Khoảnh khắc tâm tưởng

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 92 - 99)

2.5. Không gian và thời gian nghệ thuật

2.5.2. Khoảnh khắc tâm tưởng

Thời gian là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật của Nguyên Hồng. Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, bên cạnh dòng thời gian tự sự được phân bố trong các tác phẩm do sự sắp xếp chủ quan của người kể chuyện thì còn tồn tại một dòng thời gian hồi tưởng chảy ngược, còn gọi là thời gian tâm lý. Thời gian tâm lý có vai trò quan trọng trong các sáng tác của Nguyên Hồng. Nó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, là quá trình nhận thức của nhân vật về thế giới khách quan. Trật tự phản ảnh của kiểu thời gian này có thể phi logic sự kiện nhưng hợp logic tâm lý.

Thời gian tâm lý trong truyện ngắn Nguyên Hồng biểu hiện cụ thể, rõ nét qua sự đảo ngược trật tự các yếu tố của thời gian, mà chủ yếu là từ hiện tại về quá khứ. Nhân vật của Nguyên Hồng thường nặng lòng với quá khứ. Nó là nỗi ám ảnh, là kí ức, là kỉ niệm. Qua khứ làm phá vỡ tính logic trong kết cấu của dòng thời gian sự kiện trong các tác phẩm.

Nếu như ở trên, cái không gian nghệ thuật đặc trưng trong truyện ngắn Nguyên Hồng là không gian hiện thực thì thời gian nghệ thuật đặc trưng trong truyện ngắn Nguyên Hồng là thời gian được đo bằng những khoảnh khắc tâm tưởng con người tồn tại trong cái không gian hiện thực ấy. Đó là thời gian tồn tại trong tâm tưởng, trong cuộc sống nội tâm của con

người. Không thể phủ nhận một điều, việc tổ chức trong tác phẩm của mình dòng thời gian quá khứ, trong đó hồi tưởng đóng một vai trò quan trọng, là con đường ngắn nhất, hữu hiệu nhất để đi vào thế giới nội tâm đầy phức tạp của nhân vật. Hồi tưởng xuất hiện khi nhân vật có nhu cầu nhớ lại, làm sống lại những hình ảnh, những sự việc nào đó đã qua. Hồi tưởng không đơn giản là đẩy lùi thời gian quay lại mà nó tạo ra khả năng đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại và đôi khi còn có bóng dáng của tương lai.

Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, hình ảnh của thời gian quá khứ tồn tại như một phần đời không thể thiếu của nhân vật. Vì thế, các yếu tố của sự hồi tưởng, nhớ lại được sử dụng nhiều. Quá khứ trong những truyện ngắn: Hai mẹ con, Mợ Du, Đây bóng tối, Cái xích cũ, Trong cảnh khốn cùng, Láng, Hai dòng sữa, Lớp học lẩn lút, Miếng bánh …như chứng tích của sự đau khổ, bất hạnh luôn đeo bám suốt cuộc đời nhân vật từ lúc còn thơ bé cho đến khi nhắm mắt lìa đời.

Hầu như trong bất kì truyện ngắn nào của Nguyên Hồng, nhân vật của ông cũng không thôi nhìn về quá khứ, cái hồi tưởng ấy nhiều khi dâng lên trong họ niềm cay đắng về kiếp người mòn mỏi, vô vọng. Quá khứ đối với Quyến (Trong cảnh khốn cùng) là những ngày tháng tươi đẹp nay đã không còn nữa “Ngày ấy cách đây tám năm, dạo Quyến còn trẻ măng và bác Phấn thì sức lực cường tráng, nhất là nhằm vào hồi kinh tế chưa khó khăn, đồng tiền kiếm rất dễ dãi…Quyến một nách hai con sống một cuộc đời giản dị mà vui tươi

[63, 77]. Sự đối lập giữa hiện tại và quá khứ càng làm cho con người người ta chán nản những gì đang có, nuối tiếc những gì đã trôi qua. Hồi tưởng của mẹ Tâm (Lớp học lẩn lút) cũng đau đáu những nỗi buồn, đó là những ngày tháng khốn khổ của người đàn bà trong cái tai ách của gia đình nhà chồng, sau cùng phải bỏ quê dắt díu đàn con đi tha phương cầu thực.

