Quy trình xây dựng các loại hình văn hóa mà chúng tôi sử dụng có thể quy về ba bước: 1 Phân loại các thành tố của đối tượng nghiên cứu thành các nhóm; 2 So sánh các nhóm thành tố với nh
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN
Tên đề tài:
Ngày nhận
hồ sơ
(Do CQ quản lý ghi)
Tham gia thực hiện chính
TT Học hàm, học vị, Họ tên Trách nhiệm Điện thoại Email
1 GS.TSKH Trần Ngọc Thêm Chủ nhiệm 0918256422 ngocthem@gmail.com
2 ThS Ng Thị Phương Duyên Thư ký 0918746347 duyenphuong.nguyen@gmail.com
3 PGS.TS Phan Thị Thu Hiền Tham gia 0918349348 hienft1963@gmail.com
4 TS Đinh Thị Dung Tham gia 0914415266 dinhdung_61@yahoo.com
5 TS Nguyễn Ngọc Thơ Tham gia 0903781875 poettho@gmail.com
6 TS Nguyễn Văn Hiệu Tham gia 0977986132 hieu.van62@gmail.com
7 ThS Lê Thị Trúc Anh Tham gia 0908300035 lethitrucanh@gmail.com
8 ThS Phan Anh Tú
ThS Trần Duy Khương
Tham gia Tham gia
0908643197
0919168601
phananhtu03@gmail.com tranduykhuong1981@gmail.com
9 ThS Ng Thị Thúy Vy
ThS Trương Thị Lam Hà
Tham gia Tham gia
0903309825
0902668514
thuyvy.vh04@gmail.com truongthilamha@gmail.com
10 ThS Ng Thị Tuyết Ngân Tham gia 0919976425 ntuyetngan@gmail.com
11 ThS Trần Phú Huệ Quang Tham gia 0918407977 tphuequang@gmail.com
12 ThS Ng Đoàn Bảo Tuyền Tham gia 088377497 truongndbt@gmail.com
13 ThS Lữ Thị Anh Thư Tham gia 0913893357 anhthu230983@yahoo.com.vn
Trang 3MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và phạm vi của đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Bố cục đề tài 5
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ 7
Dẫn nhập 7
1 Tình hình nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ 7
1.1 Xét trong bối cảnh tình hình nghiên cứu văn hóa Nam Bộ 8
1.2 Xét theo thời gian 9
1.3 Xét theo chủ thể và không gian 12
1.4 Xét theo cách tiếp cận 13
2 Văn hóa vùng và các vùng miền văn hóa Việt Nam 15
2.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa 16
2.2 Tình hình nghiên cứu văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam 21
2.3 Bộ công cụ và phương pháp nghiên cứu văn hóa vùng 23
2.4 Các vùng miền văn hóa ở Việt Nam và Nam Bộ 35
3 Tây Nam Bộ như một vùng văn hóa 38
3.1 Từ Nam Bộ đến Tây Nam Bộ 38
3.2 Tây Nam Bộ nhìn từ không gian 45
3.3 Tây Nam Bộ nhìn từ chủ thể 53
3.4 Tây Nam Bộ nhìn từ thời gian 67
4 Các tiểu vùng văn hóa Tây Nam Bộ 73
4.1 Tiểu vùng Phù sa ngọt 75
4.2 Tiểu vùng Giồng duyên hải 78
4.3 Tiểu vùng Ngập kín (Đồng Tháp Mười) 80
4.4 Tiểu vùng Ngập hở (Tứ giác Long Xuyên) 83
4.5 Tiểu vùng Ngập mặn (Bán đảo Cà Mau) 85
5 Từ tiểu kết chương I đến cấu trúc các thành tố văn hóa 89
Chương II VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ 92
1 Văn hóa nhận thức của người Việt vùng Tây Nam Bộ 92
Trang 41.2 Nhận thức về môi trường tự nhiên 99
1.3 Nhận thức về môi trường xã hội 105
2 Văn hóa tổ chức đời sống tập thể của người Việt vùng Tây Nam Bộ 107
2.0 Dẫn nhập 107
2.1 Tổ chức gia đình - gia tộc 109
2.2 Tổ chức nông thôn 118
2.3 Tổ chức đô thị 130
3 Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của người Việt vùng Tây Nam Bộ 146
3.1 Tín ngưỡng 147
3.2 Tôn giáo 170
3.3 Phong tục tập quán 188
3.4 Văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ 233
3.5 Nghệ thuật thanh sắc và hình khối 262
Chương III VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ 308
Dẫn nhập 308
1 Văn hóa ứng xử với đất và nước của người Việt vùng Tây Nam Bộ 309
1.1 Tận dụng đất và ứng phó với nước trong định cư lập nghiệp 310
1.2 Tận dụng đất và ứng phó với nước trong sản xuất 315
1.3 Tận dụng đất và ứng phó với nước trong sinh hoạt 327
1.4 Tận dụng đất và ứng phó với nước trong đi lại 330
1.5 Tận dụng nước và ứng phó với đất trong đi lại 335
1.6 Tận dụng nước và ứng phó với đất trong sản xuất 345
1.7 Tận dụng nước trong buôn bán 354
1.8 Tận dụng nước trong cư trú và sinh hoạt 367
2 Văn hóa ứng xử với khí hậu, thời tiết của người Việt vùng Tây Nam Bộ 373
2.1 Văn hóa chống nắng nóng trong ẩm thực 373
2.2 Văn hóa chống nắng nóng trong trang phục 378
2.3 Văn hóa chống nắng nóng trong kiến trúc 383
2.4 Thiên tai trong văn hóa Tây Nam Bộ 387
3 Văn hóa ứng xử với động vật của người Việt vùng Tây Nam Bộ 390
3.1 Văn hóa ứng xử với cọp 390
3.2 Văn hóa ứng xử với cá sấu 397
3.3 Văn hóa ứng xử với rắn 406
3.4 Văn hóa ứng xử với đỉa và muỗi 419
3.5 Tận dụng nước để khai thác và nuôi thủy sản 422
4 Văn hóa ứng xử với thực vật của người Việt vùng Tây Nam Bộ 429
4.1 Văn hóa ứng xử với cỏ dại 429
Trang 5Chương IV VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ 445
Dẫn nhập 445
1 Hòa nhập văn hóa Việt - Khmer - Hoa - Chăm 447
1.1 Hòa nhập song phương 447
1.2 Hòa nhập đa phương 453
2 Giao lưu hội nhập với văn hóa Phật giáo 455
2.1 Giới thuyết 455
2.2 Tây Nam Bộ – vùng đất sùng mộ Phật giáo 456
2.3 Sự đa dạng và tính tích hợp rộng 459
2.4 Tính mở thoáng, tính năng động, tính khai phá 462
2.5 Tính nhập thế mạnh mẽ 467
2.6 Tính thực tiễn và tính dân chủ 471
3 Giao lưu hội nhập với văn hóa Nho giáo 476
3.1 Quá trình du nhập - phát triển 477
3.2 Đội ngũ nho sĩ - quan lại 480
3.3 Học phong, Nho phong 486
3.4 Ảnh hưởng Nho giáo trong thể chế xã hội 492
3.5 Ảnh hưởng Nho giáo trong hệ giá trị đạo đức 497
4 Ứng xử với văn hóa phương Tây 502
4.1 Giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây 502
4.2 Văn hóa đối phó với phương Tây 511
Chương V CÁC ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ 520
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 520
1.1 Giá trị và hệ giá trị văn hóa 520
1.2 Tính cách và hệ tính cách văn hóa 526
1.3 Nguồn gốc tính cách văn hóa Tây Nam Bộ 528
2 Tính sông nước 530
2.1 Khái niệm “tính sông nước” và sự hòa hợp cao với tự nhiên sông nước ở Tây Nam Bộ 530
2.2 Cơ sở hình thành tính sông nước ở Tây Nam Bộ 532
2.3 Những biểu hiện của tính sông nước 535
2.4 Những hệ quả của tính sông nước 549
2.5 Đánh giá chung 551
3 Tính trọng nghĩa 551
3.1 Khái niệm “tính trọng nghĩa” 551
Trang 63.4 Những hệ quả của tính trọng nghĩa 571
3.5 Tinh thần trọng nghĩa hôm nay 578
4 Tính bộc trực 580
4.1 Khái niệm “tính bộc trực” 580
4.2 Cơ sở hình thành tính bộc trực ở Tây Nam Bộ 581
4.3 Những biểu hiện của tính bộc trực 583
4.4 Những hệ quả của tính bộc trực 592
4.5 Đánh giá chung 608
5 Tính bao dung 609
5.1 Khái niệm “tính bao dung” 609
5.2 Cơ sở hình thành tính bao dung ở Tây Nam Bộ 611
5.3 Những biểu hiện của tính bao dung 614
5.4 Những hệ quả của tính bao dung 625
5.5 Đánh giá chung 628
6 Tính thiết thực 629
6.1 Khái niệm “tính thiết thực” 629
6.2 Cơ sở hình thành tính thiết thực ở Tây Nam Bộ 629
6.3 Những biểu hiện của tính thiết thực 632
6.4 Những hệ quả của tính thiết thực 639
6.5 Đánh giá chung 654
7 Tính mở thoáng 655
7.1 Khái niệm “tính mở thoáng” 655
7.2 Cơ sở hình thành tính mở thoáng ở Tây Nam Bộ 657
7.3 Những biểu hiện của tính mở thoáng 660
7.4 Những hệ quả của tính mở thoáng 668
7.5 Đánh giá chung 691
8 Các quan hệ hệ thống 692
KẾT LUẬN 697
THƯ MỤC CHỌN LỌC VỀ VĂN HÓA TÂY NAM BỘ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 708
Trang 7Bảng I-1: Đối chiếu bốn bảng phân vùng văn hóa Việt Nam 22
Bảng I-2: Phân tích so sánh ba định nghĩa về vùng văn hóa 24
Bảng I-3: Đối chiếu định nghĩa vùng văn hóa khái quát và chi tiết 27
Bảng I-4: Cơ sở phân miền văn hóa Việt Nam 37
Bảng I-5: Hệ thống các miền - vùng văn hóa Việt Nam 38
Bảng I-6: Nam Bộ trong các bảng phân vùng sinh thái, kinh tế, quân sự 42
Bảng I-7: Số liệu so sánh dân số giữa các tộc người của vùng Tây Nam Bộ (đơn vị: người, số liệu theo [ Dân số và Nhà ở 2010]) 59
Bảng I-8: Số dân các tỉnh Tây Nam Bộ vào năm 1915 64
Bảng I-9: Dân số và mật độ dân số các tỉnh Tây Nam Bộ (xếp theo mật độ giảm dần) 65
Bảng I-10: So sánh dân số và mật độ dân số giữa Tây và Đông Nam Bộ 66
Bảng I-11: Bảng xếp hạng các vùng theo tuổi thọ trung bình (Trần Ngọc Thêm 2006, tổng hợp theo [Báo cáo 2001]) 70
Bảng I-12: Bảng xếp hạng theo Tỷ lệ biết chữ của người lớn (Trần Ngọc Thêm 2006, tổng hợp theo [Báo cáo 2001]) 70
Bảng I-13: Bảng xếp hạng theo GDP bình quân đầu người (Trần Ngọc Thêm 2006, tổng hợp theo [Báo cáo 2001]) 71
Bảng I-14: Bảng xếp hạng theo Chỉ số phát triển con người (HDI) (Trần Ngọc Thêm 2006, tổng hợp theo [Báo cáo 2001]) 71
Bảng I-15: Cơ sở phân vùng văn hóa Nam Bộ 72
Bảng II-1: Đặc trưng văn hóa tổ chức đời sống các tộc người ở Tây Nam Bộ truyền thống 108
Bảng II-2: Tổ chức gia đình ở Tây Nam Bộ (so sánh với đồng bằng Bắc Bộ) 117 Bảng II-3: Các hình thức tổ chức thôn ấp Tây Nam Bộ dưới thời nhà Nguyễn [Trương Ngọc Tường 2002: 63] 124
Bảng II-4: So sánh đô thị Tây Nam Bộ với đô thị các vùng ở Nam Việt Nam trước 1975 [vi.wikipedia.org/wiki/Thị_xã_(Việt_Nam)] 135
Trang 8TX – thị xã; TT – thị trấn) 136
Bảng II-6: Giá trị sản xuất công nghiệp của các địa phương Tây Nam Bộ năm 2010 137
Bảng II-7: Bảng so sánh Lễ Tết và Lễ Hội (Trần Ngọc Thêm 2006) 206
Bảng II-8: Sáu kiểu nói lái trong tiếng Việt (dấu ‘-’ = Giữ nguyên; ‘+’ = Thay đổi) (Trần Ngọc Thêm) 258
Bảng II-9: So sánh ba điệu thức của cổ nhạc Nam Bộ 278
Bảng III-1: So sánh nước nổi với lũ lụt (Trần Ngọc Thêm 2012) 316
Bảng III-2: Khái niệm ghe, xuồng ở các tác giả khác nhau 339
Bảng III-3: Sự khác biệt giữa xuồng ba lá và xuồng tam bản (Trần Ngọc Thêm) 341
Bảng III-4: Những kinh đào trong các năm 1700-1930 [Lê Anh Tuấn 2009; Nguyễn Thanh Lợi 2007] 353
Bảng IV-1: Tỷ lệ Phật tử vùng Tây Nam Bộ (so sánh với Đông Nam Bộ và Bắc Bộ) 457
Bảng IV-2: Tỷ lệ danh tăng sinh quán ở vùng Tây Nam Bộ (so sánh với Đông Nam Bộ và Bắc Bộ) 457
Bảng V-1: Hệ tính cách văn hóa và các khái niệm liên quan (Trần Ngọc Thêm 2012) 527
Bảng V-2: Hệ thống các giá trị đặc trưng bản sắc cùng các hệ quả và hậu quả (Trần Ngọc Thêm 2001) 528
Bảng V-3: So sánh mức độ thiết thực giữa hai vùng Tây và Đông Nam Bộ theo các biểu hiện và hệ quả (Trần Ngọc Thêm 2012) 655
Bảng V-4: Bảng đối chiếu tính mở thoáng với những khái niệm có liên quan (Trần Ngọc Thêm 2012) 657
