Cũng nói về Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Chu Nga trong bài Nguyên Hồng và quá trình sáng tác của anh đã nêu lên đóng góp và sự riêng biệt của ông trong dòng văn học hiện thực phê phán:"v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hiền
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG,
HỒ DZẾNH TRƯỚC 1945 – MỘT CÁI NHÌN
ĐỐI SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ
VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ
VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BẠCH VĂN HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi Trong quá trình nghiên cứu, những số liệu, kết quả thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hiền
Trang 4Xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Bạch Văn Hợp Thầy đã tận tình chỉ bao, hướng dẫn cho người viết trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô trường THCS & THPT Bình Phong Thạnh đã tạo mọi điều kiện trong công tác giảng dạy để người viết hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Xin gửi lời cảm ơn đến cha mẹ, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ trong quá trình làm luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả mọi người
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Nguyễn Thị Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN, KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYÊN HỒNG VÀ HỒ DZẾNH TRƯỚC NĂM 1945 12
1.1 Giới thuyết về thể loại truyện ngắn 12
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng truyện ngắn 12
1.1.2 Phân loại truyện ngắn 15
1.2 Khái quát về truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 17
1.2.1 Những chặng đường phát triển 17
1.2.2 Những đặc điểm nổi bật 19
1.3 Nhìn chung về truyện ngắn Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh trước năm 1945 21
1.3.1 Truyện ngắn Nguyên Hồng trước 1945 21
1.3.2 Chân trời cũ - đỉnh cao trong sáng tác văn xuôi Hồ Dzếnh 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG VÀ HỒ DZẾNH TRƯỚC NĂM 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG CẢM HỨNG 27
2.1 Bức tranh xã hội, nhân sinh trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước 1945 27
2.1.1 Nguyên Hồng – nhà văn của con người và thành phố Hải Phòng 27
Trang 62.1.2 Chân trời cũ – tập truyện về người thân 32
2.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước 1945 38
2.2.1 Nguyên Hồng - nhà văn của những người cùng khổ 38
2.2.2 Chân trời cũ - tác phẩm của những kiếp lưu lạc 43
2.3 Tâm hồn tác giả trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước 1945 46
2.3.1 Nguyên Hồng, một tâm hồn sôi nổi, nồng nhiệt 46
2.3.2 Hồ Dzếnh, một tâm hồn đa sầu, đa cảm 49
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG VÀ HỒ DZẾNH TRƯỚC NĂM 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ 52
3.1 Thủ pháp trần thuật trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945 52
3.1.1 Thủ pháp trần thuật trong văn tự sự 52
3.1.2 Sự đa dạng về điểm nhìn và ngôi kể trong truyện ngắn Nguyên Hồng 54
3.1.3 Chân trời cũ với điểm nhìn chủ quan và ngôi kể thứ nhất 57
3.2 Kết cấu truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945 59
3.2.1 Kết cấu trong văn tự sự 59
3.2.2 Truyện ngắn Nguyên Hồng – đa dạng trong kết cấu 61
3.2.3 Chân trời cũ và lối kết cấu đơn tuyến 66
3.3 Cốt truyện, tình huống trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945 68
3.3.1 Cốt truyện, tình huống trong văn tự sự 68
3.3.2 Truyện ngắn Nguyên Hồng - cốt truyện đơn giản với tình huống mang màu sắc trữ tình 69
Trang 73.3.3 Hồ Dzếnh – cốt truyện tâm lí với tình huống gợi sự hối hận,
dằn vặt 73
3.4 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945 75
3.4.1 Giọng điệu trần thuật trong văn tự sự 75
3.4.2 Nguyên Hồng – giọng cảm thương thiết tha, sôi nổi 76
3.4.3 Hồ Dzếnh – giọng tâm tình, xót xa 80
3.5 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945 85
3.5.1 Ngôn ngữ trần thuật trong văn tự sự 85
3.5.2 Nguyên Hồng - ngôn ngữ giàu cảm xúc 87
3.5.3 Chân trời cũ - ngôn ngữ đậm chất thơ, giàu sắc thái trữ tình 90
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn từ năm 1930 đến năm 1945, văn
họcViệt Nam đã thực sự lột xác toàn diện với cuộc cách tân, cách mạng về thể loại Văn học nước nhà đã có những bước tiến nhanh, vững chắc trên con đường hiện đại hóa Trên mọi thể loại từ tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, thơ trữ tình, nghiên cứu phê bình, bút kí…đều gặt hái được nhiều thành tựu rực rỡ Những thành quả ấy đã đem đến làn gió tươi mới, làm thay đổi toàn diện bộ mặt văn học dân tộc.Có rất nhiều tên tuổi các nhà văn, nhà thơ lớn xuất hiện Có người chỉ chuyên viết về một thể loại nào đó nhưng cũng có người thử nghiệm sáng tác
ở nhiều thể loại khác nhau Chính điều ấy đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng cho văn học giai đoạn này Những sáng tác nghệ thuật giờ đây không chỉ đòi hỏi về mặt số lượng mà còn chú trọng rất nhiều về mặt chất lượng Điều này đòi hỏi ở chủ thể sáng tác - nhà văn phải luôn tìm tòi, khám phá liên tục để có thể phản ánh, biểu đạt sinh động và hiệu quả về hiện thực đời sống và con người
1.2 Trong cuộc cách mạng về thể loại giai đoạn 1930-1945, truyện ngắn là thể loại đã tạo nên bước đột phá, đạt đến sự trưởng thành và giữ vai trò, vị trí hết sức quan trọng Nhìn một cách khái quát, trên văn đàn lúc bấy giờ có thể thấy các tác giả đều sáng tác truyện ngắn, thậm chí có nhà văn chỉ chuyên viết truyện ngắn Thể loại này với những đặc trưng riêng của nó về mặt dung lượng, phạm
vi hiện thực,…đã thực sự hấp dẫn và đáng tin cậy để các tác giả gửi gắm câu chuyện, ý nghĩa và thông điệp của mình Văn học trước năm 1945 nổi bật lên với hàng loạt những cây bút viết truyện ngắn xuất sắc có nhiều tác phẩm đạt đến đỉnh cao, kiệt tác, làm rực rỡ cho văn học nước nhà như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Đỗ Tốn, Bùi Hiển, Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh,…
Trang 91.3 Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh là những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại Nguyên Hồng được xem là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực giai đoạn 1930-1945 Ông sáng tác ở rất nhiều thể loại khác nhau.Trong đó, truyện ngắn trước và sau Cách mạng tháng Tám đều rất thành công và được công chúng độc giả đón nhận nồng nhiệt Truyện ngắn trước năm 1945 của nhà văn đã phản ánh hiện thực xã hội bấy giờ một cách chân thực, sinh động Truyện ngắn Nguyên Hồng về nội dung cảm hứng và phương thức tự sự là một vấn đề mở, cần phải nghiên cứu nhiều hơn ở các góc độ khác nhau.Hồ Dzếnh viết truyện ngắn không nhiều.Trước năm 1945,
ông chỉ xuất bản tập truyện ngắn Chân trời cũ gồm 13 truyện So với các tác giả
khác thì số lượng này là khá khiêm tốn Tuy nhiên, truyện ngắn của Hồ Dzếnh lại đem đến cho độc giả một cách cảm nhận rất riêng, ẩn chứa những ý nghĩa sâu
xa, thể hiện cái nhìn về cuộc đời của người mang trong mình hai quê hương, hai dòng máu Truyện ngắn Hồ Dzếnh được biết đến là những truyện ngắn trữ tình với những đặc trưng rất riêng về cốt truyện, nhân vật, thủ pháp trần thuật, 1.4.Một con sông là hợp lưu của nhiều dòng chảy khác nhau tạo thành Dòng sông văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng vậy Đó là sự hợp lưu của nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau Ở đó, sự hòa quyện, đan kết giữa các khuynh hướng văn học là điều tất yếu Nhà văn thuộc dòng văn học hiện thực không chỉ đơn thuần phản ánh hiện thực mà trong những tác phẩm của họ đôi lúc vẫn chen lẫn những đoạn trữ tình lãng mạn và ngược lại Đó chính là hiện tượng tương tác, giao thoa về thể loại trong sáng tác văn học Điều quan trọng là phải thấy được sự giao thoa cũng như từ chỗ giao thoa thấy được cái riêng, sự độc đáo của mỗi nhà văn trong từng thể loại sáng tác Có như vậy, mới
có thể đánh giá toàn diện, khách quan được những đặc điểm sáng tác của một tác giả văn học, một giai đoạn văn học
Vì tất cả lí do nêu trên, trong luận văn này, chúng tôi quyết định chọn
nghiên cứu đề tài:"Đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước
Trang 101945 - một cái nhìn đối sánh" để góp thêm tiếng nói của mình vào quá trình nhìn
nhận và đánh giá về truyện ngắn của hai nhà văn nói riêng cũng như toàn bộ sáng tác, đóng góp của họ nói chung cho văn học nước nhà
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về nhà văn Nguyên Hồng
Năm 1942, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã đề cập đến giá trị
nhân đạo trong sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng:"Ở tập văn nào của
Nguyên Hồng cũng vậy, tư tưởng nhân từ, bác ái của tác giả bao giờ cũng tràn lan và chính đó là cái phần cốt yếu của nhà văn xã hội cầu mong ánh sáng."
