Vì những lý do trên chúng tôi thực hiện luận văn với đề tài “Tang ma của người Việt miền Tây Nam Bộ” với mong muốn hiểu sâu hơn về văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt Tây Nam B
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
HUỲNH THỤY YẾN THANH
TANG MA CỦA NGƯỜI VIỆT
MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ 60.31.70
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN LONG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2014
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn .6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Bố cục luận văn .7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .8
1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Phong tục 8
1.1.2 Tang ma 8
1.1.3 Phong tục tang ma 8
1.1.4 Phân biệt tang ma và tang lễ 9
1.1.5 Văn hóa tiễn biệt người chết 9
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ 10
1.2.1 Điều kiện tự nhiên ở miền Tây Nam Bộ 10
1.2.2 Đời sống văn hóa ở miền Tây Nam Bộ 15
1.2.3 Tính cách người Việt ở miền Tây Nam Bộ 23
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA TIỄN BIỆT NGƯỜI CHẾT TRONG TANG MA TRUYỀN THỐNG NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 27
2.1 Giai đoạn trước khi chết 28
2.1.1 Viết di chúc, di ngôn 29
2.1.2 Chọn đất làm huyệt mộ 32
2.2 Giai đoạn vừa chết 33
2.2.1 Lễ mộc dục (tắm gội): 33
2.2.2 Lễ ngậm hàm (Lễ phạn hàm) 35
Trang 32.2.3 Lập tang chủ và người phụ tang 38
2.2.4 Lễ khâm (tẩn) liệm 40
2.3.5 Lễ nhập quan 42
2.2.6 Lễ thành phục, phát tang, nhạc tang .43
2.2.7 Lễ cúng cơm .49
2.2.8 Lễ Động quan/ Di quan 51
2.2.9 Lễ an táng người mất 55
2.3 Giai đoạn sau khi an táng 57
2.3.1 Lễ mở cửa mả 58
2.3.2 Lễ (ngày, đám) giỗ 62
2.3.2.1 Giỗ đầu (tiểu tường) 63
2.3.2.2 Giỗ hết (đại tường) 64
2.3.3 Lễ tục thờ cúng tổ tiên 67
2.3.4 Lễ tảo mộ 72
CHƯƠNG 3: VĂN HÓA TIỄN BIỆT NGƯỜI CHẾT CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ ĐỐI CHIẾU VỚI MỘT SỐ TỘC NGƯỜI TRONG KHU VỰC 74
3.2.1 Những tương đồng, khác biệt về nhận thức 74
3.2.2 Những tương đồng, khác biệt về nghi lễ .84
3.2.3 Những tương đồng, khác biệt về hoài tưởng .93
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
DANH MỤC HÌNH 117
PHỤ LỤC 119
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 132
Trang 4để phù hợp với văn hóa của dân tộc Đất nước ta đang đi vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh sự thúc đẩy phát triển kinh tế, mặt trái của cơ chế thị trường đang hủy hoại bản sắc văn hóa dân tộc Trước tình hình cấp bách đó, Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khóa VIII) đã chỉ ra những thực trạng về vấn đề này: “Tệ sùng bái nước
ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng,
cá nhân vị kỷ v.v đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc” Từ đó,
Đảng đã đề ra nghị quyết “xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Nghi lễ vòng đời là một môi trường khá bền vững trong việc bảo lưu vốn văn hóa truyền thống Bởi chính trong những nghi lễ ấy chứa đựng mọi yếu tố của bản sắc văn hóa: từ không gian (chiều rộng) đến thời gian (chiều dài) của văn hóa, từ văn hóa cá nhân đến văn hóa cộng đồng Đặc biệt, nó chứa đựng đời sống tâm linh, tâm hồn tình cảm của một tộc người Những nghi lễ vòng đời là những sợi dây vô hình xâu chuỗi, vừa gắn kết, vừa trói buộc các cá nhân với cộng đồng, giữa thế giới những người đang sống với nhau và với những người
đã chết Bên cạnh hôn lễ, trong đời sống tâm linh của người Việt đặc biệt coi
trọng việc “ra đi” đó là khi con người chết Người Việt quan niệm chết nghĩa là
đi về thế giới bên kia, đó là cõi âm là cõi vĩnh hằng của con người Vì thế trong cuộc sống người ta thường sống tốt với nhau hơn, thể hiện tính nhân văn, nhân bản sâu sắc
Theo lẽ tự nhiên, vạn vật có sinh là có tử, đã hình thành thì có lúc hủy diệt Cuộc sống con người không thoát khỏi định luật tự nhiên đó Con người
Trang 52
thường rất sợ và không tránh khỏi cái chết Chết là chung cuộc, nhưng cũng có quan niệm: chết là sự chuyển đổi cuộc sống này sang cuộc sống khác, cho nên
người Việt gọi là “qua đời” Lý luận có nhiều lẽ khác nhau, nhưng cái chết đối
với đa số loài người là chuyện buồn thảm, mất mát Riêng người Việt có quan
niệm rất riêng: chết là “đi theo ông bà” cũng có ý “đi xa” Từ thuở loài người
còn sơ khai, chung quanh cái chết có nhiều lễ nghi đặc thù, có tính thiêng liêng theo từng tín ngưỡng khác nhau Trong xã hội tín ngưỡng đa thần quan niệm người chết cũng không yên, thường bị ma quỷ quấy phá Vì thế có nhiều lễ tục thờ cúng ra đời và nước ta cũng như vậy Và chính vì thế nhiều người cho rằng
là mê tín dị đoan Xã hội ngày càng phát triển, những tục lệ cổ xưa trong tang ma
đã được giản lược vì không còn phù hợp với xu thế ngày nay
Cho đến nay, văn hóa Nam Bộ nói chung và văn hóa Tây Nam Bộ nói riêng đã được nghiên cứu khá nhiều trên mọi bình diện Trong hơn 300 năm hình thành và phát triển, vùng đất mới Tây Nam Bộ đã trở thành đề tài có tính thời sự đông đảo của giới nghiên cứu nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu về đời sống tâm linh trong tang ma người Việt Tây Nam Bộ Đặc biệt là văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt ở miền sông nước, nơi đã kế thừa, bảo lưu, giao lưu tiếp biến với nhiều tộc người cộng cư với nhau trên cùng khu vực nhưng người Việt nơi đây vẫn giữ gìn văn hóa riêng của mình
Chúng tôi mong muốn góp phần nhận diện những giá trị vật chất và tinh thần về tang ma của vùng đất Tây Nam Bộ và ít nhiều có những đóng góp cho việc giữ gìn, bảo tồn văn hóa truyển thống dân tộc nói chung và miền Tây Nam
Bộ nói riêng Vì những lý do trên chúng tôi thực hiện luận văn với đề tài “Tang
ma của người Việt miền Tây Nam Bộ” với mong muốn hiểu sâu hơn về văn hóa
tiễn biệt người chết của người Việt Tây Nam Bộ đó là những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc để giữ gìn, phát huy những giá trị đó Dòng chảy Việt
từ xưa đến nay vẫn luôn đương đầu với những thách thức và những giá trị văn hóa truyền thống luôn là nền tảng, sức mạnh đưa đất nước ngày càng phát triển
và hội nhập với thế giới
Trang 63
2 Mục đích nghiên cứu
Chúng ta đều biết, phong tục tập quán là lề lối, thói quen lâu đời của một dân tộc, hay một đất nước Mỗi đất nước có phong tục tập quán riêng, mỗi địa phương ngoài có phong tục chung của toàn quốc cũng có phong tục riêng của từng địa phương
Văn hóa Việt ở Nam Bộ vốn thống nhất trong sự đa dạng với văn hóa cả nước Khu vực Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng là miền đất được tập hợp bởi các dân tộc người Việt sinh sống đan xen giữa các dân tộc: Chăm, Khmer, Hoa Do đó, cùng với phong tục tập quán người Việt các văn hóa của dân tộc khác đã tạo nên một văn hóa Tây Nam Bộ rất khác
Quan, Hôn, Tang, Tế là những vấn đề lớn trong đời sống tinh thần của dân tộc theo truyền thống văn hóa Đông Phương Đặc biệt là Hôn lễ và Tang lễ là điều hệ trọng đối với mỗi đời người Ngày nay, xu hướng tiến bộ đơn giản các nghi thức tổ chức nhưng đơn giản quá ngày càng mất đi cái hồn của dân tộc Việc hồi phục một số nét văn hóa truyền thống dân tộc trong tang ma được đông đảo nhân dân thực hiện ở nhiều nơi Chúng ta cần biết thêm nguồn gốc của nó, giá trị tinh thần và quan niệm của ông cha xưa kia về văn hóa tiễn biệt người mất như thế nào và nó đã được biến đổi, giản lược ra sao trong cuộc sống xã hội đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Người viết mong muốn giữ gìn, bảo tồn những văn hóa truyền thống của người Việt miền Tây Nam Bộ Bên cạnh còn có vấn đề tránh lãng phí, giữa gìn an ninh trật tự xã hội cũng được nhiều người quan tâm khi thực hiện nếp sống văn hóa mới
Tiếp bước những người đi trước, người viết mong muốn nghiên cứu về tang ma và quan trọng thông qua tang ma để hiểu sâu hơn văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt miền Tây Nam Bộ tại vùng đất mà người viết được sinh ra
3 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu phong tục tang ma của dân tộc Việt Nam thì không có gì là mới vì có nhiều người nghiên cứu Song những nghiên cứu đó chỉ khái quát về
Trang 7Nhóm thứ nhất: Nhóm tư liệu biên khảo về văn hóa, phong tục đề cập đến
tang ma như là một yếu tố trong chỉnh thể Tiêu biểu như: Việt Nam phong tục (1915) của Phan Kế Bính, Việt Nam văn hóa sử cương (1951) của Đào Duy Anh, Phong tục Việt Nam (1969) của Toan Ánh đều dành một vài trang giới
thiệu về đặc điểm tang ma như là một thành tố trong hệ thống văn hóa, phong tục
Việt Nam Tác giả Bùi Xuân Mỹ (2001) Tục thờ cúng của người Việt, Vũ Hi
Tô (1927) Thọ Mai gia lễ diễn nghĩa Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh với Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ Diệu Thanh, Trọng Đức (bs) Phong tục và những điều kiêng kị Các tác giả chỉ đi vào các
bước trong tang lễ chưa giải mã các tín hiệu văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể trong tang ma Tiếp theo là tập bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam (1977) và
Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996) của Trần Ngọc Thêm đã dành từ gần
4 trang bàn về tang ma trong văn hóa Việt Nam với những dấu ấn truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước đó là sự kết hợp triết lý âm dương trong tang ma