Bảng V-5: Hệ thống tính cách văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (Trần Ngọc Thêm 2012) 692
Bảng V-6: Sự khác biệt hệ thống tính cách văn hóa hai vùng Tây và Đông Nam Bộ (Trần Ngọc Thêm 2012) 696
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình I-1: Bản đồ phân vùng văn hóa bản địa Mỹ của C Wissler 20
Hình I-2: Sơ đồ hình thành vùng văn hóa và văn hóa vùng 28
Hình I-3: Sơ đồ nguyên tắc làm tròn trong việc xử lý khu vực giáp ranh 34
Hình I-4: Bản đồ năm trấn (1808) và sáu tỉnh (1832) 40
Hình I-5: Bản đồ tự nhiên Nam Bộ và đông nam Campuchia 43
Hình I-6: Bản đồ các nhóm ngôn ngữ ở Nam Bộ và đông nam Campuchia 44
Hình I-7: Các nơi bị ngập tại Tây Nam Bộ khi nước biển dâng lên một mét vào cuối thế kỷ XXI 46
Hình I-8: Phân loại nước ở Tây Nam Bộ 49
Hình I-9: Mạng lưới và mật độ đường sông Tây Nam Bộ so sánh với Đông Nam Bộ và Bắc Bộ 50
Hình I-10: (1) Biển Thái Bình ở Bắc Bộ; (2) Biển Tân Thành (Tiền Giang) ở Tây Nam Bộ 51
Hình I-11: Chế độ gió mùa ở Tây Nam Bộ 51
Hình I-12: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm ở Tây Nam Bộ trong so sánh với Đông Nam Bộ 53
Hình I-13: Số người Khmer và các tộc người Mon-Khmer ở Tây Nam Bộ so với Đông Nam Bộ 56
Hình I-14: Số người Hoa ở Tây Nam Bộ so với Đông Nam Bộ 57
Hình I-15: Biểu đồ so sánh dân số giữa các tộc người ở Tây Nam Bộ 60
Hình I-16: Tình hình cư trú tộc người ở Tây Nam Bộ trong so sánh với Đông Nam Bộ 61
Hình I-17: Sự giao lưu văn hóa Chăm-Việt ở Đàng Trong năm 1793 64
Hình I-18: Biểu đồ tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp ở Tây Nam Bộ trong so sánh với Đông Nam Bộ 69
Hình I-19: Các tiểu vùng văn hóa Tây Nam Bộ 74
Hình I-20: Tiểu vùng Phù sa ngọt 76
Hình I-21: Tiểu vùng Giồng duyên hải 79
Hình I-22: Tiểu vùng Ngập kín (Đồng Tháp Muời) 81
Hình I-23: Động thực vật ở Đồng Tháp Mười 82
Hình I-24: Tiểu vùng Ngập hở (Tứ giác Long Xuyên) 84
Hình I-25: Tiểu vùng Ngập mặn (Bán đảo Cà Mau) 86
Trang 10Hình II-1: Bộ tượng “Ngũ hiền” ở Long An cổ tự (Tiền Giang) 97
Hình II-2: Nông thôn Tây Nam Bộ: (1) Kiên Giang năm 2011; (2) An Giang năm 2009 110
Hình II-3: Không gian cư trú mở, trải dài dọc theo kinh, lộ: (1) Kiên Giang xưa; (2) Cà Mau nay 130
Hình II-4: (1) Chợ Mỹ Tho xưa; (2) Bến Mỹ Tho năm 1910 134
Hình II-5: Cần Thơ đầu thế kỷ XX: (1) Chợ Cái Răng; (2) Trà Nóc; (3) Phố ven sông; (4) Chợ ô Môn 140
Hình II-6: Hang đá thờ Ông Hổ ở Thất Sơn, An Giang 150
Hình II-7: Thờ cọp ở các miếu, miễu, sông rạch, đình Tây Nam Bộ 150
Hình II-8: (1) Thờ Hổ ở đình Bình Thủy (Cần Thơ); (2) Bình phong đình Tân Hưng (Cà Mau) 152
Hình II-9: (1) Giường thờ; (2) Tủ thờ Gò Công 154
Hình II-10: (1) Tủ thờ gia tiên (Mỹ Tho); (2) Tranh kiếng thờ 155
Hình II-11: Bàn thờ Thiên tại Tp Long Xuyên (Long An); (1-2-3) Ở nhà dân trên cù lao Ông Hổ; (4) Ở sân Nhà lưu niệm Tôn Đức Thắng 157
Hình II-12: Ông Địa 159
Hình II-13: Bàn thờ Ông Địa và Thần Tài 160
Hình II-14: Đình Bình Thủy (Cần Thơ) 161
Hình II-15: (1) Gian chính thờ chữ “Thần” ở đình Long Thanh (tx Vĩnh Long); (2) Ở đình Tân Hưng (tx Cà Mau); (3) Sắc phong thần của vua Tự Đức ở đình Tân Hưng 163
Hình II-16: Bệ đá nơi ngự pho tượng Bà Chúa Xứ trên đỉnh núi Sam 167
Hình II-17: (1-2) Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam; (3) Tượng Bà Chúa Xứ 168
Hình II-18: (1) Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807-1856); (2) Tây An cổ tự (An Giang); (3) Bàn thờ tấm Trần điều 172
Hình II-19: (1) Chùa Tam Bửu (chùa chính của đạo Hiếu Nghĩa); (2) Bàn thờ Đức Bổn Sư trong chùa Tam Bửu 174
Hình II-20: Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) 176
Hình II-21: (1) Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo (Phú Tân, An Giang); (2) Trang bìa trong cuốn “Sấm giảng thi văn toàn bộ” (bản in 1966) 178
Hình II-22: (1) Tổ sư Minh Đăng Quang; (2) Tổ sư cùng đệ tử đi khất thực ở Vĩnh Long; (3) Tam quan pháp viện Minh Đăng Quang; (4) Bàn thờ Tổ sư Minh Đăng Quang tại Tịnh xá Trung Tâm 180
Trang 11Hình II-24: Tín đồ Đạo Dừa ở Cồn Phụng 186 Hình II-25: (1) Ông Đạo Dừa nuôi chuột sống chung với mèo; (2) Và đăng
ký tranh cử Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa 187
Hình II-26: Đám cưới ở Tây Nam Bộ xưa và nay 189 Hình II-27: (1) Xếp hàng chờ xem mặt; (2) Cô dâu Việt lấy chồng lần thứ
ba ở tuổi 18; (3) Gia đình cô dâu tại lễ cưới; (4) Một quảng cáo cô dâu Việt Nam ở Đài Loan 194
Hình II-28: (1) “Hòm dưỡng già” mua sẵn để ở trái nhà; (2) Xây kim tỉnh ở
Bạc Liêu; (3) Thông tin bán kim tỉnh cho dân trên website tỉnh Vĩnh Long 196
Hình II-29: Nải chuối sứ già trên bụng người mất 197 Hình II-30: (1-2) Đội kèn tây thổi kèn tiễn đưa (Bạc Liêu); (3-4) Lễ đánh
phá quàn - Múa lân tiễn biệt 200
Hình II-31: (1) Con cháu người mất và nhà sư; (2) Vàng mã và nắm đất
đưa tiễn (lễ tang ở Bạc Liêu); (3-4) Lễ mở cửa mả 201
Hình II-32: Hàng rào bông trang 203 Hình II-33: Mai kiểng, tắc kiểng, bông cúc và thiên tuế trong các Chợ hoa
xuân ở Cần Thơ, Sa Đéc, Mỹ Tho 208
Hình II-34: (1) Mâm ngũ quả Bắc Bộ; (2) Mâm ngũ quả Nam Bộ; (3) Tạo
hình trái cây Nam Bộ 210
Hình II-35: (1) Gói bánh tét; (2) Bánh tét lá cẩm; (3) Bánh tét Trà Cuôn;
(4) Thịt kho hột vịt 212 Hình II-36: Lễ hội Nghinh Ông ở Vàm Láng (Gò Công Đông, Tiền Giang) 217 Hình II-37: (1) Nguyễn Trung Trực và đền thờ Nguyễn Trung Trực ở: (2)
Rạch Giá; (3) Bạc Liêu; (4) Sóc Trăng; (5) Phú Quốc 220
Hình II-38: Lễ hội Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá 222 Hình II-39: (1) Rước sắc thần ở Tây Nam Bộ; (2) Thỉnh sắc về đình ở Cà
Mau; (3) Hát chầu ở Tiền Giang; (4) Kết thúc lễ tôn vương 224
Hình II-40: (1) Rước áo mão vào Miếu dâng Bà; (2) Đánh trống lễ Túc Yết; (3) Âm Dương giao hòa; (4) Ngũ hành chúc phúc 228 Hình II-41: Chín cô gái đồng trinh và lễ rước kiệu Bà xuống núi 230 Hình II-42: Hồ Biểu Chánh và một số tác phẩm của ông 248 Hình II-43: (1) Bìa sách Thơ thầy Thông Chánh, Sáu Trọng, Hai Miêng; (2)
Bìa sách Sáu Trọng thơ, in tại nhà in Bảo Tồn (Sài Gòn) đầu thế kỷ XX 270
Hình II-44: (1) Múa dâng mâm vàng; (2) Múa ghế; (3) Múa trống kèm trẻ
em; (4) Múa lu; (5) Múa bình bông; (6) Múa dao; (7) Chặp Địa-Nàng 274
Trang 12Hình II-46: (1) Đờn ghi-ta phím lõm Tây Nam Bộ; (2) Ghi-ta phương Tây 280
Hình II-47: Nguyễn Tống Triều 283
Hình II-48: Sơ đồ quá trình hình thành Cải lương 286
Hình II-49: Quá trình hình thành Cải lương 286
Hình II-50: (1) Nghệ sĩ Phùng Há; (2) Nghệ sĩ Năm Châu; (3) Soạn giả Trương Duy Toản; (4) Nhạc sĩ Cao Văn Lầu; (5) Nghệ sĩ Năm Phỉ; (6) Nghệ sĩ Út Trà Ôn; (7) Nghệ sĩ Minh Phụng; (8) Nghệ sĩ Bạch Tuyết; (9) Nghệ sĩ Lệ Thủy 290
Hình II-51: (1) Soạn giả Trần Hữu Trang; (2) Vở “Lan và Điệp” với Thanh Nga và Thành Được; (3-4) Vở “Đời cô Lựu” và “Tô Ánh Nguyệt” với Phùng Há 293
Hình II-52: (1) Chạm khắc trang trí trong một ngôi nhà cổ ở Châu Thành, Tiền Giang; (2) Hình chạm nổi lá phiên thảo ở Vĩnh Long 295
Hình II-53: (1-2) La hán cưỡi trâu, cưỡi cọp (chùa Vĩnh Tràng, Tiền Giang); (3) Đạo sĩ cưỡi trâu (chùa Vĩnh Tràng, Tiền Giang); (4) Cá hóa long (đình Long Thanh, Vĩnh Long) 296
Hình II-54: (1) Tượng Bồ-đề-đạt-ma (chùa Hội Thọ, Tiền Giang); (2) Tượng Hộ pháp (chùa Tuyên Linh, Bến Tre); (3) Tượng Di Lặc (chùa Hội Linh, Cần Thơ); (4) Ông Ác (đình Bình Thủy, Hậu Giang) 297
Hình II-55: Tượng La Hán chùa Tôn Thạnh, Long An 298
Hình II-56: Tượng mục đồng: (1) Phật nổi (chùa mục đồng Linh Châu - Gò Công, Tiền Giang); (2) Phật Bà (chùa mục đồng Thới Sơn - Cai Lậy, Tiền Giang); (3) Phật cưỡi cọp (Long An Cổ tự - Cai Lậy, Tiền Giang); (4) Bồ-tát cưỡi cọp (chùa mục đồng Hóc Tra - Ba Tri, Bến Tre) 299
Hình II-57: (1) Tranh kiếng thờ “Cửu huyền thất tổ”; (2) Tranh kiếng thờ với chữ “Phúc”; (3) Tranh kiếng thờ vẽ hình Phật A-di-đà; (4) Tranh kiếng vẽ phong cảnh; (5) Tranh bộ tứ bình 305
Hình III-1: (1) Nhà ở giồng đất cao (Long An); (2) Nhà nền đất (Long An); (3) Nhà nửa sàn nửa đất (Đồng Tháp); (4) Nhà sàn (Đồng Tháp) 312
Hình III-2: (1) Nhà đá ở Long An; (2) Nhà đá ở Vĩnh Long; (3) Nhà đá ở Đồng Tháp Mười 314
Hình III-3: (1) Nhà sàn mùa nước nổi; (2) Câu ếch mùa nước nổi; (3) Thu hoạch thực vật mùa nước nổi; (4) Niềm vui gia đình mùa nước nổi 318
Hình III-4: (1) Gia cố đê bao; (2) Cứu đê bao; (3) Vỡ đê bao Cả Mũi ở Tân Hồng (Đồng Tháp) năm 2011; (4) Sau khi vỡ đê bao 322
Hình III-5: Thợ “cạp đất” ở Tây Nam Bộ 324
Trang 13Hình III-7: (1) Cà ràng; (2) Sản xuất cà ràng; (3-4) Đun bếp cà ràng 328 Hình III-8: (1) Cầu tre (cầu khỉ); (2) Cầu ván; (3) Cầu phao ở Rạch Giá
(Kiên Giang); (4) Cầu Mỹ Thuận 331
Hình III-9: (1) Bến đò ngang qua rừng tràm; (2) Bến phà 333 Hình III-10: (1) Tàu hỏa ở ga Mỹ Tho; (2) Phà chở tàu hỏa trên tuyến
đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho 334
Hình III-11: (1) Đào đường nước vào vườn làm bến đậu ghe xuồng; (2)
Làm “nhà” che mưa nắng cho ghe xuồng 337
Hình III-12: Cảnh ghe xuồng tấp nập trên sông nước, kinh rạch Tây Nam
Bộ 338
Hình III-13: Sơ đồ lưu lượng các luồng vận chuyển hàng hóa đường thủy
nội địa chủ yếu ở Tây Nam Bộ 339
Hình III-14: (1) Ghe bầu; (2) Xuồng ba lá; (3) Xuồng tam bản; (4) Tắc
ráng; (5) Vỏ lãi 342
Hình III-15: (1-2) Nước và đất bị nhiễm phèn sắt có màu đỏ; (3) Đất phèn ở
Long An; (4) Đất mặn Cà Mau; (5) Đất mặn có những lớp muối trắng nổi
lên mặt đất 346
Hình III-16: Đào mương lên liếp làm vườn 348 Hình III-17: (1) Kinh Vĩnh Tế đoạn chạy qua thị xã Châu Đốc; (2) Hình
kinh Vĩnh Tế chạm khắc trên Cao đỉnh 351
Hình III-18: (1) Đào kinh Chợ Gạo (1876) bằng phương pháp thủ công; (2)
Xáng đã dùng đào kinh Xà No; (3) Bản đồ hệ thống kinh đào chính ở Tây
Nam Bộ; (4) Kinh Xà No ngày nay (đoạn qua tp Vị Thanh, Hậu Giang) 352
Hình III-19: Bản đồ phát triển thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long do Phân
viện Khảo sát và Quy hoạch Thủy lợi Nam Bộ thực hiện (2005) 354
Hình III-20: (1) Ghe thương hồ buôn trái cây; (2) Niềm vui ngày Tết; (3)
Con trẻ thương hồ 357