[66, tr.27] Năm 1941, tập truyện ngắn Bảy Hựu ra đời Nhận định về nhân vật
trong tác phẩm này, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng họ có dáng vẻ phi
thường vì họ "có tấm lòng khẳng khái hi sinh không khác nào những nhân vật
trong Thủy Hử" Ông cũng nhận xét về Bảy Hựu: "Chỉ khi nào lòng yêu nhân
loại đến cực điểm, là người ta mới thiết tha đến những người bị xã hội ruồng bỏ"
Cũng nói về Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Chu Nga trong bài Nguyên Hồng và quá trình sáng tác của anh đã nêu lên đóng góp và sự riêng biệt của
ông trong dòng văn học hiện thực phê phán:"văn của ông vẫn là tiếng nói yêu
thương, nhân đạo, có phê phán, nhưng không mỉa mai, trào lộng như Nguyễn Công Hoan, không chì chiết mà đau đớn như Nam Cao, hay sâu cay nặng nề như Ngô Tất Tố, mà sôi nổi, lạc quan, tràn đầy lòng tin vào ngày mai tươi sáng
vì nhìn thấy được những phẩm chất đẹp đẽ ở những con người nghèo khổ hôm nay."[63, tr.43] Đây là sự khái quát đáng chú ý khi tìm hiểu về mặt nội dung tư
tưởng và giọng điệu trong các sáng tác của nhà văn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Phan Cư Đệ trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng năm 1983 đã
khẳng định Nguyên Hồng "cùng đứng trong chủ nghĩa hiện thực phê phán"và
"cảm hứng chủ đạo của nhà văn dường như bắt nguồn từ một chủ nghĩa nhân
Trang 11đạo sâu sắc đối với những lớp người cùng khổ Anh là một cây bút đôn hậu, luôn luôn hướng đến cái cao đẹp, trong sáng, niềm tin yêu thắm thiết."
[14, tr.22] Ở Nguyên Hồng không phải lúc nào cũng là "một bút pháp hiện thực
tỉnh táo" mà "những yếu tố nội tâm, những tình cảm sôi nổi, dạt dào từ bên trong đôi lúc cứ muốn lấn lướt, trùm lên trên cái hiện thực khách quan được miêu tả"[14, tr.31] Phan Cư Đệ cũng đưa ra những ý kiến đánh già về truyện
ngắn Nguyên Hồng trên cácphương diện nhân vật, kết cấu, bút pháp nghệ thuật
và khẳng định vị trí truyện ngắn Nguyên Hồng:"Chúng ta có thể nói đến Nguyên
Hồng như một phong cách truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại Sưu tầm và tuyển chọn những tác phẩm trước và sau Cách mạng tháng Tám, chúng
ta sẽ có một tập truyện ngắn giá trị với nhiều màu sắc độc đáo." [18, tr.106]
Nguyễn Đăng Mạnh viết nhiều về Nguyên Hồng Ông cho rằng nhà văn
viết văn "như là luôn đặt cái "tâm" nóng hổi của mình trên trang sách Nếu cần
nói thật khái quát một cái gì chungnhất cho mọi chủ đề tác phẩm của Nguyên Hồng, thì đó là lòng nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo bao giờ cũng thống thiết, mãnh liệt"[54, tr.221] Ông nói đến chất thơ trong sáng tác của Nguyên
Hồng:"không chỉ có trong thơ mà còn dào dạt trong văn xuôi nữa", cảm hứng
trữ tình sôi nổi và giọng văn cuồn cuộn, sục sôi, hăm hở, tràn đầy cảm xúc
Trong bài điếu văn Vô cùng thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Nguyễn
Minh Châu đã bày tỏ sự thương xót vô hạn trước sự ra đi của Nguyên Hồng
cũng như khẳng định giá trị nhân bản trong các sáng tác của nhà văn:"Nhìn
trong toàn bộ tác phẩm của đời văn Nguyên Hồng chúng ta bỗng thấy ngổn ngang gò đống kéo lên, biết bao nhiêu là hạng người là mẫu người của xã hội
cũ và cái điều khiến cho ngày nay dưới chế độ xã hội chủ nghĩa những người đọc cùng yêu mến và kính trọng Nguyên Hồng là tinh thần nhân bản vững chắc của ông, là bao giờ ông cũng đặt niềm tin tưởng vững chắc vào cái cốt lõi tốt đẹp của tính cách những con người lao động nghèo khổ…" [10, tr.5]
Trang 12Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong bài viết Nguyên Hồng-nhà văn của những khát vọng sống đã đề cập đến nội dung phản ánh trong sáng tác của
Nguyên Hồng là nhà văn đã đưa vào trong những tác phẩm của mình "muối
mặn, mồ hôi và đất bụi của cuộc đời" và điều quan trọng nhất là nhà văn "luôn nuôi dưỡng những khát vọng trong sáng tạo" Từng trang văn của ông đều thấm
đẫm nước mắt và máu, luôn cháy bỏng những khát vọng sống vươn lên, đầy nhân đạo
Bạch Văn Hợp trong công trình nghiên cứu Phong cách nghệ thuật Nguyên Hồngđã tiếp cận sáng tác của Nguyên Hồng từ góc độ phong cách học
để trình bày những nét độc đáo, tiêu biểu, có ý nghĩa thẩm mỹ cao và những biến chuyển nhất quán của phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng Từ đó, góp phần khẳng định những cống hiến và vị trí của nhà văn trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam hiện đại
Luận án tiến sĩ Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồngcủa Lê Hồng My đã
nghiên cứu, lựa chọn cách tiếp cận từ góc độ ngôn từ- lời văn nghệ thuật đểkhám phá các phương thức tổ chức, đặc điểm và đặc sắc của lời văn; khám phá mối quan hệ giữa tư tưởng nghệ thuật và lời văn nghệ thuật; xác định vai trò của lời văn nghệ thuật đối với thế giới nghệ thuật và phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng
Nguyễn Thu Hà trong luận văn Tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trước Cách mạng đã làm
nổi bật những đặc điểm về nghệ thuật qua các sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng
Năm 2011, Trần Thị Thanh Yến trong luận văn với đề tài Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 1945 đã đi
sâu khai thác thế giới nhân vật ở nhiều góc độ trong đóchủ yếu là tầng lớp thị dân nghèo khổ trong một thế giới hỗn loạn, xô bồ
Trang 13Ngoài ra, còn rất nhiều công trình, bài nghiên cứu, luận văn, luận án về cuộc đời và các sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng Có thể kể đến các bài viết
Con người Nguyên Hồng (Nguyễn Tuân), Nguyên Hồng - một nhà văn (Kim Lân), Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ (Vương Trí Nhàn), Cảm hứng cần lao trong sáng tác của Nguyên Hồng (Phan Diễm Phương), Cốt cách Nguyên Hồng (Nguyễn Thành Thi), Nhìn chung, các tác giả đã đem đến cho người đọc
những khám phá về các phương diện khác nhau trong sáng tác của Nguyên Hồng Tất cả góp phần khẳng định thêm phong cách nghệ thuật nhà văn
Về nhà văn Hồ Dzếnh
Trong Lời đề tựa tậpChân trời cũ, Thạch Lam đã nhận xét:"Những chuyện
của ông kể cho chúng ta nghe đều có một màu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía"[46, tr.179] Ông cũng thấu hiểu nỗi khổ của Hồ Dzếnh về "cái dĩ vãng của một gia đình Việt -Hoa", với những "số phận hình như bắt buộc phải buồn rầu"[46, tr.179] Qua tập truyện, Thạch Lam đã phát hiện được ở Hồ
Dzếnh một tài năng trẻ và đầy hứa hẹn
Nhà văn Kiều Thanh Quế trong Phê bình Chân trời cũ viết: "Ngòi bút Hồ
Dzếnh đã có được lắm đặc tánh khả quan trong khi phô diễn Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương
ấy - Hồ Dzếnh là người Minh Hương, văn học quốc ngữ không nề hà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài.(Tạp chí Tri Tân số 67,
ngày 13 tháng 6 năm 1942) Tác giảđã phát hiện ra rằng "các "đoản thiên" trong
Chân trời cũ có một màu sắc lạ, một phong vị mới" [71, tr.86]
Nhà thơ, nhà phê bình văn học Vũ Quần Phương khi đọc Hồ Dzếnh cho
rằng "cả ở thơ lẫn truyện người ta dễ dàng nhận ra một tâm hồn giàu cảm xúc
tràn ngập yêu thương trắc ẩn" và ông gọi truyện ngắn Hồ Dzếnh là "truyện ngắn trữ tình"[70, tr.16] Vũ Quần Phương cũng nhận xét về tập truyện ngắn
Chân trời cũnhư sau: "Bằng trái timlương thiện và đa cảm, ông đã đứng về phía
Trang 14những người nghèo khổ dù là Hoa hay Việt Ông thấy ở họ những tình cảm tốt đẹp, lòng vị tha cao cả, sự rộng lượng và tình thương người" [70, tr.15]
Lời giới thiệu Tuyển tập Hồ Dzếnh - Tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn Học,
năm 1988 đã nhận định rằng tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào.Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu bước vào nghề viết Tuy nhiên, với hai tập