Văn hóa tâm linh của Nguyễn Đăng Duy, tác giả cũng đã dành cả một chương
viết về tâm linh trong tang ma và thờ cúng tổ tiên của người Việt nói chung chưa
đi sâu phân tích từng vùng miền
Nhóm thứ hai: Nhóm tư liệu về bút kí của tác giả như Sơn Nam với các
tác phẩm nghiên cứu về người Việt miền Tây Nam Bộ các tác phẩm như Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam v.v tác giả
cũng dành 4 trang sơ lược tục tang ma của người Việt miền Tây Nam Bộ chưa đi sâu vào đặc trưng của vùng đất này
Không thể không nhắc đến các tác phẩm văn chương của tác giả Hồ Biểu
Chánh tạo nên những cuốn tiểu thuyết, biên khảo sống động về phong tục tập
quán, cuộc sống và tính cách người dân Nam Bộ Tác giả Phi Vân với tập phóng
Trang 85
sự “Đồng Quê” năm 1942 đã gây ấn tượng mạnh về cảnh sinh hoạt nông thôn,
về những phong tục tập quán đặc thù của vùng đất Tây Nam Bộ đầu thế kỷ XX Nhóm thứ ba: Nhóm nghiên cứu chuyên sâu riêng biệt về tang lễ, các tác giả phát hành các sách, báo, tạp chí một số chuyên đề về tang lễ người Việt Nam
nói chung như Trương Thìn, Nghi lễ Vòng Đời NXB Thời Đại, Phạm Côn Sơn
Lễ nghi cưới hỏi, tang chế Việt Nam, Trương Thìn 101 Điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam v.v một số sách khác nhưng chỉ viết về các
nghi thức trong tang lễ chung của Việt Nam chưa nêu được tính nổi bật của tang
ma Việt Nam hay khu vực Tây Nam Bộ Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thành
Đạo với đề tài Văn hóa tang lễ của người Việt Thành phố Hồ Chí Minh với
luận văn này có tương đồng về chủ thể văn hóa với đề tài của người viết Với luận văn của Nguyễn Thành Đạo đã nêu nổi bật lên những đặc trưng riêng trong văn hóa tang lễ của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh và so sánh được nét tương đồng và dị biệt tang lễ Nam bộ và Bắc bộ Bên cạnh đó luận văn cũng đóng góp chỉ ra được sự khác nhau và giống giữa tang lễ Việt Nam và Trung Hoa Phần nào đã giúp cho luận văn chúng tôi tham khảo và kế thừa một số đặc trưng riêng trong tang lễ của người Việt
Chúng tôi nghiên cứu qua 3 nhóm tư liệu trên nhưng các tư liệu chỉ liệt
kê, giới thiệu về tang lễ của người Việt nói chung hoặc một số tác giả Sơn Nam,
Hồ Biểu Chánh, Phi Vân cũng chỉ giới thiệu sơ lược qua tang ma người Việt ở miền Tây chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ Đặc biệt thông qua tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ nêu bật được văn hóa tiễn biệt người chết trong tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ, nêu bật lên văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt miền Tây Nam
Bộ đã được giản lược các bước nghi lễ trong tang ma và đối chiếu một số đặc trưng tiêu biểu của văn hóa tiễn biệt người chết giữa người Việt với các tộc
Trang 95 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Nhận diện và giải mã văn hóa tiễn biệt người chết trong tang ma người Việt Tây Nam Bộ và sự giao lưu tiếp biến trong tang ma nhằm chỉ ra những giá trị, đặc trưng riêng của tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ Đây sẽ là một công trình nghiên cứu về đặc điểm tang ma theo vùng một cách có hệ thống theo hướng tiếp cận văn hóa học
Ý nghĩa thực tiễn: Đặt vấn đề quản lý, nhận thức của người Việt miền Tây Nam Bộ về văn hóa tiễn biệt người chết trong tang ma ngày nay Góp phần xây dựng, định hướng tổ chức tang ma thể hiện văn hóa tiễn biệt người chết vừa văn minh, thân thiện môi trường và không mất đi cái hồn dân tộc
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thuộc chuyên ngành Văn hóa học, nên hướng nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học là chính, bên cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Phương pháp này nhằm tổng hợp các tài liệu cùng chức năng đang còn rời rạc thành tập hợp và phân tích, đi sâu nghiên cứu văn ứng xử của người sống dành cho người chết trong tang ma
Phương pháp đối chiếu – so sánh:
Người viết sử dụng phương pháp này để thấy rõ những nét tương đồng và khác biệt giữa tang ma của miền Tây với tang ma các tộc người cùng sống trong khu vực, từ đó rút ra đặc trưng trong tang ma của người Việt miền Tây Nam Bộ Bên cạnh đó, phương pháp này còn giúp thấy được những thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ
Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Phương pháp nghiên cứu liên ngành thể hiện qua việc sử dụng thuật ngữ của các chuyên ngành liên quan và những ngành gần với văn hóa học; sử dụng
Trang 10Bộ và ghi âm để thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu
rõ nét nhất Từ đó giúp nhận diện những đăc trưng văn hóa của người Việt ở vùng đất miền Tây Nam Bộ
Chương 2: Văn hóa tiễn biệt người chết trong tang ma truyền thống người Việt miền Tây Nam Bộ
Trong chương này người viết nghiên cứu về văn hóa tiễn biệt trong tang
ma của Người Việt miền Tây Nam Bộ Qua những nghi lễ, nghi thức quan trọng
có ý nghĩa văn hóa, thể hiện rõ nhất là văn hóa ứng xứ với người chết của người Việt sinh sống ở vùng đất này
Chương 3: Văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt miền Tây Nam đối chiếu với một số tộc người trong khu vực
Là chương đối chiếu văn hóa tiễn biệt người chết của các tộc người ở cùng khu vực trong đó chúng tôi chú ý người Việt đối chiếu với dân tộc Khmer, Hoa, Chăm để nhận diện sự tương đồng, khác biệt về văn hóa tiễn biệt của các tộc người, nhầm chỉ ra những đặc trưng về văn hóa tiễn biệt của người Việt nơi đây
Trang 11Từ ba định nghĩa trên xác định nội dung của khái niệm như sau: Phong
tục là thói quen được cộng đồng tồn tại truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất về mặt văn hóa của cộng đồng
1.1.2 Tang ma
Đám tang hay đám ma, lễ tang, tang lễ, tang ma là một trong những phong tục của Việt Nam Bao gồm nhiều quy trình của những người đang sống thực hiện đối với người vừa chết [http://vi.wikipedia.org]
Theo Hoàng Phê đám ma, đám tang là lễ để mọi người cùng nhau tiễn đưa người chết về nơi an nghỉ cuối cùng, theo nghi thức đám ma [Hoàng phê, Tự điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2011: 375]
Tang ma và các hình thức thờ cúng là thể hiện sự xót thương, lòng hiếu thuận của những người sống đối với người quá cố [Bộ VHTT, 2004: 677]
1.1.3 Phong tục tang ma
Khi nói về phong tục tang ma, Trần Ngọc Thêm cho rằng: phong tục tang
ma của người Việt Nam nói chung thể hiện hai tâm lý: giằng kéo nhau là nuối tiếc người thân và đưa tiễn qua thế giới bên kia [Trần Ngọc Thêm, 2001: 260] Đồng thời tác giả quan niệm rằng con người cấu tạo bởi hai phần xác và hồn, sau khi chết linh hồn sẽ về nơi thế giới bên kia cộng với thói quen sống bằng tương
lai nên con người sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước luôn “bình tĩnh, yên tâm
Trang 129
đón chờ cái chết” chuẩn bị chu đáo cho cái chết của mình hoặc của người thân
và đưa tiễn người thân vào cuộc hành trình về nơi thế giới bên kia
1.1.4 Phân biệt tang ma và tang lễ
Trong ngôn ngữ dân gian ngoài dùng từ tang ma thì nhân dân còn dùng từ khác nhau nhưng nghĩa giống nhau như: ma chay, đám ma, đám chết v.v
Tang lễ các nghi lễ chôn cất người chết được cử hành trọng thể [tự điển
Hoàng Phê (chủ biên) NXB Đà Nẵng, 2011: 1144] Từ đó có những từ: tang phục, tang sự, tang gia, tang chủ, tang quyến, để tang, bịt khăn tang, đeo băng tang, mãn tang, xả tang, tống tang, hộ tang v.v…
Có thể phân biệt tang ma và tang lễ như sau:
Tang ma có nghĩa rộng hơn tang lễ và điều phân biệt rõ nhất là tang ma bao hàm cả tang lễ
Tang lễ chỉ là những nghi lễ thực hiện khi con người qua đời còn tang ma thì cả một quá trình từ lâm chung đến hoàn tất chôn cất và thậm chí cả việc cúng giỗ
1.1.5 Văn hóa tiễn biệt người chết
Văn hóa tiễn biệt người chết là hành vi đẹp đẽ trong ứng xử của người sống đồi với người chết Những hành vi ứng xử ấy bao gồm rất nhiều nghi lễ với ý nghĩa người sống mong muốn chăm sóc, đưa tiễn người chết đoạn đường cuối cùng về thế giới bên kia Bên cạnh đó, người sống cũng tin rằng khi thực hiện đủ các nghi lễ tiễn đưa người chết thì người chết mới thuận lợi đến nơi mà người chết có thể gặp ông bà, cha mẹ người thân của mình
Văn hóa tiễn biệt phản ánh phần nào văn hóa của vùng miền, dân tộc
Chính vì quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận” nên người sống thực hiện thật
chu đáo và đầy đủ nhất các nghi lễ để tỏ lòng thương xót khi người thân qua đời
Trang 1310
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tang ma người Việt miền Tây Nam Bộ
1.2.1 Điều kiện tự nhiên ở miền Tây Nam Bộ
Vùng đất miền Tây Nam Bộ - khu vực sông Cửu Long địa bàn định cư cuối cùng của thế hệ lưu dân Việt – là một vùng thiên nhiên vừa hào phóng vừa khắc nghiệt, nơi hàm chứa nhiều tiềm năng phong phú, khí hậu thuận hòa, sông rạch chằn chịt, có nhiều cửa sông lớn thông ra đại dương tạo nên những điều kiện đặc thù cho sự quần cư và sáng tạo đời sống cộng đồng, cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, khai thác thủy hải sản, gầy dựng những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và mở rộng giao lưu với bên ngoài Tất cả các nhân tố tự nhiên và
xã hội đã có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tính cách, tâm lý, phong cách ứng xử của người Việt nơi đây
