Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm tìm hiểu, làm rõ đặc trưng về đời sống văn hóa - xã hội của cư dân miền Tây Nam Bộ, cụ thể là văn hoá vật chất và văn hóa tinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
-
ĐÀO NGUYÊN BÌNH
VĂN HÓA
NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TRUYỆN KÝ CỦA ĐOÀN GIỎI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.PHAN THU HIỀN
TP.HỒ CHÍ MINH năm 2012
Trang 2MỤC LỤC DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3.1 Nội dung sáng tác của Đoàn Giỏi 5
3.1.1 Tác phẩm văn xuôi của Đoàn Giỏi thể hiện đặc trưngvăn hóa Nam Bộ 5
3.1.2 Tác phẩm văn xuôi của Đoàn Giỏi thể hiện tình yêu củanhà văn đối với con người, quê hương Tây Nam Bộ 9
3.2 Nghệ thuật văn chương Đoàn Giỏi thể hiện sắc thái văn hóa vùng 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 15
6.1 Các phương pháp nghiên cứu 15
6.2 Nguồn tài liệu 16
7 Cấu trúc của luận văn 16
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 18
1.1 Cơ sở lý luận 18
1.1.1 Quan hệ văn hóa – văn học 18
1.1.2 Hướng tiếp cận văn hóa học văn học 26
1.2 Định vị tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ 29
1.2.1 Không gian văn hóa 29
1.2.2 Chủ thể văn hóa 35
1.2.3 Thời gian văn hóa 41
1.3 Nhà văn Đoàn Giỏi với văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ 45
1.3.1 Cuộc đời gắn bó với miền Tây Nam Bộ 45
1.3.2 Sự nghiệp văn chương gắn bó với miền Tây Nam Bộ 48
1.3.3 Ảnh hưởng của truyện ký Đoàn Giỏi ở Việt Nam và trênthế giới 56
Trang 3CHƯƠNG 2 VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ
QUA TRUYỆN KÝ ĐOÀN GIỎI 60
2.1 Văn hóa mưu sinh và cư trú 60
2.2 Văn hóa ẩm thực 74
2.3 Văn hóa trang phục 84
2.4 Văn hóa giao thông 86
CHƯƠNG 3 VĂN HOÁ TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TRUYỆN KÝ ĐOÀN GIỎI 92
3.1 Văn hóa tổ chức đời sống 92
3.1.1 Tổ chức theo địa bàn cư trú, cơ cấu hành chính 92
3.1.2 Tổ chức theo nghề nghiệp 98
3.1.3 Tổ chức theo lối sống cộng cư, hòa nhập các dân tộc 100
3.2 Văn hóa tín ngưỡng 105
3.3 Văn hóa phong tục 112
3.4 Văn hóa giao tiếp 114
3.5 Văn hóa nghệ thuật 123
3.5.1 Nghệ thuật ngôn từ 123
3.5.2 Nghệ thuật sân khấu và một số hình thức biểu diễnnghệ thuật dân gian 125
3.6 Giao lưu, tiếp biến và ảnh hưởng văn hóa ngoại nhập 127
3.6.1 Tiếp biến ảnh hưởng văn hóa khu vực 127
3.6.2 Giao lưu với phương Tây 132
KẾT LUẬN 138
PHỤ LỤC 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
Trang 4DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Theo tiến trình lịch sử Việt Nam, vào thế kỷ XVII, những người dân Việt
từ miền Bắc, miền Trung đi khai khẩn đất phương Nam và lớp người Việt ấy trở thành chủ nhân mới của vùng đất Nam Bộ Để có được một miền đất phương Nam trù phú với ruộng đồng thẳng cánh cò bay, rừng tràm rừng đước bạt ngàn, sông nước mênh mông mát rượi…như ngày nay, chúng ta không thể nào quên được công lao to lớn của các bậc tiền nhân hơn ba trăm năm trước
đã mạnh mẽ xuôi về phương Nam đi mở đất Người xưa đã in dấu chân ở nơi này trải qua bao cuộc bể dâu giông tố, bao nỗi đắng cay gian khổ hy sinh, với một tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, yêu cuộc sống mãnh liệt Trong quá trình khai hoang mở đất để lập nghiệp tồn sinh, người dân Nam Bộ để lại dấu
ấn văn hóa của mình trên nhiều bình diện như: trang phục, ẩm thực, nghệ thuật, phong tục, tín ngưỡng, và dấu ấn văn hóa in đậm nhất trong văn học Nhiều nhà văn Nam Bộ hiện đại đã có những sáng tác văn học ghi nhận lại bức tranh sinh hoạt văn hóa trên vùng đất phương Nam khá đặc sắc Đoàn Giỏi, một trong số những nhà văn hiện đại, đã viết rất nhiều về đề tài văn hóa Nam Bộ Ông quan tâm đặc biệt đến sự thể hiện hình ảnh đất và người Tây Nam Bộ trong sự nghiệp văn chương của mình Vấn đề văn hóa vùng Tây Nam Bộ, một trong bảy vùng văn hóa của cả nước, được phản ánh khá rõ nét trong các tác phẩm truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi
Để nhận diện văn hóa của một dân tộc, một vùng miền thông qua tác phẩm văn học, cách tiếp cận văn hóa học văn học là một hướng tiếp cận mới đối với khoa học văn hóa hiện nay Cách tiếp cận văn hóa học văn học tuy còn khá mới mẻ nhưng mở ra nhiều triển vọng, đem lại thành tựu khả thi cho ngành văn hóa học
Trang 5Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TRUYỆN KÝ
ĐOÀN GIỎI”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm tìm hiểu, làm rõ đặc trưng về đời sống văn hóa - xã hội của cư dân miền Tây Nam Bộ, cụ thể là văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần của người Việt miền Tây Nam Bộ đã được thể hiện qua những tác phẩm truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi
Luận văn đóng góp bổ sung nguồn tư liệu vào chuyên ngành Văn hóa học trong việc nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ; góp thêm tiền đề vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa Nam Bộ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong tiến trình đổi mới đất nước ta hiện nay, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn cầu của đất nước, con người Việt Nam thế
kỷ XXI
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa Nam Bộ - nhất là văn hóa người Việt khu vực miền Tây Nam
Bộ - là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong nước Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, người viết đã tìm thấy một số đặc điểm về văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ qua những tác phẩm truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi cũng như qua những sách, báo, tạp chí, công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận văn Số lượng các công trình, các kết quả nghiên cứu về văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ qua truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi không nhiều Các tài liệu mà chúng tôi tìm kiếm được chủ yếu tập trung vào trình bày những khía cạnh sau đây:
Trang 63.1 Nội dung sáng tác của Đoàn Giỏi
Về nội dung các sáng tác của Đoàn Giỏi, các nhà nghiên cứu chú ý tới hai khía cạnh quan trọng: tác phẩm văn xuôi Đoàn Giỏi thể hiện những đặc trưng văn hóa Nam Bộ và thể hiện tình yêu của ông đối với con người, quê
hương Nam Bộ
3.1.1 Tác phẩm văn xuôi của Đoàn Giỏi thể hiện đặc trưng
văn hóa Nam Bộ
Trên báo Văn nghệ số 130 (từ ngày 19 đến 25-07-1956), ở mục “Đọc
sách” có đăng bài “Đọc sách Cá bống mú- tiểu thuyết của Đoàn Giỏi (giải
khuyến khích về văn 1954 – 1955)” của Hữu Loan Trong bài báo, Hữu Loan
nói đến “cái chất Nam Bộ” trong câu chuyện Cá bống mú: “Cái chất Nam Bộ
này không có gì khác là chất sống ào ạt, hầm hập, nóng hổi Nhân vật và phong cảnh trong truyện đều mang ít nhiều cái chất “mặt trời” nhiệt đới của miền Nam chúng ta Những con người rất Nam Bộ, nhiều tình cảm yêu
thương sâu sắc ” Hữu Loan khẳng định: “Chúng ta yêu nhân vật trong Cá
bống mú, ta càng yêu những đoạn tả cảnh, tả đất đai miền Nam Cũng như
người, đất miền Nam mang trong lòng tràn trề sinh lực” [Hữu Loan 1956: 3,
9]
Trên báo Văn nghệ số 453 (ngày 16-06-1972), nhà thơ Tế Hanh có bài
viết “Đọc lại Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi” Tế Hanh nhận xét:
“Theo tôi thì cái hay nhất của quyển sách này là ở chỗ tác giả giới thiệu cho chúng ta đất nước, phong tục miền Tây Nam Bộ” [Tế Hanh 1972: 6]
Báo Văn nghệ số 15 (ngày 15-04-1989) có đăng bài “Đoàn Giỏi, nhà văn
ưu tú của Nam Bộ” do Anh Đức viết Nhà văn Anh Đức nhận định: “ với một đời văn trên bốn mươi năm, anh đã kịp để lại cho đời những dòng văn đẹp đẽ, đậm sắc thái và đầy sinh thú về quê hương, đất nước, con người ở vùng đất Nam Bộ thân yêu của Tổ quốc ta” [Anh Đức 1989: 3]
Trang 7Nhà thơ Nguyễn Bao, trong bài viết “Đoàn Giỏi, một cây đước của đất
rừng phương Nam” nhằm giới thiệu Tuyển tập Đoàn Giỏi do Nhà xuất bản
Văn học Hà Nội ấn bản năm 1995, có đoạn viết: “ Đoàn Giỏi đã hướng về miền đất phía Nam với bao cảnh sắc kỳ vĩ, với bao con người cởi mở, chân tình Cái chất Nam Bộ của các bút ký khiến bạn đọc cả nước hiểu sâu sắc, cặn
kẽ và thực sự rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên đằm thắm, chân thực tình người, trước sức chịu đựng và ý chí của nhân dân miền Nam” [Đoàn Giỏi 1995: 11, 12]
Tiếp nối nhận xét trong bài giới thiệu nói trên, nhà thơ Nguyễn Bao có viết: “Cái chất thơ mà Đoàn Giỏi gửi vào từng trang bút ký, vốn bắt nguồn từ tình yêu đối với mảnh đất, con người Nam Bộ và được thể hiện trong từng chi tiết miêu tả, trong ngôn ngữ và tính cách nhân vật Cái “chất liệu miền Nam”
ấy đã đem tới cho nền văn học của chúng ta cách nhìn về con người và thiên nhiên vùng đất phương Nam” [Đoàn Giỏi 1995: 12, 13]
Cũng trong bài viết nói trên, Nguyễn Bao nhận xét Đoàn Giỏi có “vốn sống phong phú về vùng đất phía Nam” [Đoàn Giỏi 1995: 17]