văn, thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ
có chân tài
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá trong Hồ Dzếnh - một hồn thơ đẹp đã coi
những sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Hồ Dzếnh mang đậm sắc thái trữ tình hiện thực Và,chất thơ thấm đẫm trong từng trang văn tạo nên một phong vị trữ tình kì ảo ít thấy Hồ Dzếnh đã đau khổ, đã sống thực sự những truyện của mình,
đã nhớ lại cuộc đời cũ với tình xót thương, lòng nhân đạo khá sâu sắc
Nhà thơ Hoài Anh viết về Hồ Dzếnh: "Phần đóng góp quan trọng nhất cho
văn học Việt Nam của anh lại là tập Chân trời cũ, thể hiện nếp sinh hoạt, tính
cách, tình cảm, tâm lý của bà con gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh, chị, em mình, con ngựa của cha mình mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy
lòng." (Chân dung văn học, Nxb Hội Nhà văn 2001)
Trong bài viết Hồ Dzếnh với những chân trời cũ, nhà nghiên cứu Phong
Lê nhận xét "Tác giả đặt toàn bộ thế giới con người vào một màn sương tâm
tình và người viết như muốn trải lòng ra để yêu thương tất cả."[52, tr.108] Ông
tìm thấy trong văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh "những đoạn văn thật giàu âm
điệu như đồng vọng lại từ sâu thẳm của một tâm hồn cực kì đa cảm và một quá khứ xa xưa" và "những câu văn ngân dài như những nốt nhạc buồn trên nền mờ của những kỉ niệm dệt thành quá vãng."[52, tr.107]
Trong luận án Tiến sĩ Ba Phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Phạm Thị Thu Hương đã phân tích những
Trang 15truyện ngắn tiêu biểu, xuất sắc nhất của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh trước 1945 và tìm hiểu về ba phong cách nghệ thuật thuộc dòng truyện ngắn trữ
tình này Tác giả đã nhận định về tập Chân trời cũ là sự chi phối gần như tuyệt
đối của cảm xúc, tâm trạng đối với mọi biểu hiện nghệ thuật, được trình bày dưới ánh sáng của một tấm lòng nhân hậu, trắc ẩn, dưới cái nhìn buồn bã và cái giá phải trả cho những mất mát, đắng cay
Ngoài ra, nghiên cứu Chân trời cũ của Hồ Dzếnh còn được thể hiện ở nhiều bài viết khác Có thể kể đến như bài viết Chân trời không bao giờ cũ (Vương Trí Nhàn), Ngòi bút Hồ Dzếnh (Lê Quang Trang), Hai nhánh sông tâm hồn (Mai Thảo), Nhân vật lưu lạc trong Chân trời cũ của Hồ Dzếnh
(Nguyễn Thị Kim Thoa),
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đã có rất nhiều những bài viết, công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trên nhiều khía cạnh Đây là cơ sở, là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng và hết sức có giá trị để luận văn có thể tiếp thu Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình hay bài viết nào đề cập đến những đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh trước năm 1945 trên một bình diện đối sánh Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đặt vấn đề tìm
hiểu"Đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh trước 1945 - một cái nhìn
đối sánh"
3 Mục đích, ý nghĩa của luận văn
Vận dụng những phương pháp và kiến thức trần thuật học để tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của hai tác giả Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh Qua đó, có thể gợi mở thêm nhiều hướng nghiên cứu mới về đối sánh những tác giả ở cùng giai đoạn văn học
Đối với lịch sử văn học, luận văn góp phần khẳng định vị trí của hai tác giả Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh, khẳng định thêm những đặc sắc, đóng góp về thể loại truyện ngắn của họ đối với văn xuôi hiện đại Việt Nam
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát hầu hết các tác phẩm truyện ngắn của hai nhà văn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945:
-Tác giả Nguyên Hồng: Bảy Hựu (tập truyện ngắn - năm 1941), Hai dòng sữa (năm 1943), Miếng bánh (năm 1945), Ngọn lửa (năm 1945)
-Tác giả Hồ Dzếnh: tập truyện ngắn Chân trời cũ (năm 1943)
Với các thể loại khác như tiểu thuyết, thơ, bút kí của họ tuy không thuộc đối tượng nghiên cứu nhưng sẽ được sử dụng để so sánh, đối chiếu khi cần thiết Ngoài khảo sát truyện ngắn trước năm 1945 của Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh, luận văn cũng sẽ đề cập đến truyện ngắn của một số tác giả cùng thời để
so sánh đối chiếu như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan,…
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn với tên "Đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh - một
cái nhìn đối sánh", chúng tôi tiến hành nghiên cứu những đặc điểm truyện ngắn
của hai tác giả về phương diện nội dung cảm hứng và phương thức tự sự theo góc nhìn đối sánh
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài "Đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh - một
cái nhìn đối sánh", chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu loại hình
Truyện ngắn là một trong những thể loại trong hệ thống các thể loại của văn xuôi tự sự Khi nghiên cứu và đối sánh đặc điểm truyện ngắn của Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh, chúng tôi quan tâm đến những đặc trưng nghệ thuật của thể loại này để việc khảo sát đi sâu, đúng đối tượng, đúng mục tiêu
Trang 17Phương pháp so sánh-đối chiếu
Luận văn tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của hai tác giả từ cái nhìn đối sánh Vì thế, việc vận dụng phương pháp so sánh - đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong truyện ngắn của Nguyên Hồng và Hồ Dzếnhlà chính
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong luận văn Chúng tôi sẽ đi
từ việc khảo sát, phân tích truyện ngắn của hai nhà văn, các đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, từ đó rút ra những nhận định mang tính tổng hợp, khái quát
Phương pháp hệ thống
Vận dụng phương pháp hệ thống, luận văn phân tích, tổng hợp những đặc điểm truyện ngắn của hai nhà văn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trên bình diện đối sánh Từ đó, tránh đưa ra những kết luận sai lệch, chủ quan
Phương pháp thống kê
Bản thân việc nghiên cứu những đặc điểm truyện ngắn đã bắt buộc phải dùng phương pháp thống kê để chỉ ra sự lặp lại của những chi tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành phong cách, đặc trưng sáng tạo nghệ thuật ở nhà văn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh
6 Đóng góp của luận văn
Những công trình, bài viết về hai tác giả Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh xuất hiện khá nhiều nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu truyện ngắn của họ trên bình diện đối sánh về phương diện nội dung cảm hứng và phương thức tự
sự
Nghiên cứu đối sánh truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh, chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một góc nhìn mới khi phân tích, đánh giá tác phẩm Từ đó,làm bật nổi phong cách nghệ thuật của hai nhà văn
Trang 187 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1.Thể loại truyện ngắn, khái quát về truyện ngắn của Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm 1945
Chương 2.Đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm
1945 nhìn từ phương diện nội dung cảm hứng
Chương 3.Đặc điểm truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước năm
1945 nhìn từ phương thức tự sự
Trang 19
Chương 1 THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN, KHÁI QUÁT
VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYÊN HỒNG VÀ HỒ DZẾNH
TRƯỚC NĂM 1945 1.1 Giới thuyết về thể loại truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng truyện ngắn
Thuật ngữ Truyện ngắn (tiếng Pháp: Nouvelle, tiếng Anh:short story, tiếng