Sự hồi tưởng ở đây như càng làm chua xót hơn lòng người mẹ già với những ngày tháng đã qua đầy tủi nhục và khắc họa rõ thêm cái cảnh sống thảm hại của gia đình họ. Hình ảnh của con chó vện hiện lên trong tâm trí bà Phó (Cái xích cũ ) là nỗi nhớ, là nỗi ám ảnh không nguôi về một vật đã gắn bó, tha thiết với mình. Hễ lúc nào ngơi tay, con chó lại trở về trong trí tưởng tượng của bà “Chợt mấy tiếng chó sủa ran lên. Như qua những lớp sương mù dầy đặc một đêm đông nào, những tiếng “gâu gâu” ấy vang trong trí tưởng tượng của bà Phó…” [63, 220]. Những hồi tưởng của bà về con chó vện càng mạnh mẽ bao nhiêu thì nỗi

cô đơn của bà Phó càng rộng bấy nhiêu. Cảm giác ấy gieo vào lòng người đọc một niềm thương xót khôn nguôi cho lẽ đời, cho tình người.

Nguyên Hồng không miêu tả thời gian tương lai. Nhân vật của ông thường đi về hai chiều hiện tại và quá khứ thông qua hồi tưởng của nhân vật. Hồi tưởng là để nhân vật của ông có dịp đối chiếu giữa hiện tại và quá khứ, lí giải hiện tại. Mẹ Thưởng nhớ về quá khứ để tìm trả lời cho câu hỏi “Nào mình có lười biếng, đần độn, mà sao càng đầu tắt mặt tối thì lại càng công nợ, càng thiếu thốn. Hay bà gian ác nên bị trời đày đọa?” [48, 121]. Cuối cùng bà thấm thía một điều rằng càng cố công cùng sức bao nhiêu bà chỉ làm giàu cho những người giàu sẵn ăn mặc thừa mứa, tiêu pha phung phí. Ở đây, nhịp bước chuyển động của thời gian tự sự cũng góp phần phản ảnh tâm lý nhân vật. Thời gian được chia thành những đơn vị lớn nhỏ khác nhau: Một thời quá vãng, đêm ấy, đêm nay. Sự chia nhỏ các mắt xích thời gian giúp nhà văn lướt qua những sự kiện trong quá khứ và đi sâu vào các sự kiện, biến cố ở hiện tại và thế giới tinh thần của nhân vật. Qua đó, nó cũng bộc lộ cảm nhận riêng của nhân vật đối với các biến cố, sự kiện đang diễn ra.

Cũng như vậy, thời gian được sắp sếp theo sự chủ quan của người kể chuyện trong

Cái Tết của tù đàn bà” cũng góp phần tạo nên cái thời gian tâm lý. Thời gian trôi theo một trật tự tuyến tính nhưng cái chính là ở đây thời gian lại trôi qua một cách nặng nề theo nhịp đếm từng ngày: 27 tháng Chạp, 28 tháng Chạp, Giao thừa, mùng một Tết, Những ngày đầu xuân. Không gian và thời gian cho thấy sự tù túng bóp nghẹt tự do và hy vọng của con người, bó hẹp con người trong bốn bức tường lạnh lẽo của nhà giam, trong cái lạnh tê buốt của những đêm đông xuân giá rét. Thời gian như cô đặc lại trong cái không gian tù đọng, khép kín. Nguyên Hồng chọn cái thời khắc giao thừa, chuyển giao giữa năm cũ và năm mới để miêu tả cái không khí của nhà tù, nơi chứa chấp những người đàn bà phần lớn là vô tội và yếu đuối mang đến cho người đọc một niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận con người, vừa xót xa vừa căm thù những kẻ đã gây nên bao nỗi khổ đau xuống đầu đồng bào mình.

Đêm là thời gian tốt nhất để hồi tưởng, để cho những ký ức quay trở lại với hiện tại và có lẽ đêm tối là thời gian thích hợp để bộc lộ chính mình. Thời gian như ngưng đọng, trì trệ để nhân vật sống với những khoảnh khắc suy tư. Đêm ấy cũng như bao đêm thao thức khác, người mẹ già (Hai mẹ con) trằn trọc lo lắng cho con mình. Những dòng hồi tưởng khiến cho đêm bị kéo dài ra, thời gian bị đè nén, quanh quẩn cùng những suy tư, trằn trọc,