Hình III-21: (1) Chợ nổi Cần Thơ; (2) Dịch vụ ăn uống và giải khát; (3)
Cây bẹo đứng; (4) Cây bẹo nằm; (5) Nghệ thuật xếp dỡ di chuyển hàng hóa 361
Hình III-22: Mạng lưới chợ nổi vùng Tây Nam Bộ 367 Hình III-23: Chiếc xuồng của người khẩn hoang 368 Hình III-24: (1-2) Làng nổi Châu Đốc; (3) Bè dịch vụ; (4) Sinh hoạt trong
ghe 369
Hình III-25: (1) Cầu cá ở Trà Vinh; (2-4) và Hồng Ngự, Đồng Tháp 371 Hình III-26: (1) Mô hình cầu cá cải tiến; (2) Nhà vệ sinh nổi trên sông 372
Trang 14Hình III-28: (1) Đọt choại; (2) Trái chùm ruột; (3) Rau diếp cá; (4) Cây
bồn bồn; (5) Rau đắng; (6) Trái khổ qua; (7) Canh khổ qua dồn thịt 376
Hình III-29: Trang phục nam và nữ của người Việt vùng Tây Nam Bộ đầu
thế kỷ XX 379
Hình III-30: (1) Áo bà ba xưa; (2) Áo bà ba thời chống Mỹ; (3) Áo bà ba
ngày nay; (4) Hội thi “Duyên dáng áo bà ba”; (5-7) Áo dài Nam Bộ xưa 381
Hình III-31: (1) Võng treo ở hàng ba nhà đất; (2) Võng treo ở hàng ba nhà
sàn; (3) Võng treo ngang dọc trong nhà; (4) Võng treo ngoài vườn 385
Hình III-32: (1) Đình Định Yên (Đồng Tháp); (2) Đình Tân Phú Trung
(Đồng Tháp); (3) Đình Long Thanh (tx Vĩnh Long); (4) Đình Mỹ Phước
(tp Long Xuyên) 386
Hình III-33: (1) Mái nhà trát bùn chống nóng; (2) Mái nhà hai lớp (dưới lá,
trên tôn) để chống nóng; (3-4) Nhà che màn bít bùng để chống nắng nóng 387
Hình III-34: (1) Trận bão Giáp Thìn 1904 làm sập cầu Trường Tiền ở Huế; (2) Vị trí các nơi bị thiệt hại nặng trong trận bão lụt năm Giáp Thìn 389 Hình III-35: (1) Lọp cá dùng để bắt rắn; (2) Cây nọc rắn 410 Hình III-36: (1) Ông Bùi Thanh Tùng và mẩu sừng dinh còn lại; (2) Cháu
Trần Thịnh Tiến và chiếc sừng dinh; (3) Chiếc sừng dinh của anh Trần Đức Thịnh và những mẩu sừng làm đồ trang sức 412
Hình III-37: (1) Phạng và các loại phảng; (2) Mài phảng; (3-4) Người phát
cỏ tay phảng tay cù nèo 430
Hình III-38: (1) Đồng cỏ bàng; (2) Phơi bàng; (3) Bó bàng; (4) Giã bàng;
(5) Đươn đệm 433 Hình III-39: Thu hoạch lúa trời ở Đồng Tháp Mười 437 Hình III-40: Cây bần dĩa; bông bần; trái bần; múi bần 443 Hình IV-1: (1) Dấu vết của hôn nhân Khmer - Việt (chùa Xà Tón, An
Giang); (2) Lễ đính hôn Hoa - Việt năm 1920; (3) Cư dân Chăm - Việt ở
làng Chăm (Châu Đốc); (4) Ãnh hưởng Chăm trong kiến trúc chùa Giồng
Thành (thị xã Tân Châu) 449
Hình IV-2: (1) Ni sư Hồng Nga, người sáng lập trường ni đầu tiên (Trường
Giác Hoa) ở Nam Bộ; (2) Ni trưởng Diệu Tinh, vị giáo thọ ni đầu tiên ở
Nam Bộ; (3) Học viên Trường ni Giác Hoa (Bạc Liêu) năm 1928; (4) Học
viên Trường ni Phước Huệ (Đồng Tháp); (5) Ni trưởng Như Ngọc, Viện
chủ chùa Phước Huệ hiện nay, trưởng thành từ Trường ni Phước Huệ 475
Hình IV-3: (1) Văn Thánh Miếu Vĩnh Long; (2) Văn Thánh Miếu Cao Lãnh 483 Hình IV-4: Kiến trúc chịu ảnh hưởng phương Tây: (1-2) Nhà cổ Nam Bộ;
(3) Nhà cổ Bình Thủy (Cần Thơ); (4) Chùa Phước Hưng (Sa Đéc) 507
Trang 15Chị Sứ trong phim “Hòn Đất”; (5) Chị Võ Thị Thắng với nụ cười bất diệt 516
Hình V-1: Ký hiệu và giá trị 525 Hình V-2: Mối quan hệ giữa Bản sắc văn hóa, Tính cách văn hóa, và Hệ
giá trị văn hóa 527
Hình V-3: Biển Hồ ở Campuchia và vai trò điều tiết nước cho đồng bằng
sông Cửu Long 533
Hình V-4: (1-2) Nghề nuôi vịt và vịt chạy đồng; (3-4) Nghề len trâu 541 Hình V-5: (1) Quân Pháp vượt sông đánh chiếm Tây Nam Bộ; (1-2) Làm
thủy lôi đánh chìm tàu chiến Pháp ở Cà Mau; (3-4) Sa lầy ở chiến trường
Tây Nam Bộ 545
Hình V-6: (1) Tái hiện thuyền văn hóa tại Festival lúa gạo Việt Nam ở Hậu
Giang 2009; (2) Hoa hậu thế giới 2008 Ksenia Sukhinova trên chiếc xuồng tại Tiền Giang 549
Hình V-7: Hệ quả của tính sông nước 550 Hình V-8: Quan hệ giữa “Đạo”-“Nghĩa”-“Tình” trong văn hóa Việt Nam 553 Hình V-9: Cơ sở hình thành tính trọng nghĩa 555 Hình V-10: (1) Bìa truyện “Nọc Nạn” của nhà văn Phúc Vân; (2) Cụm
tượng đài di tích Nọc Nạn 563
Hình V-11: (1) Lục Vân Tiên truyện, ấn bản Duy Minh Thị năm 1874; (2)
Một bản chữ quốc ngữ; (3) Nguyễn Đình Chiểu; (4) Một tranh minh họa
Lục Vân Tiên; (5) Phim “Lục Vân Tiên” 570
Hình V-12: Lu nước ven đường ở Đồng Tháp 574 Hình V-13: (1) “Ông già Ba Tri” Thái Hữu Kiểm; (2) Nhà văn Nguyễn
Ngọc Tư; (3) Nhà báo Võ Đắc Danh 590
Hình V-14: (1) Hàng nghìn người tụ tập theo dõi vụ án xử vợ chồng chủ
trại tôm; (2) Bị cáo Mã Ngọc Thơm liên tục ngất xỉu tại phiên tòa 591
Hình V-15: (1) Cá lóc nướng trui; (2) Bữa nhậu ở Cà Mau 595 Hình V-16: (1) Bao bì kẹo dừa Bến Tre xuất sang Trung Quốc có hình bà
Hai Tỏ; (2) Bà Hai Tỏ và thương hiệu kẹo dừa Bến Tre hiện nay 600
Hình V-17: Ngọc Trinh 603 Hình V-18: (1) Thờ ông Tà; (2) Thờ ông Tà cùng ông Địa 618 Hình V-19: Cúng Việc lề ở Long An; (1) Đồ ăn dân dã; (2) Chủ tế; (3) Mâm
cúng việc lề bày ngoài sân; (4) Đồ cúng đặc thù; (5) Thả bè chuối đưa tiễn
tổ tiên; (6) Bữa ăn cộng cảm sau lễ cúng Việc lề 620
Hình V-20: Tiền Ngân hàng Đông Dương 653
Trang 16Hình V-22: (1-5) Các kiểu chào hàng, quảng cáo, tiếp thị của người Tây
Nam Bộ; (6) Thái độ của người bán và người mua 663
Hình V-23: (1) Nhà bác học Trương Vĩnh Ký; (2) GS Trần Đại Nghĩa; (3)
GS Lương Định Của và phu nhân; (4) Sáu Quý bên cây cầu mới dựng; (5) Trần Văn Dũng với máy hút bùn; (6) Năm Hiếu chăm sóc mai phục vụ Tết 671
Hình V-24: (1-2) “Thần đèn” Tư Lũy và việc di dời chùa Vạn Linh; (3-4)
“Thần đèn” Cẩm Lũy và việc di dời cổng tam quan chùa Vĩnh Nghiêm 674
Hình V-25: (1) Tượng đồng Lê Văn Duyệt trong lăng ông; (2) Lăng Lê Văn
Duyệt ở Gia Định đầu thế kỷ XX; (3) Con dấu “Gia Định thành tổng trấn”;
(4) Tờ tiền của Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa in hình Lê Văn Duyệt 678 Hình V-26: (1) Trần Văn Giàu – nhà cách mạng; (2) Trần Văn Giàu – nhà
khoa học; (3) Võ Văn Kiệt trong kháng chiến chống Mỹ; (4) Võ Văn Kiệt
chỉ đạo xây dựng đường dây 500 KV; (5) Nụ cười Võ Văn Kiệt 682
Hình V-27: (1) Nông trường Sông Hậu thời khai phá; (2) Trở thành một cơ
sở xuất khẩu lúa gạo; (3) Xưởng chế biến thực phẩm xuất khẩu; (4) Trường THPT Trần Ngọc Hoằng; (5) Bà Ba Sương nhận danh hiệu Anh hùng lao
động thời Đổi mới; (6) Cùng TBT Đỗ Mười và cha 689
Hình V-28: Hệ thống tính cách văn hóa Tây Nam Bộ trong quan hệ với cội
nguồn của nó 694
Trang 17DẪN NHẬP
1 Lý do lựa chọn đề tài
Tây Nam Bộ là một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển đặc biệt, con người đặc biệt, vai trò và sự đóng góp cho sự phát triển của đất nước cũng rất đặc biệt
Song sự phát triển của Tây Nam Bộ dường như đã đụng trần Muốn phát triển, Tây Nam Bộ cần có một cú hích Người ta đang đi tìm cú hích đó trong
kinh tế và khoa học - kỹ thuật Đương nhiên là kinh tế và khoa học - kỹ thuật là quan trọng Nhưng hình như chưa đủ Loay hoay với những biện pháp thuần túy kinh tế và khoa học - kỹ thuật, đồng bằng sông Cửu Long luôn gặp trước mặt mình những khó khăn buộc phải đi tìm những biện pháp kinh tế và khoa học -
kỹ thuật mới để rồi lại tiếp tục gặp khó khăn mới rất tốn kém sức lực và tiền bạc Nó gây cảm giác dường như sự phát triển của Tây Nam Bộ đã đụng trần
Các nhà kinh tế học gọi loại trần này là “trần thủy tinh” (glass ceiling), là “bẫy
thu nhập trung bình” (middle-income trap)
Nhưng “bẫy thu nhập trung bình” thì có thể giải quyết bằng “kinh tế tri thức” (tức là khoa học), còn tấm trần này sở dĩ là “thủy tinh”1, không nhìn thấy
được, là vì nó thực chất được làm bằng một chất liệu tinh thần là văn hóa
Trong khi ta luôn xác định rằng “văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội,
vừa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (Hội nghị
lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa VIII, tháng 7-1998),
“phát triển văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế - xã hội” (Hội
nghị lần thứ 10 BCH Trung ương Đảng CSVN khóa IX, tháng 7-2004), thì
dường như chính chúng ta lại cũng thường quên văn hóa đầu tiên mỗi khi bàn
đến sự phát triển cụ thể của một vùng miền Đã bao năm nay, những nét tương
đồng và khác biệt của Tây Nam Bộ với Đông Nam Bộ về địa lý, lịch sử, kinh tế, v.v., đã hiện lên khá rõ, song về văn hóa thì những đặc điểm văn hóa của Tây Nam Bộ, đặc điểm tính cách con người, tính cách văn hóa Tây Nam Bộ đáng tiếc là vẫn bị hòa lẫn trong trong một bức tranh mờ nhòa có tên chung chung là
“Nam Bộ”
1
“Trần thủy tinh” (glass ceiling) trong kinh tế học được định nghĩa là “một thứ rào cản không thể
vượt qua được giữ chân phụ nữ và các dân tộc thiểu số vươn lên các nấc trên trong thang bậc của công
ty, bất kể trình độ, thành tích của họ” (Federal Glass Ceiling Commission Solid Investments: Making
Full Use of the Nation's Human Capital Washington, D.C.: U.S Department of Labor, November 1995,
p 4)
Trang 18Khắc phục hạn chế này chính là lý do lựa chọn đề tài
2 Mục tiêu và phạm vi của đề tài 2.1 Trên cơ sở phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực
của đề tài (x mục 1 chương I), đề tài đặt ra bốn mục tiêu:
1) Xây dựng một bức tranh tổng quan về các thành tố của văn hoá người
Việt vùng Tây Nam Bộ (văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức, văn hoá ứng xử)
2) Tìm hiểu hệ tính cách văn hoá đặc trưng để trên cơ sở đó nhận diện
bản sắc văn hóa vùng của khu vực Tây Nam Bộ cùng các hệ quả và hậu quả, các điểm mạnh và điểm yếu của nó trong quá trình đi vào toàn cầu hoá và hội nhập
3) Giúp hiểu rõ hơn văn hoá người Việt vùng Tây Nam Bộ và trên cơ sở
đó giúp giải thích các vấn đề khúc mắc nảy sinh trong muôn mặt đời sống văn
hoá - xã hội hiện tại (như vấn đề phụ nữ Tây Nam Bộ lấy chồng nước ngoài, vấn
đề giáo dục, vấn đề phát triển con người, v.v.)
4) Góp phần thực hiện chương trình “Bảo tồn và phát triển văn hoá dân
tộc trong quá trình hội nhập ở khu vực Nam Bộ” trong đề án nghiên cứu khoa
học trọng điểm của Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh “Những vấn đề xã hội
- nhân văn khu vực Nam Bộ giai đoạn 2005-2010” [Trần Ngọc Thêm (chủ
nhiệm) 2006]
Hai mục tiêu đầu làm nên nội dung chính của đề tài Mục tiêu (3) và (4) được phái sinh từ hai mục tiêu chính này