Năm 2001, trong quyển Chân dung văn học của Nhà xuất bản Hội Nhà
văn, Hoài Anh có nhận xét về Đoàn Giỏi: “ đỉnh cao của anh (Đoàn Giỏi) vẫn
là Đất rừng phương Nam, nét hay trong Đất rừng phương Nam trước hết là
chất nguyên sơ của vùng đất ở cuối miền Nam” [Hoài Anh 2001: 1378]
Báo Văn nghệ số 13 (ngày 27-03-2004) có đăng bài “Nhà văn Đoàn
Giỏi - hiệp sĩ đất rừng phương Nam” của Văn Hồng Văn Hồng nhận định:
“Cùng với thiên nhiên được Đoàn Giỏi vẽ với những màu sắc lộng lẫy, cuồn cuộn, tràn trề sức sống là những con người Nam Bộ với những nét sắc sảo lạ
lùng Có thể nói Đất rừng phương Nam đã nói được cái tinh túy của hồn đất,
hồn người một vùng châu thổ Cửu Long Giang” [Văn Hồng 2004: 19]
Trang 8Năm 2004, Nhà xuất bản Thế Giới cho ra đời quyển Từ điển văn học
do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (đồng chủ
biên) cùng với sự cộng tác của nhiều tác giả khác Trong Từ điển, có mục
Đoàn Giỏi do nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá biên soạn Trần Hữu Tá
nhận xét: “Đất rừng phương Nam đưa ta về với phong cảnh, cuộc sống mang
màu sắc và hương vị đặc biệt Nam Bộ” [Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá 2004: 430, 431]
Cũng trong quyển Từ điển văn học nêu trên, ở mục từ Đất rừng phương
Nam do Vũ Thanh biên soạn, Vũ Thanh cũng đưa ra một số nhận định: “
Đất rừng phương Nam thể hiện vẻ đẹp giàu có đến kì lạ của thiên nhiên vùng
cực Nam đất nước, những phong tục, tập quán, sinh hoạt đặc sắc, cũng như nét tính cách riêng của con người vùng sông nước Nam Bộ” [Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá 2004: 398]
Cùng năm 2004, trong Từ điển Tác giả - tác phẩm Văn học Việt Nam
của Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm, ở phần nhận định, đánh giá về sáng tác văn học của Đoàn Giỏi, các tác giả có đoạn viết: “Hiện lên từ những trang truyện là thiên nhiên rừng U Minh vừa kỳ thú, vừa giàu có và bí ẩn Ở đó, dưới những cánh rừng, là cuộc sống hòa vào thiên nhiên của những con người chất phác và nghĩa hiệp ” [Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như
Ý 2004: 96]
Trong “Lời nói đầu” của Đoàn Giỏi tuyển tập, Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin Hà Nội ấn hành năm 2005, Ban biên tập Nhà xuất bản (Bùi Việt Bắc, Nguyễn Khương, Lan Phương) đã có lời giới thiệu về 23 tác phẩm của Đoàn Giỏi được chọn lọc xuất bản trong tuyển tập này như sau: “Với vốn sống phong phú về vùng đất phương Nam, với niềm say mê, tìm tòi, khám phá, Đoàn Giỏi là cây viết về thiên nhiên Nam Bộ hay nhất từ trước tới nay (…) Những tác phẩm của ông để lại mang đến cho bạn đọc những điều kỳ thú, bổ ích và cần thiết để hiểu thêm về con người Nam Bộ nghĩa khí, hào
Trang 9hiệp, về thiên nhiên Nam Bộ hùng vĩ, giàu có và đầy bí ẩn…” [Đoàn Giỏi
2005b: 3, 4]
Cũng trong Lời nói đầu của tuyển tập này, Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin Hà Nội đã nêu ý kiến đánh giá rằng: “ không chỉ thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa số phận của người dân với vận mệnh của đất nước, mà trong cái rộng lớn là Tổ quốc, ông (Đoàn Giỏi) còn thể hiện một cách tinh tế, nhuần nhuyễn, hòa quyện trong đó cảnh sinh hoạt, phong tục, tập quán, cảnh sắc thiên nhiên và nhất là tính cách và tâm hồn của người Nam Bộ” [Đoàn Giỏi 2005b: 3]
Năm 2007, trong bài viết “Chân dung văn nghệ sĩ Tiền Giang: Đoàn Giỏi – chiếc cầu nối thông minh giữa văn hóa, văn học hai miền Bắc Nam”
đăng trên báo Công an nhân dân, nhà phê bình văn học Hoài Anh có đoạn
viết: “Trước kia chúng ta đã đọc những bài viết đặc sắc về thổ sản miền Bắc của Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng nhưng về thổ sản miền Nam thì chỉ
có Đoàn Giỏi mới viết hay và gợi cảm như thế được” [http://www.congan.com.vn/home/van_hoa_nghe_thuat/2007/05/mlnews.2007-05-09.5560467531]
Khảo sát tập tiểu luận bình luận văn học Người và đất Tiền Giang của
Nhà xuất bản Công an nhân dân in năm 2007, người viết đọc thấy nhận xét của Huỳnh Mẫn Chi : “Không riêng giới chuyên môn, bất cứ một ai khi đọc văn của Đoàn Giỏi, họ đều như rơi vào tâm trạng đọc những trang lịch sử mang đậm chất văn hóa đặc trưng của một vùng đất” [Huỳnh Mẫn Chi 2007:
173, 174] “Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam chính là câu chuyện rất đặc
trưng của vùng Tây Nam Bộ, mang đến cho người đọc nhiều thú vị về cảnh
vật, con người, tập tục, văn hóa của vùng nông thôn Nam Bộ” và “Đất rừng
phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông nước Tây Nam Bộ
thu nhỏ” [Huỳnh Mẫn Chi 2007: 177, 178]
Trang 10Như vậy, với những lời nhận xét, đánh giá và ý kiến khẳng định như trên, các tác giả đi đến đồng nhận định:
Những tác phẩm truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi thường tập trung thể hiện các tố chất văn hóa đặc trưng của Nam Bộ bao gồm cảnh sắc thiên nhiên, phong tục tập quán, đời sống xã hội và tính cách con người Nam Bộ hết sức riêng biệt Ông đã đem đến cho người đọc sự cảm nhận về đất và người Nam
Bộ (đặc biệt, đối với riêng vùng Tây Nam Bộ), từ một miền đất xa lạ đến trở thành thân quen với bao người
Không chỉ vậy, in đậm trên từng trang văn còn là tình cảm yêu thương nồng hậu của nhà văn đối với vùng đất và con người Tây Nam Bộ
3.1.2 Tác phẩm văn xuôi của Đoàn Giỏi thể hiện tình yêu của
nhà văn đối với con người, quê hương Tây Nam Bộ
Trong bài viết “Đoàn Giỏi, một cây đước của đất rừng phương Nam”
nhằm giới thiệu Tuyển tập Đoàn Giỏi do Nhà xuất bản Văn học Hà Nội ấn
bản năm 1995, nhà thơ Nguyễn Bao có đoạn viết: “Tác phẩm để lại dấu ấn
sâu, rộng trong nhiều tầng lớp và thế hệ bạn đọc của Đoàn Giỏi là Đất rừng
phương Nam Cuốn tiểu thuyết không chỉ thể hiện cảnh sinh hoạt, phong tục,
tập quán, cảnh sắc thiên nhiên, tính cách và tâm hồn con người miền Nam một cách nhuần nhị, chân thực mà điều quan trọng đã thu hút được người đọc
là tình yêu thương con người, sự cảm thương với mọi nỗi bất hạnh và sự khơi gợi những gì cao đẹp trong bản chất mỗi con người trước những thử thách của đời sống” [Đoàn Giỏi 1995: 15]
Theo Từ điển Tác giả - tác phẩm Văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Đại
học Sư Phạm, 2004, trang 95, trong phần nhận định, đánh giá về nhà văn Đoàn Giỏi, có đoạn viết về cội nguồn hình thành nhà văn, nhà văn hóa Đoàn Giỏi, các tác giả đã nhận định rằng: Đoàn Giỏi sinh ra từ một vùng quê rất giàu nghĩa khí, lại là trung tâm cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ oanh liệt Vùng quê
Trang 11anh hùng với không khí cách mạng sôi nổi ấy, đã ảnh hưởng không nhỏ vào khung cảnh xã hội trong nhiều tác phẩm của ông Trước khi tập kết ra Bắc, do hoàn cảnh công tác, nhà văn có điều kiện tích lũy một vốn sống phong phú về nhiều vùng đất trên quê hương của mình Từ khi tập kết ra Bắc, ông có nhiều tác phẩm viết về quê hương miền Nam
“Với lòng nhớ thương da diết rẻo đất phương Nam, cộng với một vốn sống phong phú, những trang viết của Đoàn Giỏi đã mang đến cho người đọc những hình ảnh hết sức sinh động về thiên nhiên và con người nơi dải đất phía Nam của Tổ quốc Tác phẩm của Đoàn Giỏi có một giá trị lớn trong việc bồi đắp vốn hiểu biết, cũng như tình yêu quê hương, đất nước cho người đọc” [Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý 2004: 95]
Năm 2004, trong tác phẩm Từ điển văn học của Nhà xuất bản Thế Giới, ở mục từ Đất rừng phương Nam, Vũ Thanh cũng nhận định câu chuyện của
Đoàn Giỏi “còn thu hút bạn đọc bởi một tình thương yêu sâu sắc, sự trân trọng những mặt tốt đẹp trong bản chất mỗi con người” [Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá 2004: 398]
Trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng những mùa qua do Nhà xuất
bản Trẻ phát hành năm 2004, nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Thanh Xuân
đã nhận định về tác giả của Đất rừng phương Nam như sau: “Có mảnh đất
sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng bao người Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hạnh phúc đó Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất mà trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông
đã xây dựng những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa ” (Trích “Đoàn Giỏi, đất và rừng phương Nam”) [Nguyễn Thị Thanh Xuân 2004: 113-117]
Trang 12Năm 2005, Phạm Văn Tình, trong bài bình luận văn học “Mái đình - nét đẹp
trong hồn quê Việt Nam” đã có những dòng nhận định viết về tình cảm sâu nặng
của nhà văn Đoàn Giỏi đối với nét đẹp văn hóa Nam Bộ được thể hiện qua tác phẩm của ông:
“Nhà văn Đoàn Giỏi, trong bài tùy bút Ngọn tầm vông, đã có những dòng