đấu tranh giằng xé dai dẳng trong lòng người mẹ yêu con. Đêm tối cũng là lúc tâm trí của Huyên (Hai dòng sữa) quay về với kí ức về mẹ và những ngày thơ ấu ở ngôi làng cuối vùng bể có cái vẻ cục cằn, khắc nghiệt với con người “những ngày nắng chang chang, cả vùng toàn bãi lầy, nước mặn, váng riêu cua, sú và cỏ dại mọc đầy cứ bốc khói ngùn ngụt” [63, 335]. Mẹ Huyên là người đàn bà chịu thương chịu khó, yêu thương con, cho đến hơi thở cuối cùng bà vẫn còn vật vã vì không thể sống mà lo cho con nên người. Hồi ức của Huyên không chỉ dừng lại ở đó, nó bắt đầu cho thấy con đường đời của Huyên đã trải qua. Chính quá khứ đã lí giải nguyên nhân vì sao Huyên đi vào con đường ăn chơi, hưởng lạc, từ đó giúp người đọc có được niềm cảm thông với nhân vật. Cứ thế những dòng kí ức miên man dàn trải, thời gian lúc này chỉ còn là thời gian mang tâm lý chủ quan của nhân vật.

Thời gian tâm lý còn biểu hiện ở những dòng độc thoại nội tâm của nhân vật mà thực chất là đối thoại bên trong. Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, nó biểu hiện thành hai dạng chính: Đối thoại với ngoại giới và đối thoại với bản thân.

Chứng kiến cảnh sống tuy nghèo khổ, chật chội của vợ chồng người phu làm đường và những người bạn, tự nhiên nhân vật Huyên nhận ra sự lạc lõng và sai lầm của mình. Đến đây nhân vật tự độc thoại nội tâm với chính bản thân mình, lắng nghe được tiếng nói bên trong của mình “Huyên đã tưởng đàn hát, nhởn nhơ như Huyên thế là làm được những cái mới lạ, khác thường. Nhưng đâu? Và những cái gọi là hay là đẹp, là tuyệt diệu ấy, có ích lợi chút nào cho đời người, hay chỉ để vui tai, mê hồn và đắm đuối cho một hạng người lười biếng và nhẫn tâm?” [63, 338]. Đêm tối trở thành trợ thủ đắc lực cho những suy tư của Huyên. Những dòng độc thoại nội tâm trôi chảy liên tục và như được kéo dãn ra, nhân vật sống với chính mình, đấu tranh với chính mình trong những khoảnh khắc nội tâm ấy.

Cũng như Huyên, Hưng (Miếng Bánh) sau khi thỏa mãn cơn đói, cơn thèm cồn cào da thịt thì cũng đang tự vấn trước toà án lương tâm của chính mình “Khốn nạn!...Khốn nạn”.

Cuộc đối thoại nội tâm trong Hưng diễn ra quyết liệt và dữ dội hơn khi anh cảm thấy như có tiếng nói của lương tâm và trách nhiệm của một người chồng, người cha rít mắng vào mặt anh: “Khốn nạn! Sao mày lại lén lút ăn không chia sẻ với vợ con như thế! Mày thèm khát thế vợ con mày no đủ hay sao? Mày còm cõi thế vợ con mày béo tốt sao? …Mày nhẫn tâm thế à” [63, 250], cũng có lúc Hưng tự xoa dịu những ý nghĩ của mình “Mình còn phải đi làm kiếm tiền…Mình chỉ tâm niệm khoẻ mạnh đi làm kiếm tiền để vợ con cùng hưởng no ấm,

cũng được vui vẻ sung sướng” [63, 251]. Những dòng tự vấn với lương tâm đã đẩy nhân vật Hưng hồi tưởng về cuộc đời mình. Người đọc có thể giận Hưng nhưng cũng vừa thương xót anh, vì cớ sự gì đã đẩy một thầy giáo nghèo vào cám cảnh như vậy. Thời gian bị xé lẻ, bị giằng dai bởi tính chất dữ dội của những cuộc tự vấn lương tâm.

