Các tài liệu tiếng Việt chủ yếu là những bài giới thiệu khái quát về cuộc đời tác giả, tóm tắt nội dung và nêu chủ đề tác phẩm: - Trong bài viết Người đưa nền văn học Ấn Độ đương đại ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY
Th ành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN -
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Cô hướng dẫn luận văn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thúy
Giáo sư Lưu Đức Trung
Các thầy cô tổ Văn học Nước ngoài, các thầy cô Khoa Ngữ Văn Phòng Sau Đại học và Công nghệ Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh
Gia đình và bạn bè
đã tận tình góp ý, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 10 năm 2011
Người viết luận văn Trần Huỳnh Nhị Lớp Cao học Văn học nước ngoài K19
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất của nhân loại, Ấn Độ sở hữu một nền văn học giàu có và rực rỡ Với bề dày hơn 3500 năm, hành trình văn
học Ấn Độ, từ văn học Veda đến văn học hiện đại, đã tự khẳng định vị thế của mình
trên văn đàn thế giới Sử thi Mahabharata, Ramayana; kịch thơ Shakuntala; truyện thơ Hồ truyền kì Rama và Thơ Dâng giải Nobel 1913 đã trở thành di sản văn học
thế giới Truyền thống văn hóa - văn học dân tộc đã nuôi dưỡng niềm tự hào mãnh liệt trong lòng mỗi người dân Ấn Độ qua bao thế hệ và đồng thời đem đến cho độc giả thế giới sự hiểu biết, lòng ngưỡng mộ một nền văn học giàu sức sống, đậm đà bản sắc
1.2 Tiếp nối truyền thống vẻ vang, văn học đương đại Ấn Độ được vinh
danh trên văn đàn thế giới nhờ những đóng góp tích cực của các nhà văn trẻ viết bằng tiếng Anh như: Dhan Gopal Mukerji (Giải thưởng Văn học Mỹ), Nirad C Chaudhuri, P Lal, R.K Narayan, Mulk Raj Anand (Giải thưởng Sahitya Akademi), Salman Rushdie (Giải Man Booker, 1981), Bharati Mukherjee (Giải National Book Critics Circle, 1998), Arundhati Roy (Giải Man Booker, 1997), Vidiadhar Surajprasad Naipaul 0T(Nobel văn chương, 2001), 0TKiran Desai (Giải Man Booker, 2006), Aravind Adiga (Giải Man Booker, 2008), Jhumpa Lahiri (Giải Pulitzer, 2000
và Giải Frank O’Connor, 2008)…
1.3 Trong số các nhà văn đương đại viết bằng tiếng Anh, Jhumpa Lahiri là
một hiện tượng đặc biệt Cô xuất hiện và làm cho độc giả bất ngờ trước những giải
thưởng danh giá, chỉ với hai tuyển tập truyện ngắn Người dịch bệnh (Interpreter of
Maladies) và Vùng đất lạ (Unaccustomed Earth): Giải O.Henry (1999), giải
Pen/Hemingway (1999), giải Pulitzer (2000), giải Frank O’Connor (2008) Bằng những sáng tạo nghệ thuật, Lahiri điềm tĩnh chọn hướng đi cho riêng mình Thế giới nghệ thuật của cô vừa quen vừa lạ, vừa cổ điển lại vừa tân kỳ, vừa có vẻ giản đơn
mà lại biến hóa thâm sâu… Nó góp phần tạo nên một thế giới nghệ thuật nối dài từ Đông sang Tây, giúp người đọc nhập cảm sâu hơn vào đời sống của những người
Trang 6tha hương, về Ấn Độ hiện đại qua cảm nhận của những người Ấn Độ di trú ở những
vùng đất lạ Đây là lí do để chúng tôi tiếp cận với những đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Jhumpa Lahiri
1.4 “ Văn học Ấn Độ ở Việt Nam” là hướng nghiên cứu và tiếp nhận quan
trọng ở nước ta trong những năm đầu thế kỉ XX Cùng xu hướng tiếp cận, nghiên cứu văn học đương đại của thế giới và để minh chứng cho sự tiếp nối truyền thống của văn học Ấn Độ qua các thời kì, đề tài luận văn sẽ tiếp cận với thể loại truyện ngắn viết bằng tiếng Anh của văn học đương đại Ấn Độ, với mong muốn đem đến một cái nhìn toàn diện hơn cho việc nghiên cứu văn học Ấn Độ ở Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2 1 Tài liệu tiếng Việt
Jhumpa Lahiri là nhà văn mới nổi Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về cô
ở Việt Nam còn rất khiêm tốn Các tài liệu tiếng Việt chủ yếu là những bài giới thiệu khái quát về cuộc đời tác giả, tóm tắt nội dung và nêu chủ đề tác phẩm:
- Trong bài viết Người đưa nền văn học Ấn Độ đương đại ra thế giới (Tạp chí
văn chương da màu, ngày 05/05/2008), Dạ Lan Hương đã khái quát tình hình phát
triển của nền văn học Ấn Độ đương đại nói chung và nền văn học Ấn Độ viết bằng
tiếng Anh nói riêng Từ sự khái quát này, tác giả khẳng định vị trí của nhà văn trẻ Jhumpa Lahiri trên văn đàn đương đại, đồng thời giới thiệu chủ đề, tóm tắt nội dung
tuyển tập truyện ngắn Người dịch bệnh và tiểu thuyết Hoán danh
- Đào Trung Đạo trong mục điểm sách: Jhumpa Lahiri - Unaccustomed Earth
(2Thttp://www.gio-o.com2T) đã khẳng định tập truyện Unaccustomed Earth là tác phẩm
văn chương toàn cầu vì đã đi vào phản ánh một cách chân thực và sâu sắc cuộc sống
của những người có thân phận “công dân toàn cầu”
- Trong bài viết Vùng đất lạ (2Thttp://tintuc.xalo.vn2T, ngày 02/4/2010), Thanh Hoa
đã dựa theo bài viết Con cháu Mỹ quốc của Siesl Schillinger (Nguyễn Viết Minh
Thanh chuyển ngữ), nhận xét khái quát về nghệ thuật xây dựng nhân vật của
Jhumpa Lahiri trong tuyển tập Vùng đất lạ Điểm nổi bật trong cách xây dựng nhân
vật của Jhumpa Lahiri là cô không tìm cách kiểm soát các nhân vật mà để họ trưởng
Trang 7thành một cách tự nhiên Bằng cách đó, cô tạo điều kiện cho người đọc có cơ hội đồng hành cùng với các nhân vật của mình
- Trong bài báo Nhà văn nữ Jhumpa Lahiri – Sự đáp xuống của sao chổi
(2Thttp://www.baocantho.com.vn2T, ngày 19/7/2008), Duyên Khánh đã dựa trên bài viết
Người đưa nền văn học Ấn Độ đương đại ra thế giới của tác giả Dạ Lan Hương
ghi nhận lại một số thông tin về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Jhumpa Lahiri
- Tiểu Yến trong bài viết Văn học Ấn dưới con mắt nữ giới
(2Thttp://www.baodanang.vn2T, ngày 11/10/2008) đã tổng hợp một số đóng góp quan trọng của các nhà văn nữ Ấn Độ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Jhumpa Lahiri
2.2 Tài liệu tiếng Anh
Các nhà nghiên cứu, phê bình trên thế giới tiếp cận truyện ngắn Jhumpa Lahiri trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật
Khi khai thác nội dung, các nhà nghiên cứu chủ yếu nhìn truyện ngắn Jhumpa
Lahiri từ góc độ văn hóa Đó là những bài viết quan tâm đến vấn đề hội nhập và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của những người Ấn Độ di cư:
- Liesl Schillinger trong bài phê bình American Children (The New York
Times) được Nguyễn Viết Minh Thanh chuyển ngữ với tựa đề Con cháu Mỹ quốc
(Tạp chí văn chương da màu ngày 06/4/2008) đã có những nhận định sâu sắc về
cuộc sống của thế hệ thứ hai trong gia đình người Ấn di dân trong truyện ngắn của Jhumpa Lahiri – thế hệ tiềm ẩn mầm mống nổi loạn Họ là minh chứng cho sự hoài
nghi của Jhumpa Lahiri đối với biện luận của Nathaniel Hawthorne về sự tồn tại
của con người trên những vùng đất lạ: Vận mệnh con người có lẽ sẽ khá hơn nếu họ
có thể bám rễ, chôn gốc vào một vùng đất không quen thuộc
- Trong bài viết Food as Metaphor in Jhumpa Lahiri’s Interpreter of Maladies
(Thức ăn như phép ẩn dụ trong Người dịch bệnh của Jhumpa Lahiri)
(2Thttp://www.hinduism.about.com2T), Choubey Asha tập trung khai thác ý nghĩa của biểu tượng thực phẩm trong truyện ngắn Jhumpa Lahiri Thực phẩm được nhà văn
Trang 8sử dụng như là một phương tiện để thể hiện tình cảm và bản sắc của cộng đồng Ấn
Độ lưu vong
- Bài viết Themes of Marriage and Tradition (Chủ đề hôn nhân và truyền
thống) (2Thttp://voices.cla.umn.edu2T0T),0T Gipe Nicholas đề cập đến mối quan hệ giữa hôn nhân và truyền thống trong các câu chuyện của Jhumpa Lahiri Tác giả chỉ rõ:
truyện chính là những thử nghiệm của Jhumpa về cách thức để tìm được hạnh phúc
trong cuộc đời
0T
- Culture and Immigration, America and Post-America in Lahiri’s The Intrerpreter of Maladies (Văn hóa và nhập cư, nước Mỹ và hậu nước Mỹ) của Hassan Rouhvand (0T2Thttp://faculty.k.su.edu2T0T) là một bài viết phong phú, khai thác khá sâu những vấn đề nội dung của tập truyện:
0T
Mở đầu bài viết, tác giả giới thiệu khái quát về cuộc đời Jhumpa Lahiri và khẳng
định giá trị to lớn của tuyển tập đầu tay Interpreter of Maladies Bài viết còn đề cập
đến vấn đề “Tự do dân chủ Mỹ” (American Liberal Democracy) theo cách nhìn của John Fonte trong To possess the National Consciousness of America (Để chiếm hữu
ý thức dân tộc Mỹ) và vấn đề nhập cư (immigration), vấn đề đồng hóa (assimilation) và giao thoa văn hóa (acculturation) ở Mỹ Từ các vấn đề được phân tích, Hassan Rouhvand đi đến kết luận Người dịch bệnh là tiếng nói của những
người đang đứng giữa hai nền văn hóa, đang ra sức đấu tranh để tồn tại, để được công nhận: họ là ai?
