Không gian “dưới đáy”

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 86 - 92)

2.5. Không gian và thời gian nghệ thuật

2.5.1. Không gian “dưới đáy”

Truyện ngắn Nguyên Hồng không có sự đa dạng các loại hình không gian. Chủ yếu là không gian hiện thực, không gian “dưới đáy”. Trong cái không gian đó, rộng là ngõ hẻm, ngoại ô thành phố Hải Phòng, hẹp là trong những căn nhà tù mù, ẩm thấp, chứa đầy bụi và bóng tối, cô đặc, bao vây cuộc sống con người. Cũng có khi không gian ấy mở ra trên những con đò chòng chành sóng nước, vừa hiện thực vừa mang một giá trị nghệ thuật phụ thuộc

vào dụng ý của nhà văn. Người đọc có thể nhận ra, một lần nữa chính cái đối tượng sáng tác là cái quy định không gian trong truyện ngắn của Nguyên Hồng

Không gian trong truyện ngắn của Nguyên Hồng ít được sử dụng làm nền cho những xung đột xã hội mà chủ yếu là không gian riêng tư, cá nhân, không gian sinh tồn của những con người dưới đáy xã hội.

Đặc trưng về không gian trong truyện ngắn Nguyên Hồng là không gian nhỏ bé với những căn nhà thuê có chung một tính chất: chật chội, tối tăm, nóng nực và bẩn thỉu. Nhân vật của Nguyên Hồng ăn, thở, lao động trong cái không gian bé xíu ấy, và chính trong cái không gian quen thuộc ấy họ thành thật sống với chính con người mình. Không đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm cùng những dằn vặt, trăn trở của nhân vật nhiều như Nam Cao, không gian “dưới đáy” giúp Nguyên Hồng tái hiện lại hoàn cảnh đáng thương của những con người cùng khổ dưới đáy xã hội. Đồng thời khắc hoạ rõ nét vẻ đẹp tâm hồn con người trước sự khắc nghiệt, trớ trêu của cuộc đời. Nhà văn nhận ra, tồn tại trong cái không gian nhỏ bé ấy con người đã có sự phân hoá rất rõ rệt: một bên là những con người biết chấp nhận hoàn cảnh sống thực tại, bằng lòng với hạnh phúc nhỏ bé mà mình đang có để sống cho lương thiện, có khát vọng vươn lên bằng sức lao động của chính mình (Vợ chồng bác Nấu, Vợ chồng Nhân, mẹ con Thưởng, Thanh, Lựu, Mụ vợ lão Đen, Mụ Mão,… ). Bên còn lại là những kẻ không chịu nổi cảnh sống nghèo nàn, bỏ đi tìm sự giàu sang (Tý cô), hay tha hoá dần trong rượu chè cờ bạc (Lão Đen, Mão Chột) hoặc biến thành kẻ không ai chịu đựng nỗi (bà thím của Lệ Hà). Không gian chật chội nhỏ bé thắt chặt cuộc đời họ. Nó ẩn chứa sự tăm tối, cô đặc vây bủa không thể nào thoát ra được của những đời người trong cảnh lầm than.

Không gian trong Nhà Bác Nấu là một căn nhà lụp sụp, thuê tám hào một tháng với những đồ đạc tuềnh toàng, lắt nhắt. Những ngày hè, mọi thứ đồ vật trong nhà từ giường, phản, bàn ghế đến quần áo nồng lên một làn bụi và một mùi hôi nghẹn cả thở. Ngày mưa, nước mưa ngập vào nhà, dềnh lên nửa chân giường. Bác Nấu gái phải đun nấu ngay trên tấm phản gần đó cùng những rác rưởi từ các xó xỉnh dồn ra, nổi lềnh bềnh. Cái hàng cơm nhỏ mà Vịnh (Hàng cơm đêm) đang sống cũng là một không gian hẹp giữ chân Vịnh với những công việc hàng ngày không ngơi tay. Trong cái không gian bức bối ấy, Vịnh thèm được thoát khỏi nó, rời bỏ nó để nghĩ đến một cái gì đó sáng sủa hơn, rộng rãi và tươi sáng hơn. Sự đau đớn, tủi hờn thấm thía vào tâm hồn người con gái đa cảm khiến cô dù mệt mỏi cũng không thể

