đề tài Tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ làm luận văn tốt nghiệp vừa là một thách thức lớn trong nghiên cứu khoa học bởi mảng đề tài khá mới, vừa là cơ hội để nâng cao khả năn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
LÊ PHƯƠNG THẢO
TÍNH HÀO HIỆP CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN
TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
LÊ PHƯƠNG THẢO
TÍNH HÀO HIỆP CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN
Trang 3Mục lục 3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DẪN NHẬP 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Lịch sử vấn đề 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
7 Bố cục luận văn 11
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13
1.1 Khái lược về tính cách và tính cách người Việt 13
1.1.1 Những tiền đề lý luận về tính cách dân tộc 13
1.1.2 Hệ thống tính cách người Việt 15
1.2 Tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ 18
1.2.1 Không gian văn hóa 18
1.2.2 Thời gian văn hóa 20
1.2.3 Chủ thể văn hóa 22
1.3 Khái lược về tính cách và tính hào hiệp của người Việt Tây Nam Bộ 25
1.3.1 Hệ thống tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ 25
1.3.2 Định nghĩa tính hào hiệp 28
1.3.3 Nguồn gốc của tính hào hiệp 31
1.4 Tiểu kết 34
CHƯƠNG 2: TÍNH HÀO HIỆP TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 37
2.1 Nhận thức về nhu cầu chia xẻ tài - sức để thích ứng với môi trường tự nhiên 38
2.2 Nhận thức về nhu cầu chia xẻ tài - sức để thích ứng với môi trường xã hội .45
2.3 Tiểu kết 61
CHƯƠNG 3: TÍNH HÀO HIỆP TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 62
3.1 Trong văn hóa giao tiếp 62
3.1.1 Thái độ giao tiếp 62
3.1.2 Chủ thể và đối tượng giao tiếp 65
3.1.3 Quan hệ giao tiếp 68
3.1.4 Nghi thức giao tiếp 70
3.2 Trong tổ chức đời sống tâm linh 73
3.2.1 Tín ngưỡng thờ Ông Địa 73
3.2.2 Bửu Sơn Kỳ Hương 74
3.2.3 Phật giáo Hòa Hảo 75
3.2.4 Đạo Cao Đài 78
3.2.5 Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam 80
3.3 Tiểu kết 83
Trang 4Mục lục 4
CHƯƠNG 4: TÍNH HÀO HIỆP TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI
VIỆT TÂY NAM BỘ 85
4.1 Từ góc độ ứng xử trong cộng đồng 85
4.1.1 Cách ứng xử của người giàu 86
4.1.2 Cách ứng xử của người bình dân 92
4.1.3 Những chương trình từ thiện 104
4.2 Từ góc độ ứng xử ngoài cộng đồng 110
4.2.1 Đối với các tộc người khác 110
4.2.2 Đối với phương Tây 114
4.3 Tiểu kết 116
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
TÀI LIỆU TRA CỨU 128
TƯ LIỆU KHẢO SÁT 129
DANH MỤC HÌNH 138
Trang 5đề tài Tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ làm luận văn tốt
nghiệp vừa là một thách thức lớn trong nghiên cứu khoa học bởi mảng đề tài khá mới, vừa là cơ hội để nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng để tìm hiểu thêm về tính cách của con người nơi vùng đất cực Nam năng động và trù phú này
2 Mục đích nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, việc nhìn nhận lại một nền văn hóa của dân tộc - ở đây là văn hóa Nam Bộ nói chung và tính cách Nam Bộ nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết Cụ thể, nghiên cứu tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ không chỉ giúp chúng ta có một cái nhìn khách quan và hệ thống về tính cách mà còn là cơ sở để giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Trang 6Dẫn nhập 6
3 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu văn hóa Nam Bộ nói chung và tính cách của con người Nam Bộ nói riêng đã được khá nhiều các tác giả đề cập đến trên nhiều phương diện, từ lịch sử, địa lý, xã hội học, tâm lý học cho đến văn hóa học, văn học…
Về tổng thể văn hóa Việt Nam nói chung, có các công trình như:
Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương, Cao Xuân Huy với Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Trần Quốc Vượng với Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm, Trần Ngọc Thêm với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Đỗ Lai Thúy với Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa, Hồ Liên với Một hướng tiếp cận văn hóa Việt Nam, Lê Ngọc Trà với Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, Ngô Đức Thịnh với các công trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam; Văn hóa, Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam… Đây là những tác phẩm
đã được khẳng định về chất lượng và độ tin cậy Các tác giả đã khái quát một cách hệ thống theo nhiều khía cạnh về bức tranh tổng thể của văn hóa Việt Nam với một diện mạo riêng, cá tính riêng Đây có thể xem là những công trình đóng vai trò làm cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu với các giá trị đã được kiểm định, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cho mỗi người khi bắt tay vào tìm hiểu văn hóa học
Về văn hóa Nam Bộ trên một cái nhìn tổng thể nói chung có thể kể
đến các nghiên cứu như: Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Ô Châu cận lục của Dương Văn An, Chân Lạp phong thổ ký của Chu Đạt Quan, Địa chí văn hóa TP.HCM của các tác giả Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng; Hội khoa học lịch sử TPHCM với bộ sách Nam Bộ đất và người, công trình Lịch sử phụ nữ Nam Bộ kháng chiến của Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ; Huỳnh Lứa với Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVII, XIX; các tác giả
