau tột cùng của những trái tim luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc. Những mảnh đời yếu đuối ấy muốn vùng vẫy để vượt thoát lên, nên khi kể về họ, giọng điệu của nhà văn ẩn chứa nỗi niềm cảm thông san sẻ yêu thương, đôi lúc “nồng độ” tình cảm tha thiết ấy tăng đến mức mãnh liệt.
Nếu cuộc đời và số phận của những người phụ nữ bất hạnh là nỗi xót xa trong những trang văn của Nguyên Hồng thì tiếng khóc của những đứa trẻ thơ là lời yêu thương trong bất lực của nhà văn. “Tiếng khóc dài và sắc” của đứa trẻ thơ khát sữa thốc thẳng vào lòng người đọc bằng chính âm giọng nức nở của ông. “Cũng giờ này. Một tuần lễ sau. Người mẹ ấy cũng áo dài nâu vắt vai, chạy mải miết cho kịp tầm. Chị vừa chạy vừa khóc, nhưng khóc không ra tiếng. Đứa bé con chị đã chết rồi! Nó vừa chôn xong” [63, 171]. Giọng điệu trần thuật của Nguyên Hồng như nghẹn lại, thẫn thờ vì không thể làm gì cho hàng loạt những đứa trẻ như thế, và nhà văn tha thiết kêu gọi mọi người “Phải trả sữa lại cho những cái miệng bé nhỏ há rộng, lưỡi gần cứng đó, dưới những bầu vú lép” [63, 171]. Lời văn như bật ra từ chính trái tim tràn đầy nhân ái của Nguyên Hồng. Nó là lời kêu gọi thống thiết và đồng thời cũng bật lên sức tố cáo vào lương tâm của những kẻ tàn nhẫn, vô nhân đạo.
Cung bậc cảm thương thống thiết ấy không chỉ dành cho những người phụ nữ, những đứa trẻ thơ mà nhà văn còn hướng cái nhìn nhân đạo của mình về phía những người nghèo khốn, nỗi đau và nước mắt của họ “tràn” ra theo lời kể của Nguyên Hồng. Câu chuyện về đôi vợ chồng Nhân – Mũn (Đây, bóng tối ) đã lay động người đọc trước tình thương yêu và hạnh phúc trong khốn cùng, nhưng chúng ta càng xốn xang, quặn thắt khi đọc những trang viết nhức nhối thế này: “Thì một buổi chiều, …Nhân mở được mắt ra. Trời ơi! Nhân sướng quá! Nhân gọi ngay Mũn và đàn con lại giương to mà nhìn …Nhưng ! …Nhưng ! Nhưng Nhân thấy trước mắt là một màn đen tối, Nhân ngờ vực, dụi mạnh mắt…Tôi mù rồi! Tôi mù
rồi ! Mình ơi ! ” [63,74]. Giọng điệu của nhà văn dường như thống thiết hơn: “Mũn chết!, thế là hết! Đời cha con Nhân thật hết chỗ nương tựa…hết cả mọi sự yên vui; mọi ánh sáng, mọi hơi sưởi ấm!”. Cùng đường Nhân phải làm cái nghề ăn xin mạt hạng mà vẫn phải lo lắng. Số kiếp của họ sẽ như thế nào “trên con đường đã chứng kiến bao nhiêu thây chết dưới nanh vuốt của bao thiếu thốn, khổ sở …của đoạ đày…” [63, 75]. Nỗi lo của Nhân được Nguyên Hồng khắc hoạ có sức ám ảnh ghê gớm. Đó là nỗi lo vô tận của người khốn cùng hay là nỗi tái tê của nhà văn khi chứng kiến bao kiếp sống lạc loài? Đôi lúc giọng điệu xót thương ấy được thể hiện qua cái nhìn của một nhân vật trong truyện: “Quyến nhìn cái thâm hình gầy còm, xác xơ, bất động ấy cũng không sao ngăn được những ý nghĩ khủng khiếp tràn qua trong tâm trí. Quyến cũng lo người ấy chết…Và Quyến cảm động tưởng tượng đến sự cơ cực đoạ đầy mấy mẹ con bơ vơ không người giúp kia. Trong cảnh goá bụa, trong cảnh côi cút, những ngày sống của người đàn bà và của bốn đứa trẻ khốn nạn còn sáng sủa được sao?” [63, 84]. Lọt vào “tầm ngắm” của Nguyên Hồng thường là cuộc sống của những người cùng đường khốn khổ, không ăn mày thì cũng đói khổ lang thang, hoặc chen chúc nhau trong một căn nhà tồi tàn, rách nát mà vất vưởng sống qua ngày như hình ảnh một gia đình trong Nhà bố Nấu “Cái gia đình lam lũ kia vẫn lam lũ trong gian nhà úp súp và hôi nồng đã ba năm không một vật gì mới hiện ra dưới cái mái lá tối mờ. Vẫn cái giường tre đu đưa, kêu răng rắc mỗi lần đứa trẻ nhún nhẩy; vẫn cánh phản lè tè mọt nghiến rền rĩ; vẫn cái bàn mất chân buộc vào cột vách. Trưa hè, dưới nắng lửa, vẫn những làn bụi lầm lên chập