Trung: Đoản thiên tiểu thuyết) như tên gọi của nó là truyện kể có dung lượng ngắn, cốt truyện tập trung vào một biến cố gọn, đơn giản, diễn ra trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định và ít nhân vật
Truyện ngắn có tính ngắn gọn, cô đúc Đặc trưng này bắt nguồn từ dung
lượng của tác phẩm Dung lượng "ngắn" vừa là khối lượng câu chữ vừa là nội
dung phản ánh của truyện ngắn, đồng thời còn là quy tắc sáng tạo của nhà văn
Truyện ngắn "ngắn" nhưng trong nội dung phải có "truyện" Khi đọc một truyện
ngắn, độc giả phải khám phá được ít nhất một vấn đề nào đó về cuộc sống, về
nhân sinh để bồi đắp thêm mỹ cảm cho tâm hồn mình Tuy nhiên, cụ thể "ngắn"
như thế nào vẫn còn là vấn đề mở, chưa ai đưa ra được giới hạn nhất định cho
độ dài của truyện ngắn
Ngắn gọn trong truyện ngắn là cái ngắn gọn tinh lọc và chặt chẽ.Do tính cô đọng, tinh lọc này nên truyện ngắn có sức nén và tác động lớn Chỉ cần một vài
trang văn, người viết đã có thể làm "nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ của người
đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc lại mãi không chán" [75, tr.148]
Truyện ngắn là thể văn xuôi tự sự Đặc trưng này thể hiện ở các phương
thức biểu hiện sau:
Cốt truyện là thành phần quan trọng của tự sự nói chung và truyện ngắn
nói riêng Cốt truyện là nơi thử thách sự sáng tạo của nhà văn Với chức năng chính là bộc lộ các mâu thuẫn quan trọng trong đời sống, cốt truyện của truyện
Trang 20ngắn có thể được khai thác từ các sự kiện có thật trong đời sống, từ tác phẩm văn học, từ kinh nghiệm sống của bản thân tác giả hoặc tưởng tượng hoàn toàn nhưng đều được nhào nặn qua sự hư cấu nghệ thuật của nhà văn
So với tiểu thuyết, "cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một
thời gian, không gian hạn chế, chức năng chung của nó là làm ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời, về tình người."[25, tr.37]
Về tính chất, điều đặc biệt ở cốt truyện của truyện ngắn là nó nhiều khi mờ nhạt, hoặc không có Nếu như tiểu thuyết cho phép nhà văn tái hiện, xây dựng nhiều mâu thuẫn, nhiều xung đột trong đời sống với các chiều kích không gian
và thời gian mở rộng thì truyện ngắn lại tập trung vào một khoảnh khắc trong cuộc đời nhân vật Do đó, việc sáng tạo truyện ngắn yêu cầu nhà văn phải tìm ra được tình huống truyện
Tình huống truyện là thời điểm một sự việc, một sự kiện xảy ra đối với
nhân vật, đưa nhân vật vào tình thế phải đối đầu, phải bộc lộ tính cách và hành động, tức là vấn đề chính của truyện ngắn được mở ra Với mỗi truyện ngắn, cơ bản nhất là người viết phải tìm ra, phải sáng tạo được một tình huống truyện, cái
mà các nhà nghiên cứu, các nhà văn gọi là "cái moment", "cái tình thế", "tình
huống" hay "cái phút chốc" Nhà văn phải tạo tình huống sao cho "những con người vốn xa cách nhau, cho họ tham gia vào chủ đề giữa họ với nhau, sẽ nảy
ra tính cách của họ."[75, tr.52]
Trong xây dựng truyện ngắn, cốt truyện và tình huống truyện giữ vai trò quan trọng nhưng nhà văn còn chú trọng đến hai yếu tố thiết yếu khác là chi tiết
và kết cấu tác phẩm
Chi tiết chiếm dung lượng lớn trong tác phẩm truyện ngắn Nó sẽ góp phần
cụ thể hóa cảnh trí, không khí, khắc họa tính cách, hành động và tâm trạng nhân
vật Nhà văn Nguyên Ngọc từng khẳng định:"Truyện ngắn có thể có cốt truyện,
thậm chí cốt truyện ly kì, gây cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó
Trang 21sẽ như nước lã."[65, tr.33] Như vậy, vai trò của chi tiết trong truyện ngắn là rất
quan trọng
Sáng tạo truyện ngắn cũng cần chú ý đến cách tổ chức, sắp xếp tác phẩm
Kết cấu truyện ngắn đa dạng và phong phú Truyện ngắn có thể được kết cấu
xâu chuỗi theo trình tự thời gian hoặc hành động sự kiện, kết cấu tâm lí, kết cấu lắp ghép hoặc kết cấu đồng hiện,…Nhìn chung, các thủ pháp kết cấu thể hiện cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn, quyết định sự thành công của truyện ngắn
Xây dựng truyện ngắn, nhà văn còn tập trung chú ý đến phần mở đầu và
đoạn kết Mở đầu truyện ngắn có nhiều cách nhưng quan trọng là phải "là một
thứ âm thanh chuẩn" giúp cho việc tạo nên âm hưởng chung toàn bộ tác phẩm
Ngoài ra, truyện ngắn cũng cần phải xây dựng một đoạn kết độc đáo và ấn tượng Cách kết thúc câu chuyện sẽ thể hiện tài năng sáng tạo của mỗi nhà văn
Nhân vật chiếm một vị trí đáng kể trong truyện ngắn Nhân vật do nhà văn
tạo ra nhưng nó có đời sống riêng trong tác phẩm văn học Đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm đều được thể hiện qua tâm trạng, hành động, tính cách của nhân vật Ở các truyện ngắn đặc sắc, các nhà văn bao giờ cũng xây dựng được cho mình nhân vật điển hình
Ngôn ngữ là một trong các nhân tố đặc trưng tạo thành tác phẩm Sự tổ
chức truyện ngắn phụ thuộc khá nhiều vào sử dụng ngôn từ nghệ thuật của nhà văn Trong chuẩn mực ngắn gọn, cô đúc của mình, truyện ngắn buộc nhà văn phải cẩn trọng, gọt giũa, chọn lọc lời văn nghệ thuật Họ phải tuân thủ những yêu cầu về việc sử dụng ngôn ngữ chung, bảo đảm tính chính xác ý nghĩa của từ ngữ, xây dựng đối thoại đa dạng, sâu sắc, hình thành giọng điệu riêng biệt để ngôn ngữ truyện ngắn giản dị, chính xác và tươi tắn
Truyện ngắn có tính hiệu quả cao Truyện ngắn ảnh hưởng cả người sáng
tác và người tiếp nhận Đối với người tiếp nhận, truyện ngắn đem lại cho độc giả
sự thư giãn trí óc, sự hưng phấn tinh thần bằng nụ cười rạng rỡ hay những giọt
Trang 22nước mắt ứa trào và tiết kiệm thời gian đọc Với nhà văn - chủ thể sáng tác thì mỗi truyện ngắn bắt buộc phải để lại dấu ấn riêng thể hiện phong cách của mình Mỗi người cầm bút đến với thể tài này đều hiểu phải dành công phu lao động rất lớn trong quá trình sáng tác
Một đặc trưng không kém phần quan trọng của truyện ngắn là tính thời sự
Nhanh nhạy và năng động, truyện ngắn nắm bắt và phản ánh kịp thời hiện thực đời sống.Với đặc thù ngắn gọn, súc tích, dễ đọc, truyện ngắn thường gắn liền với hoạt động báo chí, tác động mạnh mẽ, kịp thời đến đời sống Để làm được
điều đó, truyện ngắn phải "nhạy bén trước những đổi thay của cuộc sống"
[64, tr.146] Do đó, truyện ngắn ngày càng chiếm vị trí cao trên văn đàn văn học thế giới và văn đàn văn học Việt Nam Truyện ngắn cơ động và linh hoạt, nhanh nhạy phản ánh hiện thực ở những khía cạnh sắc nét và điển hình nên rất phù hợp với những đổi thay không ngừng của cuộc sống hiện đại
Có thể nói, truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật phản ánh cuộc sống hiện đại phù hợp nhất Truyện ngắn ngày càng trở nên hấp dẫn người đọc và không kém phần thu hút người viết vì khả năng co giãn và thay đổi không ngừng của thể loại Do đó, truyện ngắn có sức mạnh nội tại lớn lao như William Boy
khẳng định: "Mỗi truyện ngắn hay như một viên polivitamin", vì nó không khác
gì "một thứ thực phẩm cô đặc, bổ dưỡng cho mỹ cảm, có hiệu quả trông thấy và
tác động nhanh đến không ngờ."[8, tr.23]
1.1.2 Phân loại truyện ngắn
Truyện ngắn được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Theo phương thức tái hiện đời sống và cấu tạo tác phẩm, truyện ngắn chia thành truyện ngắn trữ tình hóa, truyện ngắn kịch hóa
Truyện ngắn trữ tình hóa:
Cốt truyện có chức năng bộc lộ trạng thái tâm tưởng Với chất liệu cơ bản
là sự kiện nội tâm, cốt truyện được tổ chức theo nguyên tắc "chuyển hóa và lặp
lại"
Trang 23 Về nhân vật, đó là những nhân vật tư tưởng và nhân vật loại hình.Chi tiết nội tâm là chất liệu chủ yếu để xây dựng nhân vật Và, xung đột nội tâm chính là
cơ sở cấu trúc của nhân vật
Trần thuật có chức năng khơi gợi cảm xúc.Lời văn mô tả là thành phần cơ bản của trần thuật Truyện ngắn trữ tình hóa trần thuật theo nguyên tắc trùng điệp
Truyện ngắn kịch hóa:
Cốt truyện có chất liệu là những hành động giàu kịch tính nên rất hấp dẫn, gây cấn Với nguyên tắc tạo gút (nút) tỉ mỉ và mở gút đầy bất ngờ, truyện ngắn kịch hóa tạo được sự hồi hộp, mong chờ và tạo ra những tín hiệu thẩm mỹ