2.2 Với mục tiêu như thế, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong
không gian là vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long, điển hình cho cả
miền Nam Bộ như một không gian sông nước), chủ thể là tộc người Việt (điển hình cho cả vùng như một tộc người đông dân nhất, chiếm 92% dân số), và thời
gian là giai đoạn cận hiện đại từ thế kỷ XVII đến nay
Các không gian ngoài vùng Tây Nam Bộ (vùng Đông Nam Bộ, miền Trung, miền Bắc, phương Tây); chủ thể ngoài tộc người Việt (người Khmer, Hoa, Chăm, người phương Tây); thời gian ngoài giai đoạn cận hiện đại (các giai đoạn Óc Eo, Phù Nam, Chân Lạp) có thể được sử dụng để so sánh đối chiếu
3 Phương pháp nghiên cứu 3.1 Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp lý thuyết kết hợp với
thực nghiệm, phương pháp định tính được bổ sung bằng định lượng, trong đó
các phương pháp lý thuyết, định tính là phương pháp chủ đạo
Trang 19Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, định tính bao gồm hai phương pháp chủ yếu là phương pháp hệ thống - loại hình và phương pháp so sánh
Phương pháp hệ thống - loại hình là một phương pháp lý thuyết, tổng
hợp từ hai phương pháp bộ phận là phương pháp hệ thống và phương pháp loại hình
3.2 Phương pháp hệ thống (systemic method) trong nghiên cứu khoa học
là phương pháp tư duy nhằm tìm kiếm, xác lập hoặc mô phỏng các mối quan hệ
qua lại giữa các thành tố của đối tượng tư duy Quy trình thực hiện phương pháp hệ thống mà chúng tôi sử dụng có thể quy về bốn bước:
Phương pháp hệ thống trong nghiên cứu khoa học thực chất đã tích hợp
trong mình không chỉ cách tiếp cận hệ thống mà cả cách tiếp cận liên ngành
Chúng tôi cho rằng không có cái gọi là phương pháp liên ngành một khi không chỉ ra được quy trình thực hiện nó Liên ngành khi ấy chỉ là một cách tiếp cận
Có những cách tiếp cận được cụ thể hóa thành một phương pháp tương ứng (như cách tiếp cận hệ thống được cụ thể hóa thành phương pháp hệ thống), nhưng có những cách tiếp cận không nhất thiết phải có một phương pháp đi kèm (như cách tiếp cận liên ngành, cách tiếp cận chức năng )
Phương pháp loại hình xây dựng trên khái niệm “loại hình” và bao gồm quy trình xây dựng các loại hình và quy trình loại hình hóa đối tượng nghiên cứu
Loại hình là chùm đặc trưng cần và đủ cho phép khu biệt một nhóm phân
loại với các nhóm phân loại còn lại trong hệ thống loại hình Loại hình là một loại mô hình Loại hình văn hóa là một loại mô hình văn hóa
Quy trình xây dựng các loại hình văn hóa mà chúng tôi sử dụng có thể
quy về ba bước:
(1) Phân loại các thành tố của đối tượng nghiên cứu thành các nhóm; (2) So sánh các nhóm thành tố với nhau, tìm ra chùm các đặc trưng điển hình cho mỗi nhóm;
Trang 20(3) Kiểm tra xem chùm đặc trưng này có phải là những đặc trưng CẦN (không thiếu) và ĐỦ (không thừa) để khu biệt nhóm thành tố đang xét với các nhóm còn lại hay không
Các loại hình thu được từ các nhóm của cùng một bảng phân loại tạo thành
một hệ thống loại hình
Sau khi đã có hệ thống loại hình (có thể có nhiều hệ thống như thế cho
cùng một đối tượng nghiên cứu), quy trình loại hình hóa đối tượng nghiên cứu
mà chúng tôi sử dụng có thể quy về bốn bước:
(1) Phân loại các phần tử của đối tượng nghiên cứu thành các nhóm;
(2) Lựa chọn hệ thống loại hình;
(3) Lập ánh xạ (mapping = xác định chuỗi tương ứng) giữa hệ thống các
nhóm của đối tượng nghiên cứu với hệ thống các loại hình đã chọn;
(4) Vận dụng chùm đặc trưng của loại hình để mô tả nhóm tương ứng của đối tượng nghiên cứu
3.3 Phương pháp so sánh là phương pháp đối chiếu đối tượng nghiên
cứu với đối tượng so sánh để xác định mức độ hơn kém theo một tiêu chí nhất định Chẳng hạn, khi nói “văn hóa Tây Nam Bộ mở thoáng hơn văn hóa đồng bằng Bắc Bộ” thì đối tượng nghiên cứu là “văn hóa Tây Nam Bộ”, đối tượng so sánh là “đồng bằng Bắc Bộ”, tiêu chí so sánh là “tính mở thoáng”, kết quả so sánh là mức độ “cao hơn”
Như vậy, quy trình thực hiện phương pháp so sánh gồm 3 bước:
(1) Lựa chọn đối tượng so sánh;
3.4 Phương pháp hệ thống - loại hình và phương pháp so sánh như
những phương pháp lý thuyết định tính được kiểm chứng, bổ sung và điều chỉnh bằng hai phương pháp thực nghiệm: phương pháp khảo sát thực địa và
phương pháp điều tra định lượng bằng bảng hỏi
Trang 21Nhóm đề tài đã thực hiện hai đợt khảo sát thực địa tập thể tại An Giang
vào tháng 10-2010 và tại Kiên Giang vào tháng 12-2011 Ngoài ra cá nhân chủ nhiệm đề tài và các thành viên trong nhóm còn thực hiện nhiều đợt khảo sát nhóm nhỏ và cá nhân tại các địa bàn khác trong vùng như Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang Ngoài ra, sáu thành viên trong nhóm là những người sinh ở Tây Nam Bộ (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, An Giang, Cà Mau) thực hiện vai trò thông tin viên trực tiếp
Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng hỏi được thực hiện trên cơ
sở một bảng hỏi gồm 21 câu (x phụ lục II.1) Số phiếu điều tra phát ra là 2.000,
số thu về là 1.405 phiếu Trong đó 90,9% người tham gia trả lời là những người sinh trưởng ở Tây Nam Bộ, số còn lại sinh ra ở các vùng miền khác nhưng đã sống ở Tây Nam Bộ từ 5 năm trở lên Về tuổi tác, những người trẻ nhất sinh năm 1993 (1,3%), người lớn tuổi nhất sinh năm 1920 (90 tuổi), số sinh trong khoảng 1920-1960 là 14,1% Theo giới tính có 32,7% là nam và 67,3% là nữ
Về học vấn, 42,3% có trình độ THPT trở xuống và 57,7% có trình độ trung cấp, cao đẳng trở lên Kết quả trả lời và phân tích số liệu theo từng câu hỏi trình bày
ở phụ lục II.2
4 Bố cục đề tài
Với mục tiêu như đã trình bày, nội dung của đề tài gồm ba phần: Phần Một là cơ sở lý luận và thực tiễn; Phần Hai là các thành tố của văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ; và Phần Ba là hệ thống các đặc trưng tính cách văn hóa
của người Việt vùng Tây Nam Bộ
Phần Một và phần Ba mỗi phần được trình bày thành một chương Riêng phần Hai hai do dung lượng quá lớn và cấu trúc quá phức tạp nên được trình bày
trong ba chương: Chương II đề cập đến văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức; Chương III và IV đề cập đến văn hóa ứng xử với môi trường (Chương III nói
về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và Chương IV nói về văn hóa ứng
xử với môi trường xã hội)
Như vậy, toàn bộ nội dung của đề tài, không kể Dẫn nhập và Kết luận, được trình bày trong 5 chương như sau: I- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ; II- Văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức của người Việt vùng Tây Nam Bộ; III- Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt vùng Tây Nam Bộ; IV- Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ; V- Các đặc trưng tính cách văn hóa của người Việt vùng Tây Nam Bộ
Trang 22Tài liệu tham khảo và trích dẫn được tích hợp vào trong một phụ lục về
“Thư mục chọn lọc về văn hóa Tây Nam Bộ” Việc tích hợp này tuy có những bất tiện nhất định: Không phải toàn bộ các tài liệu trong Thư mục chọn lọc về văn hóa Tây Nam Bộ (dù là chọn lọc) đã được tham khảo hết; đồng thời, có những tài liệu tham khảo và trích dẫn lại không thuộc phạm vi của văn hóa Tây
Nam Bộ Do vậy, chúng tôi đặt tên cho phần này là “Thư mục chọn lọc về văn hóa Tây Nam Bộ và những vấn đề liên quan” và không xếp hẳn nó vào phụ lục
(bởi vì với tính cách “Thư mục chọn lọc” thì nó là phụ lục, nhưng với tính cách
“Tài liệu tham khảo và trích dẫn” thì nó lại là phần bắt buộc)
Trang 23CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ
lại còn thiếu một công trình trình bày một cách hệ thống và khái quát về bức
tranh toàn cảnh của văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ
Cái hạn chế trong những công trình đi trước không chỉ dừng ở đó Ngay cả
việc xác định một cách khoa học và rõ ràng bản chất vùng hay tiểu vùng của
không gian “Tây Nam Bộ” cũng chưa được đặt ra Mà về mặt lý luận, một bộ máy khái niệm cùng quy trình phân vùng văn hóa chặt chẽ cũng chưa được trình bày ở đâu
Vì vậy, sau khi điểm lại một cách tổng thể lịch sử nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, chúng tôi sẽ tiến hành xây dựng một bộ công cụ
và phương pháp nghiên cứu văn hóa vùng để trên cơ sở đó xác định một bức tranh phân chia các miền và các vùng văn hóa Việt Nam Trong đó Nam Bộ trở thành một miền văn hóa, với hai vùng văn hóa là Tây Nam Bộ và Đông Nam
Bộ Vùng văn hóa Tây Nam Bộ được tiến hành định vị trên ba trục không gian
K, chủ thể C và thời gian T
Cuối cùng, một khi Tây Nam Bộ đã được xác định là một VÙNG văn hóa
và được định vị rồi thì bước tiếp theo phải làm là phân chia nó thành các tiểu vùng để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các thành tố, các bình diện, các đặc trưng của vùng văn hóa này
1 Tình hình nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ
Cho đến nay, văn hóa Nam Bộ nói chung và văn hóa Tây Nam Bộ nói riêng đã được nghiên cứu khá nhiều trên mọi bình diện
Trong hơn 300 năm hình thành và phát triển, vùng đất mới Tây Nam Bộ và người Việt ở vùng đất này đã trở thành đề tài có tính thời sự của đông đảo giới nghiên cứu, đặc biệt từ nửa sau của thế kỷ XX trở lại đây
Trang 241.1 Xét trong bối cảnh tình hình nghiên cứu văn hóa Nam Bộ
1.1.1 Trong so sánh với tình hình nghiên cứu vùng Đông Nam Bộ, có
thể thấy các công trình nghiên cứu vùng Tây Nam Bộ có số lượng vượt trội hơn hẳn Đông Nam Bộ Trong thư mục chọn lọc về văn hóa Tây Nam Bộ gồm trên một ngàn tên gọi mà chúng tôi thu thập được thì có 172 tài liệu nghiên cứu về các mặt của Đông Nam Bộ, trong khi có tới 796 tài liệu nghiên cứu về các mặt của Tây Nam Bộ
Có thể nói, khi nhắc đến địa phương đại diện cho Nam Bộ thì người ta sẽ nhắc đến Sài Gòn - Tp Hồ Chí Minh, còn khi nói đến Nam Bộ nói chung thì bao giờ người ta cũng nghĩ ngay đến vùng Tây Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long và sông nước
Trong số 796 tài liệu tài liệu nghiên cứu về các mặt của Tây Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy các công trình tập trung chủ yếu ở các mảng đề tài sau:
(1) Mảng đề tài chuyên về lý luận với các nghiên cứu về một số vấn đề
khoa học xã hội ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long [Viện Khoa học Xã hội 1982], về cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ [Bùi Thế Cường 2007] Các nghiên cứu về vùng Đông Nam Bộ có vẻ như thiếu vắng mảng đề tài này
(2) Mảng đề tài về văn hóa so sánh, văn hoá ứng dụng, tư liệu điền dã cho
nghiên cứu văn hóa: Các nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ được đặt trong không
gian xã hội Đông Nam Á [ĐHQG Tp.HCM 2000, tập hợp các bài viết về cả Đông và Tây Nam Bộ], về văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long [Nguyễn Công Bình và nnk 1990; Thạch Phương và nnk 1992; Viện Khoa học
Xã hội Tp.HCM 1990, Viện Văn hóa 1984, v.v.] Bên cạnh đó, một số tư liệu mang tính chất điền dã, ghi lại những nét phác thảo khá phong phú về con người, văn hóa Tây Nam Bộ [Phan Quang 1985, 2002; Sơn Nam 1992, 2005, ;
Nguyễn Hiến Lê 1954/2002 ]
(3) Các mảng đề tài thuộc các khoa học chuyên ngành khác: các tư liệu
khảo cổ, địa lý, lịch sử, tộc người của vùng đất Tây Nam Bộ [x., vd: Lê Xuân Diệm 2008; Sơn Nam 2003; Trần Văn Bính (cb) 2004 ]
Có thể nói, trong so sánh với Đông Nam Bộ, các nghiên cứu về Tây Nam
Bộ không chỉ có số lượng nhiều hơn hơn, mà các mảng đề tài nghiên cứu đặt ra cũng tương đối đầy đủ và phong phú đa dạng hơn, đặc biệt là số lượng các công trình nghiên cứu đề cập đến các mảng đề tài văn hóa rất phong phú
Các tài liệu nghiên cứu về Đông Nam Bộ trong so sánh với Tây Nam Bộ
có đặc điểm là tập trung vào các đô thị lớn như Sài Gòn - Tp Hồ Chí Minh,
Trang 25Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu (trong khi các nghiên cứu về Tây Nam Bộ chú trọng nông thôn), và các vấn đề kinh tế và công nghiệp được chú trọng hơn (trong khi các nghiên cứu Tây Nam Bộ thì tập trung hướng về văn hóa nhiều hơn)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu người Việt ở vùng Tây Nam Bộ trong so sánh
với tình hình nghiên cứu văn hóa các tộc người khác:
Người Việt là tộc đông dân nhất, vì vậy dễ hiểu là một số lượng lớn các công trình nghiên cứu Tây Nam Bộ tập trung dành cho việc nghiên cứu người Việt Trong số đó có trên hai chục công trình nghiên cứu một cách khái quát về đời sống văn hóa của người Việt ở vùng Tây Nam Bộ như [Viện Văn hóa 1984; Nguyễn Công Bình và nnk 1990; Thạch Phương và nnk 1992; Viện Khoa học
Xã hội Tp.HCM 1990, Nguyễn Chí Bền 1997, 2004; Huỳnh Quốc Thắng 1998, 2000; Đinh Văn Hạnh 1999; ĐH KHXH&NV Tp HCM 2003; Phạm Bích Hợp 2005; Mạc Đường 2006; Vũ Văn Quân 2006; ĐHQG Tp HCM 2007; Ngô Văn
Lệ 2007, 2009; Nguyễn Văn Tiệp 2008, 2009; Trần Ngọc Thêm 2006a, 2008c, 2009c; v.v.] Các công trình khác đề cập đến khá nhiều mảng đề tài phong phú: văn hóa dân gian, tính cách văn hóa, tôn giáo, văn học, lịch sử, kinh tế - xã hội…
Về các tộc người thiểu số ở Tây Nam Bộ thì có những công trình nghiên cứu chung (như [Mạc Đường 1991; Đinh Văn Liên 1991; Ngô Văn Lệ 2000;
Trần Văn Bính (cb) 2004; ĐH KHXH&NV Tp HCM 2004; Võ Công Nguyện
2008 ]) và các công trình nghiên cứu về văn hóa từng tộc người cụ thể Về người Khmer có 23 tài liệu, tiêu biểu như: [Nguyễn Khắc Cảnh 1998, 2000; ĐHQG Tp HCM 2001, 2003; Phan An 2006, 2009; Nguyễn Hùng Khu 2008]…
Về người Hoa có 14 tài liệu, tiêu biểu như: [Phan Trung Nghĩa 1999; Trần Thị Mai 2004; Tống Kim Sơn 2004] Về người Chăm, có 14 tài liệu viết về người Chăm nói chung và ở người Chăm Nam Bộ, trong đó có một số tài liệu có đề cập phần nào đến người Chăm ở vùng Tây Nam Bộ như [Phan An, Võ Công
Nguyện 2000; Phan Xuân Biên, Phan An 1991; Võ Công Nguyện 2004]
Bên cạnh các nghiên cứu tổng hợp hoặc riêng lẻ về các tộc người ở Tây Nam Bộ, chúng tôi cũng ghi nhận một số công trình nghiên cứu về việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long [Đinh Văn Liên 1997; Phan Thị Yến Tuyết (chủ nhiệm đề tài) 2006]
1.2 Xét theo thời gian
1.2.1 Các nghiên cứu trước khi có ảnh hưởng phương Tây Việc phân
chia các công trình nghiên cứu trước khi có ảnh hưởng của phương Tây một
Trang 26cách hình thức xét theo thời gian thường lấy mốc là trước năm 1900 (thời gian thành lập Viện Viễn Đông Bác cổ) Tuy nhiên, khi phân loại các công trình nghiên cứu xét theo ảnh hưởng của phương Tây trên thực tế, chúng tôi không căn cứ vào thời gian công bố công trình (trước hoặc sau năm 1900), mà chỉ xét
xem nội dung, phương pháp tiếp cận có chịu ảnh hưởng của phương Tây hay
không
Tài liệu sớm nhất ghi chép về khu vực mà nay là Nam Bộ là cuốn Chân
Lạp phong thổ ký (真臘風土記) của Châu Đạt Quan (周達觀) Sách mô tả cuộc hành trình của đoàn sứ thần Trung Hoa đến Angkor – kinh đô Cao Miên dưới triều vua Cindravarman (1295-1307), trong đó có ghi lại những điều tác giả tai nghe mắt thấy về đất nước và con người bản xứ ở vùng mà nay là Nam Bộ, nơi
mà cuộc du hành của đoàn sứ thần phải đi qua Nhưng mảnh đất này thời đó chưa phải là Nam Bộ theo nghĩa hiện đại, chủ thể văn hóa ở đây chưa có người Việt
Như vậy, nếu không kể đến Chân Lạp phong thổ ký thì công trình nghiên cứu đầu tiên có nhắc đến Nam Bộ trước khi có ảnh hưởng phương Tây là Phủ
Biên tạp lục (撫邊雜錄)2 của Lê Quý Đôn, hoàn thành khoảng năm 1776 Bộ sách gồm 8 quyển ghi chép hầu hết các thông tin quan trọng về kinh tế và xã hội của Đàng Trong, chủ yếu là hai xứ Thuận (Hóa), Quảng (Nam) trong gần 200 năm từ cuối thế kỷ XVI đến thời kỳ Lê Quý Đôn làm quan Hiệp trấn xứ Thuận Hóa Thông tin về Nam Bộ có thể chắt lọc từ đây là không đáng kể
Tài liệu quan trọng nhất về Nam Bộ trước khi có ảnh hưởng phương Tây là
Gia Định thành thông chí (嘉定城通志) hay Gia Định thông chí (嘉定通志)
của Trịnh Hoài Đức (viết bằng chữ Hán và chữ Nôm) Đến nay không xác định được chính xác thời gian biên soạn sách này, chỉ biết rằng công trình được biết đến vào những thập niên đầu của thế kỷ XIX3 Sách gồm sáu quyển, ghi chép khá công phu và tỉ mỉ về núi sông, khí hậu, hành chính, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tính cách và sinh hoạt của cư dân Gia Định xưa, bao gồm cả
vùng đất Đông và Tây Nam Bộ Quyển I Tinh dã chí viết về vị trí đất Nam Bộ
triều Nguyễn có chiếu tìm kiếm và thu thập thư tịch cũ Theo G Aubaret (1863, Histoire et description
de la Basse Cochinchine (pays de Gia-Dinh) - Paris: Imprimerie Impériale) thì sách được viết vào thời
Minh Mạng, khoảng những năm 1830 Theo Lý Việt Dũng và Huỳnh Văn Tới trong lời giới thiệu bản xuất bản năm 1974 thì một học giả của trường Đại học Bắc Kinh là Dương Bảo Quân đã thận trọng cho
rằng việc biên soạn Gia Định thành thông chí được Trịnh Hoài Đức tiến hành vào giữa hai mốc thời
gian trên (giữa các năm 1820 và 1822) [vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Định_thành_thông_chí]
Trang 27so với các vì sao theo thiên văn cổ và khí hậu vùng đất này Quyển II Sơn xuyên
chí mô tả sông núi Nam Bộ theo năm trấn: Biên Hòa, Phiên An, Định Tường,
Vĩnh Thanh, Hà Tiên Tên sông núi được ghi bằng chữ Hán và chú thêm chữ
Nôm rất tiện lợi cho việc tra cứu Quyển III Cương vực chí ghi chép về lịch sử
khai phá vùng đất Nam Bộ của các chúa Nguyễn, về quan hệ của các chúa
Nguyễn với Cao Miên và Xiêm La dẫn nhiều từ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn Quyển IV Phong tục chí viết về các phong tục tập quán ăn mặc, nhà cửa,
tín ngưỡng, lễ tết, hội hè và những phong tục đặc sắc của mỗi trấn trong toàn cõi
Nam Bộ Quyển V Vật sản chí nói về nông sản, tình hình ruộng đất, giống lúa, hoa màu, lâm thổ sản, thủy sản của đất Nam Bộ Quyển VI Thành trì chí giới
thiệu về vị trí, giới hạn, quy mô các các thành, trấn và huyện lỵ, đồn, lũy, đền,
chùa, cầu, chợ, phố xá Nam Bộ Gia Định thành thông chí được xem là tài liệu
nghiên cứu sớm nhất, ghi nhận khá đầy đủ về vùng đất, con người Nam Bộ trong giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu
Tiếp theo Gia Định thành thông chí thì có Đại Nam nhất thống chí (大南
ー統志) viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn thời vua Tự Đức biên soạn, hoàn thành năm 1882, gồm 28 tập với 31 quyển, ghi chép địa chí từng tỉnh trong cả nước, trong đó có phần về lục tỉnh Nam Bộ, tuy nhiên cũng không vượt
qua được Gia Định thành thông chí về độ chi tiết trong việc mô tả địa lý cũng
như con người Nam Bộ
1.2.2 Từ khi có ảnh hưởng phương Tây đến 1954, các nghiên cứu về Tây
Nam Bộ không nhiều, chủ yếu là các tài liệu của người Pháp, viết về thuộc địa Nam Kỳ nói chung, khái quát về địa dư của vùng đất Nam Bộ nói chung [như
Aliot P., Pierre B 1916], hoặc chuyên khảo về từng tỉnh thành Tây Nam Bộ nói
riêng, ví dụ như về Long Xuyên [Duvernoy V 1929]
Đây là giai đoạn chiến tranh loạn lạc, sự biến động về mặt chính trị diễn ra không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới: sự ra đời của nước Nga Xô-viết; đệ nhị thế chiến bùng nổ và sau đó là sự ra đời của khối các nước xã hội chủ nghĩa Miền Nam Việt Nam chịu sự chi phối chính trị từ Pháp đến Nhật, rồi Mỹ nhảy vào cuộc chiến, các phong trào chính trị và tôn giáo diễn ra phức tạp (Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài,…) Tuy nhiên, chính thời cuộc loạn lạc, những giai đoạn khốc liệt của lịch sử đã chuẩn bị cho sự ra đời của những học giả nổi tiếng, những công trình nghiên cứu nổi tiếng về Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng ở giai đoạn sau đó (1954-1975)
1.2.3 Giai đoạn 1954-1975 là thời kỳ xuất hiện khá nhiều công trình
nghiên cứu về vùng Tây Nam Bộ, bao gồm:
Trang 28(1) Các công trình nghiên cứu tổng quan về các tỉnh thành cụ thể ở vùng Tây Nam Bộ như Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Kiên Giang, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Bạc Liêu, ghi nhận khá chi tiết từ địa lý, lịch sử cho đến việc so sánh lịch đại những biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các địa phương thuộc Tây Nam Bộ [Nhiều tác giả 1952; Nhiều tác giả 1965; Huỳnh Minh 1966; Huỳnh Minh 1967; Nhiều tác giả 1973; Nhiều tác giả 1974 ]