thật cảm động, mô tả tâm trạng của người con miền Nam tập kết ra Bắc Ông ngồi trên thuyền nhìn lại xóm làng ( ), nhìn “mái đình cháy hơn một nửa” Tất cả vết tích của chiến tranh tàn phá, “như một nỗi đau gieo giữa lòng nhà văn, một người con sắp tạm rời xa xứ sở” Đấy là nỗi đau đau đáu của dân tộc bao nhiêu năm Đó
là một mảnh hồn quê, làm nên một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in vào tâm khảm mỗi con người và toả sáng trong những áng thơ văn”[http://www.fahasasg.com.vn/authors/tacgia_tacpham/noidung/doangioi.htm]
Từ những lời nhận xét chọn lọc của các tác giả nêu trên, người viết nhận thức được tình yêu thương sâu sắc của nhà văn Đoàn Giỏi thấm đẫm trên mỗi trang viết của ông về quê hương và con người ở miền Tây Nam Bộ
3.2 Nghệ thuật văn chương Đoàn Giỏi thể hiện sắc thái văn hóa vùng
Bên cạnh việc khám phá nội dung các tác phẩm của Đoàn Giỏi, các công trình nghiên cứu cũng còn tìm hiểu nghệ thuật văn xuôi của ông, chú ý đến đặc điểm văn hóa vùng trong hình thức nghệ thuật ấy
Năm 2000, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ra mắt độc giả một
tuyển tập sách mới với nhan đề Khuôn mặt và tác phẩm của nhà văn Đoàn Minh
Tuấn Trong tập sách, với bài viết “Đoàn Giỏi – cành đước phương Nam”, Đoàn Minh Tuấn nhận xét về văn của Đoàn Giỏi: “Văn anh có cái góc cạnh,
gồ ghề, xù xì và vạm vỡ của một miền đất đang khai phá nhưng cũng rất hồn nhiên, chân thực Đoàn Giỏi là một trong những người đầu tiên truyền bá ngôn ngữ phương Nam hiện đại, anh là người “máu của máu Việt Nam” là vậy!” [Đoàn Minh Tuấn 2000: 37]
Trang 13Năm 2004, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm ra mắt bạn đọc quyển Từ
điển Tác giả - tác phẩm Văn học Việt Nam Trong Từ điển này, ở phần nhận
định, đánh giá về sáng tác văn học của Đoàn Giỏi, các tác giả có đoạn viết:
“Khi xây dựng tác phẩm, ngòi bút Đoàn Giỏi thể hiện rõ tính chất phác, hồn
nhiên, rất Nam Bộ ( ) Đất rừng phương Nam có sức cuốn hút, hấp dẫn lớn,
đặc biệt là với bạn đọc nhỏ tuổi Với lối kể chuyện vừa tự nhiên, giản dị, vừa đậm đà chất Nam Bộ, lại rất có duyên, tác giả đã dẫn dắt người đọc đi từ thú
vị này đến thú vị khác” [Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý 2004: 95, 96]
Trong tập tiểu luận bình luận văn học Người và đất Tiền Giang, Nhà
xuất bản Công an nhân dân xuất bản vào năm 2007, Huỳnh Mẫn Chi nhận định về giọng điệu văn xuôi nghệ thuật Đoàn Giỏi: “giọng văn rất Nam Bộ và đặc sệt miền Tây Nam Bộ…” [Huỳnh Mẫn Chi 2007: 170]
Nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận xét: “Đoàn Giỏi là người đầu tiên đã truyền bá ngôn ngữ Nam Bộ hiện đại qua tác phẩm của mình” (Trích từ “Lời
bạt của Chế Lan Viên” in trong tác phẩm Rừng đêm xào xạc của Đoàn Giỏi,
Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1987) [Huỳnh Mẫn Chi 2007: 170]
Từ những nhận xét, khẳng định, đánh giá trên của các tác giả, người viết ghi nhận sự cống hiến dồi dào về nghệ thuật văn xuôi của Đoàn Giỏi, trong đó đáng kể hơn cả là sự thành công về ngôn ngữ Nam Bộ
Kết thúc bài báo “Chân dung văn nghệ sĩ Tiền Giang: Đoàn Giỏi –
chiếc cầu nối thông minh giữa văn hóa, văn học hai miền Bắc Nam” đăng trên
báo Công an nhân dân năm 2007, Hoài Anh đã viết “Thương tiếc anh Đoàn
Giỏi, tôi chỉ còn biết nói lên một câu: anh là một nhà văn, một nhà văn hóa lỗi lạc, cái gạch nối hai miền Nam – Bắc trong văn học và văn hóa dân tộc”[http://www.congan.com.vn/home/van_hoa_nghe_thuat/2007/05/mlnews.2007-05-09.5560467531]
Trang 14Sau khi tìm hiểu lịch sử vấn đề qua những công trình nghiên cứu, những bài viết, ý kiến, đánh giá, nhận định của các tác giả đi trước đã đăng tải trên sách, báo, tạp chí và Internet, người viết rút ra một số nhận xét chung như sau:
*Thứ nhất, về nội dung nghiên cứu, hầu hết các tài liệu trên đều đưa ra những nhận định tổng quát về những đóng góp của Đoàn Giỏi trong lĩnh vực giới thiệu văn hoá người Việt Nam Bộ (nói chung) và Tây Nam Bộ (nói riêng) Các công trình trên bước đầu quan tâm đến sự hiện diện của cảnh sắc thiên nhiên, đời sống xã hội, phong tục tập quán, tính cách người Việt ở Nam Bộ (nói chung) và Tây Nam Bộ (nói riêng) trong các tác phẩm truyện ký của Đoàn Giỏi; đề cập đến tình yêu thương của nhà văn đối với mảnh đất quê hương, con người Tây Nam Bộ qua từng trang văn của Đoàn Giỏi Ngoài ra, các tác giả còn ghi nhận sự cống hiến
về ngôn ngữ Nam Bộ trong văn xuôi nghệ thuật Đoàn Giỏi
Những tài liệu kể trên của các tác giả đi trước cùng dẫn đến nhận định thống nhất: Đoàn Giỏi là một cây bút đậm chất Nam Bộ, phản ánh văn hóa Nam
Bộ Nhưng chưa thật sự có một công trình riêng biệt nào nghiên cứu chuyên sâu
về các thành tố văn hóa Việt Nam được thể hiện qua tác phẩm truyện ký của Đoàn Giỏi
*Thứ hai, về phương pháp nghiên cứu, các tác giả thường nhận xét, mô
tả, bình luận, đánh giá dựa trên sự quan sát, tái hiện các biểu hiện về thiên nhiên, đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán, tính cách người dân Tây Nam
Bộ trong tác phẩm của Đoàn Giỏi Tài liệu giới thiệu truyện ký Đoàn Giỏi với
tư cách văn học hiện đại Nam Bộ tuy có mặt nhưng chỉ sử dụng cho việc nghiên cứu văn học là chính Và cách thể hiện kết quả nghiên cứu vấn đề còn
trình bày chung, chưa đi sâu tìm hiểu các khía cạnh nội sinh trong văn hóa
người Việt miền Tây Nam Bộ qua khảo sát những tác phẩm truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi để lại
Trang 15Từ việc khảo cứu lịch sử nghiên cứu vấn đề của đề tài, người viết luận văn nhận thấy: chưa có một công trình chuyên biệt nào tìm hiểu một cách đầy đủ, hệ thống, chuyên sâu về văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện qua truyện
ký của Đoàn Giỏi
Do vậy, đề tài nghiên cứu về văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
qua truyện ký của nhà văn Nam Bộ Đoàn Giỏi là đề tài khoa học mới được
khảo sát trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: người viết tập trung vào đối tượng nghiên cứu là văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ thể hiện trong các tác phẩm truyện ký của Đoàn Giỏi, chủ yếu ở hai thành tố văn hóa: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Phạm vi nghiên cứu: không gian văn hóa (văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ và môi trường giao lưu tiếp biến văn hóa diễn ra ở Tây Nam Bộ), chủ thể văn hóa (người Việt trong truyện ký của Đoàn Giỏi từ 1945 đến 1989), thời gian văn hóa (thời gian trong truyện ký Đoàn Giỏi từ 1945 đến 1989)
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học: đối với hướng nghiên cứu văn hóa học văn học, luận văn góp phần bổ sung làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh lý luận và phương pháp; đối với vấn đề văn hóa vùng, luận văn góp phần làm rõ đặc trưng văn hóa vùng Tây Nam Bộ xuyên suốt trong các sáng tác truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi
Về ý nghĩa thực tiễn: nếu thành công, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn hóa-văn học vùng Tây Nam Bộ; đóng góp cho việc nghiên cứu đời sống văn hóa của người dân Tây Nam Bộ
Trang 166 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, nhưng chủ yếu là các phương pháp sau đây:
- Phương pháp lịch sử: xem xét sự hình thành, phát triển của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: đặt đối tượng trong hệ tọa độ không gian - chủ thể - thời gian để xem xét các thành tố văn hoá một cách hệ thống
- Phương pháp so sánh: so sánh văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ được thể hiện trong tác phẩm Đoàn Giỏi với tác phẩm của một số nhà văn khác So sánh văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ với văn hóa người Việt Bắc Bộ, miền Đông Nam Bộ trong tác phẩm của một số nhà văn khác
- Sử dụng kiến thức và phương pháp của các chuyên ngành liên quan để nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa Tây Nam Bộ, cũng như sắc thái văn hóa vùng trong tác phẩm văn xuôi của Đoàn Giỏi
Người viết kết hợp các phương pháp nêu trên, tiến hành nghiên cứu theo hướng tiếp cận văn hóa học văn học, dựa trên văn liệu (các truyện ký tiêu biểu của nhà văn Đoàn Giỏi) và lý thuyết chuyên ngành Văn hóa học đã học hỏi tích lũy được trong quá trình học tập tại khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Thành phố Hồ Chí Minh
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết kế thừa những thành tựu khoa học về văn hóa Nam Bộ, các kết quả nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ của những nhà nghiên cứu đi trước; tiếp tục tìm hiểu, nhằm phát hiện sâu hơn những đặc điểm về văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ được biểu hiện qua các truyện ký tiêu biểu trong đời văn của nhà văn Đoàn Giỏi
Trang 176.2 Nguồn tài liệu
- Về nguồn tài liệu tham khảo:
Người viết chủ yếu nghiên cứu những tài liệu khoa học văn hóa từ các sách báo của các tác giả trong nước đã công bố về văn hóa Việt Nam, văn hóa vùng Nam Bộ, người Nam Bộ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tận dụng một số các tạp chí chuyên ngành, trang web của Khoa Văn hóa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Internet, đĩa DVD sưu tra được có nội dung liên quan đến đề tài
- Về nguồn tài liệu khảo sát:
Người viết sử dụng những truyện ký in trong sách Tuyển tập Đoàn Giỏi (1995), Đoàn Giỏi tuyển tập (2005) và một số truyện ký tiêu biểu khác trong
đời văn của Đoàn Giỏi từ 1945 đến 1989 đã tìm được, làm tài liệu khảo sát chính trong quá trình nghiên cứu phục vụ đề tài luận văn Do điều kiện sưu tầm, tìm kiếm, thu thập tác phẩm của cố nhà văn Đoàn Giỏi còn hạn hẹp, (có tác phẩm đã mất bản thảo, bản in), chúng tôi chỉ có thể khảo sát, tiếp cận với
số lượng những truyện ký đã công bố, xuất bản qua sưu tầm, tìm kiếm được Chúng tôi có giới thiệu danh mục những truyện ký đã sử dụng trong phần 1.3.2 và bản tóm tắt nội dung những truyện ký đã sử dụng trong mục Phụ lục của luận văn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần DẪN NHẬP và KẾT LUẬN, luận văn gồm ba chương:
CHƯƠNG MỘT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trong chương một, khi nêu những vấn đề chung, chúng tôi trình bày về
cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của luận văn
- Về cơ sở lý luận, chúng tôi trình bày những khái niệm chung về văn hóa, lý luận tiền đề về mối quan hệ giữa văn hóa – văn học, hướng nghiên
Trang 18cứu văn hóa học văn học Đây là thao tác cần thiết nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để tiếp cận và giải quyết vấn đề
- Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi xác định hệ tọa độ văn hóa vùng Tây Nam
Bộ trước khi nghiên cứu đề tài, đồng thời cũng xác định vị trí của Đoàn Giỏi đối với văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
CHƯƠNG HAI: VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TRUYỆN KÝ ĐOÀN GIỎI
Trong chương hai, chúng tôi trình bày những biểu hiện về văn hóa vật
thể của người Việt miền Tây Nam Bộ qua truyện ký Đoàn Giỏi, cụ thể ở các thành tố: văn hóa mưu sinh, cư trú, ẩm thực, trang phục, giao thông
CHƯƠNG BA: VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ QUA TRUYỆN KÝ ĐOÀN GIỎI
Trong chương ba, chúng tôi trình bày văn hóa tinh thần của người Việt miền Tây Nam Bộ qua truyện ký Đoàn Giỏi, cụ thể ở các thành tố: văn hóa tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng, phong tục, giao tiếp, nghệ thuật, giao lưu và tiếp biến
Phần PHỤ LỤC, chúng tôi trình bày những bản tóm tắt nội dung các tác phẩm truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi đã sử dụng trong việc thực hiện đề tài luận văn, một số ý kiến bình luận của các tác giả khác nói về Đoàn Giỏi, một
số hình ảnh về nhà văn Đoàn Giỏi, một số bìa sách của Đoàn Giỏi đã xuất bản, một số hình ảnh về diện mạo văn hóa vùng đất và con người miền Tây Nam Bộ nhằm minh hoạ cho các chương nói trên
Phần cuối cùng của luận văn, chúng tôi trình bày danh mục TÀI LIỆU THAM KHẢO, tài liệu khảo sát đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn
Trang 19CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan hệ văn hóa – văn học
Trước hết, chúng ta tìm hiểu về khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm có ý nghĩa rất rộng Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, nhưng cho dù định nghĩa theo phương diện nào, cũng không nằm ngoài việc xác định văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong trường kỳ lịch sử
để phục vụ cho sự tồn tại của mình
Trên thế giới, giữa thế kỷ XIX, ở châu Âu, trong công trình Văn hóa
nguyên thủy, E.B.Tylor đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một tổng thể phức
tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục
và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [E.B.Tylor 2000: 13] Tiếp đến, các nhà nghiên cứu văn hóa đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn hóa khác nhau Năm 1989, Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đã nêu: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” Cách hiểu này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa, họp năm 1970 tại Venise (Tạp chí Người đưa tin UNESSCO, tháng 11/
1989, trang 5)
Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ XX, trong Việt Nam văn hóa sử cương,
khái niệm văn hóa lần đầu tiên được nhà sử học Đào Duy Anh định nghĩa:
“Người ta thường cho rằng văn hóa là những học thuật, tư tưởng của loài người, nhân thế” và “xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt” [Đào Duy Anh 2004: 11] Vào nửa cuối thế kỷ XX, theo cách nhìn hệ thống – loại hình, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm đã đúc kết định nghĩa về văn
Trang 20hóa trong giáo trình Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam: “Văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2006: 25] Theo định nghĩa nêu trên về văn hóa của Trần Ngọc Thêm, hệ thống những giá trị sáng tạo của con người về vật chất và tinh thần, do con người tạo tích trong quá trình hoạt động thực tiễn để làm nên lịch sử của một dân tộc – một cộng đồng, mang dấu ấn và bản sắc riêng đậm nét, sẽ kết đọng lại thành nền văn hóa của chính dân tộc, cộng đồng đó
Tiếp đến, là phần tìm hiểu khái niệm nền văn hóa, vị trí của văn hóa trong đời sống của nhân loại Trên thế giới có hàng trăm dân tộc tồn tại và phát triển nhiều đời, và vì thế dẫn đến việc có hàng trăm nền văn hóa khác nhau Khi tìm hiểu một dân tộc có lãnh thổ và ngôn ngữ, có tổ chức xã hội tồn tại trên cơ sở luật pháp và cơ cấu hành chính, có nền giáo dục và các hoạt động tinh thần như báo chí, văn nghệ, có phong tục tập quán và trang phục truyền thống, ẩm thực riêng thì có nghĩa là dân tộc đó đã hình thành một nền văn hóa Có nền văn hóa đã hình thành từ nhiều ngàn năm lịch sử như văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Ai Cập; có nền văn hóa chỉ mới xuất hiện trong vài trăm năm gắn liền với tổ chức xã hội và quốc gia mới thành lập như Canada, Singapore, Thái Lan Xét phương diện giá trị sáng tạo về tinh thần của văn hóa, văn hóa là hình thái biểu hiện tinh thần cộng đồng của những giá trị tốt đẹp mang tính chất người (phục vụ nhu cầu của con người; vì con người, nhân văn, nhân bản…) do toàn thể nhân loại tạo ra vì sự tồn tại và phát triển của chính loài người Văn hóa luôn luôn gắn với hoạt động sáng tạo của con người; luôn luôn gắn với những hoạt động vì cộng đồng và vì sự sinh tồn của nhân loại nói chung Không thể có văn hóa nếu như không có những hoạt động sáng tạo của con người Những hoạt động sáng tạo nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của đời sống Giá trị văn hóa kết tinh từ chính những hoạt động ấy, vì chính bản thân con người Văn hóa chứa đựng trong những cái có
Trang 21tính nhân văn, nhân bản, mang bản chất người Mỗi cộng đồng người, mỗi dân tộc, thậm chí toàn nhân loại, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển đều
có những cách thể hiện khác nhau về cái nhân văn, nhân bản; và điều đó tạo nên nét đặc trưng văn hóa của các cộng đồng, dân tộc, ở từng thời kỳ lịch sử khác nhau Hơn thế, văn hóa là sản phẩm do con người làm ra trong điều kiện
xã hội nhất định, cho nên văn hóa của một cộng đồng người vừa có tính ổn định lại vừa có thể có thêm tính biến đổi do giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa hoặc biến chuyển theo thời gian do sự tác động của môi trường sống và
do những hoàn cảnh khách quan Vì thế, khi bước chân vào tìm hiểu văn hóa của bất kỳ một cộng đồng người nào, lớn hay nhỏ, là ta đã bước vào khám phá một thế giới tinh thần phong phú, đa dạng của con người ở ngay trong một hữu thể cố định
Tiếp theo, người viết trình bày về quan hệ văn học – văn hóa Văn học trong quan hệ với văn hóa là vấn đề đã được một số nhà lý luận, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nhận định rằng: “Trước thế kỷ XX, quan hệ văn hóa – văn học chỉ được coi là quan hệ tương hỗ Nghiên cứu văn hóa thì văn học được sử dụng như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu” Cứ như thế, văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau “Trong thế kỷ XX, nhờ UNESCO phát động những thập kỷ phát triển văn hóa, nhờ thức nhận được văn hóa là động lực của phát triển nên mối quan
hệ giữa văn hóa và văn học đã được chú ý nhiều hơn” [Đỗ Lai Thúy 2006: 57]
Ngày nay, hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học “Văn hóa chi phối văn học với tư cách: hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Đây là quan hệ bất khả kháng Văn học của một dân tộc vừa là một thành tố bộ phận quan trọng thuộc về nền văn hoá; đồng thời văn học của mỗi một dân tộc cũng vừa tác