Trang 7Dẫn nhập 7
Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường với Văn hóa & cư dân đồng bằng sông Cửu Long; Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh với Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ; Phan Quang với Đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Phương Thảo với Văn hóa dân gian Nam Bộ - những phác thảo, Hồ Bá Thâm với Văn hóa Nam Bộ Vấn đề và phát triển Những công trình này đã phác thảo nên hình ảnh tổng quan về
điều kiện tự nhiên cũng như tiến trình lịch sử của vùng đất Nam Bộ Từ đó cho thấy ảnh hưởng và những tác động của các điều kiện này đến việc hình thành phong tục, lối sống, tập quán của con người Các tác giả cũng đã đưa
ra nhiều tiêu chí để phân định Nam Bộ như một vùng văn hóa đặc thù với những đặc trưng, diện mạo riêng, phân biệt với những vùng văn hóa còn lại trên lãnh thổ Việt Nam Những dấu ấn đặc trưng của văn hóa Nam Bộ được nhìn nhận và xác định từ nhiều phương diện: từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, thành phần tộc người cho đến các phong tục tập quán, thói quen ăn ở, đi lại, những hình thức sinh hoạt diễn xướng, trò chơi dân gian, những tín ngưỡng, tôn giáo hay tâm lý cộng đồng… Có thể nói, các tác phẩm này đã tập hợp khá đầy đủ và chi tiết về toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con người Nam Bộ nói chung Trong các công trình này cũng đã có đề cập đến những nét tính cách tiêu biểu đặc trưng của người Việt Nam Bộ như tinh thần dân chủ, tính bao dung, nhân nghĩa, rộng rãi, phóng khoáng, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, thiết thực, giản dị Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê với những nhận xét mang tính cảm tính
Các tư liệu trong lĩnh vực văn học có: Đào Văn Hội với Phong tục
miền Nam qua mấy vần ca dao; Nguyễn Văn Hầu với Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ; Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị với Ca dao dân ca Nam Bộ; Bùi Mạnh Nhị, Trần Tấn Minh, Nguyễn Tấn Phát với Truyện cười dân gian Nam Bộ; Bằng Giang với Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930; Nguyễn Q Thắng với Tiến trình văn
nghệ miền Nam… Nghiên cứu trên khía cạnh tôn giáo có Phạm Bích Hợp
Trang 8Dẫn nhập 8
với Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa Trần Hồng Liên với Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975; Đặng Thế Đại với bài viết Tính đặc sắc Nam Bộ và truyền thống văn hóa Việt Nam qua một dòng tôn giáo… Đây là những công trình có tính chất
như một kho tư liệu tham khảo phong phú và đa dạng Trên cơ sở đó, luận văn có thêm nền tảng để tìm hiểu sâu hơn về tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ
Các tác phẩm ghi nhận, biên khảo như: Huỳnh Minh với bộ biên
khảo gồm các tập Bạc Liêu xưa và nay, Vĩnh Long xưa và nay, Cần Thơ xưa, Gò Công xưa, Kiến Hòa (Bến Tre) xưa, Sa Đéc xưa; Sơn Nam với bộ biên khảo, ghi chép gồm Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn, Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, Đất Gia Định
- Bến Nghé xưa và Người Sài Gòn, Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam; Sài Gòn xưa - Ấn tượng 300 năm & Tiếp cận với đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm khác như Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê, Nửa tháng trong miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu, Rừng U Minh dấu ấn và cảm thức của Phan
Thanh Nhàn… Đây là những góp nhặt, ghi chép về đời sống vật chất và tinh thần cũng như những dấu ấn trong phong tục, tập quán, lối sống của người Nam Bộ một cách sống động, rõ ràng và chân thật nhất Góp phần mang đến những tri thức đáng tin cậy về đời sống thực tế của con người nơi đây với những cứ liệu đã được các tác giả trực tiếp quan sát tham dự và ghi chép lại Các tác phẩm này cũng đã ít nhiều đề cập đến những mặt tích cực và tiêu cực trong tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ
Những vấn đề lý luận về tính cách dân tộc, tính cách của người Việt Nam truyền thống cũng đã có nhiều tác giả đề cập đến, như Đào Duy
Anh, Nguyễn Hồng Phong, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giàu, Trương Chính, Trần Ngọc Thêm… (chi tiết cụ thể sẽ trình bày trong Chương 1 Mục 1.1.2)
Về tính cách người Việt ở miền Tây Nam Bộ, trong hầu hết các công
Trang 9thống hóa những tính cách đặc trưng nổi bật của người Việt miền Tây Nam
Bộ và lý giải về nguồn gốc hình thành cũng như những hệ quả của nó một cách thấu đáo và thuyết phục Hình thành một hướng nghiên cứu tiếp cận về tính cách từ góc nhìn khoa học và khách quan
Các tài liệu trên là nền tảng quý giá để trên cơ sở đó, chúng tôi có những bước nghiên cứu, tìm tòi để phát triển thực hiện đề tài Thực tế, mặc
dù đã có khá nhiều công trình đề cập đến tính cách của người Việt ở Nam
Bộ nhưng hầu hết chỉ là cái nhìn thoáng qua, chưa có sự tìm hiểu một cách cặn kẽ về những biểu hiện của tính cách cũng như lý giải nguyên nhân, nguồn gốc của chúng Việc nghiên cứu một tính cách cụ thể (ở đây là tính hào hiệp) từ góc độ văn hóa học cũng chưa có bất kỳ một công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và toàn vẹn Cho nên đề tài nghiên cứu về tính hào hiệp như một đối tượng độc lập là một đề tài mới và đặt ra khá nhiều thử thách cho chúng tôi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính hào hiệp của người Việt (người Kinh) miền Tây Nam Bộ