Đặc điểm tự nhiên nổi bật nhất của Tây Nam Bộ ảnh hưởng đến phong tục
tang ma là sông nước và kênh rạch Ở những nơi bị ngập nước như tiểu vùng
ngập kín (Đồng Tháp Mười) và tiểu vùng ngập hở (Tứ giác Long Xuyên), nếu có tang vào mùa nước nổi, thì thường được làm như sau: đặt quan tài trên ngọn cây thật cao hoặc đặt áo quan trên thân cây nhưng thường làm giá đỡ hình chữ X, hoặc bó xác lại, buộc đá dìm xuống nước để không bị nước cuốn trôi, đánh dấu lại đợi đến khi nước rút rồi đem chôn Những hình thức ấy tạm lưu xác người chết trong mùa nước nổi để đến khi nước rút sẽ đem chôn Bên cạnh do ảnh hưởng của khu vực đất trũng dễ ngập nước nên ở Tây Nam Bộ khi xây mộ thì
người ta thường xây kim tĩnh bên ngoài để tránh ẩm do nước trong đất làm ảnh
hưởng thi hài người chết
Cư dân Việt ở Tây Nam Bộ từ những dân nghèo xa xứ đi vào Nam theo từng nhóm cư trú riêng lẻ ven các con sông, kênh rạch nên quan hệ gia tộc yếu, liên kết lỏng lẻo và vùng đất mới hoang vu nhiều thú dữ Bởi vậy người Việt miền Tây Nam Bộ không có truyền thống chôn người chết trong một khu vực nghĩa địa chung của làng hay dòng họ như Bắc Bộ và Trung Bộ, mà thay vào đó thường chôn người chết sau vườn hay bên hông nhà, trước sân nhà Các nấm mộ
Trang 1411
được quét vôi trắng (thường các gia đình người Việt Tây Nam Bộ dùng hay từ
“đi quét mộ” có nghĩa đi tảo mộ)
Gần 200 năm trước, Trịnh Hoài Đức đã từng nhấn mạnh trong tập sách
của ông – quyển Gia định thành thống chí – như sau: “Đất Gia Định nhiều sông
rạch, cù lao, bãi cát, trong mười người có chín người biết bơi lội, chèo thuyền”,
“Đất Gia Định nhiều sông suối, nhiều người quen việc chèo thuyền, bơi nước, ưa
ăn nấm” Ở một đoạn khác, tác giả lại viết: “Ở Gia Định, chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng làm nhà ở, hoặc để đi chơi, đi thăm người thân thích, chở gạo, củi, buôn bán rất tiện lợi: Chỉ cần bấy nhiêu nhận xét của một tác giả xưa
cũng cho ta hiểu được vai trò, vị trí và tác dụng của sông rạch đối với các mặt hoạt động của đời sống con người nơi đây Chắc rằng những cư dân sống trên lưu vực những dòng sông lớn như người Ai Cập với sông Nil, người Ấn độ với sông Hằng, người Trung Quốc với sông Hoàng Hà hoặc sông Dương Tử, đều thừa hưởng những tài nguyên thiên nhiên ban tặng dành cho họ nhưng có lẽ ít nơi đâu cảnh quan trải dài và xen kẻ các dải đất ngọt - phèn - mặn - lợ với nhiều đặc điểm sinh thái vừa khác nhau vừa hòa hợp nhau như vùng sông rạch ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Về phạm vi, vùng văn hoá này bao gồm địa bàn 12 tỉnh thành và một
thành phố thuộc trung ương: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Thành Phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
Về địa hình là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông (sông dài thứ 12
trên thế giới), đặc trưng địa hình Tây Nam Bộ có độ cao trung bình thấp nhất nước Có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia,
phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo
sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu Dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn, trên trầm tích đầm mặn trũng
Trang 1512
thấp nhất như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Địa hình và thổ nhưỡng của Tây Nam Bộ có độ cao trung bình chưa đầy 2mét, là vùng đất phù sa mới Dọc theo biên giới Campuchia có địa hình cao hơn cả, cao từ 2mét – 4mét, sau đó thấp dần vào đến trung tâm đồng bằng ở cao 1,0 – 1,5 mét, và chỉ còn 0,3 – 0,7 mét ở khu vực giáp triều, ven biển [Tổng cục Thủy Lợi 2012 – 1] Do đất thấp mà trong dân
gian có tên gọi vùng phía tây sông Hậu là “miệt dưới” so với vùng sông Tiền
“miệt trên”; đến lượt mình cả không gian Tây Nam Bộ lại là “miệt dưới” so với Đông Nam Bộ và với Campuchia “miệt trên” Người Khmer ở Tây Nam Bộ được gọi bằng tiếng Khmer là “Khmer Krom” có nghĩa là “Khmer dưới” (so với
Lục Chân Lạp) Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao nhất là núi Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m)
Hệ thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Cửu Long Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long mà diện tích lên tới 40.518.5 km² Nét nổi bật của Tây Nam Bộ như một không gian địa lý liền kề liên tục nằm ở chỗ đây là một đồng bằng phù
sa ngọt lớn nhất nước do hệ sống Sông Cửu Long bồi đắp lên Với lượng nước trung bình hằng năm vào khoảng 4.000 tỷ mét khối, vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa ngọt [vi.wikipedia.org/wiki/Tây Nam Bộ] Điểm bất lợi là lượng phù sa bồi lắng quá lớn làm cạn các luồng lạch và cửa biển Các vùng trũng ở miền Tây như Đồng Tháp Mười ở hai bên sông Tiền, tứ giác Long Xuyên ở phía Tây sông Hậu, là những hồ nước thiên nhiên góp phần điều hoà lưu lượng cho sông Cửu Long vào mùa nước nổi tháng 9, tháng 10 Ngoài khơi là vùng biển nông, có nhiều đảo và quần đảo như Côn Sơn, Thổ Chu, Nam Du, Phú Quốc v.v Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ (Morisawa M, 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước
Trang 1613
công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit)
Có thể nói Tây Nam Bộ là nơi hội tụ của những kênh rạch sông ngòi, gắn
bó với những điểm đó là những chiếc ghe, chiếc xuồng, đó là những hình ảnh gắn liền với đời sống hằng ngày của người dân vùng này Trải qua hàng thế kỷ, hình ảnh đó ngày càng được tôn vinh và gìn giữ Bởi đây là nét đẹp văn hóa mà nơi đây có được Ghe xuồng cũng là phương tiện để truyền tải văn hóa dân gian
đi khắp nơi Chính hình ảnh những chiếc ghe, chiếc xuồng trên sông rạch gắn bó suốt đời với cư dân miền Tây Nam Bộ, cho nên đã xuất hiện những điệu hò, câu hát như hò chèo ghe, hò mái dài, mái cụt, hò sông Hậu, hò Đồng Tháp v.v và
đã tạo nên sắc thái văn hóa riêng của văn minh miệt vườn
Biển vùng Tây Nam Bộ đa dạng, phân biệt phía đông và phía tây khá rõ ràng Ở phía đông của vùng Tây Nam Bộ do bên trong là đồng bằng châu thổ với mạng lưới kinh rạch và hệ thống sông Cửu Long lớn nhất nước, độ dốc rất yếu, còn bên ngoài là cửa sông có phù sa bồi đắp, cho nên biển khá nông, cả việc đánh bắt cá và giao thông biển đều không thuận tiện Tình hình khá giống với biển ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Sang phía Tây của vùng Tây Nam Bộ thì tình hình khá hơn; tuy bên trong vẫn là đồng bằng châu thổ với mạng lưới kinh rạch dày đặc nhưng không có sông lớn chảy qua nên không có phù sa bồi đắp ở cửa biển, do vậy biển bên ngoài tương đối sâu, hải sản phong phú, giao thông hàng hải thuận tiện
Về khí hậu, miền Tây Nam Bộ là vùng tương đối điều hoà, ít bão quanh
năm nóng ẩm, không có mùa lạnh mang tính chất gió mùa cận xích đạo của một vùng nhiệt đới ẩm Chế độ gió mùa này tạo ra hai mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung đến 80 – 90% lượng mưa cả năm Trong mùa mưa có gió mùa Tây – Nam từ Ấn Độ Dương (phía Vịnh Thái
Trang 17Riêng phần gió mùa thổi từ hướng đông và Đông - Nam vào ven biền Tây Nam Bộ có gây ảnh hưởng ít nhiều Do gió này thổi ngược hướng dòng sông
Tiền, sông Hậu nên dân địa phương gọi là “gió chướng”2 Gặp lúc thủy triều lên thì gió chướng sẽ dồn nước biển mang theo chất mặn vào sâu trong nội địa, gây ảnh hưởng đến mùa lúa và chất đất vùng ven biển
Sông rạch nhiều, thủy sản đầy ắp, cây cối, muông thú khắp cả vùng Lê Quí Đôn đã từng miêu tả trong tập bút ký về Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII,
rằng nơi đây “giá thóc rẻ không nơi đâu bằng, gạo nếp, gạo tẻ đều trắng, dẻo
Tôm cá rất to và ngon nhiều không ăn hết” 3
Nhấn mạnh những ưu đãi thiên nhiên không có nghĩa rằng chinh phục
đồng bằng trù phú này nhẹ nhàng, dễ dàng Trái lại, công cuộc“khai sơn phá
thạch” đầy gian lao vất vả, khi mà công cuộc khai hoang chủ yếu dựa vào sức
lao động của đôi tay con người với chiếc lưỡi cày, cây rựa, cái cuốc v.v… Trần Văn Giàu, khi nói về quê ông, tỉnh Long An mà diện tích phần lớn nằm trên
Đồng Tháp Mười, đã viết: “Cái đẹp vừa phải của Long An ngày nay là kết quả
thu được của muôn trùng gian lao để khắc phục một thiên nhiên vốn khắc nghiệt… nam thì mặn, bắc thì phèn, đông thì mặn, nước ngọt ít, quá ít”
Trang 1815
Hình 1: Ghe, xuồng phương tiện di chuyển ở miền Tây Nam Bộ
(Nguồn Internet)
1.2.2 Đời sống văn hóa ở miền Tây Nam Bộ
Vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngay trong buổi đầu khai phá, đã có đa dân tộc sống chung xen kẽ với nhau Đó là một điểm đáng chú ý so với bất cứ vùng nào trên đất nước Việt Nam Cũng như dân tộc Việt, mỗi dân tộc ít người đều có một sắc thái văn hóa riêng của mình cống hiến vào sự phong phú về văn hóa chung của khu vực
Theo dòng thời gian, do những ảnh hưởng qua lại với các cộng đồng cùng chung sống, do sự giao lưu văn hóa với các dân tộc láng giềng vùng Đông Nam
Á, đồng thời dưới tác động của môi trường sống ở vùng đất mới, những sinh hoạt văn hóa người Việt ở Tây Nam Bộ (từ phong thái sản xuất đến ngôn ngữ giao tiếp, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội và các sinh hoạt nghệ thuật dân gian đa dạng khác) đã mang những sắc thái địa phương rất sinh động, độc đáo đồng thời vẫn bảo lưu những đặc điểm phổ biến và vững bền của văn hóa người Việt trong