nào ngủ được. Không gian nhà ở còn là nơi Thạo bé cô độc, không có khả năng chống chọi lại sự tàn nhẫn, ác độc, thô bạo của bà chủ nhà khi bà ta cướp đi công sức, thành quả lao động của em. Không gian trong những căn nhà của vợ chồng Mão Chột (Người đàn bà không con) hay lão Đen (Cha con lão Đen) cũng hơn được. Nó chỉ đơn giản là chốn ăn, ngủ và nơi thường xuyên diễn ra xảy ra những trận đòn phủ lên đầu những người đàn bà vô tội.

Không chỉ tăm tối và ảm đạm, không gian quanh họ còn bốc mùi ngột ngạt báo hiệu một sự xuống cấp trầm trọng trong nhân cách con người. Rất nhiều những phu phen, thợ thuyền như lão Đen, Mão Chột, Ký Phát tìm vui trong rượu chè, cờ bạc, bất cần vợ con đói khổ thế nào. Căn nhà lúp xúp, như hun như đốt của bà Phó lại là không gian chứa chất, dồn tụ nỗi cô đơn cùng cực của người mẹ già và tiếng chao chát, thở than kêu trời của những đứa con cấu chí, kể tội nhau vì miếng ăn. Cái không gian ấy không còn là không gian vật lý nữa mà nó đã là không gian mang tính chủ quan của con người. Nó tù mù, nó u tối, nó lẩn khuất những uất ức không thể tỏ bày. Những căn nhà tạm bợ như cuộc đời chênh vênh của họ không có gì là chắc chắn. Nay còn mai có thể đã phải ra đường, ngủ trong những gầm cầu, hè phố. Trong cái không gian ấy, con người tất bật lo lắng chỉ để kiếm ngày hai bữa ăn và trả những món nợ đeo đẳng từ thuở nào. Mặc dù vậy, trong không gian nhỏ hẹp ấy vẫn lấp lánh những tâm hồn người biết hướng về cuộc sống. Trong căn nhà thuê rẻ tiền chật hẹp vợ chồng bác Nấu và bà mẹ già vẫn chăm chỉ làm ăn bằng những công việc lương thiện của mình. Họ từ chối và lắc đầu trước những đồng tiền của người em gái có được nhờ lấy chồng Tây. Vịnh vẫn không thôi hy vọng về một tương lai sẽ khác, tươi sáng hơn, vẫn mở rộng tấm lòng và sống thật nhân hậu, bao dung với mọi người. Mụ Mão sống hạnh phúc cùng hai ông bà già và bốn đứa trẻ dù cho có phải chật vật, khó khăn. Lựu dù nghèo vẫn không cúi đầu trước những lời mật ngọt và tiền bạc của những kẻ bỉ ổi, đáng khinh như Hộ. Thanh dù những khó khăn vẫn còn đó nhưng không lúc nào Thanh mất đi niềm hy vọng về tương lai.

Rõ ràng, hoàn cảnh dù tăm tối, khắc nghiệt cũng không làm con người mất đi niềm tin vào cuộc sống của mình.

Bên cạnh lại không gian chủ đạo là nhà ở, trong truyện ngắn Nguyên Hồng còn xuất hiện những không gian khác có phần rộng lớn hơn như không gian nhà tù, không gian chiến tranh, không gian sông nước, không gian đường phố, ....Những loại không gian này góp phần làm phong phú hơn bức tranh cuộc sống con người. Nếu như không gian nhà ở là

không gian mang tính cá nhân riêng lẻ của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi số phận thì những loại không gian này là không gian bao trùm bên ngoài, nơi con người đã là một cộng đồng với tính chất chung là chủ yếu.