0T
- Michiko Kakutani trong bài Wonder Bread and curry: Mingling Cultures, ConFlicted Hearts (Bánh mì và Cà ri: những giá trị văn hóa trộn lẫn, những tình cảm mâu thuẫn) (The New York Times, ngày 06/8/1999, 0T2Thttp://topics.nytimes.com2T0T)
đã phân tích sâu sắc nội tâm các nhân vật trong tuyển tập Unaccustomed Earth:
“Các nhân vật của Lahiri đứng giữa hai đất nước, hai nền văn hóa và không thuộc
về cả hai” Theo Kakutani nhận định từ tác phẩm của Jhumpa Lahiri, nếu như các
bậc cha mẹ mong muốn đem đến cho các con của họ “Giấc mơ nước Mỹ”
(American Dream) thì những đứa con của họ lại trở nên nhạy cảm khi lớn lên trước
Trang 9những thử thách bí ẩn của nước Mỹ Chúng dễ dàng thâm nhập cả hai nền văn hóa nhưng hoàn toàn không có cảm giác cả hai là nhà Từ sự phân tích của mình,
Kakutani khẳng định tài năng của Jhumpa Lahiri “Một nghệ sĩ tuyệt vời”
Những bài nghiên cứu về nghệ thuật truyện ngắn Jhumpa Lahiri mà chúng tôi
thu thập được không nhiều, chủ yếu bàn về cách kể chuyện vừa truyền thống vừa hiện đại của nhà văn Mỹ gốc Ấn
- Bài viết Unaccustomed Earth của nhà văn Vanessa Gebbie
(2Thttp://www.theshortreview.com2T) bước đầu nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của Jhumpa Lahiri Đó là lối kể chuyện tuy đơn giản nhưng vô cùng tinh tế và lắng đọng, Jhumpa Lahiri liên tục chuyển đổi các điểm nhìn để nhân vật tự bộc lộ, câu
chuyện tự phát triển theo logic riêng của nó Gebbie viết: “Đó là sự tĩnh lặng đặc
trưng cho cách viết của Lahiri Bạn không thể tìm đâu những chỗ ngoặt quanh co,
sự châm biếm chua cay hoặc những thủ thuật của tác giả Những câu chuyện hoàn toàn giản dị mộc mạc Lời văn cũng giản dị mộc mạc như vậy”
- 2TLev Grossman2T với bài Jhumpa Lahiri: The quiet Laureate
(2Thttp://www.time.com2T, ngày 08/5/2008) đã nhận định về nghệ thuật kể chuyện của
Jhumpa Lahiri: “ Các truyện của Lahiri từ tốn, chậm và tĩnh lặng, thuộc lối viết của thế kỉ XIX Nó không mua chuộc bạn bằng sự hài hước hay cốt truyện quanh co hoặc bằng sự đánh bóng ngôn ngữ” và “Cô bước lùi về phía xa, tách khỏi mọi việc đang diễn ra, thoát khỏi mọi việc, vì thế nhân vật và sự việc trong truyện có thể tồn tại đúng như ở ngoài đời: phức tạp, nhập nhằng và không thể lý giải”
Những nét phát thảo về lịch sử vấn đề cho thấy truyện ngắn Jhumpa Lahiri vẫn đang là một ẩn số thú vị chờ đợi sự khám phá của giới nghiên cứu Những tài liệu lượt thuật nêu trên, mặc dù không nhiều nhưng đã tạo được nền tảng ban đầu giúp chúng tôi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống và tổng thể phong cách nghệ thuật truyện ngắn Jhumpa Lahiri
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Jhumpa Lahiri chủ yếu sáng tác và thành công ở thể loại truyện ngắn Các tuyển
tập truyện ngắn của cô đã xuất bản được đánh giá là những tác phẩm thể hiện “tính
chuyên nghiệp bậc thầy của một nhà văn đang ở đỉnh điểm tài năng” (đánh giá của
The New York Times) Đề tài luận văn của chúng tôi tập trung khai thác những nét đặc trưng trong sáng tác của Jhumpa Lahiri trên hai phương diện: hình tượng nhân vật và hình tượng không gian
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là hai tuyển tập truyện ngắn của Jhumpa Lahiri đã được dịch và phát hành tại Việt Nam
- Người dịch bệnh (Interpreter of Maladies), dịch giả Đặng Tuyết Anh và Ngân
xuyên, Nhà xuất bản Lao Động, 2004
- Vùng đất lạ (Unaccustomed Earth) dịch giả Lại Thu Trinh, Nhà xuất bản Văn
hóa Sài Gòn, 2009
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu tiếp cận với hai bản dịch này, đồng thời đối chiếu với nguyên tác bằng tiếng Anh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng
khảo sát thêm tiểu thuyết The namesake (Hoán danh) để có cái nhìn toàn diện và
thống nhất hơn về tư tưởng nghệ thuật của Jhumpa Lahiri
4 Phương pháp nghiên cứu
toàn bộ các câu chuyện của Jhumpa Lahiri Vì vậy, việc nghiên cứu không thể tách rời những yếu tố văn hóa đã hình thành nên nhân dạng và tư cách của nhà văn Chúng tôi xem đây là phương pháp quan trọng, bên cạnh phương pháp loại hình, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
triển khai nội dung của đề tài
Trang 11- Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để phân
tích từng truyện ngắn cụ thể nhằm khái quát những nét đặc trưng trong truyện ngắn của Jhumpa Lahiri
hình tượng người Ấn Độ di trú trong truyện ngắn của Lahiri với một vài hình tượng người di trú của một số tác giả khác trong nền Văn học Mỹ hiện đại Đây sẽ là những căn cứ để chúng tôi khẳng định ý nghĩa của hình tượng nhân vật
5 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
- Ba chương nội dung của luận văn hướng đến giải quyết những vấn đề sau đây:
Chương một giới thiệu khái quát về tác giả trong mối quan hệ mật thiết với sự
phát triển của nền văn học Ấn Độ đương đại viết bằng tiếng Anh
Chương hai và chương ba phân tích hai vấn đề cơ bản tạo nên nét đặc trưng
trong phong cách truyện ngắn của Jhumpa Lahiri Hai vấn đề đó là: Hình tượng nhân vật người di cư và hình tượng không gian di cư trong truyện ngắn Jhumpa Lahiri
đề đã trình bày trong các chương và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong các công trình nghiên cứu sau này
6 Đóng góp của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Đề tài luận văn: Đặc trưng truyện ngắn của Jhumpa Lahiri
sẽ góp phần nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Jhumpa Lahiri, nhà văn nữ nổi danh của văn học đương đại Ấn Độ
Ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay, tên tuổi Jhumpa Lahiri còn khá xa lạ với độc giả
Việt Nam Vì vậy, công trình nghiên cứu này sẽ góp phần đưa Jhumpa Lahiri đến gần hơn với độc giả và giới nghiên cứu Việt Nam, đồng thời cung cấp cái nhìn mới
về một hiện tượng văn chương đặc biệt: “Văn chương di dân” mà Lahiri là một
trong những đại diện xuất sắc
Trang 12Chương một : JHUMPA LAHIRI VÀ NỀN VĂN HỌC ẤN ĐỘ VIẾT BẰNG TIẾNG ANH
1.1 Jhumpa Lahiri – đ ứa con của ba lục địa
Jhumpa Lahiri sinh ngày 11 tháng 7 năm 1967 tại London, trong một gia đình người Ấn gốc Bengal di cư (Bengali Indian immigrants) Mặc dù sinh ra ở vùng Bắc
Âu, nhưng vẻ đẹp của Jhumpa Lahiri vẫn rất đặc trưng Ấn Độ: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, đôi mắt đen huyền, sâu thẳm Vẻ bề ngoài ấy có phần xa lạ với những cư dân xứ sở sương mù Tuy nhiên, khi chưa kịp lớn để nhận thức sự khác biệt của bản thân với thế giới xung quanh, cô bé hai tuổi Jhumpa đã phải theo bước viễn du của cha mẹ chuyển đến tiểu bang Rhode Island – Hoa Kỳ Tại đây, cha của Jhumpa làm việc cho thư viện trường đại học Rhode Island Jhumpa đã dần trở thành công dân
Mỹ Cô tốt nghiệp THPT ở trường Kingstown High School, tốt nghiệp cử nhân văn chương của trường Barnard College năm 1989, cao học văn chương và tiến sĩ ngành Renaissance Studies tại Boston University Năm 2001, Lahiri kết hôn với Alberto Vourvoulias-Bush, tổng biên tập của báo Time Latin America Hiện tại, cô là Phó
chủ tịch Hội văn bút Mỹ, sống cùng chồng và hai con ở New York
Có thể nói, Jhumpa Lahiri là đứa con của ba lục địa, Ấn Độ là quê cha mẹ, Anh Quốc là nơi sinh và Hoa Kỳ là nơi định cư lâu dài Ba quốc gia này đại diện cho hai khu vực văn hóa khác biệt và có thể nói là đối lập nhau: Ấn Độ đại diện cho văn hóa phương Đông hướng nội, duy linh, duy cảm và Anh Quốc, Hoa Kỳ đại diện cho văn hóa phương Tây hướng ngoại, duy lí Ý thức về sự khác nhau giữa văn hóa Đông – Tây từ lâu đã được mặc định Sự tranh chấp mỗi khi va chạm là nỗi ám ảnh của hầu hết những người da màu định cư ở các nước phương Tây Và đây cũng là nguyên nhân làm nảy sinh ở họ một đời sống tinh thần phức tạp với nhiều xúc cảm
và ràng buộc
Mối ràng buộc đầu tiên gắn kết Jhumpa với Ấn Độ Đây là quê hương của cha
mẹ cô, là nơi ấn định trong nhận thức của họ về sở cứ tồn tại Nên, dù sống ở nước
ngoài trên ba mươi năm, cha mẹ Jhumpa vẫn không thể coi một nơi nào là “nhà”
ngoài Ấn Độ Họ áp đặt tâm thế ấy lên con cái, buộc chúng phải yêu tất cả mọi thứ
Trang 13thuộc về Ấn Độ như: trang phục, thức ăn, tôn giáo, ngôn ngữ… bất chấp sự bất hợp
lí và khó hòa đồng với thực tại Vì vậy, mặc dù không trực tiếp trải nghiệm cuộc sống trên đất Ấn nhưng dưới sự giáo dục nghiêm khắc của gia đình, Jhumpa đã sống như một người Ấn Độ đích thực trên đất Mỹ
Từ nhỏ, Jhumpa đã bị ám ảnh bởi hai tiếng “Ấn Độ” Nó khiến cô thường xuyên
phải đối mặt với nghịch cảnh, thường xuyên bị ép buộc làm những điều ngoài ý
muốn: “Ở nhà, tôi theo phong tục của cha mẹ, nói tiếng Bengali, ăn cơm với các
ngón tay của mình Sự thật này dường như là một phần bí mật trong cuộc sống của tôi, và tôi đau khổ che giấu chúng với các bạn người Mỹ” [71] Nhưng mọi cố gắng
che giấu sự khác biệt của Jhumpa đều không có kết quả, vì nó hiện lên rõ ràng qua cái tên, dáng vẻ bên ngoài và cung cách sinh hoạt, khiến cho cô luôn cảm thấy ngại ngùng: “Tôi luôn thấy ngại ngùng vì cái tên của mình, cảm thấy như mình là nguyên nhân khiến cho mọi người thắc mắc” Cảm giác này càng nặng nề hơn khi
cô cùng cha mẹ về thăm Ấn Độ: “Tôi đã trải qua quá nhiều những buổi tối ở khách
sạn trong những thành phố Châu Á, lãng phí thời gian xem ti vi mà tôi không hiểu đang nói về điều gì… Những lúc ấy mẹ tôi tỏ ra rất buồn phiền” [66]