Nhân vật trong truyện ngắn kịch hóa là nhân vật loại hình, tiêu biểu cho một loại người trong xã hội Xây dựng nhân vật bằng những chi tiết mô tả hành động và ngoại hình và theo nguyên tắc đối lập Điều này tạo được sự kịch tính
và hấp dẫn cho người đọc
Trần thuật trong truyện ngắn kịch hóa tạo được hiệu quả bi - hài và phê phán hiện thực Thành phần cơ bản của trần thuật là những lời văn mô tả ngoại hình và diễn lại các hành động của nhân vật, thuật lại sự việc Và, nguyên tắc trần thuật là sự tương phản và tăng cấp
Theo kiểu tư duy nghệ thuật, truyện ngắn chia thành truyện ngắn sử thi hóa
và truyện ngắn tiểu thuyết hóa
Truyện ngắn tiểu thuyết hóa:
Cốt truyện có chức năng phân tích và lí giải đời sống Với chất liệu cơ bản
là cái hằng ngày, cốt truyện được xây dựng theo nguyên tắc "mơ hồ hóa" đã
giúp người đọc có thể liên tưởng và cảm nhận theo cách riêng của mỗi người
Nhân vật truyện ngắn tiểu thuyết hóa là "con người chưa biết hết" và "con
người không trùng khít với chính nó" Tăng cường độc thoại nội tâm và các chi
tiết tâm lí, kết hợp các mặt đối lập là nguyên tắc xây dựng nhân vật
Trang 24 Trần thuật có chức năng phân tích và triết luận về đời sống Bên cạnh đó, trần thuật còn có sự đa dạng về lời trần thuật, điểm nhìn và giọng điệu và tuân thủ theo nguyên tắc đối thoại
Truyện ngắn sử thi hóa:
Cốt truyện có chức năng hướng chuẩn và biểu dương sức mạnh, ý chí cộng đồng Chất liệu cơ bản trong xây dựng cốt truyện là cái lãng mạn và cái cao cả trong đời sống cộng đồng Và, cốt truyện được tổ chức theo nguyên tắc đối lập và chuyển hóa theo tuyến thời gian
Nhân vật được nhìn chủ yếu trong quan hệ với cộng đồng Cái bình thường mà vĩ đại là kết tinh hoàn hảo ở tính cách nhân vật Ngoài ra, nhân vật được miêu tả theo nguyên tắc hướng chuẩn và nhất quán
Trần thuật có chức năng nêu gương và tôn vinh cái cao cả Trần thuật truyện ngắn sử thi hóa có sự đa dạng mà tập trung của điểm nhìn và lời trần
thuật Nguyên tắc trần thuật là giữ "khoảng cách sử thi" và quy ước phi đối
thoại
Nhìn chung, sự phân loại này mang tính tương đối Sự đa dạng về các loại thể truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám xuất phát từ quá trình hiện đại hóa và sự tương tác giữa các thể loại Mỗi loại truyện ngắn đều gặt hái được những thành tựu đáng
Trang 25Trong bức tranh chungcủa văn học Việt Nam hiện đại trước 1945, truyện ngắn là thể loại khá phát triển Nó có một diện mạo riêng, một tiến trình vận động khá rõ nét Không chỉ số lượng tác phẩm, tác giả sáng tác truyện ngắn ngày càng tăng nhanh mà chất lượng, tính đa dạng về khuynh hướng thẩm mỹ cũng hết sức được chú trọng Những cây bút truyện ngắn xuất sắc xuất hiện, những tác phẩm kiệt tác ra đời là minh chứng rõ nét cho những thành tựu mà văn học giai đoạn này đã đạt được
Quan sát sự hình thành và phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 có hai giai đoạn chính sau:
Chặng đường từ năm đầu thế kỉ XX đến 1930: đây được xem là giai đoạn thử nghiệm của cả nền văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng Ở giai đoạn này, giao thời là đặc trưng tiêu biểu của văn học Sự đan xen, pha trộn giữa cái
cũ và cái mới, giữa yếu tố hiện đại và truyền thống mang tính "bình cũ rượu
mới" làm truyện ngắn chưa có những kiệt tác nổi bật Nhưng không vì thế mà
vai trò, vị trí của nó trong lịch sử phát triển văn học bị xem nhẹ hoặc phủ nhận
Có thể kể đến vai trò nổi bật của các nhà văn với các tác phẩm đáng chú ý,
chẳng hạn Phạm Duy Tốn (Nước đời lắm nỗi, Con người sở khanh, Bực mình, Sống chết mặc bay),Nguyễn Bá Học (Câu chuyện gia đình, Chuyện ông Lí Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư, Dư sinh lịch hiểm kí, Chuyện cô Chiêu Nhì), Nguyễn Tường Tam (tập Người quay tơ),…
Truyện ngắn từ đầu thế kỉ XX đến 1930 đang ở thời kì thử thách, chuẩn bị
Nó chưa có những đỉnh cao mà chỉ thể hiện ở khả năng phát triển nhanh, đa
dạng Đó chính là cái "lượng" cần có cho công cuộc hiện đại hóa văn chương ở bước đầu, để dần dần về sau "lượng" sẽ biến thành "chất" tạo nên những thành
tựu rực rỡ cho giai đoạn sau
Chặng đường từ năm 1930 đến 1945 là giai đoạn tăng tốc, hoàn thiện và phát triển Nếu như ở giai đoạn trước đó (đầu thế kỉ XX đến 1930), công cuộc hiện đại hóa văn học chỉ là những biểu hiện lẻ tẻ, rời rạc thì đến giai đoạn này đã
Trang 26rầm rộ, sôi nổi, đem đến diện mạo mới cho nền văn chương Việt Nam hiện đại Trong sự phát triển chung ấy, truyện ngắn đạt đến đỉnh cao với sự xuất hiện trên văn đàn hàng loạt tác giả xuất sắc như Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Hồ Dzếnh, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Ngô Tất Tố,…
Giai đoạn này, truyện ngắn đa dạng, phong phú về khuynh hướng thẩm mỹ,
đề tài, nội dung phản ánh Bên cạnh đó, sự đổi mới sâu sắc, có hệ thống về hình thức đã tạo nên sự xuất hiện và nở rộ của nhiều đỉnh cao nghệ thuật mới Sự ra đời của báo chí đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của truyện ngắn Thể loại này đã bám sát và bám chặt vào đời sống và con người đặc biệt là những số phận nhỏ bé, hèn mọn dưới đáy xã hội
Truyện ngắn giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến trước năm 1945 nổi bật lên là
sự hiện đại cả về nội dung và nghệ thuật, thể hiện ở những phương diện sau:
Đề tài, chủ đề được mở rộng ở mọi mặt của cuộc sống hiện đại
Truyện ngắn phản ánh chân thực hiện thực xã hội, vạch trần và lên án tình trạng suy đồi đạo đức, bất công trong chế độ thực dân nửa phong kiến
Thương cảm và trân trọng những con người có số phận bất hạnh đặc biệt
là người phụ nữ và trẻ em
Cốt truyện và kết cấu truyện ngắn hiện đại, đa dạng
Ngôn ngữ giản dị và gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày
Xây dựng nhân vật đã chú trọng đến khắc họa tâm lí nhân vật
Trang 27 Lối kết thúc truyện theo hướng gợi mở để người đọc suy nghĩ, chiêm nghiệm
Ngoài ra, sự tương tác thể loại cũng là đặc điểm đáng chú ý trong tiến trình vận động, phát triển văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng
M.Bakhtin trong Lý luận và thi pháp tiểu thuyết đã viết: "Đằng sau cái mặt
ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba." [5,tr.28] Theo ông, lịch sử văn học trước hết là lịch sử
hình thành, phát triển và tương tác giữa các thể loại
Khái niệm tương tác thể loại - có thể hiểu bao quát hơn - là hiện tượng hai hay nhiều thể loại của một giai đoạn, một thời kì, một nền văn học, thuộc về một hay nhiều hệ thống thể loại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, xâm nhập vào nhau,
mô phỏng nhau,… để cùng biến đổi hoặc hình thành thể loại mới (với một cấu
trúc ít nhiều thay đổi về "tố chất thẩm mĩ chủ đạo","giọng điệu", "dung lượng và
cấu trúc chung của tác phẩm")
Sự tương tác thể loại có thể diễn ra trên các quan hệ khác nhau như giữa loại và loại, thể với loại, thể với thể, yếu tố với yếu tố.Tất cả đã làm cho bức tranh thể loại của nền văn học giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX thêm sinh động, nhộn nhịp trong đó có thể loại truyện ngắn
Các thể loại văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng được phân hóa
thành nhiều tiểu loại khác nhau Sự tương tác "tổng hợp" thể loại thể hiện khá
rõ, chẳng hạn tương tác tổng hợp giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, làm xuất hiện
truyện ngắn tiểu thuyết hóa (Chí Phèo, Lão Hạc - Nam Cao, Mợ Du - Nguyên
Hồng, ), tương tác giữa thể truyện ngắn và loại trữ tình làm xuất hiện truyện ngắn trữ tình hóa (các truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, )