cả nước Thực tế đó đã góp phần làm phong phú thêm, đa dạng thêm vốn văn hóa truyền thống của dân tộc
Trang 1916
Tuy chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng người Việt lại sống rất hòa đồng, luôn tôn trọng sự khác biệt và linh hoạt học hỏi các dân tộc anh em cùng cư trú trong quá trình tiếp xúc giao lưu văn hóa và tác động qua lại lẫn nhau Điều đáng chú ý trong đời sống văn hóa tinh thần ở nơi đây là trong quá trình cộng cư giữa người Việt, người Khmer, người Hoa, người Chăm đã diễn ra hiện tượng tồn tại đan xen nhiều tôn giáo khác nhau, trong khi giữa các dân tộc ấy vẫn giữ được tin thần bao dung về mặt tín ngưỡng Trong quá trình giao lưu, tiếng Việt dần dần trở thành tiếng phổ thông của các dân tộc anh em, trong khi hiện tượng song ngữ hay đa ngữ là hiện tượng bình thường ở các vùng cộng cư Việt – Khmer, Việt – Chăm, Việt – Khmer – Hoa Trong tiếng nói của dân tộc ít người, ngày càng chen nhiều tiếng Việt Ngược lại, tiếng Việt vùng này ngày càng phong phú ngoài những nguyên nhân khác còn nhờ vào sự đóng góp của tiếng các dân tộc anh em
Trong ngôn ngữ của người Việt, Khmer đồng bằng sông Cửu Long đã có
sự đan xen tiếng Triều Châu, Quảng Đông v.v thư cách xưng hô: Hia, Chế, Ỷ trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, như tôn giáo tín ngưỡng của người Hoa thờ trời, thờ Bà Thiên Hậu, Quan Công đã ảnh hưởng khá nhiều đến các cư dân Nam bộ Phần nhiều các gia đình ở Nam bộ đều có bàn thờ Thiên trước sân, thờ ông Địa, Thần Tài trong nhà, không ít nhà có bàn thờ Ngũ hành nương nương,
Bà Thiên Hậu, Quan Công Sân khấu cải lương Nam bộ, theo một số nhà
nghiên cứu cũng chịu ảnh hướng của sân khấu hát Quảng, hát Tiều của người Hoa Những dẫn liệu về sự giao lưu, tiếp nhận văn hóa của người Hoa, của các
cộng đồng cư dân Nam bộ, sẽ còn nêu ra nhiều hơn nữa Hơn hết đó là sự đóng góp của những thế hệ người Hoa cho sự thành tạo một nét văn hóa Nam bộ của Việt Nam
Chiếc “phảng”, chiếc “nóp”, cái “ cà ràng” vốn là của người Khmer đã được người Việt cải tiến thành dụng cụ quen thuộc và thích dùng hơn cho người làm nông ở đồng bằng sông Cửu Long Chiếc áo “bà ba” vốn có của người Việt
đã trở nên phổ biến đối với nhiều người dân tộc ít người Ngôi nhà sàn là kiểu cư trú truyền thống của người Khmer, nhưng người Việt ở Nam Căn, Đồng Tháp,
Trang 2017
Sóc Trăng, người Chăm ở Châu Đốc cũng sử dụng Hỏa thiêu và gởi tro trong các chùa là tập tục của người Khmer nhưng trong những vùng ở chung với người Việt, nhiều người Khmer cũng theo cách chôn cất, và ngược lại, một bộ phận người Việt cũng thực hiện việc hỏa tang và gởi tro ở chùa Ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, cả người Việt và người Hoa, người Khmer đều ăn Tết Nguyên Đán và Tết Chol Chonam – Thomay Không thể kể hết giao lưu văn hóa người Việt với văn hóa các dân tộc khác trong vùng trên tất cả các lĩnh vực Trong sự giao lưu đó, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, nền văn hóa của người Việt trong vùng cũng được nâng lên, được làm phong phú thêm với nhiều đặc sắc của dân tộc Việt Nam
Hiện nay, Tây Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt và các tộc người thiểu số là cư dân bản địa: Khmer, Hoa, Chăm Theo Tổng điều tra dân số và nhà
ở năm 2009, người Khmer ở Việt Nam có tổng số dân là 1.260.640 người, chiếm
1,47% dân số cả nước Trong đó nơi sinh sống đông nhất là vùng Tây Nam Bộ với 1.183.476 người, chiếm 93,8% tổng số Khmer ở Việt Nam và chiếm 6,88% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ Tại đây người Khmer cư trú tập trung đông nhất tại ba tỉnh: Sóc Trăng với 397.014 người (chiếm 30,7dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Khmer ở Việt Nam, Trà Vinh với 317.203 người (31,6% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số Khmer ở Việt Nam, và Kiên Giang với 210.889 người (12,5%dân số toàn tỉnh và 16,7% tổ số Khmer tại Việt Nam)
Người Hoa ở Việt Nam có tổng số dân là 823.071 người, chủ yếu sống tập
trung ở Đông Nam Bộ với số lượng 550.297 người Ở vùng Tây Nam Bộ chỉ có 177.178 người, chiếm 21,5% người Hoa tại Việt Nam và 1,03% tổng số dân Tây Nam Bộ Trong đó có ba nơi có đông người Hoa nhất là Sóc Trăng với 64.910 người, kế đến là Kiên Giang với 29.850 người, Bạc Liệu với 20.082 người [Dân
số và Nhà ở 2010:134 -146]
Người Chăm ở Việt Nam có một nền văn hóa đa dạng Nền văn hóa Chăm với những biểu hiện sinh động qua các công trình nghệ thuật (chạm trổ, điêu khắc trên đá), phong tục, tập quán, lễ hội và những nét văn hóa này mang
Trang 2118
đậm màu sắc tôn giáo Tôn giáo có vai trò hết sức quan trọng trong văn hóa Chăm cũng như có tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội của người Chăm Người Chăm sớm tiếp xúc với nền văn hóa Ấn Độ thông qua tôn giáo Văn hóa
Ấn Độ du nhập vào văn hóa Chăm, sau quá trình bản địa hóa, đã tạo nên Bàlamôn giáo Chăm và Hồi giáo Chăm mang những nét riêng Các tôn giáo này góp phần làm cho văn hóa Chăm có một diện mạo đa dạng và độc đáo trong bối cảnh văn hóa Việt Nam
Người Chăm ở Nam bộ có tổng cộng 30.382 người, trong đó ở vùng Đông
Nam Bộ có 16.559 người, ở vùng Tây Nam Bộ có 15.823 người Số người Chăm
ở Tây Nam Bộ chiếm 9,8% tổng số người Chăm ở Việt Nam và chiếm 0,09% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ trong đó đông nhất ở An Giang với 14.209 người Người Chăm ở Nam bộ có nguồn gốc với người Chăm Hroi và người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận, nhưng do những đụng độ lịch sử vào những thế kỷ trước, nhiều người Chăm đã rời Việt Nam di cư đến các nước khác như Campuchia, Thái Lan, Malaysia Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ thứ
XX, một bộ phận người Chăm ở Campuchia do mâu thuẫn với người Khmer bản địa và do sự ngược đãi của chính quyền nên đã tìm về cư trú tại An Giang và Tây Ninh tạo nên cộng đồng người Chăm ở hai tỉnh này Những năm sau đó, một
bộ phận nhỏ người Chăm từ hai tỉnh này chuyển đến một số địa phương khác ở Nam bộ sinh sống
Về dân số, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Việt có
73.594.427 người, chiếm 85,7% tổng dân số cả nước Riêng Tây Nam Bộ, người Việt có 15.811.571 người, chiếm 91,97% tổng số dân Tây Nam Bộ Trong đó có những địa phương có đông người Việt nhất là An Giang với trên 2 triệu người; bảy tỉnh thành Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Cà Mau mỗi nơi đều có trên 1 triệu dân [Dân số và Nhà ở 2010:134-146] Không những chiếm ưu thế tuyệt đối về số dân, người Việt còn phân bố ở khắp tất cả các địa phương, không nơi nào ở Tây Nam Bộ là không có người Việt Các tộc người Khmer, Hoa, Chăm dù có ở tập trung tại địa phương nào thì cũng vẫn chỉ là cư trú đan xen, xen kẽ với người Việt Do vậy, Tây Nam Bộ là một vùng
Trang 22Những khám phá khảo cổ học trên đất Nam Bộ đã cho biết rằng từ thưở
xa xưa, ít ra là cách ngày nay khoảng từ 4000 năm đến 2500 năm, con người đã
có mặt trên vùng đất này và phạm vi cư trú cùng hoạt động của lớp dân cư đầu tiên ấy bao quát một địa bàn rộng lớn, với mật độ cư trú khác nhau Vùng cư trú đông nhất lúc bây giờ không phải là châu thổ sông Cửu Long (vùng phù sa mới)
mà lại là vùng cao (vùng phù sa cổ), tức là vùng Đông Nam Bộ, hay nói chính xác hơn là vùng tiếp giáp giữa cao nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long Trong khi vùng cao – vùng Đông Nam Bộ - dân cư thời ấy có mật độ cư trú khá dày đặc thì ở vùng châu thổ sông Cửu Long, cho đến nay khảo cổ học chưa tìm thấy những di tích cư trú đích thực của lớp dân cư đầu tiên ấy Chỉ đến những thế
kỷ đầu công nguyên mới có những bằng chứng vật chất về vết tích cư trú của con người ở vùng tứ giác, Long Xuyên, vùng U Minh thượng ngày nay, trước hết là vùng Óc Eo – Ba Thê Có thể là đến thời kỳ này, những cư dân cổ mới bắt đầu di chuyển dần xuống vùng thấp, tức là vùng đồng bằng sông Cửu Long Đôi ba thế kỷ trước và sau Công nguyên, người Indonesian mở rộng cuộc khai phá xuống vùng thấp, mở rộng giao lưu với các dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á hải đảo và có thể với Ấn Độ Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VIII, người Indonesian và nhiều lớp người ngoại nhập (Thiên Trúc, Nguyệt Thị, Nam Dương ) tạo lập nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ và Đông Campuchia, dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh Ngoài trung tâm Óc Eo, nhà nước Phù Nam còn có một trung tâm chính trị, văn hoá và tôn giáo nữa trên vùng đất Long An, nơi có tới 100 di tích văn hóa Óc eo với 12.000 hiện vật, đặc biệt là quần thể di tích Bình Tả gồm ba cụm di tích: Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm
Tước Vào khoảng năm 550, vương quốc Chân Lạp (Khmer) tiêu diệt Phù Nam
Nền văn hoá Óc Eo vẫn còn tiếp diễn ở một số nơi trên đồng bằng sông Cửu
Trang 2320
Long nhưng đến cuối thế kỷ VIII thì tàn lụi hẳn, trùng hợp với các cuộc tấn công tàn phá của người Java Mặc dù vào đầu thế kỷ VIII đã có chứng tích về sự hiện diện của người Chân Lạp (Khmer) trên đồng bằng Nam Bộ, nhưng tình trạng chung của toàn vùng kể từ thời điểm đó là hoang phế