Trang 22động đến sự tồn tại, phát triển văn hoá của dân tộc ấy” [Đỗ Lai Thúy 2006: 59] Văn học chứa đựng và phản ánh lịch sử của mỗi một dân tộc, đồng thời văn học của một dân tộc thể hiện tâm hồn, tính cách, phong tục tập quán, truyền thống, nếp sống, nếp nghĩ của chính dân tộc đó Trong những suy ngẫm về nghiên cứu văn học, Mikhail Bakhtin luôn cho rằng “văn học là một
bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh của văn hóa tổng thể ở một thời đại cụ thể” [Mikhail Bakhtin, Nguyễn Văn Hiệu (dịch) 2007: 20] Đứng trên quan điểm vừa nêu trên, xét mối quan
hệ giữa văn hóa và văn học, chúng ta nhận thấy văn học là một phần của văn hóa, thuộc về văn hóa; đồng thời cũng có sự chi phối, ảnh hưởng của văn hóa vào trong văn học
Chẳng hạn, tìm trong di sản tác phẩm văn học Việt Nam, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Đó là bức tranh văn hóa dân gian với sự có mặt của tục ngữ, thành ngữ dân gian, câu đố dạng đố tục giảng thanh, các trò chơi dân gian, câu đối Tết… được thể hiện trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương Đó là những vẻ đẹp của văn hóa truyền thống trong truyện ngắn và tùy bút Nguyễn Tuân (nghệ thuật uống trà, nghệ
thuật thưởng hoa, viết thư pháp…trong tác phẩm Vang bóng một thời) “Văn
học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hoá truyền thống Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động văn hoá, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hoá và người đọc là một người thụ hưởng văn hoá Trong thời đại ngày nay, đa số quốc gia đều là xã hội đa văn hoá,
văn học vì vậy cũng đa dạng như văn hoá.” [Huỳnh Như Phương 2009:
20-28]
Tiếp tục, nói đến vị trí, vai trò của văn học trong văn hóa, cần “nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa” [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 100] Văn học có khả năng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những lớp bộ
Trang 23phận hợp thành khác của nó “Có thể thấy văn học nếu có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa” [Đỗ Lai Thúy 2006: 58] Khi bàn đến vai trò của văn học trong mối quan hệ với văn hóa, các nhà nghiên cứu đều khẳng định văn học có vai trò quan trọng trong việc phản ánh, lựa chọn, phê phán và sáng tạo văn hóa Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa bao giờ cũng thể hiện từ tác phẩm và chỉ bộc lộ qua đời sống của chính tác phẩm Trong việc phản ánh, tác phẩm văn học không chỉ là một tấm gương phản ánh toàn bộ đời sống văn hóa mà còn phản ánh một cách có lựa chọn Văn học còn góp phần điều chỉnh, định hướng văn hóa Như Ngô Thì Nhậm từng bình phẩm, “ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ” Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hóa lớn Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ đấu tranh phê phán những biểu hiện phản văn hóa, đồng thời khẳng định những giá trị văn hóa dân tộc, nhân bản Dẫu phản ứng trước những làn sóng văn hóa tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hóa, những người sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hóa dân tộc Nhìn vào mỗi loại hình văn học, mỗi thời kỳ văn học, chúng
ta có thể thấy mỗi loại hình hay thời kỳ văn học đó đều gắn với một nền tảng văn hóa nhất định của một dân tộc hay một cộng đồng người
“Nhà văn là viên thư ký trung thành của thời đại” (trích trong Lời nói
đầu bộ tiểu thuyết Tấn trò đời – Balzac), điều ấy đã được minh chứng Bởi,
việc đọc tác phẩm văn học để nhằm phát hiện ra dấu ấn cá nhân của người sáng tạo, của thời đại, đã được các nhà nghiên cứu phê bình văn học, các nhà văn hóa học tiến hành từ các thế kỷ trước; nhưng họ không gọi tên đó là việc tìm thấy các dấu tích văn hóa trong văn học Bản thân tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, phản ánh bộ mặt tinh thần của một thời đại nhất định
Trang 24Trên tinh thần đó, nhiều nhà nghiên cứu đã căn cứ vào những dữ liệu văn học để tìm hiểu bức tranh văn hóa của một thời đại Thực tiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa nghiên cứu văn hóa Chẳng hạn, khi xem xét văn xuôi Việt Nam thời kỳ 1900 – 1945, người ta có thể nhận thấy rõ sự thâm nhập của văn hóa Tây Âu trong xã hội Việt Nam ở thời
kỳ này hoặc thấy được khoảng cách văn hóa giữa người trí thức tiểu tư sản thành thị so với người sĩ phu Nho giáo phong kiến còn sót lại ở nông thôn sau buổi giao thời Đó là khoảng cách giữa phương Tây và phương Đông, Pháp và Việt Nam, hình thái xã hội tư bản và xã hội phong kiến, quan niệm sống cũ và mới của con người Có thể nói, văn học phản ánh trình độ văn hóa của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định
Đồng hành trong quan hệ tương tác, văn hóa cũng chi phối trở lại hoạt động và sự phát triển của văn học Bởi suy cho cùng, “văn hóa là cái gốc, cái hồn của một con người, một xã hội, một dân tộc” [Lê Ngọc Trà 2002: 272] Nên văn hóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ đời sống tinh thần bao trùm lấy hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Bản thân nhà văn khi tạo tác ra thế giới nghệ thuật của mình, thì thế giới nghệ thuật ấy đã là một sản phẩm văn hóa Người đọc, qua
sự nhận thức tác phẩm, cũng được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ trong một môi trường văn hóa nhất định Chính không gian văn hóa này chi phối cách
xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật…trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức… ở bạn đọc trong quá trình tiếp nhận
Dấu ấn văn hóa trong tác phẩm văn học cũng là nét đặc thù gắn liền với mỗi một tác phẩm văn học Không có tác phẩm văn chương nào mà lại không chứa đựng trong nó ít nhất một đặc trưng văn hóa của dân tộc mình qua cách phát ngôn, cách diễn đạt, cách xây dựng hình tượng nghệ thuật của tác giả Tính văn hóa trong tác phẩm văn học giúp người đọc hiểu rộng hơn giá trị của
Trang 25tác phẩm qua hệ thống hình tượng, hình ảnh; tạo ra trong trí não người đọc những suy tư, liên hệ, so sánh với các loại hình nghệ thuật khác cũng như với các nền văn hóa khác Mỗi một tác phẩm văn học đều chứa đựng tính văn hóa đặc trưng của một dân tộc, một đất nước, một vùng miền mà từ nơi đó tác phẩm văn học đã được sinh ra Tác phẩm văn học mang tính văn hóa cao của một dân tộc nào đó trên thế giới, thì hiển nhiên sẽ trở thành tài sản tinh thần
vô giá của dân tộc ấy và cũng còn là tài sản tinh thần chung của nhân loại Một nền văn hóa cởi mở, bao dung mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho văn
học phát triển Chẳng hạn, nhắc đến thành tựu Thơ Đường của Trung Quốc,
người ta không thể quên rằng đầu đời Đường (giai đoạn Sơ Thịnh Đường), văn hóa phát triển phong phú, đa dạng, tạo tiền đề cho văn học (nói chung), thơ ca (nói riêng) phát triển khá thuận lợi Vào thời điểm thế kỷ thứ VII, kinh
đô Trường An - Trung Quốc, không chỉ là một trung tâm thương mại quốc tế, tập hợp thương nhân của hàng chục nước mà còn là nơi gặp gỡ, trao đổi – giao lưu văn hóa giữa văn hóa đời Đường với văn hóa các nước Ba Tư, Ấn
Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nước Trung Á Chính môi trường văn hóa như vậy
đã “nghệ thuật hóa” mọi lĩnh vực của cuộc sống đời Đường, tạo đà cho sự hình thành và phát triển phong cách đa dạng của thơ Đường
Mọi tài năng nghệ thuật, ngoài việc góp phần tạo ra sự ổn định và bền
vững của tác phẩm, dẫn tới sự kết tinh về thể loại, còn sản sinh ra các giá trị
văn hóa của tác phẩm văn học, và tạo được tầm vóc lịch sử mang tính vĩnh hằng cho tác phẩm “Mọi tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của nhân loại ngoài việc là một điển hình nghệ thuật còn là tác phẩm mang tính văn hóa sâu sắc, giúp cho độc giả muôn đời và mọi thời hiểu biết sâu sắc dân tộc mình” [Lê Nguyên Cẩn 2008: 7] Giá trị văn hóa không phải là cái ở bên ngoài tác phẩm,
nó thể hiện trong nội dung và phương thức tạo thành nội dung của tác phẩm Nhà văn đánh thức, kiến tạo nên ý nghĩa văn hóa bằng ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm Nhà văn – người nghệ sỹ của ngôn từ - tổ chức ngôn ngữ,
Trang 26sáng tạo nên thế giới hình tượng của tác phẩm văn học đồng thời bộc lộ khả năng nhận thức và sáng tạo văn hóa
Sinh thời, nhà văn Đoàn Giỏi cũng nêu ra quan niệm về người làm văn hóa nghệ thuật :“Nói nghệ sỹ trước nhất phải nói tâm hồn Nếu như tâm hồn
ta không có cánh, không khỏe thì làm sao mà bay thoát ra khỏi sức hút cá nhân, vượt qua lớp u u minh minh vốn bao quanh tâm hồn ta tự nhiều đời mà vút lên tới chỗ Cao, Sáng để nhìn ra đâu là Ưu việt?” [Đoàn Giỏi 1995: 511, 512] Không có tác phẩm văn học của bất kỳ nhà văn nào mà lại có thể đứng ngoài văn hóa Người làm văn hóa – văn học cần đẩy mạnh và phát huy yếu