Hay tương tác giữa truyện ngắn và kí tạo nên truyện ngắn tự truyện (tập Chân trời cũ - Hồ Dzếnh, )
Trang 28Việc thoát bỏ mô hình thể loại, mang thêm vào tác phẩm những yếu tố của thể loại khác sẽ góp phần điều chỉnh mô hình, nắn lại nòng cốt thể loại của tác phẩm, tránh được sự xơ cứng, máy móc, thúc đẩy sự vận động, phát triển của thể loại truyện ngắn Như vậy, tương tác thể loại góp phần đắc lực vào quá trình hiện đại hóa văn học Đồng thời, nó tạo nên sự phong phú và phức tạp cho giai đoạn văn học nửa đầu thế kỉ XX
Tóm lại, truyện ngắn trên chặng đường hiện đại hóa thực sự đã khoác lên
mình "bộ áo mới" phù hợp với với những đổi thay của cuộc sống Truyện ngắn
giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám đã cùng hòa vào sự phát triển chung của hệ thống thể loại của văn học Việt Nam hiện đại
1.3 Nhìn chung về truyện ngắn Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh trước năm 1945 1.3.1 Truyện ngắn Nguyên Hồng trước 1945
Nguyên Hồng là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám Ông đến với nghề văn khá sớm, viết nhiều thể loại và thành
công ngay ở tác phẩm đầu tiên (truyện ngắn Linh hồn) Cuộc đời cầm bút của
Nguyên Hồng là hành trình sáng tạo nghệ thuật kiên trì, không mệt mỏi Năm
1996, ông được Nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
Những tác phẩm chính:
Truyện ngắn: Bảy Hựu (năm 1941), Hai dòng sữa (năm 1943), Miếng bánh (năm 1945), Ngọn lửa (năm 1945), Địa ngục và Lò lửa (năm 1946), Giọt máu (năm 1956)
Tiểu thuyết: Bỉ vỏ (năm 1938), Cuộc sống (năm 1942),Quán Nải (năm 1943), Đàn chim non (năm 1943), Hơi thở tàn (năm 1943), Sóng gầm (năm 1961), Cơn bão đã đến (năm 1963), Thời kỳ đen tối (năm 1973), Khi đứa con
ra đời (năm 1976), Thù nhà nợ nước (năm 1981), Núi rừng Yên Thế (năm
1983)
Thơ: Trời xanh (năm 1960), Sông núi quê hương (năm 1973)
Trang 29 Kí: Những ngày thơ ấu (năm 1941), Đất nước yêu dấu (năm 1949), Sức sống của ngòi bút (năm 1963), Bước đường viết văn của tôi (năm 1971), Một tuổi thơ văn (năm 1973), Những nhân vật ấy đã sống với tôi (năm 1978)
Trong sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, truyện ngắn có vị trí, vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt, truyện ngắn trước năm 1945 của ông được công chúng độc giả cũng như các nhà phê bình, giới nghiên cứu yêu mến, quan tâm và đánh giá cao Nhắc đến truyện ngắn của ông, người ta nói đến một bút pháp viết truyện vừa hiện thực vừa lãng mạn, trữ tình
Trước năm 1945, nhà văn Nguyên Hồng viết khỏe và đã cho ra đời nhiều
tập truyện ngắn đặc sắc là Bảy Hựu (năm 1941), Hai dòng sữa (năm 1943), Miếng bánh (năm 1945),Ngọn lửa (năm 1945) Ở những tập truyện ngắn này,
người đọc có thể dễ dàng thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn Nguyên Hồng thương cảm, trân quý và tin tưởng mãnh liệt những người lao động nghèo khổ nhưng có tấm lòng, phẩm chất vô cùng tốt đẹp Từng trang văn của ông thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, bụi bặm của cuộc sống đen tối, ngột ngạt với những kiếp người lầm than, đói rách, cùng khổ Nhưng trong những phần cát bụi ấy vẫn ngời lên ánh sáng của niềm tin, sự lạc quan và tấm lòng bao la thương cảm của Nguyên Hồng Đó là cái nhìn đầy lãng mạn, đầy chất thơ về đời sống cần lao, sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn Nguyên Hồng đã tái hiện chân thực và sinh động đời sống cần lao của người dân thành phố cảng Hải Phòng trước Cách mạng tháng Tám
Ngoài chất hiện thực đậm nét, truyện ngắn Nguyên Hồng trước 1945 còn tràn ngập chất lãng mạn Chất trữ tình lãng mạn này không mang tính tiêu cực thoát li như một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn mà nó là chất thơ bắt nguồn từ lòng thương yêu, niềm tin tưởng của nhà văn với những người cùng khổ nhưng
có phẩm chất tốt đẹp, sáng ngời
Truyện ngắn Nguyên Hồng đa dạng trong sử dụng bút pháp, kết cấu, xây dựng hình tượng nhân vật Tất cả đều nhằm phản ánh đời sống tầng lớp dân
Trang 30nghèo thành thị, những con người cơ cực, khốn khổ, bị đàn áp, vùi dập nhưng vẫn ánh ngời sự lương thiện, thủy chung, tấm lòng thương người và luôn khát khao, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng và hạnh phúc
Giọng văn trong truyện ngắn Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám là giọng thương cảm thống thiết và lạc quan sôi nổi Câu văn của ông thường được
mở rộng thành phần theo kiểu tăng cấp, liệt kê và sử dụng các kết cấu lặp Đoạn văn của ông thường được tổ chức chồng tầng theo mạch cảm xúc Ngoài ra, ngôn ngữ trong những truyện ngắn của nhà văn đa dạng, giàu sức biểu cảm và gây ấn tượng bằng cách sử dụng từ ngữ, thành ngữ, thán từ hết sức linh hoạt Vì vậy, văn của Nguyên Hồng luôn dồi dào cảm xúc, giàu chất thơ và dễ đi vào lòng người
Tóm lại, với tất cả những yếu tố trên đã tạo nên một phong cách rất riêng cho nhà văn Nguyên Hồng, vừa độc đáo vừa thân thương, gần gũi với nhân dân lao động
1.3.2 Chân trời cũ - đỉnh cao trong sáng tác văn xuôi Hồ Dzếnh
Hồ Dzếnh vừa là một nhà văn vừa là một nhà thơ Nhắc đến ông, độc giả không thể không nhớ đến một cây bút độc đáo nhưng khiêm tốn, trầm lặng Ông sáng tác cả trước và sau Cách mạng Tác phẩm của ông viết về những gì mình
đã sống và chiêm nghiệm Tất cả đều thật gần gũi, thân thuộc nhưng cũng lắm đau buồn,làm rung động bao thế hệ độc giả
Những tác phẩm chính:
Đã xuất bản:
Chân trời cũ (tập truyện ngắn), Nxb Á Châu,năm 1942
Một truyện tình 15 năm về trước (tiểu thuyết), (ký bút danh Lưu Thị
Hạnh), Nxb Á Châu, năm 1942
Quê ngoại (thơ), Nxb Nguyên Hà, năm 1943
Trang 31 Hai mối tình hay tiếng kêu trong máu (tiểu thuyết), (ký bút danh Lưu
Thị Hạnh), năm 1944
Những vành khăn trắng (tiểu thuyết), (ký bút danh Lưu Thị Hạnh), năm
1944
Cô gái Bình Xuyên(tiểu thuyết), Nxb Tiếng Phương Đông, năm 1946
Hoa xuân đất Việt( thơ), Nxb Nam Hoa thư xã, năm 1946
Hồ Dzếnh, tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn học, năm 1988
Đã công diễn chưa xuất bản:
Người nữ cứu thương Trung Hoa (kịch một màn), năm 1947
Đi hay ở (kịch một màn), năm 1955
Tác phẩm thất lạc:
So với nhiều tác giả khác, Hồ Dzếnh có số lượng truyện ngắn không
nhiều.Chân trời cũ là tập truyện ngắn duy nhất của nhà văn trước năm 1945
Tác phẩm được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của nhà văn, khẳng định vị trí của Hồ Dzếnh trên văn đàn văn học Việt Nam hiện đại
Chân trời cũ gồm 13 truyện ngắn, đó là sự ngoái nhìn về tuổi thơ, về quá
khứ đã qua Chân dung của từng người thân trong gia đình, hàng xóm xung quanh được tái hiện qua sự hoài niệm những kỉ niệm thời thơ ấu của tác giả Tất
cả từ con người đến cảnh vật đều hắt lên một sự buồn bã, thê lương của một không gian tâm tưởng mênh mông, trống trải Ở đó, những số phận bất hạnh, lầm lũi đặc biệt là những người phụ nữ chịu thương chịu khó, nhẫn nại, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.Thế nhưng, cuộc sống của họ là chuỗi ngày dài tăm tối, khổ đau vô tận
Tập truyện tiêu biểu cho loại truyện ngắn trữ tình hóa Tác phẩm được kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện đồng thời là nhân vật tự kể về câu chuyện
Trang 32của mình Bên cạnh đó, điểm nhìn bên trong, cố định đã góp phần giúp cho nhà văn thỏa sức bày tỏ tình cảm, suy nghĩ và khơi gợi cho độc giả nhiều cảm xúc trung thực, mới mẻ
Ngôn ngữ trần thuật đa dạng, dễ hiểu, những đoạn văn trữ tình sâu lắng Giọng điệu giàu chất thơ, tâm tình Tất cả đã tạo nên những thước phim quay chậm về một quá khứ đã qua-quá khứ của sự trăn trở, suy tư và day dứt
Chân trời cũ lãng mạn, trữ tình nhưng hòa quyện vào đó là chất hiện thực
rất cụ thể Tác phẩm phản ánh sinh động hiện thực xã hội và thân phận con người trong xã hội bấy giờ Chính vì vậy, tác phẩm mang đậm hơi thở cuộc sống