Người Khmer chỉ thực thụ định cư ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVI, tức sau khi vương quốc Chân Lạp bị người Xiêm đánh bại, phải dời đô đến Phnom Penh ngày nay vào năm 1434, và chuyển trọng tâm đất nước từ Tây Bắc xuống Đông Nam Biển Hồ Theo truyền thống, nơi họ chọn để định cư là các vùng đất cao ở Nam Bộ, tạo thành các khu vực cư trú tập trung ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và rải rác ở các nơi khác Bộ máy hành chánh được thiết lập đến cấp srok (xứ), và được nối dài với bộ máy tự quản ở cấp khum (xã), phum (buôn) và một mạng lưới chùa chiền dày đặc
Người Hoa bắt đầu di dân đến Nam Bộ từ năm 1679, khi chúa Nguyễn Phúc Tần cho các tướng "phản Thanh phục Minh" Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên và 3.000 người tuỳ tùng tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn để khai khẩn, định cư Năm 1680, Mạc Cửu và những người Hoa tuỳ tùng đến Chân Lạp, chiêu tập lưu dân lập ra 7 thôn xã từ Vũng Thơm đến Cà Mau, đến năm
1708 cũng xin thần phục chúa Nguyễn Vào năm 1756, cả nước có khoảng 30.000 người Hoa Từ giữa thế kỷ XIX, sau cuộc chiến tranh Nha phiến và cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc, đông đảo người Hoa từ các địa phương Trung Quốc lại tiếp tục di dân đến Việt Nam Người Hoa cũng là một tộc người thiểu
số đông dân, xếp thứ 6 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển Do quê quán khác nhau và nhập cư vào những thời điểm khác nhau, nên người Hoa ở Việt Nam và Tây Nam Bộ nói riêng là một tộc người không thuần nhất về nguồn gốc và ngôn ngữ Những người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII, gọi là người Minh Hương, thì phần nhiều con cháu đều
đã trở thành người Việt, đóng góp vào văn hoá Việt nơi đây những yếu tố đặc thù của văn hoá người Hoa, họ thường làm nghề buôn bán, thủ công nghiệp (dệt, gốm), làm vườn, làm rẫy Họ giữ gìn nếp sống cộng đồng những điệu hát Tiều, hát Quảng, múa lân và những tập tục thờ Quan đế, thờ ông Bổn v.v Còn những
Trang 2421
người Hoa vẫn còn giữ nguyên ý thức tộc người mà trước đây gọi là người Đường, thì chủ yếu là con cháu của di dân người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XIX-XX
Người Chăm Nam Bộ nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, gọi là người Côn Man Năm 1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc, Tây Ninh Về sau, người Chăm ở Châu Đốc (An Giang) tiếp tục di dân đến Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương v.v Còn bản thân người Chăm Tây Nam Bộ thì do dân số ít và sinh hoạt khép kín nên không tác động đáng kể vào văn hoá Việt trong vùng, không đóng vai trò chủ thể văn hoá chính nơi đây
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính vào kinh lý miền Nam Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tới khu vực Đồng Nai - Gia Định (Đông Nam Bộ), gồm khoảng 40.000 hộ với 200.000 khẩu, Nguyễn Hữu Kính cho lập phủ Gia Định, gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, với hai huyện Phước Long, Tân Bình Đến năm 1779 thì cương vực của phủ Gia Định đã bao trùm toàn vùng Nam Bộ hiện nay Chỉ riêng Trà Vinh và Sóc Trăng
có giao lại cho vua Chân Lạp cai quản một thời gian, nhưng đến năm 1835 cũng được sát nhập vĩnh viễn vào lãnh thổ Việt Nam Kể từ đó đến nay, vùng đất này
đã trải qua 8 lần thay đổi tên gọi cũng như vị trí của nó trong hệ thống hành chính: Gia Định Phủ (1698-1802), Gia Định Trấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ (1832-1867), Cochinchine tức Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975), Nam Bộ (1945 đến nay)
Từ sau khi vương quốc Phù Nam sụp đổ, cho đến thế kỷ thứ XVI, vùng đất đồng bằng sông Cửu Long trở thành đất Thủy Chân Lạp, người Khmer là cư dân chủ yếu ở miền Tây và một phần ở miền Đông Nam Bộ lan tới lưu vực sông Bến Nghé (nay là Sài Gòn) Tuy nhiên, lớp dân cư thứ hai này rất ít ỏi về số lượng và phần lớn sống rải rác trên các vùng đất giồng Chắc chắn lớp dân cư thứ hai này cũng đã tiến hành việc khai phá đất đai trồng trọt để giải quyết cái
ăn, cái mặc hằng ngày Rất tiếc là do điều kiện tư liệu hạn chế, chúng ta không
Trang 2522
biết rõ được kết quả khai phá cụ thể của họ như thế nào Điều đó khẳng định được là số lượng ít ỏi cùng với trình độ kỷ thuật còn thấp kém kết quả mở mang khai phá đất đai của họ còn hạn chế, nhất là đối với những vủng trùng thấp, sình lầy ở đồng bằng sông Cửu Long
Chính do tình hình nói trên mà cho đến cuối thế kỷ XIII, vùng đất này về
cơ bản vẫn là một vùng đất hoang dã, chưa được mở mang khai phá bao nhêu Điều này được thể hiện rõ qua sự miêu tả cảnh quang vùng duyên hải của đồng
bằng Nam Bộ nói chung và Miền Tây Nam Bộ nói riêng trong Chân lạp phong
thổ ký của Châu Đạt Quan, một sứ thần của triều đình nhà Nguyên (Trung Quốc)
để giao thiệp với vua nước Chân lập là Xadravacman đã từ biển Đông đến Côn Đảo, rồi Côn Đảo tiến vào cửa Đại đi theo sông Mỹ Tho lên sông Sa đéc (tên gọi địa phương của sông Tiền, một nhánh của sông Mê Kông) qua các huyện Chợ Lách, thị xã Sa Đéc, chợ Mới, Hồng Ngự ngày nay để đi ngược lên Campuchia vào kinh đô AngKor ( kinh đô của các vua Campuchia từ thế kỷ thứ IX đến thế
kỷ XV) nước Chân Lạp Như vậy, Châu Đạt Quan đã đi qua miền trung Nam bộ, nơi sau này có tên là vùng “ văn minh miệt vườn” với địa danh Pradek (tức Sa đéc theo tiếng Khmer Nam bộ) có từ năm 1296 Du ký của Châu Đạt Quan đã
ghi rõ rằng: “Chúng tôi đi ngang qua biển Côn Lôn rồi vào cửa sông Sông này
có nhiều ngã, nhưng ta chỉ có thể vào được cửa thứ tư ( kể từ đảo Côn Lôn vào
có các cửa biển lớn là cửa Định An trên sông Hậu, cửa Cổ Chiên, cửa Hàm Luông và cửa Đại trên sông Tiền), các ngã có nhiều cát, thuyền lớn không đi được Nhìn lên bờ, chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, rừng cây cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào nên các thủy thủ cho rằng khó mà tìm được cửa sông Bắt đầu từ Châu Bồ (tức vùng Sa đéc) hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của các khu rừng thấp, những cửa sông của con sông lớn chạy qua dài hang trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cây cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê, tiếng chia hót và tiếng thú kêu vang đội khắp nơi.Vào nửa đường trong cửa sông (Sông Cửu Long) thấy những cánh đồng hoang không một gốc cây Xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy
Trang 26thuộc vào vương quốc AngKor của người Campuchia
1.2.3 Tính cách người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Cư dân người Việt từ miền Trung, miền Bắc tới Tây Nam Bộ đã tìm cách dung hòa với tự nhiên, biến tự nhiên hoang vu thành lợi thế để tự giải phóng mình khỏi những tục lệ ở nơi cố hương mang đậm một trật tự tôn ty đã ổn định
từ ngàn đời kìm hãm mọi khát vọng đổi mới của con người Với tính cách phóng thoáng, uyển chuyển nên họ tiếp thu dễ dàng các yếu tố văn hóa ngoại lai mới
mẻ đóng góp vào việc đổi mới, làm phong phú thêm và tạo thành một vùng văn hóa rất mới – văn hóa Tây Nam Bộ Bên cạnh đó người dân Tây Nam Bộ rất thiết thực, họ rất hài hước, khi người thân qua đời thường người dân Nam Bộ làm dịu nổi đau hơn là làm tăng lên sự mất mát đau khổ khi mất người thân Chính vì thế, Nam Bộ không có tục khóc thuê, lăn đường như ở khu vực Bắc Bộ Tính phóng khoáng còn thể hiện trong tang phục rất rõ nét, không có đặt nặng việc mặc tang phục giữa cháu ngoại hay cháu nội
Người dân Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng có gốc là những người di dân xuất phát từ miền văn hóa Bắc Bộ và Trung Bộ mà nhiều nhất là dân Thuận Quãng Phong tục tập quán của miền Tây Nam Bộ từ buổi đầu
đã có sự tiếp tục dòng phong tục tập quán Bắc Bộ, Trung Bộ mà sâu đậm nhất là
4
Châu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ ký, bản dịch của Lê Hương , Sài Gòn, 1970, Tr.8
Trang 2724
từ Thuận Hóa trở vào Tuy nhiên khi vào Nam Bộ người Việt nơi đây có nhiều nét khác biệt so với cả người Việt đồng bằng Bắc Bộ và người Việt ven biển Trung Bộ
Văn hóa làng xã Việt Nam có truyền thống định cư khép kín, không chấp nhận việc đi khỏi làng cũng như không chấp nhận người nơi khác đến cư ngụ
Do vậy, những người rời bỏ quê ra đi đếu có hoàn cảnh đặc biệt: Ví dụ như sự nghèo khó bần cùng, vi phạm luật lệ nơi sống bị ghép tội nặng, chỉ còn con đường trốn chạy mới tiếp tục tồn tại được Có quan hệ đối kháng với quan lại địa phương hoặc dân chúng nơi mình sống, chọn con đường ra đi để đổi đời Người Việt di cư vào Nam Bộ nói chung, vào vùng Tây Nam Bộ nói riêng, có thể có
một trong ba hoàn cảnh trên Họ còn là “những người trốn tránh binh dịch,
những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo và cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất để mở rộng công việc làm ăn” [Huỳnh Lứa (cb) 1987;38,42]
Môi trường sống của vùng đất mới đối với những người lưu dân thật xa lạ
và nghiệt ngã Mênh mông trước mặt là dải hoang vu bùn sình, lắm rắn độc, thú
dữ, “muỗi vắt nhiều hơn cỏ, chướng khí mù như sương… chiều chiều nghe vượn
hú, Hoa lá rụng buồn buồn” 5
Cuộc sống này càng dạy cho họ sâu sắc hơn từng giờ, từng phút bài học kết đoàn, bài học mà tổ tiên cha ông họ đã từng vận dụng để đối phó với bao địch họa và thiên tai Mà muốn đoàn kết, thì phải sống vì nhau, lo cho nhau, dám
xả thân cứu bạn bè, dám hy sinh vì nghĩa lớn, chứ không phải biết sống cho riêng mình Môi trường đầy thử thách luôn luôn cần những hành động dũng cảm,