Jhumpa đã không có tuổi thơ bình thường như bao đứa trẻ người Mỹ khác Đời sống tinh thần của cô luôn chịu áp lực từ hai phía: trong gia đình (cha mẹ muốn con gái là người Ấn Độ) và ngoài xã hội (cộng đồng da trắng buộc cô giống người Mỹ):
từ của hai bên dấu gạch nối: Ấn – Mỹ (Indian – American)” [71] Sau này, Jhumpa
đã giải thích rằng, sở dĩ cô luôn nghĩ mình là người Ấn Độ không phải vì thường xuyên được đưa về Ấn Độ hay do gen di truyền mà vì sự kiên định của cha mẹ cô
Họ luôn nói rằng cô không phải là người Mỹ, rằng không có gì khó khăn khi cô cố gắng vượt qua điều này Từ những quy định bảo thủ này, Jhumpa chua xót rút ra bài
học: “một cộng một không bằng hai mà bằng không”; “Những xung đột trong bản
thân cô cộng hưởng lại và triệt tiêu lẫn nhau” [71]
Khi Jhumpa Lahiri lớn lên, những ám ảnh này dần dần được xem xét lại bằng những suy nghĩ chín chắn Cô vẫn thường trực cái cảm giác mình là người Ấn Độ,
Trang 14mặc dù không còn bị áp đặt nữa: “Bản thân tôi thường nghĩ về cội nguồn rất nhiều
Các nhà văn thường có xu hướng đào sâu vào cội rễ cũng như can đảm đương đầu với những lộn xộn của cuộc sống hiện tại Tôi đoán và hy vọng các con mình sẽ biết quan tâm đến tương lai cũng như quá khứ gia đình, đồng thời biết chấp nhận và tôn trọng những giá trị truyền thống” [58]
Hai tiếng “Ấn Độ” là động lực thôi thúc Jhumpa quay trở về, thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm, khám phá cội nguồn như một sự tri ân sâu sắc: “Tôi cảm ơn Ấn
Độ với sự nỗ lực của cha mẹ tôi Tôi tin rằng tôi luôn luôn thiếu quyền lực mà hai con người ấy có được từ Ấn Độ Nhưng miễn họ còn sống là họ sẽ bảo vệ tôi khỏi cảm giác như một kẻ mạo danh” [71]
Jhumpa Lahiri đã đi qua mọi nẻo đường Ấn Độ Cô quan tâm, lo ngại về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân lên xứ sở này Nó gợi mối trăn trở về thân phận của
những người da màu khi phải đối diện với người da trắng Dù là “chủ” (trên quê hương) hay là “khách” (trên xứ người), người da màu vẫn bị xem là hạ đẳng, nhất
là đối với những dân tộc đã từng chịu sự nô dịch của người da trắng như Ấn Độ:
“Tác động tai hại nhất của thực dân hóa không phải là thuộc địa bị biến thành nô
lệ và đất nước của ông bị khai thác các nguồn tài nguyên, con người và khoáng sản
tổn đến mức không còn chút tự tin nào và phải gánh chịu phức cảm tự ti sâu sắc mà ông mang theo thậm chí đến ngày hôm nay khi đã là công dân của một đất nước tự
do Dù tự do, ông vẫn tin rằng người da trắng là ưu đẳng và đề cao người da trắng
là đương nhiên trong mọi việc, ở mọi nơi” [16, tr 69] Jhumpa đã có sự đồng cảm
đối với tất cả người Ấn Độ tha hương từ những cảm nghiệm về chính cuộc đời
mình Sự liên hệ này phù hợp với quy luật “lá rụng về cội”, “nước chảy về nguồn”
theo quan niệm của người phương Đông Đây là cơ sở để chúng ta hiểu vì sao Jhumpa luôn dành tình cảm thiêng liêng đối với vùng đất mà bản thân cô chưa từng sinh sống
Tuy nhiên, sự ràng buộc họ hàng với Ấn Độ không đủ làm nên cái gọi là “nhà” (home) trong tâm thức của nhà văn Mỹ gốc Ấn, Jhumpa giải thích: “Tôi không lớn
Trang 15lên ở đó và không thuộc về nơi đó Chúng tôi luôn về thăm nhưng chúng tôi không
có nhà Chúng tôi đã cố bấu víu vào một thế giới đã không hoàn toàn là của mình”
[68] Trên thực tế, phần lớn cuộc sống của Jhumpa diễn ra ở Hoa Kỳ Và tất nhiên,
cô có tình cảm sâu nặng đối với đất nước này – một thiên đường cho những người
nhập cư: “Tôi không sinh ra ở đây nhưng cuộc sống của tôi ở đây”; “Cha mẹ tôi
không bao giờ coi đây là nhà nhưng tôi và chồng tôi coi nước Mỹ chính là quê hương mình” [58] Việc nảy sinh tình cảm đối với “nơi ta ở” phù hợp với logic
phát triển tâm lí của các thế hệ con cháu như Jhumpa, khi mà quê hương thứ nhất chỉ tồn tại bằng sự nhắc nhở của ông bà, cha mẹ
Nhưng nói như thế không có nghĩa là Jhumpa Lahiri không trăn trở về tư cách công dân Mỹ của mình Mặc dù hiến pháp của Hoa Kỳ công nhận quyền bình đẳng của con người nhưng tư tưởng kì thị của cộng đồng người da trắng đối với người da màu vẫn tồn tại Đó là nguyên nhân khiến cho Jhumpa từ trong sâu thẳm tâm hồn
vẫn cảm thấy là “người ngoài cuộc”, luôn băn khoăn đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: “Ta thuộc về đâu?”
Mức độ “chiếm hữu” của Ấn Độ và Hoa Kỳ đối với Jhumpa Lahiri là ngang
nhau Mỗi bên đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng và Jhumpa đã biết cách kết hợp
để dung hòa Bài toán ngày xưa nay được giải bằng một đáp số khác, thay vì “một
cộng một bằng không” thì bây giờ “một cộng một là hai” và “con số hai trong công việc của tôi và trong sự tồn tại hàng ngày của tôi Các giá trị truyền thống ở hai bên dấu gạch ngang ngự trong tôi như anh em ruột, mặc dù đôi khi có sự tranh chấp” [71]
Con người luôn có nhu cầu khẳng định bản sắc riêng, nhất là khi đứng trước một
đối tượng “khác mình” Tuy nhiên, nếu họ bị đặt vào tình thế “nước đôi” thì mọi
cố gắng để phân biệt đều vô vọng Với Jhumpa, bản ngã được cấu thành bởi các yếu
tố truyền thống thuộc hai nền văn hóa khác nhau: Ấn và Mỹ Điều này đã dẫn đến một nghịch lí: khi ở Ấn Độ người ta luôn xem cô là người Mỹ còn ở Mỹ, cô được coi là người Ấn thuần chủng Vậy thì cô thuộc về nơi nào? Jhumpa đã trả lời câu
hỏi này trong cuộc trao đổi ở Calcutta vào tháng 01 năm 2001 như sau: “Không đất
Trang 16nước nào là tổ quốc của tôi Tôi luôn tìm thấy bản ngã của mình trong cảnh tha hương hay bất cứ nơi nào tôi đã đi qua” [68] Ý thức về trạng thái “không nhà”
(homelessness) là kết quả của những lần vượt đại dương, những lần thay đổi chỗ ở, những lúc học tập miệt mài, những khi căng thẳng vì bị phân biệt đối xử Và đó chính là “sự mất mát” Một sự mất mát không thể bù đắp vì chủ thể không còn tư
cách “chính danh” trên bất kỳ lãnh địa nào Linda Lê (nhà văn người Pháp gốc
Việt) gọi chủ thể ấy là “người vô xứ” Jhumpa Lahiri cũng đã gián tiếp thừa nhận rằng cô là một “người vô xứ”
h ương
Jhumpa Lahiri đến với văn chương là một cách để giải phóng bản thân khỏi tình trạng nhập nhằng khi đứng giữa hai thế giới Cô cảm thấy mình như một cái cây được cấy ghép, sống dai dẳng nơi đất lạ Mọi sự cố gắng của cô là để không bị xếp vào bất kỳ danh mục nào, để tâm hồn trôi bồng bềnh vô định giữa trời Đông và trời Tây Trong một chừng mực nào đó, với Jhumpa, viết là phương pháp tốt nhất để xoa dịu những cảm xúc nóng rát vì nghịch cảnh, là tìm một chốn bình yên để thỏa sức bộc lộ mà không cần dè chừng bị tập kích hay bị phản bội Cô thường nói rằng: viết văn là lối thoát duy nhất cho tình trạng sống của mình, một kiếp sống có quá nhiều những điều nan giải, không thể dứt bỏ, không thể lãng quên, không thể làm ngơ và cũng không thể che giấu – kiếp sống của kẻ tha hương Vì vậy, những trang
viết cũng chính là hành trình nhà văn tìm kiếm bản ngã của mình, là chuyến “ra
khơi” để “đứng xa và nhìn vào cuộc đời mình”
Tác phẩm của Jhumpa Lahiri tập trung khai thác cuộc sống của những người
Ấn nhập cư thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai, những người luôn thường trực cái cảm giác là một người lạ mặt vừa bị thương hại vừa được kính trọng, những người luôn tìm cách đặt tên cho mình – những cái tên kép, những tên gọi ghép đôi ghép ba bằng những gạch nối như một nỗ lực tột cùng để khẳng định nhân dạng và bản sắc
đặc thù của mình Hầu hết họ đều thoát thai từ “bản ngã lưu vong” Nhà văn
Trang 17thường viết về những điều anh ta biết, hơn thế, Jhumpa Lahiri viết những điều mà
cô đang sống
Tập truyện đầu tay, Người dịch bệnh (The Interpreter of Maladies), gồm chín
truyện đem đến cho độc giả những kinh nghiệm vừa quen thuộc vừa xa lạ về người
Ấn Độ, thường là người Bengal sống tại Ấn hoặc đã di cư đến Hoa Kỳ Tập truyện
đã cung cấp những chi tiết phong phú về đời sống của người Ấn cũng như các giá trị văn hóa, phong tục của họ
Ấn Cuộc hôn nhân của hai người đang ở thời kì bế tắc sau cái chết của đứa con chưa kịp chào đời Họ nhận được thông báo rằng khu phố sẽ mất điện mỗi đêm Việc mất điện, một cái cớ nhất thời lại tạo nên những chuyển biến quan trọng trong mối quan hệ của họ
quan hệ giữa một gia đình người Bengal và một gia đình người Bangladesh trên đất
Mỹ Lilia, cô con gái người Mỹ gốc Ấn rất ngạc nhiên vì sự tiếp đãi nồng hậu của cha mẹ mình dành cho bác Pirzada Tất cả họ hướng về cuộc xung đột giữa hai dân tộc và quan trọng hơn là sự an toàn của vợ và con bác Pirzada Sự có mặt của bác Pirzada đã để lại nỗi nhớ trong lòng Lilia, khiến em nảy sinh tình cảm với một nơi
xa lạ bên kia bờ đại dương
một hướng dẫn viên du lịch người Ấn Độ với một gia đình người Mỹ gốc Ấn về thăm quê hương Cuộc gặp gỡ ấy đã để lại dấu ấn khó phai từ cả hai phía Gia đình
người Mỹ gốc Ấn cảm thấy vô cùng thú vị về cái nghề “dịch bệnh” của ông Kapasi,
và ngược lại ông Kapasi bị hấp dẫn bởi sự ngây thơ, tự nhiên của người phụ nữ gốc
Ấn đã được Mỹ hóa Kết thúc câu chuyện, bí mật về đứa con riêng được phơi bày trong sự nhìn nhận vấn đề theo hai hướng hoàn toàn trái ngược nhau từ phía ông Kapasi và người phụ nữ ấy
Trang 18- Ngôi nhà của cô Sen (Mrs Sen’s) tái hiện hình ảnh cô Sen – một người phụ
nữ Ấn Độ có tình cảm sâu nặng với quê nhà và không thể nào hòa nhập được với cuộc sống nơi xứ lạ, nơi chồng cô là giáo sư của trường đại học
tị nạn, mất hết của cải, lìa xa gia đình, xin ngủ dưới chân cầu thang của một chung