và khẳng định được cá tính, phong cách sáng tạo của Hồ Dzếnh trên văn đàn Truyện ngắn trước năm 1945 của Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh đã góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm bức tranh văn học Việt Nam hiện đại Những suy nghĩ, trăn trở của các nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống, số phận con người được thể hiện sắc nét trong từng tác phẩm Truyện ngắn đã góp phần khẳng định vị trí của hai tác giả trong nền văn học Việt Nam
Trang 33Tiểu kết chương 1
Truyện ngắn đã và đang từng bước hoàn thiện và phát triển Từ đầu thế kỉ
XX đến năm 1945, truyện ngắn và các thể loại khác bước vào quá trình hiện đại hóa Ngoài ra, giai đoạn này còn có tương tác giữa các thể loại rất đa dạng và phức tạp Sự giao thoa, hòa kết đó tạo nên sự độc đáo cho văn học Việt Nam hiện đại Trên đây, chúng tôi đã khái lược về đặc trưng, lịch sử phát triển và những đặc điểm nổi bật của thể loại truyện ngắn đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám; giới thiệu khái quát về đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước 1945 Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ tiến hành đối sánh về phương diện nội dung cảm hứng và phương thức tự sự để tìm
ra sự tương đồng và dị biệt trong truyện ngắn của hai nhà văn ở những phần sau
Trang 34Chương 2.ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG VÀ
HỒ DZẾNH TRƯỚC NĂM 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN
NỘI DUNG CẢM HỨNG 2.1 Bức tranh xã hội, nhân sinh trong truyện ngắn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh trước 1945
Văn học phản ánh hiện thực Ở từng giai đoạn, thời kì lịch sử, bức tranh xã hội, con người trong văn học sẽ có sự khác nhau Các nhà văn sẽ chọn cho mình
một phạm vi hiện thực nào đó để "cày xới", khai phá Xã hội Việt Nam trước
năm 1945 với bao biến cố lịch sử, chính trị lớn lao phản chiếu vào văn chương nghệ thuật, tạo nên điểm giao thoa về nội dung cảm hứng trong sáng tác giữa các nhà văn Nguyên Hồng và Hồ Dzếnh là hai đại biểu đại diện cho khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực trong văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám Điểm tương đồng về nội dung cảm hứng trong truyện ngắn của hai nhà văn chính là họ đều chú tâm tái hiện bức tranh xã hội đương thời Đồng thời, tấm lòng Hồ Dzếnh và Nguyên Hồng luôn dạt dào, tha thiết đối với những kiếp người cùng khổ, bất hạnh Bên cạnh đó, giữa hai nhà văn cũng có sự khác biệt khi phản ánh xã hội, con người
2.1.1 Nguyên Hồng – nhà văn của con người và thành phố Hải Phòng
Mười sáu tuổi, Nguyên Hồng và gia đình chuyển đến sinh sống ở Hải Phòng Cuộc sống ở thành phố ấy đã có sức tác động rất lớn vào quá trình phát triển tâm hồn, trí tuệ và tài năng nghệ thuật của nhà văn Ông đã nhiều lần từng
viết: "Hải Phòng là quê hương, máu thịt của tôi","Hải Phòng đã nuôi nấng tôi
Tôi lớn lên dưới đôi vú mẹ đầy bụi than và vết đế quốc bóp xé", "Cuộc sống của Hải Phòng và Hải Phòng đã mở ra những bước đường cho tôi đi", "Cả những năm đen tối nhất, tâm hồn tôi cũng lồng lộng trên đôi cánh ý thức của Hải Phòng chắp cho này" Hay có lúc ông nhắc đến Hải Phòng đầy cảm xúc: "đối với Hải Phòng, tôi mắc một món nợ, tôi đã yêu một tình yêu, không có thể nào
Trang 35trang trải, thay thế được, nếu tôi không có những tác phẩm mang tận cùng sự cố gắng và say mê của tôi khi viết về nó." [37, tr.97]
Có thể nói, thành phố Hải Phòng là quê hương thứ hai, là nguồn cảm hứng
vô tận trong sáng tác của Nguyên Hồng Ông yêu say mê, yêu tha thiết cái thành phố hải cảng muôn màu nghìn vẻ ấy Đọc văn Nguyên Hồng, độc giả thấy rõ
rằng dù ông viết về nơi đâu, địa chỉ nào thì nơi đó đều mang "hơi thở và màu
sắc" của cảnh vật, không khí và con người thành phố cửa biển Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố có cái nắng chói chang miền cửa biển, cái ánh nắng sáng lóa phấp phới trong gió, bầu trời thì cao xanh lồng lộng và những tảng mây trắng xóa trôi nhẹ Và, những vẻ đẹp thiên nhiên ấy đi vào những trang viết của
Nguyên Hồng thật tự nhiên và tràn ngập sự sống Trong truyện ngắn Hai nhà nghề,bức tranh làng quê bình dị, mộc mạc hiện lên thật tươi đẹp:"ánh nắng vàng
tươi đã hửng khắp bầu trời không gợn một vết mây đen, rồi tràn ngập mênh mông khắp vùng quê yên lặng trong những màn nước mong manh Khi mặt trời lên cao và gió lồng lộng tung cát lên thì đâu đâu cũng vang động Từ cánh đồng bao la luôn luôn dướn cao lên và cúi rạp xuống những ngọn lúa xanh rờn, từ những chòm cây, những lũy tre lấp lánh đều ngun ngút sinh khí, đều kêu gọi lòng ham sống của con người" [41, tr.209] Cảnh vật tươi sáng trên chuyến tàu
đã kích thích tâm hồn của Nhân, một "nhà nghề" đang chán nản bởi cuộc sống cùng cực, bị hắt hủi, xua đuổi và "sinh khí" của làng quê đã đem đến cho cậu sự
hân hoan, niềm hy vọng vào những ngày sung sướng sắp tới
Cách mạng đang diễn ra ngày càng sôi nổi, cảnh vật của thành phố Hải Phòng dường như cũng hòa theo nhịp điệu khẩn trương, sục sôi ấy Lòng người
rung chuyển, rộn ràng với "bao nhiêu cái mầm sống nảy nở đã chín muồi sắp
chồm dậy, sắp xé tung sự trùm lấp, đè ép để tự do thở hít ánh sáng và khí trời,
để được gieo rắc mênh mông"[14, tr.154] Con đường, bầu trời, cây cối, hoa lá
đều đang đón chờ cơn vũ bão cách mạng sắp đến Đặc biệt, Nguyên Hồng miêu
tả rất đặc sắc về ánh nắng, chẳng hạn "ánh nắng mênh mông tràn ngập", "ánh
Trang 36nắng chói lòa thêm hào quang", "ánh nắng rực rỡ", "nắng xuân ánh ngời vàng ngọc",…Nắng trong văn Nguyên Hồng rạo rực, reo vui như chính tâm hồn tác
giả Toàn bộ truyện ngắn Những mầm sống hiện lên với một vẻ chói sáng của
bầu trời ngập tràn ánh sáng tự do Ở đó, có một sức sống, sự vùng dậy vô cùng
mãnh liệt và nó đang chuẩn bị "đè lên, vượt qua và cuốn theo tất cả những sự ủy
mị, những cái tối tăm, những cái gì có vẻ chậm chạp"[14, tr.152] để có thể "đi tới một dải đất rực rỡ, xán lạn của bầu trời xuân tràn ngập ánh sáng trong buổi
trưa này" [14, tr.154]
Hải Phòng không chỉ có nắng chói chang, không chỉ có sắc phượng đỏ
thắm mà còn có "những ống khói đen xạm, những nóc xưởng nhà máy san sát,
rất rộng Những lớp cửa to như những cổng chào mở toang ra để nhìn thấy tất
cả những hàng máy chạy ầm ầm và người làm mải miết Và những cột buồm, những ống khói tàu tua tủa cất lên trời xanh Khu Ximăng và khu Hạ Lý bên kia sông Lấp; khu Bonnal bên này; khu Sáu Kho và Máy Bát xa kia"[14, tr.226]
Thật đúng là thành phố của lao động, của làm ăn, buôn bán, với nhịp điệu khẩn trương, mãnh liệt nơi cửa sông, cửa biển, bến tàu, xưởng máy
Những cảnh chợ búa, nhà ga, khu phố buôn bán, bến cảng, những giờ tan tầm của các nhà máy, công ti, phu phen, thợ thuyền ào ào đổ ra các hè phố,…xuất hiện với tần số rất nhiều trong những truyện ngắn của Nguyên Hồng Không khí ồn ào của một buổi chiều tan tầm được nhà văn miêu tả thật cụ thể,
sinh động: "Những tiếng chuông xe đạp bóp liên thanh là của những học trò rất
nghèo, khát học để cướp lấy mảnh bằng cơm gạo cho cả nhà, và của những người đi làm ở những sở xa về đã đói ngấu, mệt nhoài Những tiếng guốc khua, những tiếng xe bò ầm ầm vì đường gồ ghề, những tiếng xẻng, cuốc và ván gỗ trong thùng xe xô đẩy nhau, nhảy lên, chồm xuống, những tiếng ấy là của những thợ nhà in, thợ nhà máy gạch, phu hồ, phu than ở những xóm trong cùng, họ đi làm lúc còn tối đất giờ về cũng lại tối đất, nên càng mải miết hơn Những tiếng huyên náo của họ lúc vào trong xóm gần trùm lên cả những tiếng động khác