Chủ thể văn hóa: cộng đồng cư dân người Việt ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Không gian văn hóa: trong phạm vi các tỉnh miền Tây Nam Bộ Thời gian văn hóa: toàn bộ quá trình từ thế kỷ XVII - khi những nhóm cư dân người Việt đầu tiên bắt đầu đến đây sinh sống đến nay
Trang 10Dẫn nhập 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, qua việc tìm hiểu tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ sẽ giúp ta nhận dạng được một phần bản chất văn hóa truyền thống của con người nơi đây, đồng thời thấy được quy luật vận động phát triển của chúng Trên cơ sở đó làm sáng rõ một số vấn đề về lý luận nói chung, cũng như tìm hiểu về tính cách nói riêng
Về ý nghĩa thực tiễn, do nghiên cứu tính cách vùng miền là một vấn
đề đang rất được quan tâm trong thời đại toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa nên đề tài này có tính cấp thiết cao Nó có thể cung cấp một nguồn tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu về văn hóa Nam Bộ nói chung và tính hào hiệp của người Nam Bộ nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, trước tiên chúng tôi đã sử dụng phương pháp hệ thống - loại hình đặt đối tượng nghiên cứu trong một hệ tọa độ
nhất định để có được những lý giải tương đối xác đáng
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng cách tiếp cận liên ngành để
tìm hiểu tính cách Nam Bộ thông qua việc áp dụng những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học khác như văn học dân gian, văn học thành văn, ngôn ngữ học, tôn giáo học, lịch sử học, xã hội học… dưới góc nhìn văn hóa học
Chúng tôi cũng đồng thời vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu
với tính cách người Việt ở các vùng, miền khác để từ đó làm rõ luận điểm
về tính hào hiệp như một tính cách nổi bật của người Việt miền Tây Nam
Bộ
Đồng thời, luận văn cũng được bổ sung thêm bằng phương pháp quan sát tham dự, điều tra thực địa
Trang 11Dẫn nhập 11
Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng chủ yếu là các tư liệu văn học dân gian (như ca dao, tục ngữ, truyện kể dân gian, truyện thơ dân gian…) Tư liệu văn học thành văn cận - hiện đại và đương đại (như tiểu thuyết, các ghi chép mang tính sưu tầm, khảo sát, các ghi chép mang tính văn học…) Bên cạnh đó cũng có bổ sung thêm một số tư liệu điền dã từ quan sát tham dự thực tế
7 Bố cục luận văn
Bố cục luận văn được chia thành bốn chương Ngoài chương đầu tiên
là cơ sở lý luận thì ba chương còn lại được xếp xếp theo mô hình cấu trúc văn hóa (nhận thức, tổ chức và ứng xử) của Trần Ngọc Thêm1 Cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung Chương này xác lập những vấn đề
cơ sở lý luận để làm nền tảng cho việc tìm hiểu những biểu hiện của tính hào hiệp ở các chương sau, đó là:
- Về tính cách và tính cách của người Việt (những tiền đề lý luận về tính cách dân tộc và hệ thống tính cách người Việt)
- Về tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ
- Về hệ thống tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ Xác lập định nghĩa tính hào hiệp cũng như nguồn gốc của nó
Chương 2: Tính hào hiệp trong văn hóa nhận thức của người Việt Tây Nam Bộ Chương này tìm hiểu nhận thức của dân tộc về tính cách, cụ
thể là những nhận thức của người Việt về tính hào hiệp thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ, những lời nói trong văn chương và trong cuộc sống hằng ngày Từ đó khái quát lên hai luận điểm cơ bản, đó là nhận thức về nhu cầu chia xẻ tài lực - sức lực để thích ứng với môi trường tự nhiên và nhận thức
về nhu cầu chia xẻ tài lực - sức lực để thích ứng với môi trường xã hội
1 Trần Ngọc Thêm 2006: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb Tổng hợp TP.HCM, 690 trang
Trang 12Dẫn nhập 12
Chương 3: Tính hào hiệp trong văn hóa tổ chức của người Việt Tây Nam Bộ Chương này tìm hiểu những biểu hiện của tính hào hiệp trong văn
hóa tổ chức đời sống của người Việt Cụ thể là thông qua văn hóa giao tiếp
và văn hóa tổ chức đời sống tâm linh để làm nổi bật lên những đặc trưng của tính cách hào hiệp
Chương 4: Tính hào hiệp trong văn hóa ứng xử của người Việt Tây Nam Bộ Chương này tìm hiểu những biểu hiện của tính hào hiệp thông qua
hai lĩnh vực, đó là từ góc độ ứng xử bên trong cộng đồng và từ góc độ ứng
xử bên ngoài cộng đồng
Trang 13Chương 1: Những vấn đề chung 13
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái lược về tính cách và tính cách người Việt
1.1.1 Những tiền đề lý luận về tính cách dân tộc
Từ khi toàn cầu hóa, thế giới dần hòa vào một khối chung khiến nguy cơ đánh mất nét riêng trở nên thường trực thì nhu cầu giữ gìn bản sắc văn hóa càng trở nên thiết yếu Tuy nhiên, muốn giữ gìn bản sắc thì trước hết phải hiểu bản sắc là gì Do đó mà trong thời gian gần đây, những vấn đề
về căn tính, bản sắc hay cá tính, tính cách dân tộc được khá nhiều người quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, từ xã hội học đến tâm lý học hay văn hóa học Không chỉ để tìm hiểu về cội nguồn dân tộc, nghiên cứu tính cách còn nhằm mục tiêu xóa bỏ hay ít nhất là xoa dịu, làm giảm bớt những định kiến chủng tộc hẹp hòi, tiến tới một thế giới hòa bình, hữu nghị và bao dung hơn Ở Việt Nam, nghiên cứu tính cách dân tộc cũng là một bước để chúng ta có thể tự nhận diện, hiểu rõ những gì là bản sắc riêng của mình trong sự so sánh với bạn bè thế giới