cư nghèo nàn và vô tình trở thành người gác cổng Bà bị đuổi khỏi chung cư sau khi
ở đây xảy ra vụ mất trộm
- Ngôi n hà được ban phước (The Blessed House) là câu chuyện về đôi vợ
chồng trẻ người Mỹ gốc Ấn đang cố gắng hòa nhập với nhau sau khi dọn đến ngôi nhà mới chứa đầy những đồ dùng của đạo Thiên chúa
vùng nông thôn thuộc Calcutta trăn trở cùng với căn bệnh của Bibi Haldar Bibi Haldar và tất cả mọi người xung quanh tin rằng căn bệnh ấy sẽ được chữa khỏi sau khi cô kết hôn
ông Bengal đã có gia đình Tình cảm chân thành của cô được đáp lại bằng sự bạc bẽo của người đàn ông ấy
chuyện của một người đàn ông Ấn Độ nhập cư, rời quê hương tìm kiếm tương lai tươi sáng ở những chân trời xa lạ: ban đầu là ở Anh, sau đó đến Hoa Kỳ Ông có ấn tượng đặc biệt với bà chủ nhà trọ tên Croft, đã ngoài 100 tuổi Bà Croft tỏ ra rất hài lòng khi gặp vợ ông, một người phụ nữ Ấn dịu dàng trong chiếc áo sari
Tập truyện Vùng đất lạ (Unaccustomed Earth) có hai phần, phần đầu gồm năm
truyện và phần thứ hai là ba truyện liên hoàn Chủ đề quyển sách không mới, vẫn là nỗi buồn lìa xứ, kinh nghiệm chuyển đổi nơi sống khi bỏ quê nhà lại phía sau lưng
- Nhân vật chính của Vùng đất lạ là Ruma Cô là luật sư gốc Bengal, đã bỏ
nghề để theo chồng con về sống tại một thành phố xa xôi ở vùng Seattle (thuộc bang Washington State) Trong thời gian chờ sinh đứa con thứ hai, Ruma sống với những hồi ức về cuộc đời của mẹ, một cuộc đời chỉ biết đến trách nhiệm chăm nom
Trang 19con cái và chu tất việc nhà Cô đau khổ và tuyệt vọng nhận thấy cuộc sống của mình cũng đang diễn ra như thế Vì vậy, khi cha cô từ Pennsylvania về thăm, tuy lo sợ về những xáo trộn có thể xảy ra, nhưng cô vẫn ngỏ lời mời ông về sống cùng gia đình mình Cha cô không đồng ý và khuyên Ruma đi làm trở lại Ông muốn cô có cuộc sống khác với vợ của ông trước đây Khoảng cách giữa hai cha con được rút ngắn thông qua mối liên hệ cảm động giữa cha cô và đứa con trai của cô Ông dạy nó làm vườn, trồng cây, nói những điều bâng quơ nhưng đầy ý nghĩa về cuộc đời một người vô xứ Kết thúc câu chuyện, ông chào tạm biệt Ruma, tiếp tục cuộc hành trình của mình để được gặp lại người phụ nữ mà ông quý mến
- Địa Ngục - Thiên Đường (Hell – Heaven), nhân vật tự sự là một phụ nữ
người Mỹ gốc Bengal đã kể lại niềm đam mê cháy bỏng của mẹ cô khi còn trẻ Bà
ấy đã dành tất cả nỗi đam mê đó cho anh sinh viên bậc cao học gần nhà Nhưng cuối cùng, bà phải hy sinh tất cả vì bổn phận Sau này, khi thất bại trong tình yêu,
cô buồn bã tự hỏi tại sao trước đây mình không suy nghĩ sâu xa về cuộc đời của me
- Lựa chọn nơi cư trú (A choice of Accommodations) xoay quanh việc lựa
chọn nơi ở của vợ chồng Amit và Megan Amit là người Bengal, còn Megan là người Mỹ Họ đã gửi bọn trẻ cho bà ngoại trông nom để đi dự lễ cưới của một người bạn cũ ở Langford Chuyến đi này đồng thời là kỳ nghỉ ngắn dành riêng cho hai người, là dịp để cả hai nhìn lại chính mình sau bao năm chung sống
Sudha tìm cách nói chuyện với cha mẹ về đứa em trai nghiện rượu do sống không hạnh phúc; cô thấy được trách nhiệm của cha mẹ trong những hành vi mù quáng, không nhìn nhận những ảnh hưởng xấu lây lan trong môi trường sống nơi định cư Theo cô, cha mẹ đã nhầm lẫn khi phóng chiếu những kinh nghiệm khổ đau đã trải qua ở quê cũ để cho rằng con cái sẽ được miễn nhiễm khi tới vùng đất mới
anh chàng sinh viên cao học người Mỹ đối với người bạn gái chung phòng gốc Bengal Cô ấy không dành cho anh nhiều tình cảm và từ chối tất cả những lời cầu
Trang 20hôn của những chàng độc thân đồng hương để dấn thân vào cuộc tình với một sử gia gốc Ai Cập ích kỷ, điên khùng
Ba truyện liên hoàn trong phần hai tập sách Hema và Kaushik (Hema and
Kaushik) kể lại chuyện tình của Hema và Kaushik Họ biết nhau khi còn nhỏ và không gặp lại trong một thời gian dài vì gia đình thay đổi chỗ ở Đến khi trưởng thành, hai người tình cờ gặp lại và yêu nhau Nhưng tình yêu ấy không đưa đến một cuộc hôn nhân mà để lại trong lòng mỗi người nỗi đau không nguôi ngoai
Truyện thứ nhất có tựa đề Một lần trong đời (Once in a lifetime) Gia đình
Kaushik đang ở Cambridge lại đột ngột quyết định trở vế Ấn Đô Bảy năm sau, họ quay lại sống ở Massachusett, việc này khiến cha mẹ Hema hết sức băn khoăn Khi
đó, Hema 13 tuổi, Kaushik thì 16 Hema và Kaushik thân thiết với nhau khi gia đình Kaushik đến tạm trú nhà Hema ở Boston, chờ tìm được nhà riêng
Truyện thứ hai Cuối Năm (Year’s End) kể về cuộc sống của Kaushik sau cái
chết của mẹ Nỗi nhớ mẹ khiến anh không thể chấp nhận việc cha anh tái giá với một phụ nữ có hai đứa con riêng và chỉ bằng nửa tuổi của ông Học xong, để quên
đi quá khứ, anh chọn nghề phóng viên chụp hình, dấn thân vào chiến trường, những điểm nóng trên thế giới xa tắp ngoài mép địa cầu
Truyện thứ ba Trôi dạt vào bờ (Going Ashore) kể lại cuộc gặp gỡ giữa Hema
và Kaushik ở Rome Lúc này, Hema đã là một giáo sư cổ ngữ La tinh ở đại học Wellesley Sau cuộc tình tuyệt vọng, cô chấp nhận lấy một người chồng Ấn Độ theo
sự sắp xếp của cha mẹ Gặp lại Kaushik, kỉ niệm quay về, Hema cuồng nhiệt trong vòng tay yêu thương của anh Kaushik yêu Hema nhưng lại không từ bỏ kiếp sống phiêu bạt Họ chia tay nhau trong tiếc nuối Đám cưới Hema vẫn tiến hành theo dự định và sau đó cô được báo tin rằng có một mẩu cáo phó nhỏ được đăng trên tờ The New York Times Trong khi âm thầm để tang cho cái chết của anh, cô cảm nhận được sự tồn tại mạnh mẽ của một sinh linh bé nhỏ trong cơ thể mình
Ngoài hai tập truyện ngắn được tóm tắt ở trên, Jhumpa Lahiri còn có một tiểu
thuyết với nhan đề The Namesake (Hoán danh) Tác phẩm kể về một gia đình di dân
trên đất Mỹ Gogol, nhân vật chính của truyện luôn tỏ ra bất mãn với cái tên mà
Trang 21người cha đã đặt cho mình Cậu ghét cái tên, ghét cả Ấn Độ, luôn cố gắng sống sao cho giống với phong cách của một người Mỹ Cuối cùng, trải qua bao nhiêu thất bại trong cuộc sống, qua cái chết của cha, qua những chuyến về thăm Ấn Độ, cậu đau đớn nhận ra rằng, con người chỉ tồn tại và hạnh phúc khi xác định được mình là ai; khi dung hoà được những nét văn hóa khác biệt và khi biết trân trọng cả quá khứ lẫn hiện tại
Chủ đề trong các tập truyện của Jhumpa Lahiri khá thống nhất: kinh nghiệm
của người Mỹ gốc Ấn (Indian – American) và trong một chừng mực nào đó nó là
kinh nghiệm của chính tác giả Jhumpa Lahiri đã tự bạch: “Khi lần đầu tiên viết, tôi
không ý thức được rằng chủ đề của tôi là kinh nghiệm của người Mỹ gốc Ấn Điều
đã thu hút tôi đến với nghề là mong muốn phá bỏ ranh giới giữa hai thế giới tôi đã
cư ngụ, trộn lẫn chúng vào nhau trên trang viết, bù đắp vào những điều tôi không
đủ can đảm làm, hoặc không được phép làm trong cuộc sống” [71] Đọc truyện
ngắn Jhumpa, độc giả luôn có cảm giác đang sống cùng với cộng đồng người Ấn với nếp sống, nếp nghĩ hết sức đặc trưng Có điều, những đặc trưng ấy không còn mang màu sắc huyền bí, linh thiêng, trầm mặc như thuở nào mà rất đỗi đời thường, đậm đặc dư vị của thời đại mới
Trong số các nhà văn gốc Ấn đang sống ở nước ngoài, Jhumpa Lahiri không phải là người duy nhất viết về đề tài người Ấn nhập cư Nhưng có thể nói, dưới ngòi
tình trạng “lưỡng cư” được mở phơi Nó cho chúng ta những suy nghiệm quý báu
về quá trình tìm lại, lưu giữ văn hóa bản sắc dân tộc của những người tha hương trên thế giới chứ không riêng gì Ấn Độ
Ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng để sáng tác cũng là một vấn đề được nhiều người quan tâm, bởi nó là tín hiệu thể hiện bản sắc văn hóa đặc thù của một dân tộc, như
Kafka (nhà văn gốc Do Thái) từng nói: “ngôn ngữ là tiếng thở vang vang của quê
hương” [52] Vì vậy, hầu hết các nhà văn lưu vong đều có chung niềm trăn trở khi
quyết định gắn bó với một ngôn ngữ xa lạ không phải là tiếng mẹ đẻ của mình Họ
cảm thấy mất mát như một kẻ đã đem bán bóng của mình: “Viết trong một ngôn
Trang 22ngữ không phải là ngôn ngữ của mình đồng nghĩa với việc làm tình với một thây ma” [52]
Đối với Jhumpa Lahiri, vấn đề ngôn ngữ có vẻ nhẹ nhàng hơn Tiếng Anh là
ngôn ngữ mà nhà văn lựa chọn để sáng tác Cô giải thích: “Tôi nói tiếng Bengali với
các con, tuy nhiên tôi thiếu trình độ để dạy chúng đọc hay viết ngôn ngữ ấy” nhưng
“tôi có thể nói và hiểu tiếng Anh đến mức không còn có sự phân biệt như bất kỳ người Mỹ nào” [71]
đ ương đại ra thế giới
Jhumpa Lahiri được cả hai nền văn học thừa nhận: Văn học Mỹ (nơi định cư)
và văn học Ấn Độ (nguyên quán) Cho nên có thể tiếp cận tác phẩm của nhà văn này theo hai hướng: Một là, nền văn học Mỹ trong sự tương quan với quá trình hình thành, phát triển của bộ phận văn học những người nhập cư (Literature of Immigration) đã có lịch sử trên 100 năm nay trên đất Mỹ; hai là, nền văn học Ấn Độ trong sự tương quan với quá trình hình thành và phát triển của bộ phận văn học Ấn
Độ viết bằng tiếng Anh (Indian English Literature) được hình thành từ vài thập kỉ trước khi Ấn Độ giành độc lập Chúng tôi chọn hướng nghiên cứu thứ hai vì hai lý
do như sau:
Thứ nhất, những trang viết của Jhumpa thấm đẫm chất Ấn Độ