Nếu như Huyên, Hưng chìm trong những cuộc đấu tranh tự vấn bản thân mình để vượt qua những sai lầm trở về đúng con người thật, đúng cái bản chất lương thiện trong sáng của mình thì nhân vật Tâm (Lớp học lẩn lút) lại như đang đối thoại với ngoại cảnh xung quanh anh. Cả truyện ngắn dường như toàn là những dòng suy tưởng của Tâm, anh sắp xếp mọi thứ bằng suy nghĩ của mình rồi tưởng tượng ra mọi thứ xung quanh trong vị trí của nó mà cảm thấy vui, một nỗi vui man man mở rộng trong lòng Tâm “Tâm thẫn thờ nhìn gian nhà lá lụp xụp, lúc này đối với Tâm, thân mật và ấm cúng bao nhiêu,…Tâm lờ đờ ngước mắt nhìn khoảng không, trên cặp môi rung rung một nụ cười” [63, 144]. Đang đối thoại với ngoại cảnh, Tâm trở về đối thoại với chính mình “Sự sung sướng mênh mông trong lòng Tâm cạn ráo. Ý nghĩ tối tăm ấy lại quắp chặt lấy trí não Tâm – Tâm dạy học không có giấy phép. Tâm dạy giấu giếm trong một căn nhà tồi tàn. Tâm đương trốn tránh trước pháp luật!” [63, 149].

Bằng cách chuyển đổi, đan xen những hình thức đối thoại nội tâm, thế giới tinh thần của nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng trở nên phong phú và phức tạp hơn. Bộc lộ được những suy nghĩ nằm sâu bên trong mỗi con người. Thời gian chảy trôi trong những suy nghĩ lan man của Vịnh (Hàng cơm đêm). Người con gái có tấm lòng nhân hậu, mở rộng bao la đối với mọi người. Vịnh nghĩ về vợ chồng bác Nhân làm bánh cuốn với cảnh nhà cơ cực mười hai đứa con lít nhít. Vịnh nghĩ về mình với cuộc đời sắp tới cũng mờ mịt như những người con gái có cảnh nhà như Vịnh. Những nghĩ suy của Vịnh những như dòng độc thoại lê thê trong cái lạnh lẽo của không gian và thời gian đêm tối. Nó khiến cô bị nhấn chìm vào những chua xót trong hiện tại của mình và những kẻ xung quanh mình. Lòng người con gái ấy thao thứ mãi trong cái khoảnh khắc đêm tàn.

Như vậy, bên cạnh dòng thời gian tự sự thì thời gian tâm lý giữ một vị trí quan trọng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyên Hồng. Nó gắn liền với sự hiện diện của những sự kiện, cảnh ngộ, những khoảnh khắc đầy ắp suy tư, tâm trạng nỗi

niềm của nhân vật. Nó sẽ là điều còn đọng lại trong tâm hồn người đọc khi những trang văn được gấp lại giữ gìn.

Các đặc điểm trên đây cho thấy Nguyên Hồng có thiên hướng sáng tạo những tình huống thử thách nghiệt ngã, những câu chuyện cảm động.

Chương 3

ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG

– NHÌN TỪ GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ

3.1. Giọng điệu

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, giọng điệu được hiểu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [39,91]. Trong sáng tạo nghệ thuật, giọng điệu có vai trò rất lớn: “hiệu suất của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu” (Khrapchenko). Đối với tác phẩm văn học, giọng điệu nghệ thuật không chỉ là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn, là phương tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm mà còn là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể.

Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật”[39,91]. Người đọc có thể nhận thấy tất cả chiều sâu tư tưởng thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ thông qua giọng điệu. Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Hơn nữa, giọng điệu ở đây không chỉ là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói mà là một hiện tượng “siêu ngôn ngữ”. Do đó, ta có thể hiểu rằng giọng điệu chứa đựng dấu ấn cá nhân, là sự biểu hiện về nhận thức, thái độ của nhà văn đối với đời sống, để cuối cùng tạo ra giá trị tư tưởng cho tác phẩm văn học theo cách nhìn riêng, theo quan niệm thẫm mỹ riêng của nhà văn.

Truyện ngắn là một thể loại đòi hỏi người viết phải tóm gọn tác phẩm trong một nội dung cô đọng, ít lời đối thoại. Nhà văn phải lựa chọn, tổ chức lời văn sao cho nó mang phong cách của riêng mình. Một truyện ngắn hay không chỉ ở sự kiện mới lạ, cốt truyện giàu kịch tính …mà yếu tố quan trọng là cái tài kể chuyện của tác giả. Giọng điệu kể truyện chính là cái giúp nhà văn ghi lại dấu ấn trong lòng người đọc, dù đó có thể chỉ là những câu chuyện có nội dung hết sức bình thường.

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 92 - 99)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)