kịp thời, cần làm nhiều hơn nói “Nói một là một, hai là hai” “Như rựa chém
xuống đất” là những đều mà người dân khai hoang thuộc nằm lòng “Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” câu tục ngữ nói về sự dũng mãnh của lưu dân Với đều
kiện tự nhiên ưu đãi đã giúp người dân ở đây vượt qua các nạn đói Bình thường, lúc cây đã đứng ở dưới ruộng, thì người nông dân lại đi câu, đi chài, đặt lờ, đặt lọp hoặc đi gài bẫy, săn bắt các loại chim muông Đến đầu mùa khô, gặt hái xong
5
Sơn Nam, Nói về miền Nam, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1967
Trang 2825
thì có bốn, năm tháng “nông nhàn” Đây là thời gian thuận lợi cho các cuộc giao
du, thăm viếng bạn bè ở xa, có khi đi xa nhà một vài tháng Hoặc tổ chức các
cuộc vui chơi, đá gà, đá dế, đánh cờ, uống rượu, ca vọng cổ v.v… “Làm ra làm,
chơi ra chơi” là điệu nghệ của người Việt Tây Nam Bộ Tâm lý thích giao lưu,
hiếu khách Đối xử rộng rãi, phóng khoáng “hôm nay có cư dốc túi hậu đãi
nhau, ngày mai thiếu tính sau” được phổ biến trong dân dã là nhờ những điều
kiện nói trên Khi gia đình có đám tiệc như: đám cưới, đám tang, đám giỗ v.v thì xóm giềng đến vì tình cảm, vì lòng hiếu khách của gia chủ hoặc đến phụ gia chủ một cách nhiệt tình
Thêm vào đó là tính tình cởi mở, xuề xòa, trọng tấm lòng chân thực chứ
không câu nệ câu chữ khách sáo…, bởi họ vốn “cùng hội cùng thuyền”, đã từng qua những cảnh “gạo chợ, nước sông”, “tới đâu là nhà, ngã đâu là giường”,
“người cầm cuốc, kẻ cầm rựa lưng dựa vào nhau”, và đùm bọc lẫn nhau nhưng
đồng thời nhiều tật xấu - thói ăn chơi, rượu chè, nhậu nhẹt, cờ bạc, đá gà cá
độ…cũng phát triển Tâm lý “tới đâu hay tới đó “tạm bợ qua ngày”, “ sống bữa
nay không cần tính trước ngày mai” phổ biến trong đám người cùng đinh,
chuyên làm thuê làm mướn, rày đây mai đó “ không mãnh đất cắm dùi”
Ở mảnh đất này, người phụ nữ trong gia đình cũng là một trụ cột, cùng chồng con bươn chải, vượt hiểm thoát nguy, do đó không bị quá phụ thuộc và
lép vế như ở nhiều vùng khác Tại Tây Nam Bộ, câu “nhất nam viết hữu thập nữ
viết vô” hầu như không bám rễ sâu trong dân dã mà thay vào đó là câu “Trai mà chi gái mà chi, Sanh ra có ngãi có nghì là hơn”
Thời gian dài hơn 200 năm, bắt đầu từ thế kỷ XVII sang nửa cuối thế kỷ XIX này, cũng là thời gian lắm chinh chiến, loạn ly Bao nhiêu người bị nạn dưới làn tên mũi giáo Bao nhiêu gia đình tan tác, cha lìa con, vợ xa chồng…Đi
khai hoang nơi “biên địa” đã là một sự đánh đổi cuộc đời, phải chấp nhận rủi ro,
thì chiến tranh loạn lạc lại làm tăng thêm rủi ro nhiều hơn nữa Trong khung cảnh như vậy, người dân Tây Nam Bộ tự nhiên phải tin tưởng nhiều vào sự hên,
xui, may, rủi, thì họ phải khấn vái, cầu xin sự “phò hộ độ trì” của Trời, Phật, thần linh, tổ tiên ông bà và cả những người “khuất mặt” Miền Tây Nam Bộ là
Trang 2926
mảnh đất có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng một phần là vì thế Miếu cô hồn, miếu thổ thần, thổ địa… nhan nhản ở ven đường, trong thôn xóm Bàn thờ ông Thiên, trang thờ ông Địa hầu như nhà nào cũng có… Tuy nhiên, cùng với các đức tin, người dân luôn tâm niệm phải “làm điều lành, tránh điều dữ” và khi sống phải sống tốt, có đức đến khi chết để về nơi cực lạc, đoàn tụ với tổ tiên, ông bà Âu đó cũng thêm một lý do để nuôi dưỡng lẽ sống “nhân nghĩa” đã thấm sâu trong xử
sự của dân gian
Vào nửa đường trong sự nghiệp 300 năm mở mang, khai phá vùng lãnh thổ về phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người Việt từ vùng đất sinh tụ của mình là châu Thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất ven biển miền Trung đã nối tiếp nhau đến lập nghiệp ngày càng đông tại địa bàn Nam bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng Trong hành trình của mình, ngoài những công cụ sản xuất (cuốc, rựa, giống lúa…) và những phương tiện sinh sống tối thiểu, họ còn mang theo một vốn liếng tinh thần và những truyền thống văn hóa bền chặc của vùng đất cội nguồn
Tiểu kết chương 1: Tây Nam Bộ là một vùng đất có môi trường thiên nhiên rất phong phú và đa dạng, vừa có nhiều thuận lợi cũng không ít khó khăn đối với cuộc sống con người, cùng với đồng bào một số dân tộc anh em, bằng
mồ hôi và công sức cùng với truyền thống cần cù, kiên nhẫn và sáng tạo, vốn văn hóa phong phú và đặc sắc của mình, đã từng bước chinh phục và biến cải môi trường ấy trở thành vùng đất trù phú phục vụ đắc lực cuộc sống con người Ngược lại, mội trường thiên nhiên Tây Nam Bộ với những đặc điểm riêng biệt của nó, cũng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong đời sống vật chất và tinh thần cũng như trong việc hình thành tính cách của con người sinh sống ở đây
Trang 3027
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA TIỄN BIỆT NGƯỜI CHẾT TRONG TANG MA TRUYỀN THỐNG
NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ
Ngày nay, văn hóa tiễn biệt người chết ở Nam bộ nói chung miền Tây Nam bộ nói riêng đã được giản tiện và có thay đổi cho phù hợp với từng hoàn cảnh, điều kiện của từng gia đình, từng địa phương nhất là giữa vùng thành thị
và nông thôn
Ở thành thị mật độ dân số ngày càng đông vì vậy nhà nước xây dựng nhiều khu vực nghĩa trang ở ngoại thành để người dân có thể an táng nơi đó Đất trong khu vực nghĩa trang có giá cả khác nhau tùy theo từng khu và diện tích đất lớn hoặc nhỏ Bên cạnh đó, việc tang có sẵn nhà mai táng, công ty mai táng lo liệu và đưa ra rất nhiều dịch vụ để có thể chọn lựa tùy theo khả năng tài chính của mỗi gia đình
Ở nông thôn mật độ dân số thấp hơn thành thị, đất rộng người thưa nên việc an táng vẫn chôn cất trong khu vực vườn nhà hoặc gia đình khá giả có nghĩa trang dòng họ thì chôn trong nghĩa trang Những nghĩa trang của dòng họ cũng gần nơi sinh sống của con cháu và đặc biệt luôn có người chăm sóc mộ phần Bên cạnh đó, một số gia đình khá giả khác tuy sống ở thành thị nhưng có đất đai (do ông bà, cha mẹ để lại) ở nông thôn hoặc nghĩa trang dòng tộc thì người ta
vẫn chôn ở quê nhà Ví dụ: ông bà tôi sống ở thành phố Bến Tre nhưng khi ông,
bà mất thì chôn ở quê nhà vì gia đình tôi có nghĩa trang của dòng tộc Bà tôi vẫn còn sống nhưng đã được phân chia phần đất xây mộ trong nghĩa trang của dòng tộc, khi bà qua đời sẽ được chôn cạnh ông tôi
Dù ở thành thị hay ở nông thôn thì văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt Tây Nam Bộ vẫn rất trang trọng và được tiến hành đủ lễ nghi với mong muốn người chết có thể thanh thản, thuận lợi ra đi thì người sống mới yên lòng Người Việt coi trọng biểu lộ lòng hiếu thảo của con cái và tình nghĩa xóm
giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” với quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận” vì vậy
nên rất chu đáo trong việc tổ chức đám ma Khác với đám cưới là dịp phô trương
Trang 3128
sự hào hoa, tươi đẹp và cả sự giàu có ra bên ngoài, đám tang chỉ nhằm thể hiện
chiều sâu của tình cảm là chính Câu tục ngữ: “Ai khen đám cưới, ai cười đám
ma” Đám cưới dù tổ chức hoành tráng đến đâu người ta cũng không phải vì thế
mà khen, bởi cái đều đáng khen là ở chỗ hạnh phúc lứa đôi có được hạnh phúc,
bền vững hay không Còn đám ma, dù có thiếu sót gì về hình thức – bởi “tang
gia thường bối rối” thì cũng không ai cười chê Vì cái đều chính yếu là ở tấm
lòng, tình nghĩa của người đang sống đối với người đã mất
Mỗi khi có người thân qua đời dù mới lọt lòng hay tuổi thượng thọ Những người tang quyến đều thương xót và xúc động vì đây là nghĩa tình gia tộc, là sự mất mát không thể bù đắp được Đối với bà con, làng xóm gần xa đây
là sự kiện có tác động sâu sắc đến tình cảm của mỗi người Nói chung, văn hóa tiễn biệt của người Việt, dù ở địa phương nào, cũng gồm có 8 công việc chính:
2.1 Giai đoạn trước khi chết
Tuy có nhiều quan niệm cho rằng chết là sự đổi thay kiếp sống, đi từ thế giới này sang thế giới khác, người Việt miền Tây Nam Bộ đều ước muốn
thân xác dù phải tan rã cũng được “yên mồ yên mả” Trong khi chờ đợi cái
chết đến với sự bình thản và tự thực hiện các công việc chuẩn bị như: viết di chúc, sắm sẳn áo quan, chọn đất nằm yên vĩnh viễn
Trang 32là những dặn đò của người trước khi mất
Di chúc là viết ra thanh giấy, văn bản rõ ràng nghiêng nhiều về phần vật chất (ví dụ thừa kế tài sản)
Di ngôn là lời nói thường nghiêng về phần tinh thần (Ví dụ: Khi người
chồng, người cha mất với di ngôn “Cha mất con phải chăm sóc mẹ chu đáo thay
cha ”)
Nhiều người viết sẵn di chúc khi đang còn minh mẫn, di chúc có thể bổ sung khi cần thiết Ngày xưa thì việc viết di chúc thì chỉ người sắp qua đời tự viết, hoặc nhờ người khác viết theo ý nguyện của mình nhưng ngày nay thì nếu gia đình giàu có thường có luật sư giúp đỡ
Việc viết di chúc thể hiện tính cách lo xa của người Việt, sự giữ gìn nền nếp gia đình tránh sự xung đột của các thành viên trong gia đình, để người chết thanh thản ra đi và người sống thực hiện chu đáo tiễn biệt nhẹ nhàng đi không vướng bận nặng nề
Chủ tịch Hồ Chí Minh ung dung tự tại, chuẩn bị cho cái chết của mình
Người bình tĩnh viết di chúc, nói về mình, dặn lại “toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân đoàn kết một lòng, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành thống nhất nước nhà,
xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh.”