Thứ hai, Jhumpa Lahiri không phải là nhà văn gốc Ấn duy nhất sống ở nước ngoài và viết văn bằng tiếng Anh Bởi, ở Ấn Độ, văn chương tiếng Anh được công nhận chính thức, tồn tại ngang hàng với các bộ phận văn học viết bằng những ngôn ngữ bản địa khác Dòng văn học này sở hữu một lực lượng sáng tác hùng hậu gồm các văn nhân, thi nhân thông thạo tiếng Anh sống ở Ấn Độ và nước ngoài Việc xếp Jhumpa vào đội ngũ này sẽ góp phần quan trọng giúp người viết nắm bắt được khuynh hướng phát triển mới của văn học Ấn Độ – nền văn học có truyền thống lâu đời cùng với những đóng góp to lớn của nó trong kho tàng văn học thế giới
Trang 231.3.1 Sự hình thành dòng văn học Ấn viết bằng tiếng Anh
Văn học Ấn Độ viết bằng tiếng Anh (Indian English Literature) có thể tạm gọi
là văn học Ấn – Anh (Indo – Anglian Literature) Đội ngũ nhà văn phân thành hai nhóm Một nhóm gồm những người đang sinh sống tại Ấn Độ và sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ chính thức bên cạnh các phương ngữ khác Nhóm còn lại là những nhà văn gốc Ấn đang sống và làm việc ở nước ngoài (nhiều nhất là ở Anh, Canada và Hoa Kỳ) vì nhiều lí do khác nhau So với các nền văn học viết bằng tiếng
Ấn Độ bản xứ như: Hindi, Bengali, Tamil, Assames, Urdu… thì văn học Ấn – Anh
ra đời muộn màng hơn nhiều Song, nền văn học trẻ tuổi này lại lớn mạnh không ngừng và đang tạo lập uy tín trên khắp thế giới Đây được xem là một hiện tượng đặc biệt trong tiến trình lịch sử trên 3500 năm của văn học Ấn Độ
Khi tìm hiểu về nền văn học Ấn – Anh, không ít người đã đặt ra câu hỏi: Tại sao ở Ấn Độ lại tồn tại dòng văn chương viết bằng tiếng Anh, ngôn ngữ của quốc gia đô hộ Ấn Độ trên 80 năm? Từ khởi thủy, Ấn Độ đã sở hữu một tiềm lực đặc
biệt Cho nên tất cả đều có thể “khả hữu” đối với xứ sở này, trường hợp vừa nêu
trên cũng không ngoại lệ Tiềm lực đặc biệt mà chúng tôi đề cập đến là điều mà cố thủ tướng Nehru và nhà sử học phương Tây Samul Hungtington đã khẳng định:
“Một ước mơ thống nhất nào đó đã thường trực trong tâm trí Ấn Độ kể từ buổi đầu của nền văn minh Sự thống nhất đó không phải từ bên ngoài áp đặt vào, không phải là sự tiêu chuẩn hóa những thứ ngoại lai hoặc thậm chí các niềm tin Nó là một cái gì sâu sắc hơn, và trong lòng nó là một đức bao dung rộng lớn nhất về niềm tin và tập quán, và mọi sự khác biệt đều được chấp nhận, thậm chí được khuyến
cách riêng của mình đã khiến cho mọi thứ thuộc về Ấn Độ đều đa dạng và phức tạp,
kể cả văn chương Nếu như các dân tộc khác có một nền văn học thống nhất thì ở
Ấn Độ lại tồn tại nhiều nền văn học tương ứng với nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong
đó có bộ phận văn học Ấn – Anh
Văn học Ấn – Anh được hình thành trong quá trình Ấn Độ tiếp xúc với văn hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa Anh, kể từ khi người Anh có mặt và đặt ách đô
Trang 24hộ lên xứ sở này (từ 1858 đến 1947) Đây là cuộc tiếp xúc mà giới cầm quyền Anh không hề mong muốn vì họ sợ ảnh hưởng của nó sẽ làm Ấn Độ thay đổi theo chiều hướng tiến bộ Tuy nhiên, bất chấp mưu đồ phản động của giới cầm quyền Anh, văn hóa phương Tây vẫn vào được xứ Ấn thông qua các nhà giáo dục, Đông phương học và các nhà truyền giáo người Anh tiến bộ Quyết tâm của lực lượng này kết hợp với những người Ấn tràn đầy nhiệt huyết thời bấy giờ đã phần nào làm thất bại âm mưu của giới cầm quyền Anh Nền giáo dục Anh được phổ biến và tiếng Anh được dạy ở một số trường dòng, trường đại học tại Ấn Độ Trí thức Ấn Độ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, say mê trước những điều mới mẻ mà họ khám phá được từ nền
giáo dục Anh Họ hăng say học tiếng Anh, đọc sách của người Anh, rồi dần dần sử dụng tiếng Anh để sáng tác văn học Với sự cố gắng của họ, văn học Ấn Độ được thức tỉnh và bước vào quá trình hiện đại hóa Những hình mẫu mới về tư tưởng và hình thức nghệ thuật phương Tây đã thôi thúc giới cầm bút Ấn Độ thời bấy giờ
mạnh dạn “vứt bỏ sự tự mãn thiển cận đối với cái chính thống, lòng mộ đạo ủy mị
trung năng động và hiện đại Tiếng Anh lúc này không còn là tiếng nói của kẻ xâm lược nữa mà là tiếng nói của thời đại mới Việc người Ấn Độ học tiếng Anh, nói tiếng Anh và viết tiếng Anh được xem như là một biểu hiện của tinh thần đổi mới, cởi mở, của tư tưởng tiến bộ Và nếu như chủ nghĩa dân tộc trên thế giới cho phép tồn tại tiếng Anh của người Mỹ, tiếng Anh của người Úc thì không có gì trở ngại
cho sự xuất hiện tiếng Anh của người Ấn Độ: “Anh văn đã loanh quanh đâu đó ở
Ấn Độ từ nhiều thế kỷ Người Ấn đã lấy nó làm thành ngôn ngữ của mình, giống như người Mỹ hay người Úc đã làm” [57]
Như vậy, với sự xuất hiện của các tác phẩm văn chương viết bằng tiếng Anh, văn học Ấn Độ dễ dàng vượt qua rào cản về ngôn ngữ để đến với độc giả trên toàn thế giới Mặc dù được viết bằng tiếng Anh nhưng hầu hết các tác phẩm ấy đều thấm đẫm chất Ấn Độ, góp phần tạo nên một thứ tiếng Anh mới, sinh động, khác lạ – tiếng Anh của người Ấn – một trong những ngôn ngữ chính thức được chính phủ
Trang 25Ấn Độ công nhận và là phương tiện giao tiếp của không dưới 30 triệu cư dân Ấn
Văn học Veda được viết bằng ngôn ngữ Sanskrit, nổi tiếng với hai bộ sử thi Ramayana, Mahabharata và vở kịch thơ Shakuntala của Kalidasa
Văn chương trung cổ phát triển trên nền tảng của một số ngôn ngữ bản xứ như: Telugu, Tamil, Kannada, Malayalam (ở khu vực phía Nam Ấn), Hindi (ở trung và bắc Ấn), Bengali (ở bắc Ấn)… Nổi tiếng nhất có thể kể đến Goswami Tulsidas – nhà thơ Hindi vĩ đại thế kỉ XVI
Giai đoạn cận hiện đại, nhờ tiếp xúc với văn hóa phương Tây, văn học viết bằng tiếng bản xứ không ngừng lớn mạnh với những đại diện xuất sắc như: Rabindranath Tagore – nhà thơ đoạt giải Nobel năm 1913 với tập Thơ Dâng viết bằng tiếng Anh; Prem Chand – ông hoàng tiểu thuyết Hindi; Vivekananda – cha đẻ của truyện ngắn Urdu; Mirza Asadullad Baig Khan – nhà thơ Urdu vĩ đại thế kỉ XIX; Muhammad Iqbal – nhà thơ Hồi giáo xuất sắc nhất thế kỉ XX…
Những năm gần đây, văn học Ấn Độ đạt được nhiều thành tựu nổi bật nhờ những đóng góp tích cực của thế hệ các nhà văn trẻ viết bằng tiếng Anh
Cuốn sách tiếng Anh đầu tiên
Cuốn sách tiếng Anh đầu tiên được viết bởi Sake Dean Mohamet – một nhà
văn Anh gốc Ấn có nhan đề Những chuyến đi của Mohamet (Travels of Dean
Mohamet) xuất bản năm 1793 tại Anh Cấu trúc của nó bước đầu chịu ảnh hưởng của loại hình tiểu thuyết của phương Tây
Bộ ba Mulk Raj Anand, R.K Narayan và Raja Rao
Mulk Raj Anand (1905), người sáng lập Hội các nhà văn tiến bộ Ấn Độ, giải thưởng hòa bình quốc tế 1953, tiểu thuyết và truyện ngắn của ông giàu tính hiện
Trang 26thực và hướng về đời sống của người lao động cùng khổ Tiểu thuyết Những kẻ
cùng đinh (1935) được đánh giá là một trong những tác phẩm đánh dấu bước trưởng
thành của thể loại tiểu thuyết
R.K Narayan (1906), một nhà văn viết bằng tiếng Anh nổi tiếng của thế kỉ
XX Tác phẩm của ông tập trung đả kích tầng lớp tiểu tư sản đầu óc hẹp hòi, hãnh
tiến và quan tâm đến đời sống cùng cực của những người nghèo khổ Swamy và các
bạn (1935) là tiểu thuyết tiêu biểu nhất của ông
Raja Rao là nhà văn mang tính tiên phong và thành công nhất trong ba người Ông được coi là tiểu thuyết gia quan trọng nhất viết bằng tiếng Anh tại Ấn Độ lúc bấy giờ vì đã thành công trong việc chuyển đổi hình thức của tiểu thuyết phương Tây, làm cho nó phù hợp với các vấn đề xã hội Ấn Độ Bốn tác phẩm nổi tiếng của
ông là Kathapura (1938), Con bò của những người trên chiến lũy (1947), Con rắn
hổ mang và sợi dây thừng (1960), Con mèo và Shakespeare (1965)…
Bộ ba Mulk Raj Anand, R.K Narayan và Raja Rao được coi là những người đặt nền móng cho mảng văn học Ấn Độ viết bằng tiếng Anh Tuy nhiên, tác phẩm của họ chưa đủ sức tạo nên những dấu ấn độc đáo và ngang tầm R Tagore hay Prem Chand
Các tiểu thuyết gia được giải thưởng Man Booker
Giải Man Booker (Man Booker Prize), tên đầy đủ là Giải thưởng văn học Man Booker (Man Booker Prize for Ficti on), đôi khi còn được gọi tắt là Giải Booker (Booker Prize) là 2Tgiải thưởng văn học2Tđược trao hàng năm cho thể loại tiểu thuyết dài hay nhất viết bằng 2Ttiếng Anh2T Tác giả của nó là công dân quốc gia thuộc
2T
Khối Thịnh vượng chung Anh2T hay công dân 2TCộng hòa Ireland2T
Năm 1981, nhà văn Anh gốc Ấn Salman Rushdie đã đoạt giải thưởng Booker
danh giá với tác phẩm Midnight’s Children (tạm dịch Những đứa trẻ sinh ra lúc nửa
đêm) Tác phẩm là bức tranh sống động về đất nước Ấn Độ sau ngày giành được độc lập, với khuynh hướng sáng tác mới: chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Năm 1993, tiểu thuyết này tiếp tục nhận được giải thưởng Booker of Booker và được tạp chí uy
Trang 27tín Time liệt kê trong danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh xuất sắc nhất kể từ năm
1923
Nhà văn Ấn Độ thứ hai được trao tặng giải Booker năm 1997 là Arundhati
Roy với tác phẩm The God of Small Things (Chúa trời của những chuyện vụn vặt)
Đây là quyển tiểu thuyết đầu tay và cũng là tác phẩm duy nhất của nữ nhà văn này Tác phẩm mang đậm màu sắc chính trị, biểu lộ những sắc thái thú vị về đời sống của cộng đồng người Syria Cơ Đốc giáo tại Kerala thông qua thủ pháp đảo lộn trật
tự thời gian Cuốn sách được các nhà xuất bản mua bản quyền với giá một triệu đô
la Mỹ và cho đến nay tác phẩm đã được dịch ra 27 thứ tiếng
Giải Booker năm 2006 thuộc về nhà văn Ấn Độ Kiran Desai với tiểu thuyết
đánh giá cao vì tính nhân bản của nó: “là một tiểu thuyết tuyệt vời thấm đẫm hơi thở
và sự uyên thâm của con người, vừa nhẹ nhàng hài hước vừa phản ánh chính xác hiện thực chính trị”, “một tiểu thuyết toàn cầu hóa dành cho một thế giới toàn cầu hóa” [47]