(2) Một số bút ký, chuyên khảo viết về Tây Nam Bộ, có thể kể: Bảy ngày
trong Đồng Tháp Mười [Nguyễn Hiến Lê 1954], Tìm hiểu đất Hậu Giang [Sơn
Nam 1959], Khung cảnh thiên nhiên và ảnh hưởng của nó đến đời sống nông
thôn ở Châu thổ Nam phần [Quách Thanh Tâm 1967], Những lễ hội ở Hà Tiên trong 3 tháng mùa xuân [Đông Hồ 1967], Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn [Sơn Nam 1970], Ăn cơm mới, nói chuyện cũ; Hậu giang, Ba Thắc [Vương Hồng Sển 2012], Tự vị tiếng Việt Miền Nam [Vương Hồng Sển
1993]… Một số công trình của Sơn Nam trong giai đoạn này đã được tái bản nhiều lần sau năm 1975
(3) Một số luận văn của sinh viên, trí thức Sài Gòn về Tây Nam Bộ lần
đầu tiên được xuất bản, như Vấn đề phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Khắc Chi [1972], Nghiên cứu một cộng đồng liên xã khu Cái Sắn
của Đoàn Đức Xuân [1973]
1.2.4 Các nghiên cứu trong giai đoạn từ 1975 đến nay Đặc điểm nổi bật
của giai đoạn nghiên cứu này là sự tham gia của các cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Văn hóa, Viện Khoa học Xã hội, Viện Khoa học Xã hội tại Tp
Hồ Chí Minh (nay là Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ), Trường Đại học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học KHXH & NV thuộc ĐHQG Tp
Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu xã hội TP Hồ Chí Minh, và các trường / viện
khác Điển hình là: Một số vấn đề khoa học xã hội đồng bằng sông Cửu Long [Viện Khoa học Xã hội 1982]; Mấy vấn đề văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long [Viện Văn hóa 1984]; Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long [Viện
Khoa học Xã hội Tp Hồ Chí Minh 1990];…
Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này được thực hiện một cách chuyên nghiệp hơn, có tính khoa học cao hơn giai đoạn 1954-1975, do trình độ phát triển của các ngành khoa học xã hội tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung ở mức cao hơn
1.3 Xét theo chủ thể và không gian
1.3.1 Xét theo chủ thể, các công trình nghiên cứu của người nước ngoài
về Tây Nam Bộ chủ yếu là của các tác giả người Pháp nghiên cứu về địa dư
Trang 29[Aliot P., Pierre B 1916], về các địa phương thuộc vùng Tây Nam Bộ
[Duvernoy V 1929], tài liệu khảo cổ học, dân tộc học về đồng bằng sông Cửu
Long [Malleret L 1959; Garchey H 1961, Barrow J 1806/2008] Bên cạnh đó,
các tác giả người Mỹ cũng có một số công trình viết về vùng hạ lưu sông
Mê-kông, những ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội đối với vùng đất Tây
Nam Bộ [Schaaf H C., Flifield R A 1963; Charles S C 1983] Trung tâm
Nghiên cứu Nam và Đông Nam Á của Đại học California (Mỹ) cũng đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về đồng bằng sông Cửu Long từ những năm 80 Gần đây các nhà nghiên cứu người Nga, người Hàn Quốc cũng nhập cuộc: Nhà nghiên cứu người Nga V.N Kolotov quan tâm đến mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị ở Nam Bộ [Колотов В.Н 2001, 2005] Nhà nghiên cứu người Hàn Quốc Choi Byung Wook [2011] quan tâm đến lịch sử vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng
1.3.2 Xét theo không gian (nơi công bố), các công trình nghiên cứu về Tây
Nam Bộ được công bố chủ yếu tại Sài gòn - Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh thành Nam Bộ Các nghiên cứu được công bố ở những nơi khác (Bắc Bộ, Trung Bộ, nước ngoài) chiếm số lượng ít hơn so với các công trình được công
bố tại Nam Bộ, trong đó số lượng công trình nghiên cứu về Tây Nam Bộ được công bố tại Hà Nội chỉ chiếm khoảng 22% số lượng các công trình nghiên cứu
về Tây Nam Bộ nói chung
1.4 Xét theo cách tiếp cận
1.4.1 Các công trình nghiên cứu theo cách tiếp cận tổng hợp về Tây Nam
Bộ không nhiều, có thể kể một số công trình nổi bật như: Một số vấn đề khoa
học xã hội đồng bằng sông Cửu Long [Viện Khoa học Xã hội 1982]; Đồng bằng sông Cửu Long [Phan Quang 1985]; Đồng bằng sông Cửu Long – Nghiên cứu
và phát triển [Nhiều tác giả 1995]; Đồng bằng sông Cửu Long vùng đất, con người [Đinh Văn Thiên, Hoàng Thế Long, Nguyễn Trung Minh 2010],…
Có thể nói các nghiên cứu tổng hợp về đồng bằng sông Cửu Long trong những năm cuối thế kỷ XX nghiêng về nghiên cứu ứng dụng; các nghiên cứu cơ bản chiếm số lượng ít ỏi Nghiên cứu cơ bản về đồng bằng sông Cửu Long được quan tâm hơn trong những năm đầu thế kỷ XXI, tiêu biểu có đề tài nghiên cứu cấp Bộ được thực hiện bắt đầu từ năm 2007 về những vấn đề cơ bản trong sự phát triển của Vùng Tây Nam Bộ [Bùi Thế Cường 2007]
1.4.2 Các công trình nghiên cứu về đồng bằng sông Cửu Long với cách
tiếp cận Sử học khá phong phú, tiêu biểu là: Văn hoá Óc Eo và vương quốc Phù
Nam [Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2008b], Lịch sử khai phá vùng đất Nam
Trang 30Bộ [Huỳnh Lứa (cb) 1987], Đồng bằng sông Mê-kông 300 năm qua [Nguyễn
Đình Đầu 1999], Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm [Trần Bạch Đằng 1986],
Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ thời kỳ cận đại [Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam 2009], Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX
[Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2009b] Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu lịch sử của từng địa phương Tây Nam Bộ như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Gò Công, Sa Đéc, Bến Tre [Huỳnh Minh 1966; 1967; 2001] Sơn Nam có công trình nghiên cứu về lịch sử An Giang [Sơn Nam 1988]
1.4.3 Cách tiếp cận Dân tộc học đem lại các công trình như: Nhà ở, trang
phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long [Phan Thị Yến
Tuyết 1993], Văn hóa dân gian trong đời sống văn hóa của ba dân tộc Việt -
Khmer - Hoa ở Sóc Trăng [Chu Xuân Diên 2003] Công trình Điều tra cơ bản
các dân tộc vùng Tây Nam Bộ [Võ Công Nguyện 2007] là đề tài nằm trong dự
án cấp Bộ mang tên Điều tra cơ bản các dân tộc vùng Tây Bắc, Trung Bộ và
Tây Nam Bộ do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì
1.4.4 Các công trình nghiên cứu Văn hóa học bao gồm những công trình
tập thể của các cơ quan khoa học như: Mấy vấn đề văn hóa Đồng bằng sông
Cửu Long [Viện Văn hóa 1984], Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long [Lê Anh Trà (cb) 1984], Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
[Viện Khoa học Xã hội Tp Hồ Chí Minh 1990], Văn hóa dân gian người Việt ở
Nam Bộ [Thạch Phương và nnk 1992], v.v Các chuyên khảo của các nhà nghiên
cứu về văn hóa Tây Nam Bộ như: Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt
xưa và văn minh miệt vườn [Sơn Nam 2005], Lễ hội dân gian ở Nam Bộ (khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc) [Huỳnh Quốc Thắng 2003], Rất nhiều bài viết
trên các tạp chí chuyên ngành Đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại đây có trên 60 luận văn thạc sỹ về các bình diện, các khía cạnh của văn hóa Nam Bộ đã được bảo vệ tại Khoa Văn hóa học Trường Đại học KHXH & NV thuộc ĐHQG
Tp HCM, trong đó riêng về văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ đã có 45 luận văn được bảo vệ
1.4.5 Từ góc độ khảo cổ học, liên quan đến Tây Nam Bộ, chủ yếu là về
văn hóa Óc Eo, có thể kể: L’archeologie du Delta du Mekong (Khảo cổ học vùng châu thổ sông Cửu Long) [Malleret L 1959], Những di tích khảo cổ học
thời tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ [Đặng Văn Thắng 2006], Những di tích khảo cổ học thời văn hóa Óc Eo - hậu Óc Eo ở An Giang [Phạm Đức Mạnh 2005], Khái quát về các di tích khảo cổ học thuộc giai đoạn “Tiền Óc Eo” ở Nam Bộ
[Nguyễn Thị Hậu 2009],…
Trang 31Từ góc độ địa lý học, gần đây có các công trình tiêu biểu như: Địa lý đồng
bằng sông Cửu Long [Lê Bá Thảo 1986], Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu
Long Hiện trạng và giải pháp [ĐHQG Tp HCM 2001], Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, Tập sáu: Các tỉnh và thành phố đồng bằng sông Cửu Long
[Lê Thông (cb) 2006]…
Từ góc độ văn học, đáng chú ý là các công trình: Văn học dân gian Bến
Tre [Nguyễn Phương Thảo, Hoàng Thị Bạch Liên 1988], Văn học dân gian
đồng bằng sông Cửu Long [Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ 2002], Tác giả văn học, văn hóa kháng chiến Tây Nam Bộ (1945-1954) (Giai đoạn 1) [Vũ Văn
Ngọc 2007], Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học quốc ngữ Nam Bộ từ
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX [Đoàn Lê Giang 2006]
Từ góc độ xã hội học, đáng chú ý là các công trình: Tổng quan về nghiên
cứu đô thị hóa ở Tây Nam Bộ [Văn Thị Ngọc Lan (Chủ nhiệm) 2007], Cơ cấu
xã hội văn hóa và phúc lợi xã hội Tây Nam Bộ [Lê Thanh Sang 2007], Phát triển kinh tế Tây Nam Bộ dưới tác động của hội nhập kinh tế [Trần Trọng Khuê
2007], Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long [Nhâm Hùng 2009],…
Từ góc độ tôn giáo học, có thể kể: Tôn giáo - tín ngưỡng của các cư dân
vùng đồng bằng sông Cửu Long [Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc
2005], Cơ cấu và sự vận hành của thiết chế Công giáo vùng Tây Nam Bộ [Nguyễn Thị Nhiễm 2007], Dân tộc và tôn giáo Tây Nam Bộ trong quá trình
phát triển [Trần Hồng Liên 2007],…
***
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Nam Bộ nói chung và Tây Nam
Bộ nói riêng rất đa dạng, phong phú về đề tài cũng như nội dung Tuy nhiên, một công trình mang tính khái quát và hệ thống về văn hóa người Việt Tây Nam
Bộ như một chỉnh thể thống nhất với các thành tố và các đặc trưng văn hóa của
nó thì cho đến nay vẫn còn đang thiếu
Công trình này có mục đích lấp chỗ trống ấy
2 Văn hóa vùng và các vùng miền văn hóa Việt Nam
Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ có (a) đối tượng nghiên cứu là văn
hóa; (b) giới hạn không gian là một vùng (Tây Nam Bộ); (c) giới hạn chủ thể là một tộc người (người Việt)