Di chúc, di ngôn là lời dặn dò con cháu, giao cho con cháu thực hiện những nguyện vọng mà đương thời họ chưa làm được
Di chúc có thể viết về chính cuộc đời của người chuẩn bị “ra đi”, kể về công lao, nguyện vọng của bản thân hoặc căn dặn thực hiện tang lễ của mình Di ngôn là những lời trăng trối của người sắp qua đời là rất quan trọng, có ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống sau này của con cháu, cho nên con cháu luôn lắng
Trang 3330
nghe để thực hiện cho đúng, chu đáo để vong hồn người đã khuất được “ngậm
cười nơi chín suối” Việc thực hiện đúng theo di chúc, di ngôn của người đã mất
là thể hiện tinh thần đạo hiếu của người sống đối với người mất Ngược lại người sống rất lo lắng khi làm chưa tròn nguyện vọng của người mất Vì người sống quan niệm rằng nếu mình làm chưa tròn thì người chết sẽ không yên nghỉ
Hình 1: Di chúc (Ảnh: Huỳnh Thụy Yến Thanh)
Trang 3431
Theo cổ lệ thì con cháu hỏi xem người sắp mất có tự đặt tên hèm, tức là tên sau này dùng để khấn khi cúng giỗ (thường gọi là tên cúng cơm – tên thật của người quá cố) Theo quan niệm cũ của người Việt khi một đứa trẻ sinh ra thì cha mẹ thường đặt tên tục – tên này thường tên rất xấu chỉ dùng để gọi khi còn
nhỏ nhằm tránh sự chú ý quậy phá của ma quỷ Dân gian thường nói “lôi cả tên
tục ra mà chửi” Ở miền Tây Nam Bộ nếu con trai thì thường đặt tên tục như :
Cu Đen, Quẹo, Tí, Chó con, Bi, Tèo , còn con gái thì: Út, đèo, bé hoặc tên con vật, tên các loài trái cây
Có quan niệm rằng khi người sắp qua đời con cháu đặt tên thụy (tên thụy
là tên người sống đặt cho người chết dựa vào cuộc đời và sự nghiệp người chết) Nhưng theo chúng tôi thì tên thụy chỉ đặt cho những người giàu có, quí tộc thời phong kiến, người có sự nghiệp, công trạng sau khi chết chứ không dùng tên thụy cho người dân bình thường
Ngày nay ở miền Tây Nam Bộ đặt tên tục và tên tục được hiểu là tên “ở
nhà” được các thành viên trong gia đình hoặc hàng xóm gọi khi còn nhỏ rồi quen
dần đến trưởng thành nhưng đa số là tên đẹp vì quan niệm nếu đặt tên xấu con mình sẽ xấu hổ với bạn bè còn trong khai sinh thì thường là tên khác gọi là tên
“đi học” Bên cạnh đó người ta đặt tên theo tiếng nước ngoài do ảnh hưởng văn
hóa Phương Tây Ngày nay khi cúng giỗ thì người Việt miền Tây Nam bộ cũng gọi tên thật của người quá cố chứ không có gọi tên tục vì như thế sẽ dễ nhầm lẫn vong hồn khác
Ở miền Tây Nam bộ khi con người được 60 tuổi trở lên thì được xem là
“thọ” với ý nghĩa là sống thọ Vì vậy khi ghi trong cáo phó của người chết thì
người ta thường ghi hưởng thọ (trên 60 tuổi) và hưởng dương (nhỏ hơn 60 tuổi)
vì chưa được xem là thọ Khi con người lên tuổi lão, đều sắm cho mình một cỗ
áo quan (quan tài) bằng loại gỗ tốt Bắc Bộ gọi cỗ quan tài là “cỗ hậu” (dùng nó
về sau), Trung Bộ gọi “cái săng” nhưng Nam Bộ gọi là “hòm dưỡng già, cái
hàng, cái hòm” Nhiều nơi còn gọi cỗ hậu là cỗ thọ để chỉ sự sống lâu, nên
thường có dán chữ “thọ sanh” vào quan tài Bên cạnh đó nếu gia đình giàu có
thường sắm đôi ba bộ ván tốt (bộ ngựa), sẵn có vật tư thường gọi thợ trong xóm
Trang 3532
đóng cái quan tài để sẵn trong nhà hoặc bên trái nhà, tiết kiệm được tiền bạc và thời gian
Tuy nhiên, hình thức sắm sẵn “hòm dưỡng già” này ngày nay ít phổ biến
ở miền Tây Nam Bộ nữa vì xã hội ngày một phát triển, nhà cửa ngày càng nhỏ hẹp, đất ít người đông sắm sẳn cố quan chiếm mất một phần diện tích Ngày nay, dịch vụ mai táng rất nhiều người ta đóng sẵn các loại quan tài, nên khi có người nhà qua đời thì người thân mới mua cổ quan về và có rất nhiều loại cổ quan tùy theo chất lượng gỗ, trang trí và cả dịch vụ trọn gói để chọn lựa Bên cạnh đó khi
đóng sẵn quan tài để trong nhà tạo nên tâm lý “sợ sệt” cho con cháu nên nó đã
đang mất dần
2.1.2 Chọn đất làm huyệt mộ
Người Việt miền Tây Nam Bộ khi thấy người thân có dấu hiệu không tốt
về sức khỏe thì những người trong gia đình chuẩn bị phần đất để làm huyệt mộ Khi đất đã được chuẩn bị thì họ sẽ xây luôn kim tĩnh để sẵn Đó là việc được chuẩn bị đầu tiên trong văn hóa tiễn biệt người chết của người Việt tại khu vực này
Chọn đất làm huyệt mộ ở miền Tây Nam Bộ chỉ có các gia đình thật giàu
có thì mới thực hiện công việc này và một số địa phương có dịch vụ làm sẵn kim tĩnh bán cho dân chúng có nhu cầu, tùy vị trí mà giá cả cũng khác nhau Với người dân thường chôn ở sau vườn nhà hoặc nghĩa trang dòng tộc, nếu gia đình không có đất hoặc đất ít thì hiện nay người ta thiêu người chết rồi đem tro cốt gửi vào chùa Hình thức thiêu người chết ở miền Tây Nam Bộ phần nào ảnh hưởng của dân tộc Khmer và người ta quan niệm làm như thế vừa tiết kiệm, vừa thuận tiện cho người quá cố vì ở trong chùa có thể nghe Kinh Phật dễ dàng siêu thoát Việc chôn người chết sau vườn nhà, gần nhà là một nét đặc trưng trong văn hóa tang ma của người Việt miền Tây Nam Bộ với hai quan niệm như sau:
Thứ nhất: Con cháu mong muốn gần gũi với người đã mất và ngược lại người mất cũng mong muốn được ở bên cạnh con cháu, nhìn thấy con cháu mình hằng ngày Giữa người sống và người chết trong gia đình luôn có mối tương quan vì người sống cho rằng ông bà, cha mẹ mất đi luôn ở bên cạnh che chở, phù
Trang 3633
hộ cho gia đình không bao giờ làm hại gia đình Bên cạnh đó người sống có thể chăm sóc mộ phần thật chu đáo cho người mất
Thứ hai: Vùng khu vực Tây Nam Bộ xưa kia là vùng “rừng thiêng nước
độc” khi những lưu dân vào đây khai phá thì nơi đây hoang vu và nhiều thú dữ
Chính vì vậy, những người lưu dân này sợ rằng chôn người thân ở xa nhà thì thú
dữ đào bới làm hại đến thể xác của người đã mất Điều này ảnh hưởng đến cả người sống và người chết không yên lòng Cho nên với người Việt Tây Nam Bộ chôn người thân ở vườn nhà không chỉ chăm sóc mộ phần mà có cả ý nghĩa bảo
vệ người mất
Nghĩ tới cỗ hậu sự, chỉ mới là một nửa của sự quan tâm lo lắng cho cuối đời, phân nữa còn lại là lo cho chỗ nằm vĩnh viễn của mình đó là huyệt mộ
Huyệt mộ được chuẩn bị trước cho người còn sống ngoài Bắc Bộ gọi là “sinh
phần” thì Nam Bộ gọi lả “kim tĩnh” (xây tường gạch bọc 4 phía dưới lòng
nguyệt) Tĩnh là yên tĩnh, kim là bền chắc, lâu dài, kim tĩnh là chốn yên tịnh chắc
chắn, lâu dài
Trong đời sống văn hóa của người Việt rất phổ biến việc chọn đất mai táng tổ tiên còn gọi là (âm trạch) cũng giống như chọn đất để làm nhà cho người sống (dương trạch) có quan hệ mật thiết đối với cuộc sống tồn vong, phúc, họa
của con cháu sau này Dân gian ta có câu: “Táng tiên ấm hậu” tức là chọn đất
mai táng để tổ tiên được yên nghỉ và phù hộ cho con cháu hưởng phúc lộc Việc chọn vị trí mai táng và xây sẵn mộ Tất cả những hoạt động có liên quan đến việc chọn đất làm nhà cho người mất và người sống đều được gọi là thuyết phong thủy hoặc thuật phong thủy
2.2 Giai đoạn vừa chết
2.2.1 Lễ mộc dục (tắm gội):
Trong tâm thức của người Việt chết là một chuyến đi xa, chuyến đi về thế giới bên kia, thế giới xa lạ nên vấn đề vệ sinh, sạch sẽ thân thể là rất cần thiết.Trong cuộc tiễn đưa người ta cho rằng thân thể sạch sẽ có thể dễ dàng lên thiên đàng, nếu thân thể không sạch sẽ thường gắn liền nơi âm phủ u ám
Trang 3734
Đối với người đang sống đây lần cuối cùng có thể chăm sóc cơ thể của người mất, cho nên người sống luôn lo tươm tất, chu đáo giữ thân thể người chết thật sạch sẽ Đây không chỉ giữ cho thân thể sạch sẽ mà ý nghĩa việc ấy càng to lớn trong việc giáo dục về đạo hiếu của con cháu đối với ông bà, cha mẹ
“nghĩa tử là nghĩa tận”chăm sóc thân thể người mất lần cuối cùng
Lễ mộc dục nghĩa là làm sạch thân thể người chết hoặc dân gian dùng từ tắm gội, chảy tóc, cắt móng tay, móng chân, thay quần áo mới cho người chết Người Việt quan niệm đây là lần làm sạch thân thể người chết lần cuối cùng rồi chuẩn bị cho người quá cố một chuyến đi xa đến một nơi mới và nơi ấy phải cần được sạch sẽ, no đủ để hòa nhập đoàn tụ với tổ tiên, ông bà