Năm 2008, giải Booker vinh danh tiểu thuyết gia Ấn Độ: Aravind Adiga với
tác phẩm đầu tay White tiger (Cọp trắng) Tác phẩm đã nhận được những lời khen nồng nhiệt từ giới phê bình cho đến độc giả: “Adiga là một Gorky toàn cầu, một
Kipling hiện đại đã trưởng thành và trưởng thành bạo liệt” [1, tr 13], “anh bước vào văn đàn trong bộ chiến giáp và sẵn sàng chinh phục Chúng ta hãy cúi mình trước anh ấy” [1, tr 1]
Cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Ấn Độ
Trong lịch sử văn học Ấn Độ, truyện ngắn xuất hiện ở giai đoạn cận hiện đại, thường được viết bởi những nhà văn đã nổi tiếng ở một thể loại khác như: Thánh thi Tagore, Ông hoàng tiểu thuyết Prem Chand, bộ ba Mulk Raj Anand, R.K Narayan
và Raja Rao…Số lượng truyện thành công của những tác giả này thật sự không nhiều Do đó, truyện ngắn Ấn Độ ít được độc giả trên thế giới biết đến Trong những năm gần đây, có một nhà văn đã làm thay đổi số phận truyện ngắn Ấn Độ Nhà văn mà chúng tôi muốn nói đến chính là Jhumpa Lahiri
Trang 28Jhumpa Lahiri không phải là nhà văn đương đại duy nhất viết truyện ngắn Bên cạnh cô còn có một số tên tuổi khác như: Vikram Chandra, Chitra Banerjee Divakaruni, Farrukh Dhondy… Trong số họ, cùng viết về đề tài di cư có nữ nhà văn Chitra Banerjee Divakaruni Divakaruni cũng là nhà văn Mỹ gốc Ấn Cô có một tập truyện ngắn gồm 11 truyện với nhan đề Arranged Marriage (tập truyện đạt giải American Book Award in 1995) tập trung thể hiện hình ảnh người phụ nữ đến từ
Ấn Độ và bị kẹp giữa hai thế giới Divakaruni còn là một nhà thơ Do đó, truyện của
cô giàu nhịp điệu Nhịp điệu kết hợp với yếu tố siêu thực tạo sức quyến rũ cho truyện của Divakaruni
Khác với Divakaruni, Jhumpa Lahiri chủ yếu dồn tâm lực vào thể loại truyện ngắn Truyện của cô nhẹ nhàng, tĩnh lặng thuộc lối viết của thế kỉ XIX, không mua chuộc người đọc bằng ngôn ngữ lắc léo hay cốt truyện quanh co mà bằng lối văn cực kỳ tinh tế, sự diễn giải tế nhị những hoạt động phức tạp của trái tim Nó đưa
người đọc bước vào thế giới của những người nhập cư Ấn Độ, thế giới của: “chị em
gái, anh, em trai, cha mẹ, con gái, con trai, bạn bè và tình nhân” để cùng san sẻ với
họ những vui sướng, khổ đau trong cuộc sống đầy phức tạp này Với hai tập truyện
ngắn Người dịch bệnh và Vùng đất lạ, Jhumpa Lahiri trở thành nhà văn Ấn Độ đầu
tiên giành được những giải thưởng danh giá của thế giới ở thể loại truyện ngắn: giải Pulitzer năm 2002, giải O.Henry, giải Pen/Hemingway, giải Frank O’Connor (giải thưởng cao nhất dành cho thể loại truyện ngắn) năm 2008 Cô được xem là người tiên phong tạo nên bước ngoặt đối với sự phát triển của nền văn học trẻ, là người đã góp phần đưa văn học Ấn Độ đến với độc giả toàn cầu
Trang 29Chương hai : HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT DI CƯ TRONG TRUYỆN NGẮN JHUMPA LAHIRI
2.1 V ấn đề di cư
2.1.1 Khái niệm di cư
Khái niệm di cư có mối quan hệ nghĩa với một số từ: di cư, di trú (migtate),
nhập cư (immigrate), tị nạn (refuge), lưu vong (diaspora/exile) Về cơ bản, các khái
niệm vừa nêu đều thể hiện chung nội dung: sự di chuyển chỗ ở, có khác chăng chỉ là
ở cách thức di chuyển và sắc thái biểu cảm mà thôi “Di trú”, “di cư”, “nhập cư”
đều chỉ hành động đến ở một miền hay một nước khác để sinh sống (trong đó từ
nhập cư nói trong quan hệ với nơi đến) Những từ này mang ý nghĩa khái quát và
trung hòa về sắc thái biểu cảm Trong khi đó, “tị nạn” và “lưu vong” là hai từ mang
đậm sắc thái biểu cảm, chỉ tình trạng sống xa hẳn quê hương do nghèo đói, chiến tranh hoặc do không có điều kiện và cơ sở để sống và hoạt động trong nước
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đồng thời sử dụng các từ ngữ trên theo nghĩa chung nhất nhằm tránh lặp từ, không có chủ ý xác định sự khác biệt của các khái niệm
2.1.2 Vấn đề di cư trong lịch sử nhân loại
Có thể nói, di cư là một hiện tượng tự nhiên và thậm chí là một trong những
cách thức tồn tại của loài người từ thời nguyên thủy Trong lịch sử nhân loại, di cư khởi sự từ khi loài người biết giành đất và lấn đất của nhau khiến cả một tập thể
phải rời bỏ quê cha đất tổ của mình để trôi dạt đến những miền đất khác Di cư vì vậy không phải là một hay một số hiện tượng cá biệt gắn liền với một cộng
đồng nào nhất định mà là một hiện tượng phổ quát diễn ra trên toàn cầu
Theo sự ghi nhận của Samuel Hungtington trong cuốn Sự va chạm của các nền
văn minh thì trong các thế kỷ trước đây, sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng, điều
kiện kinh tế và chính sách của chính phủ đã tạo ra những cuộc di dân lớn của các bộ lạc người Hy Lạp, Do Thái, Đức, Na Uy, Thổ, Nga, Trung Quốc và các dân tộc khác Tuy nhiên, khoảng thời gian từ thế kỷ XV đầu thế kỷ XX, làn sóng di dân mạnh mẽ nhất thuộc về những người châu Âu Sau thành công của những cuộc phát
Trang 30kiến địa lý, họ đã thực hiện những cuộc di dân với quy mô lớn đến các miền đất châu Á, châu Mỹ và châu Úc
Làn sóng di dân sang châu Mỹ của người châu Âu được xem là mạnh mẽ nhất
Nó được thực hiện trước tiên bởi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Đấy là đội quân xâm lược và các quan chức được phái đến vùng đất mới, các nhà kinh doanh buôn bán ồ ạt đổ đến làm ăn, tranh giành thị trường, dân di thực kéo nhau đến khai
phá đất đai lập nghiệp, các giáo sĩ thực hiện “mở rộng nước Chúa” đến các thuộc
địa… Tiếp sau đó, di dân từ Anh, Pháp cũng kéo đến Bắc Mỹ Đến đầu thế kỷ XVII, Bắc Mỹ trở thành thuộc địa của Anh với số dân khoảng 1,3 triệu người Ngoài ra, trong những luồng di dân của người châu Âu còn có sự hiện diện của những người da đen Phi châu Họ sinh sống ở Tây và Trung Phi, bị bắt làm nô lệ và
bị đem đến Bắc Mỹ từ năm 1609 đến 1807 suốt trong thời kỳ buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương Và tất nhiên, di dân trở thành động cơ lịch sử thúc đẩy sự thành lập quốc gia cũng như tạo ra bản sắc đặc thù cho các quốc gia thuộc châu lục mới này Một điều dễ nhận thấy là những cuộc di dân của người châu Âu chủ yếu diễn
ra dưới hình thức những cuộc chạy đua xâm lược Họ đã chinh phục và có những lúc xóa sổ các dân tộc khác, khai phá và tạo dựng những miền dân cư ít dày đặc hơn Sự xuất khẩu người này có lẽ là một đường hướng quan trọng nhất trong sự nổi lên của phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến một làn sóng nhập cư khác và thậm chí còn lớn hơn diễn ra theo chiều hướng ngược lại Năm 1990, số lượng dân nhập
cư hợp pháp trên thế giới đã lên tới 100 triệu người, số dân tị nạn là 19 triệu và dân nhập cư bất hợp pháp cũng ít nhất là 10 triệu người Phần lớn dân nhập cư và tị nạn cuối thế kỷ XX đều chuyển từ một xã hội ngoài phương Tây sang một xã hội khác
Mỹ vẫn là nước đứng đầu về số người nhập cư với 42,8 triệu người trong năm 2010, chiếm khoảng 20% số người nhập cư trên toàn thế giới Tiếp đến là một số quốc gia khác như: Nga, Đức, Arập Xêút, Canada, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ấn Độ và Ucraina
Trang 31Dân nhập cư có mức độ sinh đẻ cao và do đó sẽ chiếm phần lớn sự tăng trưởng dân số trong tương lai ở các xã hội phương Tây Kết quả là, người phương Tây lo sợ rằng họ ngày nay đang bị xâm chiếm không phải bởi xe tăng và quân đội mà là bởi những người nhập cư, những người nói ngôn ngữ khác, thờ cúng các vị thần khác, thuộc về các nền văn hóa khác và họ sợ rằng những người đó sẽ lấy mất công việc của họ, chiếm đất của họ, sử dụng hệ thống phúc lợi và đe dọa phong cách sống của
họ
Như vậy, có thể khẳng định rằng, thời đại của chúng ta ngày nay là thời đại di dân Càng ngày càng có nhiều người sống với thân phận công dân toàn cầu Theo
đó, tính chất giải lãnh thổ hóa (giải lãnh thổ là “sự đánh mất mối quan hệ tự nhiên
giữa văn hoá và lãnh thổ địa lý cũng như xã hội, văn hóa không nhất thiết gắn liền với một vùng đất nhất định nào” [55]) trở nên phổ biến trong văn học, biên giới văn
chương bị xóa mờ: “vượt qua tất cả những biên giới như quyền lực, quốc gia,
chủng tộc, ý thức hệ, bản sắc dân tộc, tôn giáo, xã hội, chính trị v.v… để mọi người bất kỳ từ một lãnh thổ nào, từ một xã hội nào, nhất là những xã hội còn bị quyền lực
áp chế, từ một nền văn hóa riêng nào đều có thể đến họp mặt” [43]
2.1.3 Vấn đề di cư của người Ấn Độ
Ấn Độ vốn có lịch sử lâu đời về di cư Ngay từ thời cổ đại, cư dân của nền văn minh sông Ấn – người Dravidia – đã di chuyển về phía nam do sự xâm lấn của người Aryan Xét đến cùng, người Aryan không thuần túy là những kẻ xâm lược mà chỉ là dân di trú Họ thuộc các bộ tộc Ấn – Âu (Indo-European) từ Trung Á, Iran,
Scandinavia hoặc Nga vào miền Bắc Ấn vào năm 2000 trước CN: “Họ còn thô lỗ
quá, không biết giả nhân giả nghĩa tuyên bố rằng cai trị Ấn Độ để khai hóa Họ chỉ muốn chiếm được đất cày, nhiều đồng cỏ cho bò, ngựa, và khi ra trận họ hò hét không phải để đề cao tinh thần dân tộc, quốc gia gì cả, mà chỉ để hô hào nhau chiếm cho được nhiều bò” [10, tr 38]
Tiếp theo sự xâm nhập của người Aryan, Ấn Độ tiếp tục chứng kiến sự có mặt của người Ba Tư (VI trước CN), Hy Lạp (IV trước CN), Ả Rập (711), Thổ Nhĩ Kỳ (1206), Mông Cổ (1526), Anh (1858) Đây có thể xem là những cuộc di cư từ bên ngoài vào Ấn Độ Những cuộc di cư này một mặt làm cho xã hội Ấn Độ ngày càng
Trang 32đa dạng và phức tạp, mặt khác tạo nên những cuộc di dân lớn trong lịch sử Ấn Độ