Lấy chủ thể làm giới hạn chính, ta có thể so sánh theo không gian: văn hóa người Việt ở vùng Tây Nam Bộ so với văn hóa người Việt ở các vùng Đông Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và đồng bằng Bắc Bộ Lấy
Trang 32không gian làm giới hạn chính, ta có thể so sánh theo chủ thể: văn hóa người Việt ở Tây Nam Bộ so với văn hóa người Khmer, người Hoa, người Chăm ở Tây Nam Bộ
Đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với không gian, ta có văn hóa
vùng; đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với chủ thể, ta có văn hóa tộc người Cả hai đều có vai trò quan trọng ngang nhau, song tại thời điểm hiện nay,
vấn đề văn hóa tộc người ở Tây Nam Bộ ít nhiều cũng tương đối rõ ràng, trong khi vấn đề văn hóa vùng ở Tây Nam Bộ còn là khái niệm khá mù mờ
Vì vậy vấn đề trọng tâm của cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu văn hóa
người Việt vùng Tây Nam Bộ trước hết là làm sáng tỏ khái niệm văn hóa vùng
và phương pháp nghiên cứu văn hóa vùng Trên cơ sở đó, áp dụng vào không gian mà chúng ta giới hạn là vùng Tây Nam Bộ để xác định bối cảnh chung của
nó cũng như tình trạng nghiên cứu nó làm cơ sở thực tiễn cho việc triển khai
nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ
2.1 Văn hóa vùng và vùng văn hóa
2.1.1 Nghiên cứu văn hóa giới hạn trong phạm vi một vùng không gian tức
là nghiên cứu văn hóa vùng
Trên thế giới, việc nghiên cứu văn hóa vùng trở nên đặc biệt phát triển từ cuối thế kỷ XIX, tạo nên ba trường phái đỉnh cao
Thứ nhất là thuyết “khuyếch tán văn hóa” Tây Âu (vào cuối thế kỷ XIX -
đầu thế kỷ XX) với trường phái văn hóa - lịch sử ở Đức và Áo (đại diện là F.Ratsel, I.Frobenius, F.Grabner, W.Schmidt), trường phái truyền bá văn hóa ở Anh (đại diện là W.Rivers, G.Elliot Smith) Thuyết khuếch tán văn hóa (diffusion theory) ra đời dựa trên niềm tin rằng những đặc điểm văn hóa hình thành và phát triển trong một khu vực địa lý cụ thể có thể được khuếch tán và ánh xạ tới các xã hội ở những khu vực địa lý khác; văn hóa vốn xuất phát từ một trung tâm rồi được “truyền bá”, “lan tỏa” ra các khu vực khác
Khởi đầu là những ý tưởng của Friedrich Ratzel (1844-1904) về hình thái,
“vòng tròn hình thái” và sự chuyển di các yếu tố văn hóa theo nguyên lý tính liên tục Một học trò của Ratzel là Leo Frobenius (1873-1938) đã tiến hành đối chiếu những kiểu nhà ở nhất định, những hình thái công cụ lao động, mặt nạ, trang phục đặc thù, rồi trình bày những mối liên hệ thường xuyên giữa các
“vòng tròn hình thái” này dưới dạng sơ đồ, dẫn đến sự hình thành khái niệm
“vòng tròn văn hóa” nổi tiếng (t Đức Kulturkreise = culture circle) “Vòng tròn
văn hóa” là cái nôi không gian địa lý, nơi sinh ra các hình thái văn hóa vật thể
và thiết chế, các hình thái văn hóa này xuất hiện một lần và duy nhất rồi từ các
Trang 33“vòng tròn văn hóa” mà lan tỏa đến các cộng đồng địa phương khác rồi tắt dần
đi như “những làn sóng tỏa ra từ một đá ném xuống nước”
Bước cuối cùng trong việc hoàn thiện những nét cơ bản của thuyết này thuộc về nhà dân tộc học Đức Fritz Graebner (1877-1934), người đã tiến hành thay thế sự tồn tại song hành các vòng tròn văn hóa trong không gian bằng chuỗi
kế tiếp của chúng trong thời gian, kết quả là có thể nói đến không chỉ các vòng
tròn văn hóa, mà cả các lớp văn hóa nữa Graebner đã phân tích sự phân bố
trong không gian những nét văn hóa tương đồng (về công cụ sản xuất, thói quen, luật tục, tác phẩm nghệ thuật) và mức độ giống nhau giữa chúng để rồi trên cơ
sở đó mà quy được mọi thành tựu văn hóa thời kỳ tiền quốc gia của tất cả các dân tộc trên thế giới về sáu vòng tròn văn hóa và xác định được rằng trong lịch
sử văn hóa nhân loại có tất cả 12 vòng tròn văn hóa gắn kết với nhau bằng những cơ chế vay mượn khác nhau Thuyết này đã được Graebner trình bày một
cách hệ thống trong công trình “Methode der Ethnologie” (Phương pháp dân tộc
học) công bố năm 1911 [Культурология ХХ век 1998-I: 359-365]
Thứ hai là thuyết “vùng văn hóa” trong nhân loại học Mỹ (vào nửa đầu thế
kỷ XX) với đại diện là F.Boas, O.T.Mason, C.Wissler, A.L.Kroeber Franz Boas (1858-1942) – người được mệnh danh là cha đẻ của ngành nhân loại học hiện đại Mỹ – sinh ra và lớn lên ở Đức Thời sinh viên, ông bắt đầu bằng việc học toán và lý rồi chuyển hứng thú sang ngành địa văn hóa Đến năm 29 tuổi (1887), ông chuyển sang sống ở Mỹ và mang theo thuyết “khuếch tán văn hóa” của Tây Âu sang truyền bá cho giới nhân loại học Mỹ Sau đó, trên cơ sở thực tiễn nghiên cứu điền dã văn hóa các tộc người Mỹ bản địa, ông đã đi đến chỗ chống lại trường phái tiến hóa luận trong nhân loại học thế kỷ XIX, phê phán thuyết “khuếch tán văn hóa” và quan điểm “vòng tròn văn hóa” của các học giả Tây Âu, cùng các học trò của mình đề xướng và phát triển khái niệm “vùng văn hóa” (x mục 2.1.2 ở dưới) “Vùng văn hóa” đã trở thành một công cụ lý thuyết quan trọng trong việc nghiên cứu các nền văn hóa của thổ dân Mỹ vốn phân tán
và chỉ có quan hệ giao lưu tiếp xúc với nhau trên một địa bàn rộng lớn ở Bắc
Mỹ
Thứ ba là thuyết “loại hình kinh tế - văn hóa” và “khu vực văn hóa - lịch
sử” của dân tộc học Xô-viết (vào giữa thế kỷ XX) với đại diện là N.N.Cheboksarov (Н.Н Чебоксаров) cùng với M.G Levin (М.Г.Левин),
S.A.Tokarev (С.А Токарев), Ja.V Chesnov (Я В Чеснов) và một số người
khác Được gợi ý từ khái niệm “vùng văn hóa” của các nhà nhân loại học Mỹ,
và trên cơ sở nghiên cứu các vùng văn hóa ở Liên Xô và Đông Á, N.N.Cheboksarov và các cộng sự đã đề xuất các khái niệm “loại hình kinh tế -
Trang 34văn hóa” (хозяйственно-культурный тип), và sau đó là “khu vực văn hóa - lịch sử” (культурно-исторический район) Lý thuyết này có ảnh hưởng nhiều đến việc nghiên cứu văn hóa vùng ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX4
Như đã nói, lĩnh vực văn hóa vùng giới hạn việc nghiên cứu văn hóa trong phạm vi một vùng không gian Về nguyên tắc, vùng không gian có thể được giới hạn theo một tiêu chí bất kỳ: đó có thể là tiêu chí địa lý, hành chính, kinh tế, văn hóa, v.v Chẳng hạn, văn hóa châu Phi là văn hóa của vùng địa lý; văn hóa của một tỉnh, một huyện, một thành phố là văn hóa của vùng hành chính; văn hóa quốc gia dao động giữa văn hóa của vùng hành chính và văn hóa của vùng văn hóa (tùy thuộc vào mức độ lâu đời của việc hình thành quốc gia) Như thế, rõ
ràng là văn hóa vùng và vùng văn hóa là hai khái niệm không trùng nhau
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu về văn hóa vùng ở trên thế giới cũng như trong nước lâu nay không phân biệt hai khái niệm này: cứ nói đến
“văn hóa vùng” là các nhà nghiên cứu lập tức đồng nhất ngay nó với “vùng văn hóa” Có thể nói đây là cách hiểu phổ biến về khái niệm “văn hóa vùng”, nhưng điều đó không có nghĩa là nó có thể thay thế cho tất cả các cách hiểu khác
Theo chúng tôi, bên cạnh việc phân biệt văn hóa vùng với vùng văn hóa, chúng ta còn cần phải phân biệt hai cách hiểu về “văn hóa vùng”: văn hóa
vùng theo nghĩa rộng và văn hóa vùng theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, văn hóa vùng là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn
trên phạm vi một không gian giới hạn bởi tiêu chí hành chính, địa lý, kinh tế, văn hóa hoặc một tiêu chí bất kỳ nào khác
Theo nghĩa hẹp, văn hóa vùng là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn
trên phạm vi một không gian có sự thống nhất về những đặc trưng văn hóa; nói cách khác, văn hóa vùng là văn hóa của một vùng văn hóa
Công trình này đề cập đến văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ trong
khuôn khổ của văn hóa vùng theo nghĩa hẹp Theo đó, đối với chúng tôi, Tây
Nam Bộ là một vùng văn hóa Như vậy, vùng văn hóa là gì?
2.1.2 Khái niệm “vùng văn hóa” (cultural area, культурный ареал, 文化
区) được đề cập đến lần đầu trong những nghiên cứu của nhà địa lý học người Đức Friedrich Ratzel (1844-1904) trong quan hệ với thuyết “vòng tròn văn hóa”
4
Các lý thuyết này đã được Ngô Đức Thịnh tổng thuật rất đầy đủ trong luận án tiến sĩ sử học của mình bảo vệ tại Moskva năm 1980 và công bố trong [Ngô Đức Thịnh 1993, 2004] Chỗ khác so với ở đây là trường phái “Age and Area” của Mỹ được Ngô Đức Thịnh coi là một bộ phận của thuyết
“khuyếch tán văn hoá” Tây Âu
Trang 35(Kulturkreise) nhưng được trở thành phổ biến nhờ sự phát triển của các nhà
nhân loại học Mỹ phục vụ cho việc nghiên cứu sự phân bố không gian của các hiện tượng văn hóa và xác định các mối liên hệ qua lại giữa chúng
Được khuyến khích bởi những cuộc thám hiểm nhân loại học ở miền Tây nước Mỹ, nhà nhân loại học người Mỹ Otis Tufton Mason (1838-1908) đã đề xuất một bảng phân vùng cho các nền văn hóa của thổ dân Mỹ vào năm 1894
(trong công trình Summaries of Progress in Anthropology); bảng phân vùng này
đã được chấp nhận rộng rãi trong vài thập niên tiếp theo Năm 1911, Franz Boas (1858-1942) đã miêu tả bảy vùng văn hóa trên lãnh thổ Bắc Mỹ (trong công
trình The Mind of Primitive Man) Năm 1923 học trò của ông là Melville Jean
Herskovits (1895-1963) đã đưa ra sơ đồ các vùng văn hóa châu Phi (trong luận
án tiến sĩ “The Cattle Complex in East Africa”)
Trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Clark Wissler và sau
đó là Alfred Kroeber đã tiếp tục hoàn thiện và phát triển lý thuyết “vùng văn hóa”
Clark Wissler (1870-1947) đã thu thập các dữ liệu dân tộc học về các nhóm thổ dân Mỹ từ nhiều nguồn khác nhau và tiến hành phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa những nhóm thổ dân sống trên các vùng miền khác nhau về phương thức tự cấp tự túc, phương thức vận tải, phương thức dệt may, sản phẩm nghệ thuật và cách thức thực hành tôn giáo Trên cơ sở đó, ông đã xác định được
9 vùng văn hóa bản địa ở Bắc Mỹ, trong đó riêng nước Mỹ có 7 vùng (vùng tiều phu ở rừng phía đông, vùng thợ săn ở đồng bằng, vùng mục đồng Navaho, vùng nông dân Pueblo, vùng cư dân sa mạc, vùng hái lượm, và vùng ngư dân phía bắc) và trình bày chúng dưới dạng bản đồ (x hình I-1) [Wissler Clark (ed.)