tố bản sắc dân tộc để từ đó đi lên Tìm hiểu giá trị văn hóa của tác phẩm là đặt giá trị văn học của tác phẩm vào trong hệ thống của nền văn hóa dân tộc thông qua mối quan hệ giữa tác phẩm văn học với bối cảnh văn hóa; tức là vừa đặt nó trong tổng thể sáng tạo văn hóa thẩm mỹ của dân tộc, vừa đặt nó trong yêu cầu văn hóa của thời đại Đặt văn học vào ngữ cảnh của văn hóa để nghiên cứu, nhà phê bình lý luận văn học Cao Kim Lan viết: “Theo tôi, một phương pháp phê bình thống nhất những yếu tố khả thủ của xu hướng này, là phải đặt tác phẩm văn học vào ngữ cảnh văn hóa, đồng thời vẫn phải tìm kiếm trong bản thân nó một hướng đi có khả năng tạo ra những cách nhìn mới” [Cao Kim Lan: “Văn học và ngữ cảnh văn hóa”, http://vanhocquenha.vn] Do vậy, nếu người làm công tác nghiên cứu văn hóa học chọn hướng nghiên cứu văn hóa học văn học, thì sẽ góp phần làm rõ những đóng góp của tác phẩm văn học vào tổng thể giá trị tinh thần của một dân tộc, vào nền văn hóa của một dân tộc
Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ mật thiết như vậy, nên hướng nghiên cứu văn hóa học văn học là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cùng với những cách tiếp cận tác phẩm văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cận văn hóa học văn học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa được bao hàm bên
Trang 27trong nó Những yếu tố văn hóa liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục tập quán, ngôn ngữ…có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm, bởi văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hóa truyền thống Nhà văn cũng đích thực là một nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa và người đọc là người thụ hưởng văn hóa
Như vậy, nhìn từ lý thuyết một cách hệ thống, quan hệ giữa văn hóa và văn học, tự thân nó, đã được xác lập Nhận thức được về mặt lý luận, mặt bản chất của mối quan hệ văn hóa và văn học, những kiến thức nền tảng vừa trình bày trên đây có thể tạo điều kiện cho việc tìm tòi, nghiên cứu tác phẩm văn học có cơ sở lý thuyết chắc chắn, nhằm xây dựng cho khoa học văn hóa một phương hướng mới khi nghiên cứu văn hóa, đó là: hướng tiếp cận văn hóa
học văn học
1.1.2 Hướng tiếp cận văn hóa học văn học
Trong thời đại hiện nay, nghiên cứu liên ngành đang ngày càng trở nên phổ biến hơn Nghiên cứu văn hóa là ngành nghiên cứu khoa học xã hội có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như xã hội học, chính trị học, nhân học, ngôn ngữ học, truyền thông, địa lý học, sử học, văn học…Văn học ở thời
kỳ nào cũng phải đặt trong cấu trúc tổng thể của văn hóa Trước đây, văn hóa
và văn học bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có đặc trưng riêng biệt Cho đến nay, đặc trưng riêng biệt không phải là không còn, nhưng trong nhiều cách tiếp cận, thì cách tiếp cận văn hóa học văn học đang cho thấy đây là một hướng tiếp cận có hiệu quả Hướng tiếp cận văn hóa học văn học là hướng đi tìm hiểu hệ thống các giá trị văn hóa ở bên trong tác phẩm văn học
Để tìm hiểu hệ thống các giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học, các
nhà nghiên cứu văn hóa học tiếp cận các thành tố văn hóa có mặt trong tác
phẩm văn học “Một trường hợp khá tiêu biểu là “một người Pháp – Rene
Trang 28Craysac – đã tìm cách lí giải tư tưởng, hành động của nhân vật trong Truyện Kiều trên cơ sở liên hệ với quan niệm đề cao gia đình, xem nhẹ cá nhân của văn hóa phương Đông” [Trần Nho Thìn 2008: 11] Nghiên cứu các biểu tượng văn hóa trong tác phẩm thực chất là nghiên cứu các quan hệ ứng xử thẩm mỹ, các quan niệm về nhân tình thế thái của nhân vật và giữa các nhân vật Bởi vì bản thân văn hóa được thể hiện qua các quan hệ mang giá trị thẩm
mỹ [Lê Nguyên Cẩn 2008: 10] Mật độ nghiên cứu theo hướng tiếp cận văn hóa học văn học mỗi lúc một dày lên, nhất là kể từ khi ở nước ta xuất hiện ngành Văn hóa học Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử gọi đó là hiện tượng chuyển hướng nghiên cứu Bước chuyển hướng thể hiện rõ nét “từ nghiên cứu văn học bằng thi pháp học ngôn từ sang thi pháp học văn hóa; nghiên cứu văn học trên đơn vị nghệ thuật ngôn từ sang nghiên cứu văn học trên đơn vị thành
tố văn hóa” huong-van-hoa-trong-nghien-cuu-van-hoc-trungquoc.html] Đã có một số tác
[http://vanhoanghean.vn/tap-chi/cua-so-van-hoa/362-chuyen-giả đi theo hướng này như Trần Đình Hượu (Nho giáo và văn học Việt Nam
trung cận đại, NXB Văn hóa thông tin, 1995), Trần Ngọc Vương (Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, 1995), Đỗ Lai Thúy (Từ cái nhìn văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, 1999; Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực, NXB Văn hóa thông tin, 2000), Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hóa, NXB Giáo dục, 2008), Lê Nguyên Cẩn (Tiếp cận Truyện Kiều dưới góc nhìn văn hóa, NXB Giáo dục, 2008) Và khi một
số công trình của M.Bakhtin được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng được khẳng định Cách tiếp cận văn hóa học như vậy thực chất là đặt văn học trong tọa độ văn hóa với những đặc trưng của nó, nhận rõ các thành tố văn hóa đã thâm nhập vào thế giới sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Những giá trị văn hóa truyền thống ngầm chảy trong tác phẩm, thấm vào thế giới hình tượng và ngôn từ của tác phẩm mà đôi khi, chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác
Trang 29Bên cạnh đó, có những giá trị văn hóa vừa mới hình thành vào lúc đương thời, đã đòi hỏi nhà văn, phải bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, mau chóng và kịp thời chuyển tải những giá trị văn hóa mới mẻ ấy bằng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học của mình Việc thông qua văn học để chuyển tải dấu ấn cá nhân của người sáng tạo, của thời đại và những giá trị của một nền văn hóa, đã từng được triển khai từ các thế kỷ trước Nhà văn Solokhof (1905 – 1984), nhà văn lớn của Nga thế kỷ XX, từng sinh sống ở vùng thảo nguyên sông Đông và tham gia vào Hồng Quân trên nhiều chiến
trường trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược ở
Nga, do vậy tác phẩm Sông Đông êm đềm của ông thể hiện một cách toàn
diện, chân thực cách nhìn cuộc sống của người lao động Nga ở vùng sông Đông, khí phách anh hùng của người lính Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc Qua tác phẩm, ông miêu tả đậm nét tính cách Nga, con người Nga, văn hóa Nga Nhà văn Kim Lân (1920 – 2007) có những trang viết đặc sắc về phong tục nông thôn và đời sống nông dân làng quê Việt Nam – những thú chơi và sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người nông dân vùng đồng bằng Bắc
Bộ Có được sở trường về đề tài này là nhờ Kim Lân xuất thân từ đồng quê Bắc Bộ, hiểu sâu sắc cảnh ngộ, tâm lý, đời sống của người dân quê Việt Nam nghèo khổ nhưng yêu đời, thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa, gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng Ông đã viết về cuộc sống
và con người đồng bằng Bắc Bộ bằng tình cảm, tâm hồn của một người con vốn là con đẻ của đồng ruộng, một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thuỷ của thiên nhiên Hướng tiếp cận văn hóa học văn học giúp người nghiên cứu tìm ra nền tảng văn hóa của các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, thấy được văn hóa của một dân tộc thông qua văn bản văn học
Kế thừa hướng nghiên cứu văn hoá học văn học kể trên của những người đi trước, luận văn đi vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hoá người Việt miền Tây Nam Bộ thông qua các sáng tác truyện ký của nhà văn Đoàn Giỏi
Trang 30Đến đây, thiết nghĩ, việc nghiên cứu dấu ấn văn hoá của cư dân miền Tây Nam Bộ trong văn bản văn học của nhà văn không thể tách rời với việc định vị tọa độ văn hóa vùng đất miền Tây Nam Bộ
1.2 Định vị tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ
1.2.1 Không gian văn hóa
Các đồng bằng châu thổ trên đất nước Việt Nam đều do các con sông lớn bồi đắp nên; phía Bắc có đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía Nam có đồng bằng sông Mekong (đồng bằng sông Cửu Long)
Về địa hình, địa bàn Tây Nam Bộ, cũng còn có thể gọi là vùng đồng bằng sông Mekong Sông Mekong bắt nguồn từ những đỉnh núi quanh năm phủ đầy băng tuyết trên cao nguyên Tây Tạng, chảy qua địa phận Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, cuối cùng là Việt Nam rồi đổ ra biển Đông Con sông dài 4.200 km, lượng nước trung bình 500 tỉ mét khối một năm Trong số những con sông từ lục địa Đông Nam Á đổ ra biển thì Mekong là sông lớn hơn cả ở châu Á Qua ngã ba biên giới Thái Lan – Miến Điện – Lào, sông qua vùng thượng nguồn để đi vào vùng trung lưu rất rộng lớn Ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên, khi mực nước biển rút lui cùng với sự lấp dần của vịnh biển, đồng bằng sông Mekong mới nổi lên Không gian châu thổ ban đầu còn rất hẹp, nằm trong trạng thái lầy lội, chỉ trừ một số nơi đất cao, bề mặt bị chia cắt thành các lạch triều lớn nhỏ đan cắt vào nhau Vì vậy, đồng bằng sông Mekong thuộc vùng miền Tây Nam Bộ có hệ thống sông rạch rất chằng chịt