Làn sóng di dân thứ nhất diễn ra trên tiểu lục địa Ấn Độ khi Pakistan tuyên bố độc
lập Những người theo đạo Hindu và Sikh từ Pakistan về Ấn Độ và những người theo đạo Hồi từ Ấn Độ kéo sang Pakistan Nó gây ra những cuộc tàn sát đẫm máu
Làn sóng di dân thứ hai hướng đến các nước Âu – Mỹ Từ những năm 60, nhiều
người Ấn đã chấp nhận rời bỏ quê hương để đi tìm tương lai tươi sáng ở các nước
có nền kinh tế phát triển như Anh và Hoa Kỳ Đa số họ ra đi vì nhận thấy rằng Âu –
Mỹ gắn liền với “triển vọng” còn Ấn Độ hiện tại là “vực thẳm” Điểm đến đầu tiên của nhiều người Ấn Độ là Anh quốc Họ nhập cư với tư cách “cựu thuộc địa” vào
“cựu mẫu quốc” Đất nước thứ hai có sức thu hút mạnh mẽ đối với đông đảo người
Ấn Độ là Hoa Kỳ 0TTheo bản phúc trình mới nhất We The People: Asian in The
đến Hoa Kỳ nhiều hơn bất kỳ cộng đồng nào khác từ năm 2000 đến 2005 Năm
2000 có khoảng 1,7 triệu người mang quốc tịch Mỹ, đến năm 2005 con số này là 2,3 triệu người Đây là cộng đồng đã xuất hiện trên bảng thống kê Hoa Kỳ như một cộng đồng thành công nhất trong số những cộng đồng thiểu số gốc châu Á
Có thể nói, di cư là một trong những yếu tố tác động lớn đến sự phát triển của
xã hội Ấn Độ Nếu như trước đây, với tư cách là điểm đến của các dân tộc từ bên ngoài, Ấn Độ đã hình thành cho mình một nền văn học hướng nội đa dạng, mang đậm màu sắc linh thiêng, huyền bí thì trong thời gian gần đây, với tư cách ngược lại, Ấn Độ đã góp phần cùng với các dân tộc khác tạo nên một hiện tượng văn học
độc đáo: văn chương di dân
Trên văn đàn thế giới, văn chương di dân đã xuất hiện ở Âu – Mỹ từ trên 100
năm nay, đồng hành cùng những cung bậc cảm xúc, khát vọng, trăn trở của các nhà văn sống lưu vong ở nước ngoài Trong thế lưỡng cư, tất cả họ (các nhà văn lưu vong) dồn đẩy những trải nghiệm xương máu của mình thăng hoa thành tác phẩm với các nhân vật mang hình hài vóc dáng của bản thân, của các thành viên trong
Trang 33cộng đồng lưu vong Trong bối cảnh ấy, kiểu nhân vật người di cư được hình
thành và ngày càng chiếm giữ vai trò trung tâm của văn học đương đại:
“Trong thế kỷ lang thang như thế kỷ chúng ta đang sống, chính những người
di dân hay lưu vong mới là những hình ảnh trung tâm trong sinh hoạt văn học: kinh nghiệm bị đứt lìa với gốc rễ, với mọi người chung quanh và phải hóa thân thành một cái khác của họ là những ẩn dụ hữu ích nhất để mô tả tính chất lẫn lộn và đầy mâu thuẫn của thế giới hậu hiện đại” [56]
Kiểu nhân vật người di cư có những đặc điểm độc đáo:
“Một trong những nét độc đáo của văn chương di dân là nhân vật không còn mang bản chất thuần nhất về chủng tộc hay văn hóa mà là những con người đi lại giữa những biên giới chủng tộc, văn hóa Quan niệm mới này nhằm xóa bỏ quan niệm tôn giáo triết lý trong triết học cổ điển cho rằng con người có một bản chất,
và quan niệm triết lý hiện sinh của Sartre cho rằng sự hiện hữu có trước yếu tính Văn chương vô xứ đưa ra chân dung nhân vật đi trên lộ trình biến động không ngừng nghỉ giữa hai cực tôi và hắn Khuôn mặt ấy không là một thực thể được đúc đầy mà là một thực thể càng ngày càng hao mòn cạn kiệt” [44]
Trên thực tế, văn chương di dân không chỉ tồn tại giới hạn ở xứ Âu – Mỹ mà hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới Nên, việc đưa ra một bản tổng kết về quá trình hình thành và phát triển của văn học di dân, về kiểu nhân vật người di cư là một điều khó đạt được Trong phần tiểu mục này, chúng tôi chỉ trình bày những
hiểu biết của mình về kiểu nhân vật người di cư trong tác phẩm của các nhà văn di
dân có tên tuổi ở Hoa Kỳ – đất nước điển hình cho nền văn hóa văn học đa chủng
tộc
Văn chương di dân của người Mỹ gốc Phi
Văn chương di dân ở Mỹ được mở đường bằng những đóng góp tích cực của người Mỹ Da Đen Từ thế kỷ XVIII đã xuất hiện nhà văn người Mỹ gốc Phi viết những tác phẩm thể hiện nỗi khắc khoải nô lệ của chính bản thân mình và của đồng bào mình như: Olaudah, Jupiter Hammon, Harriet Jacob (1818-1896), Harriet Wilson (1807-1870), Booker T Washington (1856-1915), Dubois (1868-1963),
Trang 34Ralph W.Ellíon (1914-1994), Toni Morrison (1931)… Màu da và tiếng nói đầy bi thương của họ đã làm cho văn học Mỹ đậm đà hơn và nhân bản hơn
Văn chương di dân của người Mỹ gốc Latinh
Sự xuất hiện của những tác giả gốc Nam Mỹ cũng góp phần làm phong phú nền văn học Mỹ Nhà văn Mỹ gốc Cuba: Oscar Hijuelos đoạt giải Pulitzer với cuốn
1989) Tiểu thuyết của ông tập trung khám phá cuộc sống của các gia đình di dân Cuba tại Mỹ trong những năm 1940 với tâm trạng hoang mang vì không tìm thấy cuộc sống và tính cách của riêng mình Nhà văn người Mỹ gốc Mexico: Sandra Cisneros, qua việc tiếp cận và tìm hiểu di sản Chicana-Mexico, cô viết về những
xung đột liên quan đến sự phân chia “lòng trung thành văn hóa”, cảm giác tha hóa
và sự nghèo đói của những di dân Mexico ở Mỹ So với các dân tộc khác, ý thức chống đối đồng hóa với vùng đất mới của họ diễn ra mạnh mẽ hơn rất nhiều
Văn chương di dân của người Mỹ gốc Do Thái
Các nhà văn người Mỹ gốc Do Thái đem đến cho văn học Mỹ những hình tượng nhân vật ấn tượng Hơn bất cứ dân tộc nào, người Do Thái phải chịu đựng một lịch sử bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau Họ phải rời quê hương và tản mác khắp nơi mang theo nỗi đau nhức nhối và khát vọng hồi hương mãnh liệt Vì vậy, viết văn đối với các nhà văn gốc Do Thái không chỉ để giữ gìn sự nhạy bén và sâu sắc của tâm hồn hay để khám phá hiện hữu mà còn để chống lại sự diệt vong của người Do Thái và ngôn ngữ của họ Isaac Bashevis Singer là nhà văn điển hình cho tư tưởng đó Định cư ở Mỹ nhưng ông viết văn bằng tiếng Yiddish (ngôn ngữ của người Do Thái ở Trung và Đông Âu) và được trao giải Nobel văn chương năm 1978 Nhân vật chính trong các tác phẩm của ông là người Do Thái sống lưu đày trong trạng thái gần như điên loạn Đó là nhân vật Jacob trong tiểu
thuyết Người nô lệ, vì không muốn quên tiếng Yiddish nên nói liên tục như một
người điên Tác giả 3TSaul Bellow cũng có cách xây dựng nhân vật tương tự như vậy Nhân vật chính của ông luôn luôn ở trong tâm trạng bất ổn giống như các nhân vật
Trang 35của Dostoyevsky hay Kafka Như vậy, có thể nói rằng kiểu nhân vật tâm thần trở
thành nét riêng của các nhà văn gốc Do Thái
Văn chương di dân của người Mỹ gốc Châu Á
Đại diện cho mảng văn chương này là các nhà văn gốc Hoa và gốc Ấn, tiêu biểu như: Tần Ái Mỹ (Trung Quốc), Cao Hành Kiện (Trung Quốc – Nobel văn chương năm 2000), Hà Tân (Trung Quốc – giải National Book và Pen/Hemingway), Kiran Desai (Ấn Độ – giải Man Booker), Jhumpa Lahiri (Ấn Độ – giải Pulitzer và giải O’Connor)…
Chủ đề trong tác phẩm của các nhà văn gốc Hoa tập trung phản ánh cuộc sống tầng lớp lao động nhập cư người Hoa ở Mỹ, xa lạ giữa những người lạ, được tái sinh nhưng không tan chảy và luôn luôn cố gắng để hòa nhập Cộng đồng người Hoa nhập cư có khả năng sinh tồn cao nhất thế giới bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào truyền thống văn hóa, tiếng mẹ đẻ luôn là cứu cánh của họ
Các nhà văn di dân Ấn Độ cũng tập trung khai thác chính cuộc sống của họ trong cuộc đấu tranh vừa bảo tồn những di sản của dân tộc vừa hòa nhập với cuộc sống ở xứ xa Đặc trưng văn hóa Ấn Độ thể hiện trong cách nhận thức về thân phận khi họ đối diện với người da trắng Phức cảm tự ti luôn đeo bám họ và trở thành nguyên nhân của thái độ sống bảo thủ, của những bi kịch số phận
Tóm lại, mặc dù được xem là dòng văn học nhỏ/phụ (minor literature) (chữ
dùng của Kafka), tồn tại với tư cách ngoại vi, song, văn học di dân đang từng bước chiếm giữ vị trí trung tâm trong nền văn học Mỹ nói riêng và văn đàn thế giới nói chung vì sự tương hợp của nó với xu hướng toàn cầu hóa Và kiểu nhân vật di cư trở thành hình mẫu của con người hậu hiện đại, luôn luôn hiện hữu với tâm thế lưu vong: “không còn tự đồng nhất mình với bất cứ một niềm tin hay một ý thức hệ nào, hơn nữa, sẵn sàng chấp nhận sống trong một thế giới đa trung tâm, lai ghép và bất định, ở đó, mọi ranh giới và biên giới đều bị xoá nhoà” [56]
Trang 362.3 Hình t ượng nhân vật di cư trong truyện ngắn Jhumpa
Lahiri
2.3.1 Nhân vật di cư – thế hệ thứ nhất
Thế hệ thứ nhất là những người đã được sinh ra và trưởng thành ở Ấn Độ, sau
vì hoàn cảnh: học tập, việc làm (đối với người đàn ông); theo chồng (đối với người phụ nữ) chuyển đến định cư ở các nước Âu – Mỹ Ra đi khi bản sắc đã được xác lập
và hoàn thiện, quá trình hội nhập trên xứ tạm dung của thế hệ thứ nhất diễn ra khó khăn và phức tạp Không ở vào hoàn cảnh ấy nhưng Jhumpa Lahiri thấu hiểu như thể cô đã trực tiếp trải nghiệm nó Truyện của cô là những khoắc khoải rung lên những giai điệu cuộc đời của thế hệ thứ nhất
2.3.1.1 Giấc mơ Mỹ (American Dream)
Giấc mơ Mỹ là khái niệm lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà văn James
Truslow Adams trong cuốn Thiên hùng ca Mỹ (The Epic of America) xuất bản năm
1913: “Giấc mơ Mỹ là giấc mơ của một vùng đất ở đó cuộc sống đáng tốt đẹp hơn, giàu có hơn và đầy đủ hơn cho mọi người Ở đó mỗi người có cơ hội theo khả năng hoặc thành tựu của mình Đấy là một giấc mơ khó khăn cho tầng lớp thượng lưu
2T
người càng ngày ngờ vực và không tin tưởng vào nó Nó không phải là một giấc mơ
về các loại xe hơi hay đơn thuần là tiền lương cao, nhưng là một giấc mơ về trật tự