Lúc tắm gội cho người vừa chết thường người thân để sẵn một con dao nhỏ, một vuông vải (khăn), một cái lược, một cái muỗng, một ít đất, một nồi nước nóng Cha thì con trai vào tắm, mẹ thì con gái vào tắm Lấy vuông vải nhúng vào nước ấm pha với rượu trắng lau mặt, lau mình cho sạch rồi lấy lược chải tóc lấy sợi vải buộc tóc, lấy khăn khác lau hai tay hai chân, lại lấy dao cắt móng tay móng chân, mặc quần áo cho ngay ngắn Móng tay móng chân gói lại
để vào trong quan tài; dao, lược và nước đem đi chôn; rước thi hài đặt lên giường, nằm ngửa và thi hài được buộc hai ngón chân vào với nhau để giữ cho hai chân được duỗi song song Nhưng có một số gia đình Việt miền Tây Nam Bộ thì người ta không buộc hai chân vì quan niệm rằng sẽ làm đau đớn người quá
cố, chết rồi còn bị trói buộc, không yên Hai tay được đặt lên bụng như đang nằm ngủ Hai ngón tay cái cũng được đan vào nhau, đắp chăn hoặc chiếu Có địa phương còn có tục để thêm một con dao trên bụng, (có lẽ để trừ tà ma hay quỷ nhập tràng)
Người Việt miền Tây Nam Bộ luôn đặt một nải chuối lớn (chuối sứ già nhưng chưa chín) (miền Bắc goi là chuối phấn) lên bụng ngưới mất còn gọi là dằn bụng với ý nghĩa để hút âm khí xấu nhờ vậy người chết để lâu ngày không bị hôi và bụng không bị phình lên Có ý kiến cho rằng: đây là triết lý âm dương, chuối là đại hàn chi phẩm, chuối rất lạnh đầy yếu tố âm và thi hài cũng rất lạnh đầy yếu tố âm khí, nên dùng âm đẩy âm, tống tiễn âm đi hoặc cách giải thích
Trang 3835
khác để đánh lừa loài quạ vốn thích ăn nội tạng của người chết, để chúng không làm tổn hại đến cơ thể người đã khuất Sau khi khâm liệm người chết xong thì nải chuối phải được bằm nhỏ không cho người khác ăn phải Ngoài ra, người ta còn dùng dầu lửa (dầu hôi) phía dưới chung quanh chân giường đề phòng trường họp kiến bu lại
Người Việt Nam Bộ lại đặt người mất quay đầu vào nhà, vì tin rằng người
mất vẫn “chưa ra đi” phải đợi đến lúc làm lễ thành phục mới “quay đầu ra” khi
không còn hy vọng gì nữa về sự hồi sinh của người chết Đặt người quá cố quay đầu ra ngoài ý nghĩa người thân đã chết thật sự không còn hy vọng và ý nghĩa khác khi khách đến viếng váy, lạy phía đầu của người mất chứ không phải phía chân mang tính tôn trọng cả người mất và người viếng
dù, cái hy vong ấy hầu như bằng không nhưng người sống vẫn thực hiện, vẫn cứ lạc quan, hy vọng và tin rằng người chết có thể sống lại
Khi người thân vừa tắt thở thì người ta thường lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, bỏ vào miệng một nắm gạo và ba đồng tiền xu, gia đình giàu có thì
đặt vàng gọi là lễ ngậm hàm Người sống quan niệm rằng để tiền trong miệng
người chết thì các ma, quỷ không biết thì người chết có thể dùng số tiền ấy để
“đi đường” về thế giới bên kia.Gạo để linh hồn người chết ăn, khỏi phải thành
ma đói (ngạ quỷ)
Tuy nhiên khi xét về mặt khoa học thì bỏ gạo vào miệng, gạo gặp ẩm sẽ
nở ra, giữ cho miệng kín lại, để tà khí không xông ra ngoài Mặt khác tiền đồng
Trang 3936
là kim loại, khi gặp dịch vị của thi hài ứ lên (trong dịch vị chủ yếu là axit) thì tà khí bị triệt tiêu, không cho tà khí thoát ra ngoài gây ô nhiễm Sau đó là nghi thức
Hạ Tịch (đặt thi hài xuống đất) chiếu trải sẵn dưới đất (theo quan niệm "từ đất
sinh ra lại trở về với đất"): Trải chiếc chiếu dưới đất, khiêng thi thể đặt lên
chiếu, còn gọi là “Hạ Thổ”, cầu mong khi người mất khi gặp khí âm của đất may
ra sống lại Biết rằng là vô vọng nhưng thường con cháu vẫn chờ vài phút, sau đó đem lại lên giường, đắp kín, dùng vải đậy mặt Trên nguyên tắc, từ đó về sau, chỉ
khi nào cần thiết mới mở miếng vải ra Xưa kia, còn có công việc gọi là “Thiết
hồn bạch”, phải chăng “thiết” là kiểu thiết kế, “bạch” là lụa Dùng một giải lụa
đặt trên ngực người đang hấp hối, khi tắt thở thì tưởng như hơi thở (sức sống) của người quá cố gom vào miếng lụa Miếng lụa ấy đưa thắt như hình người, phải có đủ đầu, hai tay, hai đầu vải lụa để thòng lòng như hai chân, sau khi tẩm liệm xong thì hình vải lụa ấy được đặt lên bàn thờ nhưng ngày nay thắt vóc lụa như hình người ấy được mọi người thay thế với bức ảnh, thường chọn những bức ảnh trang nghiêm, nhằm gợi không khí thuở nào, bớt vẻ bi ai, gợi lên những kỷ niệm đẹp của người mất lúc còn sống Kế tiếp họ cầm áo quần của người đã tắt
thở, leo lên mái nhà chỗ cao nhất hú "Ba hồn bảy vía ông" hoặc "Ba hồn chín
vía bà" về nhập xác Hú ba lần không được thì cũng đành lòng chịu khâm liệm
mà tin rằng như vậy hồn đỡ vất vưởng, biết tìm đường về nhà (Khâm liệm xong vẫn chưa nỡ đóng chốt áo quan) Đây là một phong tục chủ yếu để thoả mãn tâm linh vì ngày nay ở miền Tây Nam bộ tục hú vía ngày này ít phổ biến thay thế vào
đó là người thân xoa dầu vào đầu cho người chết vì quan niệm làm thế cơ thể người chết sẽ ấm lại và có thể sẽ sống lại Và tiếp theo đặt một chiếc ghế nhỏ phía trên đầu, trên đó đặt một bát cơm úp chén cơm này gọi là cúng nhưng nhiều nhà không có thắp hương Nhiều nơi cho rằng nếu thắp hương ruồi sẽ bu đến, nên tránh, sau khi liệm mới thắp hương, thêm một quả trứng với ý nghĩa có đủ
âm dương, đủ điều kiện cho sự phát triển Cũng để ghi nhớ khởi thủy tổ tiên từ trong trứng do mẹ Âu Cơ sinh ra, dựng một đôi đũa trên bát cơm với ý nghĩa bát cơm nhắc nhở tố chất sinh thành, nuôi sống con người là hạt gạo trắng, dân gian
có câu "cơm muối sống lâu" cũng là ý nghĩa đó Hình tượng bát cơm đất (âm)
Trang 4037
tua bông đấu đũa là mây trời (dương) đôi đũa nối âm dương hòa hợp, nhắc lại sự biến hóa âm dương sinh ra con người Cũng là để sau sự chết mất đi, đến sự sinh
sôi nảy nở Ngoài ra còn có ý nghĩa về" Bát cơm, quả trứng " là một lễ thức cổ
xưa, quan niệm người chết về một thế giới khác cũng cần có thức ăn Đây là suất
ăn đường đi khi về với tổ tiên (thường người ta bới hai chén cơm cơm úp vào
nhau cho nó vung lên Một chén cơm bình thường là dương nhưng hai chén cơm
úp vào nhau là âm Người ta luộc quả trứng lên, bóc vỏ đặt lên bát cơm (úp) thì
quả trứng lăn, nên người ta lấy hai chiếc đũa (một đôi) cắm hai bên sát vào quả trứng, nhằm giữ cho quả trứng không lăn Dân gian ta còn quan niệm, nếu lấy đôi đũa bình thường là trần tục, nên người ta vót đôi đũa có tua lên (gọi là đũa bông) tượng trưng cho cây vũ trụ, sự sống, sự phát triển Nhưng đũa được vót mấy bông thì tài liệu không có đề cập tới nhưng nhiều nhà nghiên cứu nhân gian cho rằng : Nếu người mất có bao nhiêu người con thì vót bấy nhiêu bông Vì vậy nhìn vào chén cơm, quả trứng, đôi đũa bông thì có thể đoán người mất có bao nhiêu người con
Thực tế hiện nay, khi quan sát các đám tang, trên nắp quan tài đều có chén cơm, quả trứng và đôi đũa Đây là việc mang ý nghĩa triết học sâu sắc và đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người Tuy nhiên, do nhân dân ta nhiều người không hiểu ý nghĩa của nó mà cứ theo người xưa nên dễ chuyển sang mê tín dị đoan và có ảnh hưởng xấu đến thế hệ kế thừa
Bên cạnh đó, người ta còn thắp 1 ngọn đèn cầy hoặc ngọn đèn dầu trên đầu nằm biểu hiện dương, bát nước thể hiện âm, khi rước tang không được để đèn, nến tắt, bát nước cũng không được sóng đổ, là nhắc nhở giữ trọn âm dương tiễn đưa sự mất Cũng có địa phương khi khiên quan tài đi, người ta để bát nước
ở lại, hất ngang xuống nền nhà, hoặc nếu có rước đi, thì cũng không chôn bát nước theo với quan niệm nước là nguồn gốc của mọi sự sống, không thể chôn mất đi được Ngoài ra còn có trường hợp thắp đèn dưới quan tài dương ở dưới
âm (thi hài), để hút âm ở thi hài xuống, đề phòng mèo (dương) nhảy qua hiện tượng quỹ nhập tràng nên con cháu lấy tấm vải trắng đắp mặt cho người mất