Không khí chiến tranh được đặc tả trong truyện ngắn Buổi chiều xám không phải với đầy đủ cái bộ mặt đáng ghê tởm của nó mà chỉ là một vái nét phác họa về hậu quả mà nó gây ra cho con người. Chiến tranh không chỉ đem đến đau thương, mất mát, chia lìa đối với người dân mà chính những kẻ gây ra chiến tranh cũng phải chịu hậu quả tương tự. Loại không gian này được Nguyên Hồng miêu tả với những màu sắc mờ mờ, xám xám. Đó là buổi chiều Xan đứng nhìn cảnh tượng nhợt nhạt của chiến tranh. Cảnh vật thì “Trên đầu Xan, mây chỉ càng thấp xuống, và chung quanh Xan, cảnh vật càng thẫm lại. Gió thổi mạnh hơn. Bụi đường cùng lá cây cuộn lên thành từng đám dày, chạy rào và quằn quại như những chim chóc chạy trốn trước cơn bão”, và đây là con người trong bức tranh ấy “Từ những thân thể trần truồng, co quắp, những cái dáng đi lẩy bẩy, mờ mờ, và những cặp mắt ngơ ngác của những đám người…”. Không gian ấy vừa là không gian tả vừa chứa đầy sức gợi. Nó đem đến cho người đọc cái nhìn vừa khép kín trong một bối cảnh nhất định vừa có thể vươn tầm ra bao quát hơn, đó là hiện thực của cả cái xã hội mà nhân vật đang tồn tại. Không gian mang màu sắc ảm đạm, thê lương. Nó không chỉ là không gian hiện thực mà còn là không gian trong tâm tưởng con người “Thoáng giây phút, Xan tưởng đến bao cảnh choáng lộn đã diễn ra làm bao kẻ phải nghẹn ngào khao khát. Những dãy ô tô bóng lộn, những cờ bay phấp phới, những vàng ngọc chói ngời và những toàn nhà sực nức hương hoa…ngoài mặt trận kia, khói và lửa đang ngút trời, từng lớp từng lớp những người bỗng thành bia thịt, những máy bắn chém người không tiếc tay, giày xéo lên xác chết để làm giầu cho một lũ lái súng, khát vàng và máu” [63,369]. Có chiến tranh không thể không có nhà tù nhưng đây không phải là nhà tù giam những chiến sĩ cộng sản, những kẻ phản loạn, những đầu trộm đuôi cướp, mà là nơi giam giữ những đàn bà con mọn yếu đuối đáng thương. Linh hồn, Cát bụi lầmTết của tù đàn bà mang đến cho người đọc một không gian âm u, lạnh lẽo của nhà tù. So với không gian nhà ở thì không gian này có khác hơn một chút, nó rộng hơn, to lớn hơn và cũng đáng sợ hơn rất nhiều. Trong cái không gian ấy, con người sống không ra sống mà chết cũng không ra chết. Hai cái không gian này cùng với không gian nhà ở nó bao bọc lấy cuộc sống con người. Không gian thì khắc nghiệt mà con người nhỏ bé, thì dường

như không đủ sức thoát khỏi áp lực của nó. Con người đang bị bao vây tứ phía bởi những gọng kìm xiết chặt của chế độ, của thực dân, phát xít. Không gian vừa là không gian hiện thực vừa là không gian mang màu sắc chủ quan của con người.

Sông máuTrong cảnh khốn cùng lại mở ra một không gian sông nước. Nếu không gian này trong Sông máu dữ dội bao nhiêu thì nó lại êm đềm, quyến rũ bấy nhiêu trong Trong cảnh khốn cùng. Không gian ấy khiến lòng người chao đảo theo những con sóng lăn tăn dưới chân đò, không gian thì yên tĩnh nhưng lòng người thì dậy sóng. Truyện có sự lồng ghép hai không gian, một rộng mở ra bên ngoài con đò, hướng ra cảnh vật hai bên bờ. Một còn lại là nhỏ hẹp, tù túng như bó buộc cuộc đời Quyến khiến Quyến muốn thoát ra khỏi sự trói buộc đó, rũ bỏ trách nhiệm của mình để nghe theo những dục vọng đang thúc giục nàng.