xã hội mà trong đó mọi đàn ông và đàn bà sẽ có thể đạt được tầm vóc đầy đủ cái khả năng bẩm sinh của mình, và được những người khác công nhận họ vì những gì của chính họ, không phân biệt môi trường hoàn cảnh sinh ra hay địa vị ngẫu nhiên của họ” [50]
Với các nhân vật trong hai tập truyện của Jhumpa, Giấc mơ Mỹ thể hiện khát vọng đổi đời của những người trí thức Ấn Độ Khi nhận thấy hoàn cảnh bất
ổn ở quê nhà “đứng trên mái nhà chứng kiến những cuộc biểu tình, nổi loạn, hay
giấu hàng xóm trong bể nước để họ không bị bắn” [17, tr 45]; điều kiện học tập
hạn chế “học bài dưới đèn dầu khi mất điện, áp lực, các kỳ thi triền miên” [17, tr
45]; cơ hội tìm việc làm phù hợp với năng lực xa vời, cơ hội làm giàu càng khó thực hiện, họ đã rời bỏ Ấn Độ để tiến về hướng Tây, quyết chí lập thân ở nước ngoài
Trang 37Các nhân vật bắt đầu cuộc hành trình hiện thực hóa Giấc mơ Mỹ của mình từ
con số không: không nhà cửa, không bạc tiền, không người thân thích… Họ phải trú
thân ở những nơi rẻ tiền: “buồng vệ sinh lạnh lẽo” [17, tr 250], “căn bếp bé tí tẹo
có thể ám mùi bất cứ món gì được nấu, phòng ngủ ảm đạm, ánh sáng ban ngày chẳng thể nào xuyên qua được” [18, tr 36] Đây là sự đón tiếp đầy cam go của
miền đất hứa đối với hầu hết dân di cư, rèn đúc cho họ: “tinh thần của người được
sống sót” [18, tr 82], “chẳng có chướng ngại vật nào là không thể vượt qua” [17,
tr 286] Chấp nhận thử thách là phương sách tồn tại của những người di cư Song song đó, họ miệt mài học tập, nghiên cứu để sở hữu trong tay những tấm bằng: bằng Tiến sĩ ngành Sinh hóa, bác sĩ, kỹ sư… và tìm cho mình việc làm với mức thu nhập cao Jhumpa Lahiri miêu tả sự thành công của họ trên nhiều phương diện khác
nhau: công việc, nhà cửa, con cái… Sanjeev (Ngôi nhà được ban phước) làm việc cho Connecticut với chức vụ phó giám đốc: “Ở tuổi ba mươi ba anh đã có thư ký
riêng, có một tá người làm việc dưới quyền, những người luôn vui vẻ cung cấp cho anh bất cứ thông tin nào anh cần” [17, tr 196] Trước khi kết hôn anh tìm được
một ngôi nhà ưng ý ở một nơi có hệ thống trường học tốt: “Ngôi nhà với cầu thang
uốn cong trang nhã, lan can bằng sắt, ván ốp chân tường màu tối, một nhà tắm nắng nhìn ra những bụi đỗ quyên, có hai lò sưởi, một gara chứa đủ hai xe ô tô và một phòng áp mái” [17, tr 208] Nhân vật Tôi (Lục địa thứ ba, lục địa cuối cùng)
làm việc ở thư viện của Học viện công nghệ Massachusetts: “với mức lương hậu
hĩnh đủ chu cấp cho một gia đình” [17, tr 251] Ngôi nhà của ông cách Boston 20
dặm: “trong ngôi nhà của chúng tôi, có phòng cho khách, có mảnh vườn cho chúng
tôi trồng khoai tây Giờ đây chúng tôi là công dân Mỹ có thể có phúc lợi xã hội Chúng tôi có cậu con trai học trường Harvard” [17, tr 284] Cha Ruma (Vùng đất lạ) làm việc ở công ty Dược phẩm Ông sống cùng vợ và hai con trong: “ngôi nhà lớn mà ông đã mua ở khu ngoại ô có những cây liễu trong sân sau, có phòng riêng cho mỗi đứa con và một tầng hầm chất đầy các món đồ chơi của chúng” [18, tr 36]
Cha Usha (Địa ngục – thiên đường) làm việc như một chuyên viên nghiên cứu tại
Trang 38Mass Genneral Cả gia đình ông sống trong: “một căn hộ nằm trong khu nhà ốp ván
màu nâu ở Ashburton Place” [18, tr 77]
Việc đạt thành Giấc mơ Mỹ của thế hệ thứ nhất đã khẳng định sức mạnh và vai trò của giáo dục đối với quá trình lập thân của những người di cư Phải
chăng đây chính là kinh nghiệm mà Jhumpa muốn chia sẻ với những ai đang sống trong tình trạng không nhà, đang loay hoay tìm đường đến cổng mặt trời của miền đất hứa?
Cuộc hành trình biến ước ước mơ thành hiện thực của những người Ấn Độ di
cư luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thử thách Và thành công không phải là kết quả duy nhất Có không ít trường hợp đã thất bại Một vài người trong số đó,
quyết định trở lại quê hương: Cha mẹ Amit (Lựa chọn nơi cư trú) quyết định quay
về Ấn Độ vì cho rằng con trai họ không phát triển được ở trường Y Khoa Harvard;
cha mẹ Kaushik (Một lần trong đời) sau 12 năm bám trụ trên đất Mỹ cũng quyết định dọn mọi thứ quay trở về Ấn Độ, từ bỏ cuộc đấu tranh mà họ đã lao vào Số
khác thì sống bên lề nước Mỹ, đối diện với một cái án chung thân vì là người nước ngoài Thất bại ở cả hai nơi khiến cho cuộc sống của họ rơi vào bế tắc không lối thoát Họ phiêu bạt khắp nơi để mong tìm ra một trú xứ cho mình
Bên cạnh việc thực hiện Giấc mơ Mỹ cho chính mình, các bậc cha mẹ Ấn Độ
còn thực hiện giấc mơ ấy cho con cái Họ sắp đặt đường tiến thân cho con: chọn trường học danh tiếng, chọn ngành học có nhiều cơ hội và không chấp nhận bất cứ
sự lệch hướng nào, để yên tâm rằng con cái có thể làm rạng danh cho cha mẹ Cha Ruma (Vùng đất lạ) thích con gái học ngành sinh vật hơn lịch sử nên đã hết lời
thuyết phục con gái và né tránh các khoản chi phí của cô ở trường luật Cha mẹ Amit (Lựa chọn nơi cư trú) đã thu xếp chuyện trường lớp cho anh mà không cần
biết anh có đồng ý hay không Còn cha mẹ Sudha (Điều tốt đẹp duy nhất) cũng ra sức sắp đặt việc học hành của con cái: “Khi Sudha 14 tuổi, cha cô đã viết cho
trường Y khoa Harvard, yêu cầu gởi cho ông một đơn xin nhập học và đặt nó lên
một bức tường thành truyền thống vững chắc để con cái mình tựa vào mà tiến thẳng
Trang 39vào xã hội Mỹ, miễn trừ khỏi những cực khổ và bất công mà họ đã để lại phía sau
Ấn Độ Đây là vấn đề có tính hai mặt mà biểu hiện của nó là sự thành tài hoặc hư hỏng của thế hệ con cái
2.3.1.2 Hôn nhân sắp đặt (arranged marriage)
Hôn nhân do cha mẹ sắp đặt là phong tục truyền thống của Ấn Độ Khi con cái đến tuổi lập gia đình, các bậc cha mẹ tiến hành thu xếp hôn nhân Hiện tượng này được phản ánh khá rõ nét trong truyện ngắn Jhumpa Lahiri Mỗi cuộc hôn nhân có
một kiểu dáng riêng, nhưng cơ bản đều là những cuộc hôn nhân không có tình yêu, nền tảng của nó là những quy định về bổn phận đã tồn tại ở Ấn Độ suốt
mấy nghìn năm qua
Nhân vật xưng tôi (Lục địa thứ ba, lục địa cuối cùng) chấp nhận một cuộc hôn nhân do anh trai và chị dâu sắp đặt ở tuổi ba mươi sáu với thái độ: “không phản đối
mà cũng chẳng nhiệt tình”, xem đây là “nghĩa vụ phải làm, cũng như tất cả người đàn ông phải làm” [17, tr 262] Vì vậy, ông tiếp nhận những thông tin về người
bạn đời một cách hờ hững, không tỏ ra vui mừng khi người ta bảo cô có tài nấu nướng, thêu thùa, hay thất vọng khi biết cô không được khả ái cho lắm Đối với ông, tất cả đã được sắp đặt đâu vào đấy, ông cứ theo đó mà thực hiện
Cha Ruma (Vùng đất lạ) xem hôn nhân đồng nghĩa với phép cộng sinh, là sự
kiện để bản thân ông có được người đồng hành trong cuộc đời Và tất nhiên, giữa ông và vợ thiếu vắng tình yêu lãng mạn Ông chưa từng yêu vợ trong suốt gần 40
năm chung sống Ông thừa nhận rằng: “Bà Bagchi đã yêu chồng mình hai năm
nhiều hơn ông đã yêu vợ ông trong vòng 40 năm” [18, tr 38]
Cuộc hôn nhân của cha mẹ Usha (Địa ngục – thiên đường) cũng được sắp đặt
Trước đó, họ là những người xa lạ với nhau Cha Usha cưới vợ chỉ để xoa dịu cha
mẹ ông Chính vì vậy, Usha nhận thấy bản thân mình tồn tại như là: “bằng chứng
cuộc hôn nhân của cha mẹ cô, một kết quả được giả định của cuộc sống mà mẹ cô
đã được nuôi dạy để đi đến đó” [18, tr 84]
Trang 40Hôn nhân của cha mẹ Sudha (Điều tốt đẹp duy nhất) là “một thực tế phức tạp,
chẳng phải là hạnh phúc mà cũng không phải là không hạnh phúc Nó thiếu vắng cảm xúc mạnh mẽ ở cả hai cực” [18, tr 171]
Chúng ta biết rằng, hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, thông thường là tình yêu Thế nhưng, tình yêu lại là yếu tố thiếu vắng trong hôn nhân của các nhân vật trong truyện Đây là một nghịch lý mà ngay chính bản thân Jhumpa Lahiri cũng thắc mắc khi chứng kiến đời sống hôn nhân của cha mẹ Họ cư
xử như những người xa lạ, không ôm hôn hay cầm tay, không nồng nhiệt, cởi mở,
không dễ dàng bày tỏ niềm hạnh phúc với nhau và đôi khi còn xảy ra cãi vã Thế
nhưng, họ chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ly dị, vì theo họ: Hôn nhân chính là nơi thực hiện các nghĩa vụ của con người Đời sống gia đình là sự lao động vất vả chứ không phải là môi trường lãng mạn của tình yêu
Hôn nhân sắp đặt chi phối rất lớn đến thái độ cư xử của hai vợ chồng Người
đàn ông thường tỏ ra lạnh lùng và tàn nhẫn Nhân vật tôi (Lục địa thứ ba, lục địa
cuối cùng) chẳng mảy may động lòng trước lời lẽ chân thành của vợ trong bức thư:
“tôi chờ đợi cô như chờ đợi tháng tiếp theo hay mùa tiếp theo – một cái gì đó không
Ruma (Vùng đất lạ) thản nhiên để vợ chờ cơm chiều đến tận chín giờ tối hay bỏ
ngoài tai lời đề nghị đi du lịch của bà Ông xem đó chỉ là ý nghĩ bất thình lình, vì
trong tất cả những năm sống bên nhau, họ chưa hề bao giờ đi nghỉ, thậm chí ông cũng không hiện diện khi vợ ông qua đời hay nhỏ lấy một giọt lệ khóc thương bà Cha Usha (Địa ngục – thiên đường) lại là một người tình lặng lẽ và cô độc: “tồn tại trong chiếc vỏ sò của mình, không thích vượt quá giới hạn, cũng không có lòng
đặn của Pranad thì ông lại thầm biết ơn Pranad đã giúp ông giải thoát tinh thần trách nhiệm mà ông cảm thấy phải chịu vì đã buộc vợ rời xa Ấn Độ Ông đã giả lơ trước
nỗi nhớ nhà của bà, thậm chí còn gợi ý: “Nếu em không thấy vui thì hãy quay về
Calcutta đi” [18, tr 95] Ông xác định rõ ràng rằng việc sống chia cách như thế
chẳng tác động gì đến ông theo cách này hay cách khác