chờn” [63, 114-115]. Từ “vẫn” lặp lại tạo cho giọng điệu của Nguyên Hồng một cái gì đấy ngậm ngùi, chua xót. Cái cuộc sống ấy vẫn diễn ra, ngày này qua ngày khác, như cái vòng quay rệu rã của cuộc đời họ. Đói nghèo – xơ xác – cam chịu cứ gắn liền và đeo đẳng. Tất cả hiện lên dưới ngòi bút của Nguyên Hồng sinh động, rõ nét, chứa đầy xúc cảm. Với một tình yêu thương dào dạt sẵn có cộng với niềm đồng cảm cảnh ngộ, Nguyên Hồng không giấu giếm xúc động khi chứng kiến những con người lao động cực nhọc giữa Một trưa nắng: “Tôi quay mặt nhìn vào cái xe chuyển ì ạch, chịu một sự tê tái hoang mang đè xuống tâm trí với những tầng nắng vàng rực dưới một không trung xanh loà và ngùn ngụt khói”. [63, 285]. Sự vất vả cơ cực của họ là nỗi ám ảnh day dứt khôn nguôi bám riết lấy tâm trí của Nguyên Hồng thúc đẩy nhà văn “bùng ra thành lời tâm huyết”. Vì vậy trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước Cách Mạng tháng Tám, nhà văn thường tạo những tình huống, chi tiết thương
cảm như nước mắt, mối sầu, nỗi đau. Ở Nguyên Hồng không có những lời văn trung tính mà thường biểu hiện cảm xúc yêu thương ở cường độ cao. “Tâm hồn Huyên như đau xé ra.
Huyên nhìn đắm những ngọn lửa vàng rực, một ngón tay di di trên đất. Nước mắt bên trong trào ra đầm đìa. Huyên phải hết sức đè nén lòng mình để tránh sự đổ vỡ ” [63, 332].
Những giọt nước mắt xuất hiện với tần số cao, đầm đìa, ướt đẫm câu văn của Nguyên Hồng. Truyện ngắn Nguyên Hồng nói riêng và những trang văn của ông nói chung dường như luôn thấm đẫm “giọt lệ lớn” gây xúc động sâu sắc trong lòng người đọc.
Mặt khác trong lời trần thuật của Nguyên Hồng xuất hiện rất nhiều từ cảm thán: (trời ơi!, thôi rồi !, Giời ơi!, thế là hết!, hết rồi!, nghèo lắm!, chết rồi!), nhiều câu hỏi tu từ dồn dập (nào đâu?, được gì?, được sao?, sao lại thế được?...) và nhiều từ cùng trường nghĩa chỉ sự đau khổ (cực nhục, đày đọa, tủi cực, thương xót, thấm thía, chua xót, nghẹn ngào, …).
Điều đó là cho giọng điệu của nhà văn càng tha thiết hơn, mãnh liệt hơn và dồn dập hơn. Âm hưởng đó của các cung bậc cảm xúc là một tín hiệu để độc giả nhận thấy rằng có yêu thương chân thành nhà văn mới có thể bật lên thành lời thống thiết đến như vậy. Văn là người và văn mang tâm hồn của nhà văn. Cùng có một tấm lòng đồng cảm, thương xót chia sẻ với nỗi khốn khổ của con người nhưng Thạch Lam không dồn dập, cao trào cảm xúc mà những lời văn là những lời nhẹ nhàng như thủ thỉ, tâm tình. Vì vậy khác với cảm giác khi đọc truyện của Nguyên Hồng, đọc Thạch Lam người đọc chỉ bị ám ảnh bởi cái dư vị man mác, dìu dịu, thắm đằm của nó. Còn văn Nguyên Hồng thì cái chất thương cảm ấy thống thiết quá, nó
“đánh thốc” vào tim khiến người đọc phải thổn thức và trào dâng cảm xúc mãnh liệt cùng nỗi niềm nhân vật.
Nhìn chung, thế giới nhân vật của Nguyên Hồng chủ yếu là những người thuộc tầng lớp tận cùng xã hội: ăn mày, đầy tớ, lưu manh, trộm cắp, phu phen…Nhưng Nguyên Hồng đã “viết về họ với một niềm đồng cảm sâu sắc, thấm thía, và không ít lần nhà văn đã cất lên tiếng kêu thống thiết để bênh vực nâng đỡ cho những linh hồn đau khổ. Chính điều đó đã tạo nên một giọng điệu, một phong cách riêng của Nguyên Hồng – bút pháp hiện thực tỉnh táo nhưng vẫn thấm đượm chất trữ tình” (Hà Văn Đức) [25,306]. Không chỉ riêng trong thể loại truyện ngắn mà trong văn của Nguyên Hồng nói chung, người đọc cảm nhận được nhà văn lấy cái tâm làm đầu. Vì thế mà trong hầu hết những tác phẩm của mình, Nguyên Hồng luôn
giữ cho mình một giọng điệu rất đặc trưng cho phong cách Nguyên Hồng, đó là giọng điệu cảm thương, thống thiết, hàm chứa một trái tim nhân đạo, rộng lớn, yêu thương.