Tính cách dân tộc (national character) là một vấn đề vừa cụ thể vừa
phổ quát nên rất khó nắm bắt, nó có thể được tiếp cận từ nhiều hướng Các nhà nhân học văn hóa như R Benedict, Margaret Mead, G Batason, G
Gorer xác định tính cách dân tộc như một tính cách văn hóa (cultural
character) Theo họ, tính cách này là hình dáng văn hóa, là cá tính vượt trội trong nhóm dân tộc Trong khi đó, các nhà phân tâm học duy văn hóa như
A Kardiner, E Fromm thì quan tâm tới sự phân tích chức năng xã hội - lịch
sử của cá tính tập thể, bằng cách chỉ ra những liên hệ thống nhất giữa cá tính tâm lý - văn hóa với các thể chế xã hội, họ xác định tính cách dân tộc
như một tính cách xã hội (social character) [Philippe Claret 2007: 11-12]
Từ đó cho thấy vấn đề tính cách dân tộc đã được các học giả nghiên cứu từ nhiều khá nhiều góc độ Trong đó, phổ biến hiện nay là khảo sát dưới góc
Trang 14Chương 1: Những vấn đề chung 14
độ liên ngành - một phương pháp mà văn hóa học hướng tới Bởi “văn hóa
và tính cách của dân tộc luôn là một hệ thống, nó bị chi phối bởi những yếu
tố khách quan và chủ quan thuộc môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
mà dân tộc đó tồn tại và trải qua.” [Trần Ngọc Thêm 2008]
Xét về mặt tổng thể, ta thấy tính cách dân tộc là hệ thống những đặc
điểm của một cộng đồng được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài (có khi lên đến hàng vạn năm) dưới sự tác động của những điều kiện
lịch sử, địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội… Nó tạo nên những hằng số tính
cách tương đối ổn định và bền vững, chi phối tư duy, nếp nghĩ, cách ứng
xử điển hình của những cộng đồng cùng tồn tại trong một tọa độ không gian
- thời gian chung Nó cũng là một đặc trưng giúp chúng ta nhận diện sự khác biệt giữa dân tộc này và dân tộc khác Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận có những tính cách mà nhiều dân tộc cùng có, hoặc những tính cách đối với dân tộc này là ưu điểm nhưng đối với dân tộc khác lại là khuyết điểm Khi đó để tìm sự khác biệt ta phải đặt trong hệ tọa độ thích hợp và có
sự so sánh khách quan
Không chỉ chịu sự tác động chi phối của điều kiện tự nhiên, lịch sử khách quan; tính cách dân tộc còn được định hình trong nỗ lực chống chọi với hoàn cảnh, ứng phó với những thách thức chủ quan do xã hội mang đến Nhìn chung, tính cách dân tộc phản ánh những điều kiện lịch sử xã hội mà con người sinh sống Tuy bền vững lâu dài nhưng tính cách dân tộc không phải là một hằng số bất biến Như đã nói nó chịu sự tác động trực tiếp của hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội nên một khi những
nhân tố này thay đổi thì tính cách dân tộc cũng sẽ có sự chuyển biến theo
những chiều hướng mới Sự thay đổi này không diễn ra một cách tức thời, đột ngột mà trải qua một quá trình lâu dài
Trang 15Chương 1: Những vấn đề chung 15
1.1.2 Hệ thống tính cách người Việt
Năm 1938, trong Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh đã nói
đến một số phẩm chất của người Việt như thông minh, giàu trực giác, ham học, thích văn chương, ít mộng tưởng mà ưa thiết thực, cần cù, giỏi chịu đựng, hơi nông nổi và không bền chí, nhút nhát và chuộng hòa bình, rất giỏi bắt chước, thích ứng và có tài dung hóa [Đào Duy Anh 1998: 25]
Năm 1963, Nguyễn Hồng Phong trong Tìm hiểu tính cách dân tộc đã
đưa ra một số tính cách điển hình như: tập thể cộng đồng, trọng đạo đức, cần kiệm - giản dị - thực tiễn, tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình nhân đạo, tinh thần lạc quan [Nguyễn Hồng Phong 2005: 44-346]
Năm 1970, Cao Xuân Huy trong Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu đã miêu tả đặc trưng của dân tộc Việt Nam là tính nước Nước vốn mềm mại, uyển chuyển, lưu động, có thể linh hoạt biến
chuyển thành mọi hình thể cong, thẳng, lồi lõm… Với khả năng thích ứng
đó đã tạo nên sức sống vô hạn của dân tộc Việt Nam, giúp cho một đất nước nhỏ bé thường xuyên bị ngoại xâm, lại gặp phải thiên tai liên tục vẫn trường tồn và chiến thắng trong mọi hoàn cảnh [Cao Xuân Huy 1995: 363-365]
Năm 1980, Trần Văn Giàu đưa ra và phân tích bảy giá trị nổi bật của tinh thần Việt Nam truyền thống bao gồm: lòng yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa Trong đó nhấn mạnh chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng quan trọng nhất, là giá trị nền tảng hàng đầu chi phối mọi tư tưởng khác, là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam [Trần Văn Giàu 2000: 330]
Năm 1983, Trương Chính trong Tìm hiểu những giá trị tinh thần của người Việt Nam đã trình bày năm giá trị: tinh thần yêu nước, tinh thần dân
tộc, sự cần cù thông minh trong lao động, nếp sống tình nghĩa và tinh thần
lạc quan yêu đời tin tưởng ở tương lai Nguyễn Văn Hạnh trong Về tính
Trang 16Chương 1: Những vấn đề chung 16
cách người Việt Nam thì nói đến cái cười như một đặc trưng điển hình của
tính cách Việt, ngoài ra là ý thức về mức độ, triết lý sống tuân theo tự nhiên, nhìn đời ở mặt tích cực, thiên về ứng dụng, cải tiến những thành tựu đã có hơn là sáng tạo ra cái mới, thiên về nhập thế, thiên về tình hơn lí… [Nhiều tác giả 2003: 7-43, 197-201]
Nhìn chung, tính cách dân tộc Việt Nam được các nhà nghiên cứu