Qua hàng ngàn năm tranh chấp sông với biển, đồng bằng được hình thành, hiện vẫn còn đang tiếp tục hình thành Biết bao nhiêu cù lao sông lớn nhỏ được tạo ra, nới rộng thêm cho đất đai của các tỉnh Tây Nam Bộ, có cả một vài cù lao sông khổng lồ nằm giữa sông Tiền, sông Hậu Gió biển thổi, giữ phù sa lắng đọng lại ở các cửa sông; nhờ đó mà ở ngay vị trí các cửa sông,
Trang 31theo thời gian, tự nhiên đã tài bồi, tạo ra những vùng đất mới Sông đưa phù
sa ra phía biển, biển tác động trở lại bằng thủy triều và dòng biển ven bờ Biển tác động mạnh vào châu thổ bằng chế độ truyền triều từ ba mặt: Đông, Nam và Tây Nam kết hợp Các yếu tố thiên nhiên (khí hậu, sông rạch, biển, đất…) của vùng châu thổ sông Mekong tác động lẫn nhau làm cho cảnh quan vùng này luôn ở trạng thái động
Đồng bằng sông Mekong (đồng bằng sông Cửu Long) rộng 40.000 km vuông, giáp giới về phía Đông với đồng bằng sông Đồng Nai, thể hiện tập trung tính chất bán đảo, nhiệt đới gió mùa của nước Việt Nam Đồng thời, ở
vị trí cực Nam của Tổ quốc, đồng bằng sông Mekong thuộc vùng đất Tây Nam Bộ Vùng Tây Nam Bộ mang tính chất địa lý-tự nhiên rất phong phú, độc đáo của nó, càng làm nổi bật hơn lên tính thống nhất trong sự đa dạng của thiên nhiên Việt Nam
Cảnh quan vùng Tây Nam Bộ là hình ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam: có đủ cả vùng núi, vùng rừng, vùng cao nguyên, vùng đồng bằng, vùng biển Tính chất rất đa dạng của thiên nhiên nơi đây đã được phân biệt thành những “miệt” để chỉ những tiểu vùng thiên nhiên khác nhau: miệt trên (vùng Long An), miệt dưới (Rạch Giá, Cà Mau), miệt U Minh, miệt Cao Lãnh, miệt Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp), miệt Mỹ, Vãng (Mỹ Tho, Vĩnh Long), miệt chợ Thủ, miệt Ông Chưởng (Long Xuyên) hay là miệt Hai Huyện, miệt Xà Tón, Bảy Núi (An Giang, Kiên Giang), miệt vườn (vùng phù sa nước ngọt có nhiều vườn cây ăn trái – Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng) Các miệt hay các tiểu vùng thiên nhiên này có những đặc trưng địa lý thổ nhưỡng khác nhau do kết quả của “sự tranh chấp” giữa sông và biển, giữa vùng đất cũ và vùng đất mới…
Trang 32Vùng màu xanh dương: vị trí vùng Tây Nam Bộ trên bản đồ Việt Nam
[http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_B%E1%BB%99_Vi%E1%BB%87t_Nam]
Các dạng địa lý thổ nhưỡng này quy định những dạng quần cư khác nhau, có cấu trúc phân bố không đều: mật độ dày đặc ở vùng đất cũ sẽ trở thành nơi tụ hội của các giao lộ đường sông và đường bộ (vùng giữa và ven sông Tiền, sông Hậu); mật độ phân tán ở những vùng mà lũ sông và triều biển
Trang 33thì giữ vai trò chi phối hệ sinh thái (các vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu)
Bản đồ vùng Tây Nam Bộ với 13 tỉnh thành:
Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau
[http://vn.360plus.yahoo.com/nexus-87/photo?pid=4&fid=2]
Trang 34Nam Bộ là một miền đất trẻ, Tây Nam Bộ lại là miền đất trẻ hơn cả Đông Nam Bộ Ngày nay, về phạm vi, vùng Tây Nam Bộ là địa phận của các tỉnh, thành: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau Hệ thống sông nước Tây Nam Bộ bủa vây các miệt, bao bọc các cù lao
và len lỏi đi khắp đồng bằng Đồng bằng sông Mekong rộng lớn, bằng phẳng, không vướng tầm mắt trải dài đến tận chân trời, với đặc điểm nổi bật của địa
lý-tự nhiên nơi đây là sông nước kênh rạch Sự kết hợp của địa hình bằng
phẳng và môi trường sông nước chằng chịt đã tạo nên một chiều kích không gian rộng mở cho Tây Nam Bộ Là đầu cầu, là cửa ngõ của Thái Bình Dương
và Ấn Độ Dương, vùng miền Tây Nam Bộ có vị trí địa lý-tự nhiên đặc biệt quan trọng Trong không gian văn hóa nơi đây, thiên nhiên đồng bằng rất đa dạng, dẫn đến sự quy định kinh tế nông nghiệp nơi này cũng rất đa dạng: trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, sản xuất thủ công nghiệp
Về khí hậu, với sự đa dạng trong không gian kể trên, thiên nhiên vùng Tây Nam Bộ thể hiện rõ cái nền tảng cơ bản của khí hậu Việt Nam: nhiệt đới gió mùa Điểm đặc biệt và khác với khí hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam là đồng bằng sông Mekong tuy cũng ở xứ nhiệt đới gió mùa, nhưng không biết tới sự thay đổi nóng lạnh qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; cũng không chịu cảnh mưa dầm gió bấc như ở đồng bằng sông Hồng Đây là “vùng nằm gọn trong những vĩ tuyến Bắc rất thấp, có khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, nóng ẩm quanh năm, không có mùa lạnh và rất ít bão Nhiệt độ và độ ẩm đều thuộc hàng cao Số giờ nắng thuộc vào loại nhiều nhất trong cả nước, trên dưới
2000 giờ/năm” [Nguyễn Công Bình 1990: 14] Khí hậu ở Tây Nam Bộ quanh năm chỉ có hai mùa mưa nắng Nắng nhiều, về mùa khô, nắng nóng gay gắt
Nắng nóng mưa nhiều, lượng mưa hàng năm là 2335giờ/nămvới 184 ngày
mưa Mưa rất phũ mà cũng ngưng liền ngay sau đó Ít thấy cảnh mưa dầm dài ngày hoặc cái rét cắt da thịt như khí hậu ở miền Trung, miền Bắc Khí hậu nóng ấm quanh năm Toàn bộ các loài thực vật phát hiện ở vùng đồng bằng
Trang 35này đều nằm trong giới hạn thực vật nhiệt đới; nguồn lợi sinh vật chủ yếu là sinh vật ưa nước; hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển là những nét tiêu biểu của thiên nhiên nhiệt đới gió mùa Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa của vùng Tây Nam Bộ không chỉ thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi, đời sống con người
mà nó còn giúp cho đồng bằng sông Cửu Long tồn tại và phát triển trong trạng thái tương phản: tương phản giữa sông và biển, gió mùa Tây Nam và mùa gió chướng, lũ và hạn, nước ngọt rất thừa mà lại rất thiếu, đất phù sa ngọt với đất phèn đất mặn… Thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng Tây Nam Bộ ít xảy ra thời tiết thất thường Vòng quay tuần tự của thiên nhiên Tây Nam Bộ tuân theo hai mùa mưa và khô Với hai mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt, đây chính là yếu tố bất biến hơn cả trong cảnh quan thiên nhiên tác động đến văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ qua tiến trình lịch sử Như thế, vùng đất Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Mekong – địa bàn định cư cuối cùng của những thế hệ lưu dân Việt) là một vùng đất mà thiên nhiên vừa hào phóng vừa khắc nghiệt, nơi hàm chứa nhiều tiềm năng phong phú, nơi khí hậu thuận hòa,
độ nóng ẩm cao, sông rạch chằng chịt với nhiều cửa sông lớn thông ra đại dương tạo nên những điều kiện đặc thù cho ngành nghề thủy hải sản, tạo điều kiện gây dựng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và mở rộng giao lưu với bên ngoài
Từ những cứ liệu khảo sát kể trên, chúng tôi nhận định tổng quát về không gian văn hóa Tây Nam Bộ như sau: địa hình sông nước kênh rạch, khí hậu nhiệt đới gió mùa (1) là tiền đề tạo nên nét đặc trưng về điều kiện địa lý-
tự nhiên ở Tây Nam Bộ, đó là quanh năm chỉ có hai mùa mưa nắng, nắng
nóng mưa nhiều, nhưng ít khi mưa kéo dài (2) “Không gian văn hóa này có
thể trở thành nhân tố quan trọng góp phần làm cho văn hóa vùng, tiểu vùng của Nam Bộ trở thành một bộ phận (có những nét “riêng” nhất định) trong cái
“chung” của văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á” [Huỳnh Quốc Thắng 1998: 69]
Trang 36Thành quả của công cuộc chinh phục thiên nhiên đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm đầy sáng tạo của con người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam Tất cả các nhân tố sinh thái tự nhiên và xã hội nêu trên đều có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành những bình diện làm nên văn hóa như tính cách, tâm lý, phong cách ứng xử, phong tục tập quán…của chủ thể văn hóa ở nơi đây: người Việt miền Tây Nam Bộ Không gian văn hóa với những điều kiện địa lý - tự nhiên đã nêu trên dẫn đến việc cần thiết tìm hiểu chủ thể văn hóa vùng Tây Nam Bộ
1.2.2 Chủ thể văn hóa
Trong phạm vi đề tài của luận văn, người viết đề cập chủ yếu đến chủ thể người Việt miền Tây Nam Bộ (bao gồm bộ phận người Kinh trong tập hợp dân tộc Việt Nam, sinh sống ở khu vực Tây Nam Bộ)
Từ thế kỷ XVII, những người dân di cư từ Bắc, Trung Bộ “đi từ Bắc vào Nam, sau khi vượt qua những đồng bằng nhỏ hẹp và núi non vùng cực Nam Trung Bộ, người ta đến vùng đất Nam Bộ - vùng người Việt khai phá với cái tên đầu tiên: đất Đồng Nai-Gia Định” [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990:13] Cánh chim tung trời, về miền đất phương Nam