Trang 37Hai bên đường dần đen kịt những người và vật lố nhố Những người bán hàng ở các chợ trên phố đóng cửa sớm bị đuổi ra và đi bán rong dồn về, lại họp chợ ngay dọc đường, lại mời chào, mặc cả, cãi cọ ầm ỹ Lắm kẻ lại còn vừa phải bán hàng vừa dỗ con bé bú, vừa đánh mắng sa sả những đứa lớn cứ lèo nhèo mếu máo vòi quà." [14, tr.98]
Hải Phòng trong truyện ngắn trước Cách mạng của nhà văn Nguyên Hồng còn hiện lên chân thực, gần gũi với những ngõ hẻm lầy lội mà sau một trận mưa, nước ngập lênh láng, bẩn thỉu Những ngày mùa hè nóng nực luôn luôn có tiếng chửi mắng, tiếng trẻ con khóc vì đói, cái ngõ nhớp nháp vì người ta gánh nước,
đổ rác, gánh rau đậu đi các chợ bán,…Hay đó là cảnh tượng của một thành phố trong thời kì Mặt trận dân chủ với những cuộc chạy loạn, những cuộc đình công, biểu tình đòi cơm áo, quyền lợi Không khí ấy sôi sục, trào dâng như những đợt
sóng liên tiếp nhau không dứt trong Người đàn bà Tàu, Đi,…
Nguyên Hồng được xem là nhà văn của thành phố Hải Phòng Điều đó không phải chỉ ở việc ông đã miêu tả chân thật và sinh động về cảnh vật và không khí của thành phố này mà ở chỗ nhà văn đã phát hiện và tái hiện được
"linh hồn" của nó, đó chính là con người Hải Phòng Có thể nói, bức tranh xã
hội nhân sinh trong truyện ngắn Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu phản ánh cuộc sống, con người Hải Phòng
Từng sinh sống và trải nghiệm với tầng lớp dân nghèo thành thị ở Xóm Cấm, Nguyên Hồng hiểu rõ hơn ai hết ngọn nguồn những con người ở đây Họ, mỗi người một bộ mặt, một lịch sử từ tứ xứ khắp nơi đến để làm ăn, sinh sống
Đa phần họ là dân quê đói khát gặp cảnh mất mùa, thiên tai, gặp nạn lí dịch hoành hành cướp bóc phải thất cơ lỡ vận phiêu dạt ra thành phố kiếm sống bằng
đủ các loại nghề rồi dần bám trụ để sinh sống Nhà văn Nguyên Hồng đã làm sống dậy cuộc sống lam lũ, bần cùng, cơ cực của những lao động nghèo khổ ở các vùng ngoại ô, ngõ hẻm ở ô Yên Phụ, bãi Phúc Xá hay xóm chùa Đông Khê, ngõ Hàng Gà,…Họ sống chui rúc trong những xóm nhà lá hoặc lợp tôn tồi tàn,
Trang 38chen chúc, lụp xụp, chật chội với những ngọn đèn leo lét như ngái ngủ, đêm đến vang lên tiếng muỗi và tiếng kêu ú ớ trong giấc ngủ mê mệt sau một ngày lao động cực nhọc Thế nhưng, có thể dễ dàng nhận thấy ở những con người ấy vẫn mang những phẩm chất chung của nhân dân Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử Đó là sự cần cù, chịu khó, tinh thần nhân nghĩa thủy chung, sống lạc quan, yêu đời, sống tình nghĩa, căm ghét áp bức, bóc lột và kiên cường
trước kẻ thù Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét rằng: "Nhìn
chung những nhân vật lao động của Nguyên Hồng bao giờ cũng đầy sức sống, vạm vỡ, khỏe khoắn, không phải chỉ ở thể chất mà từ trong bản chất tâm hồn tỏa
ra và truyền tới người đọc".Con người Hải Phòng là thế! Họ hiện lên thật sinh
động trong cái nhìn đầy trìu mến của Nguyên Hồng Nhà văn luôn dành cho họ
sự yêu thương và trân trọng
Ngoài những tính cách chung ấy, con người của thành phố cảng Hải Phòng còn có những nét rất riêng Ấy là những con người thường có quan niệm sống tự
do, phóng túng, ít bị ràng buộc khi rời bỏ quê hương để sinh sống ở một thành phố mới Tha hương kiếm sống, họ tự rèn cho mình bản lĩnh sống ngang tàng,
gân guốc Đó là Nhân và cậu bé ném dao trong Hai nhà nghề, Nhân trong Đâybóng tối…Những người phụ nữ cũng thường khá táo bạo trong luyến ái và hôn nhân như cô Tí trong Nhà bố Nấu, Lệ Hà trong Người con gái,…Bên cạnh
đó, những nhân vật lưu manh, côn đồ cũng được nhà văn chú ý miêu tả và phân tích Họ là tầng lớp dưới đáy xã hội với những tội lỗi, lầm lỡ nhưng ở họ vẫn có những điều tốt đẹp nhỏ nhoi quý giá Bảy Hựu, Hai răng vàng và một số nhân
vật trong tập truyện ngắn Bảy Hựu là những con người như thế Dù nam hay nữ,
những nhân vật này vẫn rất táo tợn, can đảm, đều có những nét "anh hùng hảo
hán" Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng nhận định rằng họ "có tấm lòng khẳng khái hi sinh không khác nào những nhân vật trong Thủy Hử" Chẳng hạn, nhân
vật Bảy Hựu xông vào chiến đấu với tên Hiển dù sức lực yếu hơn, Chín Huyền cứu bạn bè dù mình đang đau ốm,…Số phận của những con người ấy được nhà
Trang 39văn phản ánh chân thực, không tô vẽ hay làm nhòa đi, tất cả đã tái hiện sinh động bức tranh xã hội Việt Nam trước năm 1945 tù túng, ngột ngạt
Truyện ngắn Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám tái hiện không chút trau chuốt hay màu mè cuộc sống tầng lớp cần lao nghèo Hải Phòng Đó là cảnh làm ăn xô bồ, giành giật hayđó là mâu thuẫn vợ chồng vì nghèo khổ Cảnh
ăn xin, chết chóc đầy đường đến cuộc sống kham khổ của những gia đình nghèo đất cảng; rồi cảnh đâm chém, thanh toán nhau theo kiểu giang hồ rợn người hoặc cảnh sinh hoạt thiếu thốn trong tù,
Miêu tả người lao động nghèo của Hải Phòng, Nguyên Hồng xuất phát từ tấm lòng nhân hậu và hồn nhiên của một người thanh niên nghèo khổ Giữa họ
và nhà văn dường như không có khoảng cách mà chỉ có tấm lòng và sự gần gũi của những người đồng cảnh ngộ Dù trong những truyện ngắn của ông trước
Cách mạng chưa "miêu tả được mâu thuẫn giai cấp đối kháng của xã hội",
nhưng Nguyên Hồng đã viết về họ với tất cả sự thôi thúc mãnh liệt của trái tim
2.1.2 Chân trời cũ – tập truyện về người thân
Bức tranh xã hội nhân sinh trong tập Chân trời cũ chỉ đơn giản là bức tranh
về người thân, gia đình hay hàng xóm của tác giả Thế nhưng, phảng phất đằng sau bức tranh ấy chính là hiện thực xã hội đương thời Tình trạng đi phu trong
Anh Đỏ Phụ, Sáng trăng suông, cuộc sống của những người Tàu sang định cư tại Việt Nam trong Ngày gặp gỡ, Trong bóng rừng, số phận người phụ nữ trong Người chị dâu tôi, Chị Yên,Em Dìn, là những mảng hiện thực xã hội Việt
Nam trước Cách mạng tháng Tám
Bao trùm toàn bộ tác phẩm là không khí ảm đạm, hiu hắt Cảnh vật, con người chìm ngập trong sự buồn bã Hồ Dzếnh hay miêu tả cảnh chiều, bóng chiều hay nắng chiều Nhưng, khác với cái nắng rạo rực như nhảy múa của
Nguyên Hồng, nắng của Hồ Dzếnh là "nắng chiều nghiêng xế", "nắng chiều
vàng rực", "nắng chiều dần tàn", Nắng chiều tà, hiu quạnh, cô đơn như chính
Trang 40tâm hồn tác giả luôn hoài niệm về những chân trời của quá khứ Và, chân trời đó
có những người thân của ông đang âm thầm sống trong sự lặng lẽ, buồn rầu
Mẹ là người luôn yêu thương, che chở và không quản khó nhọc nuôi nấng con trưởng thành Hình ảnh người mẹ luôn khắc sâu trong tim mỗi người và với tác giả Hồ Dzếnh, mẹ, tiếng gọi thân thương ấy luôn âm vang không lúc nào nguôi Mở đầu tập tự truyện, nhà văn đã trìu mến giới thiệu với độc giả về người
mẹ của mình:"Quê mẹ tôi ở Trung Bộ, nhà người - tôi không làm thơ đâu - ở
bên kia một dòng sông nhỏ, êm kín hai bờ lau xanh."[71, tr.23] Bà là một người
phụ nữ có số phận thiếu êm vui, lấy chồng trong cảnh túng thiếu, cả một đời gần như gắn liền với những bổn phận và khổ đau giống như bao người mẹ khác
"những bà mẹ Việt Nam đều phải đau khổ ngay từ lúc lọt lòng Mọi sự do "Trời"
định, các tâm hồn đó chỉ biết vâng theo, một cách nhẫn nhục, một cách lặng lẽ, một cách chua xót vô cùng! Bao nhiêu thế kỉ rồi, những tiếng thở dài mất tăm trong đêm tối, những mái đầu bù rối nghiêng xuống bổn phận hằng ngày, tầm thường và nhỏ mọn."[71, tr.31].Tình yêu thương của mẹ thật nồng ấm, đó là nụ
cười, là cái bánh, đó là những giọt nước mắt, là những đồng tiền chắt chiu cho con ăn học hay đó là lời hát ngọt ngào ru con vào giấc say nồng Dòng sữa yêu thương mẹ dành hết cho con, đến trọn cuộc đời này Hồ Dzếnh mãi mãi không thể nào quên:
"Khi con còn ngủ trong thai Cuống rau mẹ chắt đêm ngày thức ăn Nôi êm nâng giấc con nằm Sữa thơm mẹ lại vắt phần nuôi con Biết bao nghĩa cả tình son với đời Kiếp sau xin được làm người
Để nghe non nước vọng lời mẹ ru"
(Lời ru của mẹ, tập Quê ngoại)