nhìn nhận như những “hệ giá trị”, những đặc điểm có “tính chất giá trị học” mang chất cảm tính, thiếu lập luận khoa học Vì vậy, chúng tôi chọn
mô hình tính cách Việt của Trần Ngọc Thêm2 làm cơ sở nghiên cứu vì khả năng khái quát cao, lập luận logic và rõ ràng giúp người đọc dễ dàng vận dụng trong mọi tình huống
Trong xã hội nông nghiệp với lối sống định cư, ít di chuyển thì tính cộng đồng là một trong những đặc trưng nổi bật của người Việt Nam Nó
được biểu hiện rõ nhất qua hình ảnh “mẫu người làng xã” mà có tác giả đã nhận xét: “con người làng xã từ khi hình thành đã tồn tại suốt lịch sử Việt Nam như một hằng số và trở thành căn tính của người Việt.” [Đỗ Lai Thúy
2005: 12] Luôn phải đối mặt với thiên tai (lũ lụt, hạn hán) và địch họa (ngoại xâm) con người làng xã phải gắn bó từ gia đình, dòng họ đến bà con
làng xóm để cùng nhau vượt qua khó khăn và tồn tại “Tính cộng đồng làng
xã là sự kết tinh của nhiều biểu hiện, từ cộng cư (cùng nơi cư trú) đến cộng hữu (cùng sở hữu đất đai, tài nguyên) rồi cộng mệnh (gắn bó số mệnh vào việc thờ cúng thần linh) và cộng cảm (sự đồng cảm của những người cùng quê hương)” [Vũ Tự Lập và nnk 1991: 112] Tính cộng đồng là chất keo
liên kết con người làng xã với nhau, nhưng nó cũng tạo nên những làng xã
khép kín mang tính tự trị Bởi người Việt trong xã hội nông nghiệp cổ
truyền chỉ gắn bó với cái làng của mình, “trống làng nào làng ấy đánh,
2 Nguồn:
- Trần Ngọc Thêm 2006: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb TPHCM
- Trần Ngọc Thêm 2007: Bản sắc văn hóa Việt Nam trước ngưỡng cửa thiên niên kỉ mới Trong sách Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận của Lê Ngọc Trà
Trang 17Chương 1: Những vấn đề chung 17
thánh làng nào làng ấy thờ”, tính tự trị một mặt tạo nên tinh thần tự lập,
cần cù nhưng mặt khác cũng gây ra óc tư hữu, ích kỷ, địa phương bè phái như một căn tính điển hình của người Việt
Do gắn bó mật thiết với cộng đồng nên con người cần xây dựng những mối quan hệ lâu dài để giúp đỡ lẫn nhau, điều này đã làm nền tảng
cho lối sống trọng tình của người Việt Chất duy tình đậm đặc của người
Việt không chỉ thể hiện trong quan hệ gia đình, họ hàng ruột thịt mà còn với
cả bạn bè Họ thường xuyên “gia đình hóa các mối quan hệ xã hội”, lấy cái
tình làm cơ sở cho cách đối nhân xử thế ở đời Trong ứng xử luôn thiên về
tình hơn lý, “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”
Việc phải sống trong sự phụ thuộc vào môi trường tự nhiên cũng như
các mối quan hệ xã hội đã tạo nên tính cách ưa hài hòa của người Việt Họ
bằng lòng với một cuộc sống cân bằng vừa phải, thích nghi với môi trường xung quanh, không thái quá, không cuồng tín; họ thường giải quyết vấn đề
theo kiểu hòa cả làng, dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười Nguyễn Kiến Giang
có viết: “Người Việt nói chung không thích lắm những mặt đối kháng triệt tiêu, loại bỏ nhau, không sùng bái lối suy nghĩ theo lối đối lập triệt để Sống
và chết có thể dung hòa, mâu thuẫn cũng có thể dung hòa Những hành vi loại bỏ nhau, giết hại nhau không thương xót, không được người Việt Nam đồng tình.” [Lê Ngọc Trà 2007: 32]
Luôn tìm cách sống hài hòa với tự nhiên, thích nghi với mọi điều kiện hoàn cảnh, đối với con người phải ứng xử mềm dẻo để khỏi mích lòng
nhau, “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”… người Việt Nam
dần hình thành một đặc trưng tiếp theo là tính linh hoạt - cái “nhu đạo”,
“tính nước” như Cao Xuân Huy đã nói, hay “khả năng ứng biến” lấy nhu
thắng cương, lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều mà Trần Quốc Vượng
đã đề cập Đó là triết lý sống “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, mà dù “tròn”
hay “dài” cũng vẫn chỉ là hình thức, cái cơ bản “nước” vẫn giữ được bản chất vốn có của mình [Trần Quốc Vượng 2003: 33-38]
Trang 18Chương 1: Những vấn đề chung 18
Cuộc sống người nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khiến con
người phải cố gắng để bao quát chúng dẫn đến tính tổng hợp Chẳng phải
ngẫu nhiên mà người Việt nổi tiếng với khả năng kết hợp, lắp ghép những yếu tố vay mượn từ bên ngoài để tạo thành nét văn hóa đặc sắc của riêng mình Sự ra đời của những tôn giáo bản địa như Hòa Hảo, Cao Đài… cũng
chính là sản phẩm của lối tư duy này
1.2 Tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ
1.2.1 Không gian văn hóa
Miền Tây Nam Bộ hay còn gọi là đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Vùng này có diện tích khoảng 39.734 km² và chiếm 12% diện tích cả nước
Là vùng đồng bằng phù sa mới, tương đối thấp và bằng phẳng; miền Tây Nam Bộ được đặc trưng bởi mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt (2.500 km sông rạch tự nhiên và 2.500 km kênh đào) kết hợp với đường bờ biển dài trên 736 km2 nên rất thuận lợi phát triển giao thông đường thủy Điều này đã được đề cập đến từ cách đây gần 200 năm trong những quyển sách đầu tiên tìm hiểu về địa lý, phong tục ở miền Tây Nam Bộ Đây được xem như một nơi có“nhiều sông kinh, cù lao, bãi cát, nên trong 10 người
đã có 9 người biết nghề bơi lội chèo thuyền.” [Trịnh Hoài Đức 1972: 12]
Đặc biệt hệ thống sông Cửu Long với chiều dài 4.220 km, tổng lượng nước gần 4.000 tỷ m3 cung cấp khoảng 100 triệu tấn phù sa mỗi năm đã bồi đắp nên những vùng đồng bằng phì nhiêu như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau
Chế độ khí hậu và điều kiện thủy văn ở miền Tây Nam Bộ khá điều hòa Vùng này nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa điển hình với tính chất nóng ẩm, mưa nhiều, nắng đủ quanh năm Nhiệt độ trung bình hằng năm là
Trang 19Chương 1: Những vấn đề chung 19
24-27oC, lượng mưa trung bình từ 1.700 - 2.000 mm/năm Không có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông như đồng bằng Bắc Bộ, người Nam Bộ hầu như chỉ biết đến hai mùa mưa nắng Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở đây lại có những thuận lợi riêng: mùa hè không quá nóng, khô và oi bức; mùa mưa không có cái rét thấu xương và những ngày âm u như ở Bắc Bộ nên người Nam Bộ ít khi cảm thấy cái khó chịu của sự đột ngột chuyển mùa Không quá lạnh và cũng không quá nóng, miền Tây Nam Bộ so với những nơi khác trong cả
nước là khu vực ít chịu ảnh hưởng của thiên tai nhất Ít có bão lớn, “bão ở Nam Bộ có sức gió yếu, đồng thời gây ra mưa không dữ dội như ở Bắc Bộ
và Trung Bộ.” [Phạm Ngọc Toàn và nnk 1993: 226] Ở đây có lũ lớn (mùa
nước nổi, nước lên hàng năm) nhưng nhờ sự điều tiết, phân bố đều khắp của các dòng chảy nên không có ảnh hưởng đáng kể Nhìn chung so với cả nước, khí hậu miền Tây Nam Bộ có những ưu điểm nổi trội với đặc tính ổn định, ít xảy ra những diễn biến bất thường qua từng năm
Đây còn
là vùng đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm với nguồn lợi động - thực vật
vô cùng phong phú, tạo nên sự
đa dạng sinh học cao Từ những điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai thuận lợi như trên đã biến miền Tây Nam Bộ thành một vùng châu thổ phì nhiêu, phát triển mạnh trong các lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất lương thực và trồng cây ăn trái Nói đến miền
Hinh 1
Rừng tràm Trà Sư, Tịnh Biên, An Giang Nguồn: tác giả
Trang 20gỗ chặt trên rừng, trên núi, đủ dùng tùy thích… Xóm làng đông đúc, chung nghe tiếng gà tiếng chó Cỏ nước tốt tươi, đầy đồng chăn trâu chăn bò Trong công điền có cả tư điền, ngoài thuế ruộng còn nhiều thuế khác Sông
hồ đầy nước, đi thuyền tiện hơn đi bộ, đất đai màu mỡ, cấy lúa tốn ít sức người.” [Dương Văn An 1997: 44-45]
1.2.2 Thời gian văn hóa
Từ cách đây hàng chục vạn năm, khảo cổ học chứng minh đất Nam
Bộ đã có người sinh sống Đầu công nguyên từ khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VII là giai đoạn xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của nhà nước Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo Trong giai đoạn phồn thịnh (từ khoảng
thế kỷ II đến đầu thế kỷ VIII) vương quốc Phù Nam đã “chiếm một vùng rộng lớn từ ĐBSCL đến Nam Trung Bộ, cả vùng trung lưu sông Mekong, qua thung lũng sông Menam, xuống tận bán đảo Mã Lai.” [Nguyễn Công
Bình và nnk 1990: 24-25]
Đến cuối thế kỷ VI, nền văn hóa Óc Eo lụi tàn, vương quốc Phù Nam suy yếu và bắt đầu tan rã thành nhiều tiểu quốc nhỏ, trong đó có nhà nước Chân Lạp (do người Khmer xây dựng) đã nhanh chóng phát triển và thôn tính Phù Nam Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV, đất Nam Bộ trở thành
“vùng đệm” nơi diễn ra những cuộc tranh chấp liên miên giữa các tiểu quốc
mới trỗi dậy: giữa Chân Lạp và Champa, giữa nước Srivijaya của người Java và Thủy Chân Lạp, giữa vương triều Ayuthaya của người Thái với Chân Lạp Chiến tranh liên tục đã khiến Nam Bộ trở thành vùng đất kiệt quệ, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và bước vào thời suy vong, thậm
Trang 21Chương 1: Những vấn đề chung 21
chí không còn đủ sức kiểm soát vùng đất phía Nam Nam Bộ lúc bấy giờ bị
bỏ hoang và bao phủ bởi rừng rậm hoang vu… Điều này đã được sứ thần
nhà Nguyên của Trung Quốc là Chu Đạt Quan ghi lại trong sách Chân Lạp phong thổ ký vào thế kỷ thứ XIII:
“Từ chỗ Chân Bồ trở đi, phần lớn là rừng thấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn ra xa thấy cây lúa rờn rờn mà thôi Trâu rừng họp thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm năm Loại tre đó đốt có gai, măng rất đắng, bốn mặt đều núi cao.” [Chu Đạt Quan 2006: 45-46]
Đến cuối thế kỷ XVI mới xuất hiện những người Việt đầu tiên đến khai phá đất hoang, trước hết ở Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) -
lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ mới thực sự bắt đầu
Từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX là giai đoạn người Việt ra sức khai hoang lập ấp ở vùng Đồng Nai - Gia Định, từng bước cải tạo vùng đất hoang hóa, xây dựng nên cảnh quang xóm làng trù mật, đồng ruộng phì nhiêu Các nhóm quan quân triều Minh thất thế ở Trung Quốc cũng đến đây xin mở đất lập phố, làm ăn buôn bán dưới quyền chúa Nguyễn
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lý miền Nam Nguyễn Hữu Cảnh đem theo hơn bốn chục ngàn dân từ Ngũ Quảng vào khai hoang, lập phủ Gia Định bao gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn với hai huyện Phước Long, Tân Bình; đất đai lúc bấy giờ
đã mở rộng ra trên 1.000 dặm Đến năm 1779 thì các chúa Nguyễn đã hoàn thành cuộc Nam tiến, thống nhất toàn lãnh thổ Nam Bộ Như vậy là chỉ sau hơn một thế kỷ, từ đầu XVII đến giữa XVIII toàn bộ khu vực Nam Bộ đã thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn Đến đầu thế kỷ XIX, các nước láng giềng như Cambodia, Thailand… đã kí các văn bản có giá trị pháp lý quốc