Sự chuyển biến trong tâm hồn nhân vật cũng kéo theo thay đổi của không gian. Không gian ở cuối truyện đã có sự hoà nhập làm một chứ không tách bạch làm hai như ở đầu câu chuyện, khi nhân vật Quyến đã trở lại êm đềm như đang sống trong cảnh đủ đầy hạnh phúc của ngày xưa. Có thể thấy ở đây, không gian vừa là không gian hiện thực vừa làm không gian tái hiện cảm xúc của con người.

Cũng là không gian sông nước nhưng không gian trong Sông máu lại mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Nó mở ra một sự dữ dội đến khôn lường về sự mong manh nhỏ bé của kiếp người cùng khổ trong cảnh khốn cùng phải kiếm ăn trên chuyến đò chuyên chở hàng buôn lậu. Không gian tái hiện sự đối lập rõ rệt giữa con người và tự nhiên. Trong cái không gian ấy, con người trở nên nhỏ bé vô cùng trong khi thiên nhiên phô bày sức mạnh ghê gớm của nó. Không gian như thế mang nhiều ý nghĩa tượng trưng hơn là không gian vật lý. Nó chính là cuộc đời, là xã hội hiện tại, là bóng đêm của kiếp sống nô lệ lầm than.

Bên cạnh cái không gian nhà tù lạnh lẽo, không gian chiến tranh bi thảm, không gian sông nước vừa dữ dội vừa êm đềm, trong truyện ngắn Nguyên Hồng còn có một không gian khác mà đây chính là chỗ làm nên sự khác biệt về cách miêu tả không gian trong truyện ngắn của Nguyên Hồng so với các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời. Đó là không gian của đám đông. Nguyên Hồng rất thích nói về đám đông. Cái số lượng đông đảo những con người tụ tập lại vừa ồn ào vừa nhộn nhịp ấy tạo nên một sức sống kỳ lạ trong sáng tác của Nguyên Hồng. Tựa hồ như với nhà văn, đám đông luôn chứa một sức mạnh tiềm tàng nào đó làm mất đi cái không khí tẻ nhạt, u buồn, chán nản của những kiếp người lầm lũi mưu sinh.

Trong Hàng cơm đêm, cái không gian đám đông được miêu tả bằng âm thanh, bằng màu sắc, bằng cảm nhận của con người về cuộc sống: “Thứ tiếng ồn ào đã có từ bao năm khi ánh nắng hấp hối giờ đây cũng lại nói nhiều về cuộc đời như chiều hôm qua, hôm kia và những hôm đã lâu…Những tiếng guốc khua, tiếng xe bò ầm ầm vì đường ghồ ghề, những tiếng xẻng tiếng cuốc và ván gỗ trong thùng xe xô đẩy nhau nhẩy lên nhẩy xuống” [70, 201]. Không gian đám đông mang một sức sống kì lạ, thổi vào tác phẩm của Nguyên Hồng luồng sinh khí tạo cho truyện ngắn của ông không chỉ là những không gian đậm nỗi buồn mà còn có những không gian lấp lánh niềm vui. Không gian cho thấy một nội lực mạnh mẽ của con người sẽ không bao giờ tắt dù cho có bị bao trùm bởi chiến tranh, tù đày, đói khổ thì con người vẫn phải sống, phải tồn tại, phải vượt qua và hướng về tương lai “Toàn những kẻ quần áo rách rưới, lấm láp và khét lẹt mùi dầu mỡ, khói, bụi và bùn đất đắm lấp ở những xưởng máy, những kho hàng, những lán gỗ, những hầm tàu. Họ vừa ăn vừa trò chuyện, hỏi gọi nhau ồn ồn. Những chị phu hồ, phu than ríu rít như chim sẻ. trong khi ăn họ nô nghịch hơn cả đàn ông” [70, 201]. Không gian đám đông thường mang một không khí vui tươi hay tạo nên sức mạnh của tình đoàn kết con người. Điều này được thấy rất rõ trong truyện ngắn Người đàn bà Tàu. Tuy rằng kiểu không gian này trong truyện ngắn của Nguyên Hồng không nhiều lắm nhưng nó có một ý nghĩa nhất định trong phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng. Nhà văn luôn là người yêu thiết tha nhất những con người cần lao, đói khổ.