Họ nhập cư và dần dần Nam tiến theo nhu cầu tìm kiếm những miền đất “đất lành chim đậu” Những người Việt đầu tiên đến chinh phục vùng đất mới này
đã nhận biết tính chất rất đa dạng của thiên nhiên nơi đây, khôn khéo và linh hoạt nắm bắt, tận dụng, khai thác, mở mang, biến không gian địa lý đó thành vùng kinh tế, vùng văn hóa của mình Con người vốn là sản phẩm của lịch sử,
và cũng là chủ thể của xã hội Tuy nhiên, con người thường chịu sự tác động của môi trường thiên nhiên và hoàn cảnh sống của mình Người Việt miền Tây Nam Bộ cũng mang những đặc điểm chung của người Việt Nam Nam
Bộ lại là vùng đất mới, mở ra với muôn ngả giao lưu văn hóa qua lại sống động Trong quá trình phát triển, tiến dần về phía Nam để mở mang bờ cõi và xây dựng cuộc sống mới, người Việt miền Tây Nam Bộ có nhiều sự chuyển
Trang 37đổi về tâm lý, tình cảm, tính cách, tập quán phụ thuộc theo hoàn cảnh khách quan Họ mang theo truyền thống văn hóa của dân tộc, đồng thời hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội đặc thù đã góp phần tạo nên nét riêng trong đời sống, trong tính cách đặc thù của họ Một lớp cư dân mới với một nền văn hóa mới
đã đưa vùng đất Tây Nam Bộ đi vào một bước ngoặt quyết định
Dân tộc Việt Nam với kinh nghiệm hàng nghìn năm trồng lúa nước, với truyền thống yêu nước, đoàn kết, kiên cường, đã bắt đầu sự nghiệp khai khẩn đồng bằng sông Mekong Một thiên nhiên mênh mông, phong phú, đa dạng, phì nhiêu mời gọi cư dân tiếp tục tiến bước khai phá, mở mang cơ nghiệp Một thiên nhiên đầy sông, biển, kênh, rạch đòi hỏi con người không chỉ thích ứng môi trường mà còn khơi gợi cho con người óc phiêu lưu, khám phá, tìm kiếm những chân trời mới Lịch sử đã ghi nhận lại gương mặt các lớp người
có mặt trong công cuộc Nam tiến Lớp người đầu tiên đến mảnh đất phía Nam của đất nước là những cư dân miền Bắc, miền Trung Vì lâm vào cảnh sống khốn cùng và muốn tránh cuộc phân tranh kéo dài giữa hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn, từ thế kỷ XVII, họ đã lần lượt kéo vào vùng Đồng Nai - Cửu Long
để kiếm sống và ẩn thân Những người đến với vùng đất Nam Bộ phần lớn là
do lâm vào hoàn cảnh bế tắc, phải ra đi tìm kế sinh nhai, chỉ trừ một số ít người trong số cựu cư dân Nam Bộ là người có đầu óc mạo hiểm, muốn khám phá và xây dựng một hoàn cảnh sống mới Lớp người thứ hai có mặt ở Nam
Bộ là những binh sĩ hoặc các tội đồ bị triều đình sai phái, buộc vào Nam để vừa bảo vệ biên cương, vừa mở mang ruộng đất, thành lập đồn điền Lớp người thứ ba, đó là những người có tiền của, quyền thế, đi chiêu mộ dân nghèo và cùng họ từ miền Trung tiến vào nơi đây khai khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn
Những người đặt chân đến khai phá, lập nghiệp ở trên mảnh đất Tây Nam Bộ đã được tận hưởng khí hậu ôn hòa hơn miền Bắc, miền Trung; được canh tác nông nghiệp trên đất trồng màu mỡ do được phù sa của hệ thống các
Trang 38con sông lớn bồi đắp Nhưng ở buổi đầu, đất đai Tây Nam Bộ còn quá đỗi hoang sơ Người Việt miền Tây Nam Bộ muốn khai phá thì phải chấp nhận thiên nhiên hoang dã với những cảnh quan “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh tựa bánh canh” hay phải đối phó với biết bao bệnh tật hiểm ác của vùng đất rừng thiêng nước độc Vùng đất sình lầy hoang dại ma thiêng nước độc dữ dội dưới cái nắng gay gắt của mùa khô cùng với bao tai họa rình rập không lường trước được… trở thành mối nguy hiểm hàng ngày và luôn đe dọa tính mạng con người Con người từ một nơi xa xôi vừa đặt chân đến vùng đất mới đã gặp ngay những thách thức to lớn Trước thiên nhiên đậm chất hoang dã, trước không khí âm u của một nơi
mà sự sống vốn ít ỏi, những cư dân đầu tiên đi lập nghiệp đã không tránh khỏi tâm lý hoang mang, bỡ ngỡ, kiêng sợ:
Đến đây xứ sở lạ lùng, Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh
(Ca dao Nam Bộ)
Nhưng với bản lĩnh, tính ngang tàng, cùng với tính sáng tạo, tính năng động, dân cư Tây Nam Bộ đã biến môi trường địa lý hoang vu dữ dội đó thành vùng kinh tế, vùng văn hóa trù mật của mình Những người Việt đầu tiên đến chinh phục vùng này đã nhận ra tính chất rất đa dạng của thiên nhiên nơi đây Buổi đầu khai phá, người dân Tây Nam Bộ không chỉ nhận biết và tận dụng được cái thuận lợi của thiên nhiên mà còn khắc phục những khó khăn do thiên nhiên gây ra để thích nghi với hoàn cảnh sống trên vùng đất mới Trong quá trình khai khẩn, con người đã từng bước chinh phục, cải tạo miền đất mới và từng bước bắt thiên nhiên phải phục vụ cho con người Cũng chính những đặc điểm tự nhiên đó đã quy định các loại hình và tính chất của các hoạt động sản xuất khác nhau ở mỗi “miệt”: nghề ruộng, nghề rẫy, nghề rừng, nghề sông, nghề biển Ngay từ những ngày đầu, họ đã phải đối mặt với bao khó khăn thử thách trên bước đường chinh phục thiên nhiên, thuần hóa
Trang 39thú dữ, cày xới đất đai, đốn cây làm nhà, lập làng dựng nghiệp trên vùng đất mới:
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, Xuống sông sợ đỉa, lên rừng cọp um
(Ca dao Nam Bộ)
Để chiến thắng những khó khăn, trở lực trên bước đường khai phá mang đầy những thử thách ấy, những người lao động, đặc biệt là người nông dân đã sử dụng sức mạnh của đôi tay, sức mạnh của khối óc và nghị lực, ý chí phi thường của bản thân cùng sự dũng cảm, tinh thần đoàn kết cộng đồng Bằng sự nỗ lực lớn từ những chủ nhân mới đem lại, một Nam Bộ hoang sơ với “rừng rậm mấy ngàn dặm, đất nhiều khe suối, đường thủy như mắc cửi không thể đi đường bộ được” [Lê Anh Trà 1984:119] đã được “thay da đổi thịt”, đã biến thành những xóm làng, những ruộng đồng thẳng tắp, những vườn cây ăn trái sai trĩu quả Trải qua bao năm tháng đầy gian khó, hiểm nguy, các thế hệ ông cha đã biến nơi chỉ toàn cỏ cây lau sậy, thú dữ trở thành mảnh đất phì nhiêu, trù phú Tây Nam Bộ đã thay vào bức tranh toàn cảnh hoang sơ là hình ảnh những cánh đồng xanh ngát trải rộng, những vườn cây trái trĩu quả sum suê, những làng xóm mọc lên ở khắp nơi Trong hành trang của những người Việt đi mở cõi, ngoài những công cụ sản xuất (cuốc, rựa, giống má…) và những phương tiện sinh sống tối thiểu, họ còn mang theo một vốn liếng tinh thần và những truyền thống văn hóa dân gian bền chắc của vùng đất cội nguồn
Mặt khác, để thích ứng với thiên nhiên và chinh phục cho bằng được thiên nhiên nơi này, người Việt Tây Nam Bộ cũng đã nhanh nhạy quảng giao liên kết với những người bạn đồng hành, đồng cam cộng khổ với mình (người Hoa, Chăm, Khmer) trong công cuộc khai phá vùng đất không hẹn mà cùng đến đó, để rồi hình thành nên cộng đồng cư dân vùng Tây Nam Bộ sống dung
Trang 40hòa “Trong giao lưu văn hóa, hội nhập văn hóa, việc hiểu biết tinh thần của các chủ thể văn hóa là đặc biệt khó khăn nhưng vô cùng cần thiết” [Nguyễn Văn Hạnh 2002: 306] Đông Nam Á là nơi có rất đông cộng đồng các dân tộc
du nhập trong nhiều thế kỷ Quá trình di trú của các tộc người Ấn Độ, Trung Hoa đã tạo nên các cộng đồng người mới, hòa hợp với các dân tộc bản địa ở Đông Nam Á, và góp phần làm nên thành tựu đáng tự hào ở Đông Nam Á trong suốt chiều dài lịch sử văn minh khu vực này Có một thực tế lịch sử là, chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng cả bản địa và ngoại sinh du nhập cùng với truyền thống văn hóa, ý thức cộng đồng của cư dân Đông Nam Á được hình thành từ hàng nghìn năm lịch sử trong đó có tinh thần ôn hòa, khoan dung, tương thân tương ái… các dân tộc sống ở Đông Nam Á thường có sự hòa đồng, cảm thông, chia sẻ trong cuộc sống lao động nông-lâm-ngư nghiệp chứ không xung đột dân tộc, xung đột tôn giáo nặng nề
Đó cũng là một trong những lý do khiến cho các giá trị văn minh ở Đông Nam Á trong các quốc gia có những mẫu số chung, có sự thống nhất trong đa dạng [Đinh Trung Kiên 2006: 11]
Vùng Tây Nam Bộ là nơi cộng cư và hòa nhập của nhiều tộc người như Việt, Chăm, Khmer, Hoa… Quá trình cộng cư trao đổi văn hóa giữa các tộc người, giữa cư dân của nhiều địa phương cùng tụ hội về đây lập nghiệp đã tạo nên lớp chủ nhân mới của Tây Nam Bộ “Văn hóa của một chủ thể hình thành bằng hai con đường, trước hết là được con người đúc kết thông qua hoạt động thực tiễn của chính mình, thứ hai là hình thành trong quá trình giao lưu giữa các nền văn hóa” [Trần Nho Thìn 2008: 13] Hai quá trình này quan trọng như nhau Không thể có một nền văn hóa nào lại đứng biệt lập, tách biệt mà không
có quan hệ giao lưu Giao lưu văn hóa là điều tự nhiên và bắt buộc phải diễn
ra ở tất cả các cộng đồng trong quá trình cộng cư, cộng nghiệp v.v Như thế,
từ rất sớm, Nam Bộ đã là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau Trong hành trình xuôi về Tây Nam Bộ, phải kể đến sự có mặt của những tộc người Chăm, Khmer, Hoa; họ đã kề vai sát cánh với người Việt lao tâm khổ tứ khai