tế thừa nhận chủ quyền của Nam Bộ thuộc về Việt Nam
Trang 22Chương 1: Những vấn đề chung 22
Trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược, trước sức ép quân sự và vũ lực, năm 1874, nhà Nguyễn ký hiệp ước nhượng toàn bộ đất Nam Kỳ cho Pháp Sang thế kỷ XX, với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thắng lợi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, năm 1949, Pháp ký Hiệp ước Elysée trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam - đây trở thành văn kiện có giá trị pháp lý khẳng định chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Trải qua nhiều biến động thăng trầm: tám lần thay tên đổi họ3, những cuộc đấu tranh chống xâm lược đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ, vùng đất Nam Bộ đã tạo nên một diện mạo riêng, một sắc thái riêng trong tính cách của mình, góp phần đáng kể vào sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam
1.2.3 Chủ thể văn hóa
Tây Nam Bộ là địa bàn sinh sống của nhiều tộc người, trong đó người Việt chiếm đa số với khoảng 16,7 triệu người, chiếm 21% dân số cả nước với mật độ trung bình là 421 người trên 1 km2, tỷ suất gia tăng dân số
tự nhiên là 2,3% Tây Nam Bộ có cơ cấu dân số rất trẻ: 53% dưới 20 tuổi; 24,3% từ 20-34 tuổi; chỉ có 22,7% từ 35 tuổi trở lên Về thành phần tộc người chủ yếu là người Việt (Kinh) chiếm 92%, người Khmer chiếm 6,1%, người Hoa chiếm 1,7%, các tộc người còn lại chiếm 0,2% [Trần Ngọc Thêm 2007]
Người Việt ở miền Tây Nam Bộ vốn là những lưu dân từ miền Bắc, miền Trung di cư vào Họ bao gồm ba nhóm chính: Thứ nhất là lớp cư dân nghèo đã đến bước đường cùng phải ra đi vì lý do kinh tế Thứ hai là những người bị kết án lưu đày hoặc tù nhân bị truy nã phải trốn đi tìm chốn náu thân Thứ ba là nhóm trí thức bất đắc chí, có tài nhưng ngang ngược, không
3 Gia Định Phủ (1698-1802), Gia Định Trấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ (1832-1867), Cochinchine tức Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975) và Nam
Bộ (1945 đến nay)
Trang 23Chương 1: Những vấn đề chung 23
chịu phục tùng Mặc dù là giới bình dân, học vấn thấp (như hai nhóm đầu) hay quý tộc có trình độ (nhóm thứ ba) thì họ đều có một đặc điểm chung là những người có bản lĩnh, mạnh mẽ và hết sức dương tính Trong tổng thể, văn hóa Việt Nam mang đặc trưng âm tính, hướng nội, ít di chuyển và vốn
ưa sự bảo tồn chứ không thích thay đổi, như dân gian vẫn có câu:
“Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.”
Với quan niệm rời khỏi làng là gánh kiếp tha hương cầu thực, “sống
là thân phận ngụ cư, là kiếm ăn quê người, chết là chết đường chết chợ, là
ma lạc ma trơi, đói khát, lạnh lẽo, đến đâu cũng bị xua đuổi…” [Hồ Liên
2008: 192] Bởi vậy lưu dân đến đất Nam Bộ phải là những người hết sức bản lĩnh mới dám mạo hiểm chấp nhận những khó khăn mà họ sắp phải đương đầu Mang theo nền văn minh lúa nước sẵn có từ lâu đời và đi thành từng nhóm có tổ chức, người Việt đã khai sơn phá thạch và trở thành những chủ thể văn hóa của miền đồng bằng hoang vu, tiềm ẩn nhiều hiểm nguy rình rập nhưng cũng chứa đựng những kho báu mà thiên nhiên ban tặng nếu con người biết tìm cách khai thác Người lưu dân mặc dù sống trong cảnh khổ cực giữa rừng thiêng nước độc nhưng được tự do thoải mái về tinh thần, không phải chịu cảnh một ách nhiều tròng áp bức của vua chúa, quan lại như hồi còn ở nơi chốn cũ
Bên cạnh người Việt thì còn có người Khmer Họ tập trung sinh sống chủ yếu ở các giồng đất cao từ Sóc Trăng (với dân số khoảng 397.014 người, chiếm 30,7% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Khmer tại Việt Nam4) đến những nơi khác như Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang
4 Nguồn:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Khmer_%28Vi%E1%BB%87t_Nam%2 9
Trang 24Chương 1: Những vấn đề chung 24
Người Hoa tuy chỉ chiếm 1,7% dân số ở Nam Bộ (xếp ở vị trí thứ ba, sau người Việt và người Khmer) nhưng họ cũng đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình khai hoang lập làng, phát triển kinh tế Nam Bộ trở thành một miền đất trù phú Người Hoa đến Nam Bộ bắt đầu từ khoảng
năm 1671 theo phong trào bài Mãn phục Minh, bao gồm ba nhóm chính của
Dương Ngạn Địch đến khẩn hoang vùng Định Tường (Mỹ Tho, Tiền Giang); Trần Thượng Xuyên đến Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai) lo nghề thương mãi, canh nông; và nhóm Mạc Cửu đến Hà Tiên mở rộng thành một khu vực buôn bán sầm uất, giàu có Chỉ sau vài thế hệ, họ lập gia đình với người Việt, sinh con cháu và trở thành những người Việt Nam
Ngoài ra còn có một bộ phận người Chăm theo Hồi giáo sinh sống chủ yếu ở các tỉnh An Giang (khoảng 14.209 người5) và Đồng Tháp
Hinh 2
Các tộc người ở miền Tây Nam Bộ Nguồn: internet
Nhìn chung, miền Tây Nam Bộ là khu vực sinh sống của một số tộc người đan cài, xen lẫn vào nhau chứ ít có sự cách biệt như miền Bắc (người Kinh sống ở các vùng châu thổ, còn các tộc người khác thì sinh sống ở những miền núi, trung du…) Trong quá trình tồn tại và phát triển, họ cởi
mở tiếp thu và học hỏi vốn văn hóa của nhau, tạo nên một mối quan hệ keo sơn gắn bó hết sức bền chặt trong cả cộng đồng
5 Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Ch%C4%83m
Trang 25Chương 1: Những vấn đề chung 25
1.3 Khái lược về tính cách và tính hào hiệp của người Việt Tây Nam Bộ