1975; En.wikipedia: Cultural area]
Trang 36Hình 0-1: Bản đồ phân vùng văn hóa bản địa Mỹ của C Wissler
(trích phần 7 vùng ở nước Mỹ) [Brown Nina 2003]
Theo Alfred Kroeber (1876-1960) thì vùng văn hóa có liên hệ mật thiết với vùng tự nhiên; vùng văn hóa là một khu vực địa lý xác định, được đặc trưng bởi
sự tương đồng về phần lớn các đặc điểm văn hóa Nhìn chung, “vùng văn hóa” thường được định nghĩa như một khu vực địa lý mà trong đó các cộng đồng cư dân khác nhau hoặc các nền văn hóa khác nhau có những đặc trưng văn hóa giống nhau, có cùng một kiểu phương thức hoạt động, hoặc có cùng một định hướng văn hóa chủ đạo như nhau Ví dụ: vùng văn hóa Phật giáo Ấn Độ, vùng văn hóa chính trị theo truyền thống pháp luật La Mã, vùng văn hóa chăn nuôi Đông Phi, vùng văn hóa trồng ngô (bắp) Trung Mỹ, v.v [Кравченко А.И 2000: 301; Культурология ХХ век 1998-I: 328, 363; Brown Nina 2003]
Lý thuyết “vùng văn hóa” của các nhà nhân loại học Mỹ xác định một bộ các khả năng hoạt động kinh tế và văn hóa của con người mà việc lựa chọn những hình thái văn hóa cụ thể là kết quả những quyết định ngẫu nhiên của chủ thể văn hóa trong phạm vi những mối liên hệ trực tiếp giữa hình thái văn hóa với môi trường tự nhiên bao quanh Một số nhà nghiên cứu chỉ trích rằng cách hiểu chung chung như vậy về khái niệm “vùng văn hóa” cho ta một cơ sở phân loại
tùy ý (the basis for classification is arbitrary, x [En.wikipedia: Cultural area])
khiến các vùng văn hóa được xác lập thiên về cảm tính mà thiếu sức thuyết phục khoa học Mặt khác, trong khi chú trọng đến mối liên hệ trực tiếp giữa hình thái văn hóa với môi trường tự nhiên bao quanh, các tác giả lại quên rằng mối liên hệ này sẽ biến đổi trong quá trình lịch sử [Культурология ХХ век 1998-I: 363]
Trang 37Nhận xét phê phán này sẽ càng trở nên rõ rệt khi chúng ta xem xét những kết quả phân vùng của các tác giả khác nhau áp dụng vào một không gian văn hóa cụ thể như Việt Nam
2.2 Tình hình nghiên cứu văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam
2.2.1 Việc nghiên cứu vùng văn hóa (theo nghĩa rộng) ở Việt Nam đã có
từ thời Trần, Lê với truyền thống làm sách địa chí ghi chép những đặc điểm địa hình khí hậu, chính trị, văn hóa của một nước, một vùng, một tỉnh Sách địa chí
mang tính toàn quốc có thể kể đến An Nam chí lược (1335) của Lê Tắc, Đại
Nam nhất thống chí (1882) của Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Việt địa dư toàn biên (1890) của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu…; sách địa chí đề cập đến
một vùng như Ô Châu cận lục (1555) của Dương Văn An, Gia Định thành
thông chí (khoảng 1820-1830) của Trịnh Hoài Đức, Thái Bình phong vật chí
(1900) của Phạm Văn Thụ… Tuy văn hóa không phải là nội dung chính của các sách này nhưng những khía cạnh văn hóa đều đã được các nhà nho sưu tầm biên soạn theo từng địa phương, những đặc trưng văn hóa của từng địa phương đôi khi cũng được chú ý
Đến thời cận đại, trong công trình nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên về
văn hóa Việt Nam nhan đề Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh, tuy không sử dụng khái niệm “vùng văn hóa” nhưng tác giả cũng đã rất chú ý đến tính đa dạng của văn hóa Việt Nam khi xem xét sự khác biệt về hoàn
cảnh sinh hoạt của cư dân ở những địa vực khác nhau trong nội bộ nền văn hóa
Việt Nam [Đào Duy Anh 2000: 16-23]
Vào năm 1980, tại Moskva Ngô Đức Thịnh đã bảo vệ luận án tiến sĩ sử học
nhan đề “Đông Dương là khu vực lịch sử - văn hóa” Vào năm 1986 tại Viện Văn hóa ở Hà Nội đã diễn ra một “Hội thảo khoa học về phân vùng văn hóa”
Hai sự kiện này đã mở đầu cho một giai đoạn mới trong việc nghiên cứu văn hóa vùng và vùng văn hóa ở Việt Nam Từ đó, nghiên cứu văn hóa vùng và vùng văn hóa Việt Nam được đặc biệt quan tâm và có nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu tính đa dạng của văn hóa Việt Nam cùng những biểu hiện đặc trưng của mỗi vùng văn hóa
Những năm 90 của thế kỷ XX có thể nói là thập niên được mùa về nghiên
cứu văn hóa vùng ở Việt Nam: Năm 1993 có cuốn sách Văn hóa vùng và phân
vùng văn hóa ở Việt Nam do Ngô Đức Thịnh chủ biên và ông cũng là tác giả của
10 trong tổng số 13 chương (3 chương còn lại của Vũ Ngọc Khánh, Vũ Ngọc
Trang 38Khánh - Tăng Kim Ngân, và Ngô Văn Doanh)5 Năm 1995 có tới hai cuốn sách
về văn hóa vùng được ra mắt: Các vùng văn hóa Việt Nam của Đinh Gia Khánh
và Cù Huy Cận (chủ biên), trong đó Đinh Gia Khánh viết 7 trong 12 chương;
Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay của Huỳnh Khái
Vinh (chủ biên) và Nguyễn Thanh Tuấn (không ghi rõ phân công tác giả) Và
cuối cùng, năm 1998 có cuốn Việt Nam: cái nhìn địa - văn hóa của Trần Quốc
Vượng tập hợp các bài viết tản mạn về văn hóa các vùng miền Việt Nam vào các thời kỳ khác nhau của tác giả
Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa vùng và các vùng văn hóa Việt Nam vừa nêu, trong hai thập niên từ 1990 đến 2010, một số
sách về văn hóa Việt Nam nói chung (như Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần
Quốc Vượng chủ biên 1997) cũng có đề cập đến phân vùng văn hóa và văn hóa vùng Ngoài ra, còn có một loại bài báo, sách viết về các vùng văn hóa riêng biệt
và những khía cạnh của chúng
2.2.2 Để tiến hành nghiên cứu văn hóa của một vùng thì phải bắt đầu từ
việc khu biệt vùng đó với các vùng xung quanh, phải hình dung được toàn bộ danh sách các vùng cùng cấp với nó để có đối tượng so sánh, tức là phải bắt đầu
từ việc phân vùng văn hóa
Cho đến nay, có nhiều cách phân vùng văn hóa Việt Nam Tiêu biểu có thể
kể đến là cách phân thành 7 vùng của Ngô Đức Thịnh [1993], 8 vùng của Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn [1995], 9 vùng của Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận [1995], 6 vùng của Trần Quốc Vượng [cb, 1997] (x bảng I-1)
Bảng 0-1: Đối chiếu bốn bảng phân vùng văn hóa Việt Nam
Trần Quốc Vượng [1997]
1 Vùng văn hóa
Việt Bắc
1 Vùng văn hóa miền núi phía Bắc
1 Vùng văn hóa Việt Bắc
1 Vùng văn hóa Việt Bắc
2 Vùng văn hóa
đồng bằng Bắc Bộ
2 Vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng
2 Vùng văn hóa đồng bằng miền Bắc 2 Vùng văn hóa
châu thổ Bắc Bộ
3 Vùng VH Thăng Long-Đông Đô-HN
3 Vùng văn hóa
Tây Bắc và miền
núi Bắc Trung Bộ
3 Vùng văn hóa Tây Bắc
4 Vùng văn hóa Tây Bắc
3 Vùng văn hóa Tây Bắc
4 Vùng văn hóa 5 Vùng văn hóa 4 Vùng văn hóa
5
Năm 2004 Ngô Đức Thịnh đã viết lại hoặc để lại những chương của các tác giả khác và tái bản cuốn này dưới cùng tiêu đề tại Nxb Trẻ [Ngô Đức Thịnh 2004]
Trang 395 Vùng văn hóa
duyên hải trung và
Nam Trung Bộ
5 Vùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ
7 Vùng văn hóa Nam Trung Bộ
6 Vùng văn hóa
Trường Sơn - Tây
Nguyên
6 Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên
8 Vùng văn hóa Tây Nguyên
5 Vùng văn hóa Tây Nguyên
7 Vùng văn hóa
Gia Định - Nam
Bộ
7 Vùng VH Đồng Nai - Gia Định (Đông Nam Bộ)
9 Vùng văn hóa đồng bằng miền Nam
6 Vùng văn hóa Nam Bộ
8 Vùng VH ĐB sông Cửu Long
Trong 4 bảng phân vùng văn hóa Việt Nam nêu trên chỉ có 2 vùng đạt được sự thống nhất tương đối là vùng văn hóa Việt Bắc và vùng văn hóa Tây Nguyên Các vùng còn lại đều có kết quả rất khác nhau
Trong cả 4 công trình, các tác giả đều chỉ đưa ra kết quả phân vùng một cách cảm tính mà không có một lý luận hoặc một phương pháp phân vùng nào được đưa ra làm cơ sở (ngoài định nghĩa vùng văn hóa cũng chỉ có ở hai tác giả) Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn còn nói rõ rằng việc phân vùng
của mình chỉ cốt để “hình dung đại thể (một cách trực quan cảm tính) về các
cấp độ vùng, tiểu vùng văn hóa với không gian văn hóa, và ranh giới tương đối của chúng” [Huỳnh Khái Vinh (cb) - Nguyễn Thanh Tuấn 1995: 91]
2.3 Bộ công cụ và phương pháp nghiên cứu văn hóa vùng
2.3.1 Việc xây dựng bộ công cụ và phương pháp nghiên cứu văn hóa vùng
cần bắt đầu từ việc xác lập định nghĩa vùng văn hóa
Như đã nói, định nghĩa vùng văn hóa của các nhà nghiên cứu phương Tây thì bị chính phương Tây phê bình là chung chung, khiến cho việc phân loại thiếu
cơ sở khoa học chặt chẽ, sinh ra tùy ý (x mục 2.1.2 ở trên)
Có thể là để khắc phục nhược điểm đó, định nghĩa vùng văn hóa của một
số nhà nghiên cứu Việt Nam đã có phần cụ thể hơn
Chẳng hạn, Ngô Đức Thịnh định nghĩa: “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về
Trang 40trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” [1993: 99; 2004: 64]
Đối với Huỳnh Khái Vinh, “vùng văn hóa là một không gian văn hóa được tạo thành bởi các đơn vị địa lý dân cư địa phương nằm kề nhau liên tục; ở đó có một tập hợp (có khi là hệ thống) các cơ cấu và đặc trưng văn hóa được hình thành trên cơ sở tương đồng về quan hệ nguồn gốc và lịch sử; và có một “mức
tự chủ” nhất định và được phân biệt rõ ràng giữa các vùng văn hóa với nhau” [Huỳnh Khái Vinh (cb) - Nguyễn Thanh Tuấn 1995: 96]
Định nghĩa của Trần Quốc Vượng thì tập trung vào tính hệ thống một cách quyết liệt: “Một vùng văn hóa là một tổng thể - hệ thống với một cấu trúc - hệ
thống (structure- system) bao gồm các hệ dưới – hay tiểu hệ (sub-system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)” [Trần Quốc Vượng 1998: 401]
Ba định nghĩa trên6 có thể phân tích thành các đặc trưng thành phần và đặt các đặc trưng đó trong sự so sánh với nhau như trình bày trong bảng I-2
Bảng 0-2: Phân tích so sánh ba định nghĩa về vùng văn hóa
2 với một cấu trúc - hệ thống bao gồm các tiểu
hệ
3 dân cư sinh sống ở đó
từ lâu có quan hệ nguồn
gốc và lịch sử
3 hình thành trên cơ sở tương đồng về quan hệ nguồn gốc và lịch sử
−
4 đã diễn ra những giao
5 có thể phân biệt với
6
Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận [1995] thì không định nghĩa