Với ông niềm tin vào họ là niềm tin mãnh liệt nhất và tha thiết nhất. Chính vì thế, đặt nhân vật vào đúng không gian tồn tại của họ, nhà văn làm bật lên được cái vẻ đẹp tâm hồn của họ, khát khao hướng về một cuộc sống mới tốt đẹp và tươi sáng hơn.

Nếu trong truyện ngắn Thạch Lam, không gian chủ đạo là không gian bóng tối bao trùm, phủ kín cái phố huyện nghèo cùng bao số phận con người lẩn khuất mãi vào đêm dài thì cái không gian với ánh nắng chan hoà, rực rỡ lại là không gian mang màu sắc chủ đạo trong nghệ thuật Nguyên Hồng. Ở đây, truyện ngắn của hai nhà văn có một sự khác nhau rõ rệt. Thế giới nghệ thuật của Thạch Lam là một thế giới u ám, ngập tràn bóng tối, đặc biệt là cái đêm tối tưởng như có thể “xắn” từng miếng, ngập tràn cả dãy phố trong đêm giao thừa của Liên và Huệ nơi căn nhà xăm trống vắng (Tối ba mươi). Hai đứa trẻ lại là một truyện ngắn hài hoà hơn về sự phối hợp hai mảng màu ánh sáng và bóng tối. Nhưng nói cho cùng thì bóng tối vẫn chiếm giữ một mật độ dày đặc, nó lan dần và bao phủ cả không gian rộng

lớn khiến câu chuyện của Thạch Lam man mác một nỗi buồn day dứt về cuộc đời bằng phẳng, đơn điệu, nhàm chán của những kiếp người nhỏ bé nơi phố huyện nghèo nàn. Truyện ngắn Nguyên Hồng cũng có bóng tối nhưng bóng tối trong những căn nhà thuê chật chội, hôi hám như ghì chặt cuộc đời của những con người dưới đáy xã hội chỉ đem đến cho người đọc một sự bức bối muốn thoát ra, muốn hướng đến cái không gian ngập tràn ánh nắng mà Nguyên Hồng luôn tả một cách thỏa thê khi có dịp “Ánh nắng chói lòa thêm hào quang ở các viền mây cẩm châu tía ra đốt hết những vẩn đục của da trời pha lê xanh biếc” [63, 153]

“Nắng xuân càng tô thêm muôn ngàn ánh ngời vàng ngọc lên cảnh vật, gió xuân rướn cao mãi muôn ngàn bản nhạc vang lừng… ” [63, 154]. Nắng thường đi cùng với gió:“Nắng và gió toả ra lênh láng. Ánh sáng trong suốt reo trên những cây cỏ nảy nở như thổi” [63, 182].

Dưới cái ánh nắng và gió ấy, tất cả đều tràn đầy sinh khí, mãnh liệt. Nó thể hiện niềm ham sống, niềm tin yêu cuộc sống của nhà văn. Bởi lẽ, chỉ có riêng Nguyên Hồng mới tìm thấy tất cả những vẻ tầm thường của cuộc sống một chất đẹp, một chất thơ mà người khác không nhìn thấy.

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 86 - 92)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)