1.3.1 Hệ thống tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ
Về hệ thống tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ, Trần Ngọc Thêm đã có những phân tích và lý giải xác đáng [Trần Ngọc Thêm 2009]
Với tư duy tổng hợp và đặc trưng thiên về âm tính của người Việt truyền thống kết hợp với những điều kiện tự nhiên thuận lợi ở vùng đất mới
đã tạo nên tính bao dung như một đặc trưng tính cách điển hình của người
Việt miền Tây Nam Bộ Điều này được biểu hiện trên nhiều phương diện, tiêu biểu nhất là trong thời kỳ mới khẩn hoang lập nghiệp, các tộc người khác nhau tồn tại trên cùng một mảnh đất nhưng vẫn thừa nhận và tôn trọng các phong tục, tập quán, những tín ngưỡng, tôn giáo của nhau Bên cạnh đó, đây cũng là vùng đất đã dung nạp được những tính cách trái ngược nhau: yêu thì yêu mút chỉ, ghét thì ghét mãn đời, làm thì làm chết bỏ, chơi thì chơi
xả láng…
Thừa hưởng cái khả năng biến báo linh hoạt của người Việt truyền thống, đồng thời cũng nằm trên vị trí lợi thế - là nơi gặp gỡ của những trục
chuyển dịch từ tĩnh tới động đã góp phần tạo nên tính năng động của người
Việt miền Tây Nam Bộ Tính năng động được biểu hiện ở khả năng dễ thay đổi lối sống, thay đổi chỗ ở và thay đổi cả nghề nghiệp để thích nghi với mọi hoàn cảnh Tính năng động của người Việt miền Tây Nam Bộ cũng là nguồn gốc làm sản sinh ra tính sáng tạo, khả năng nhanh chóng tiếp nhận cái mới, từ đó mà dám làm ăn lớn và tạo sự thúc đẩy làm phát triển mạnh
mẽ ngành thương nghiệp, kinh tế hàng hóa…
Bắt nguồn từ tính trọng tình và tính cộng đồng của truyền thống văn hóa dân tộc, lại đặt trong bối cảnh là nơi gặp gỡ giữa nhiều tộc người đã
làm hình thành nên tính trọng nghĩa - cũng là một đặc trưng tính cách điển
hình của người Việt miền Tây Nam Bộ Người nông dân Nam Bộ coi nhẹ
Trang 26Chương 1: Những vấn đề chung 26
tiền tài, vật chất, sống chết vì tình bằng hữu, vì nghĩa bạn bè Họ đối đãi với nhau bằng tấm lòng hào hiệp, bằng tinh thần hiếu khách không tính toán thiệt hơn
Đặc trưng cuối cùng trong những tính cách điển hình của người Việt
miền Tây Nam Bộ là tính thiết thực Là một đặc trưng vốn có của người
Việt truyền thống, nhưng tính thiết thực “kiểu” Nam Bộ không biểu hiện qua hình thức mà chủ yếu bộc lộ ở nội dung Trong tư duy, giao tiếp, lối sống người Nam Bộ rất đơn giản, gần gũi, không thích cầu kỳ rào trước đón sau Tính thiết thực cũng khiến người Nam Bộ thường đơn giản hóa mọi biểu trưng ước lệ trong nghệ thuật Trong cuộc sống, họ trọng sức mạnh, thích làm ăn buôn bán, thích hài hước nhẹ nhàng hơn là triết lý sâu xa, văn chương chữ nghĩa và sự học hành Mọi việc đối với người Việt miền Tây Nam Bộ cũng luôn được giữ ở mức vừa phải, cân bằng
Có tác giả trong khi liệt kê những tính cách điển hình đã cho rằng hào hiệp là một trong những cá tính đặc trưng của người Việt6 Chúng tôi cho rằng nhận định này chưa thật hợp lý Người Việt trong xã hội nông nghiệp cổ truyền vốn mang đậm trong mình tinh thần cộng đồng làng xã, cố kết với nhau bởi nhiều mối quan hệ từ gia đình đến xã hội Tuy nhiên, sự liên kết đó thường chỉ trong một phạm vi nhất định đó là cái làng Ra khỏi ranh giới làng thì thay cho tính cộng đồng là tinh thần tự trị khép kín Vì thế
mà mới nảy sinh tình trạng coi thường những người dân ngoại tịch, dân ngụ
cư, những kẻ bị cho là “đồ trôi sông lạc chợ”, tha phương cầu thực và
không đáng tin cậy Đối với những người này, người dân chính cư thường
có thái độ khinh bỉ và xem thường
Chính vì thế mà sự hào phóng hay “hào hiệp” mà một số người cho
đó là đặc tính truyền thống của người Việt - thể hiện qua lòng hiếu khách,
6 Xem: Nguyễn Hồng Phong 2005: Một số công trình nghiên cứu KHXH&NV Tập 2 Văn học -
HN: nxb KHXH (Tr 44-53)
Trang 27Chương 1: Những vấn đề chung 27
tục đãi khách phải được nhìn nhận ở một khía cạnh khác Cái “hào hiệp” của người Việt nói chung này là hào hiệp giữa những người quen biết nhau, những người cùng làng chung xóm Cùng làng với nhau thì mới chịu giúp
đỡ lẫn nhau, chứ đối với những người xứ lạ thì làm gì có sự hào hiệp Thậm chí cái hào hiệp - chi tiêu hào phóng trong tục đãi khách hầu như cũng mang nặng trong đó một sự “tính toán thiệt hơn” - chi tiêu hào phóng mở tiệc sang trọng là để “đánh bóng” danh vị, để giữ gìn danh giá của gia đình,
gia tộc, bởi lẽ “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” Cái sĩ diện -
hay “bộ mặt” là cái rất quan trọng mà người ta phải luôn tìm cách để tô hồng rực rỡ nhằm che đậy những xấu xa, kém cỏi của bản thân Đồng thời, hào phóng với người khác cũng nhằm mục đích chờ đợi sự hào phóng ngược trở lại của người khác đối với mình
Người giàu, người có danh vị, địa vị là thế còn như đối với những người nghèo khổ quanh năm ăn đói mặc rách thì làm gì có chuyện “xả láng”
với bạn bè Họ an phận trong cái “ao nhà” của mình - “giỏ nhà ai quai nhà ấy”, thậm chí cũng chẳng hơi đâu mà bận tâm đến những người xung quanh, “của mình thì giữ bo bo, của người thì bỏ cho bò nó ăn”… Rốt
cuộc, họ cũng chỉ mong một cuộc sống yên ổn, được bao bọc cái thân phận
nhỏ bé của mình trong cái bao la của “vũ trụ làng”
Từ đó cho thấy, tính cách truyền thống của người Việt chỉ dừng lại ở mức độ trọng tình, lối cư xử duy tình và tính cộng đồng Sự kết hợp của hai nhân tố này cùng những điều kiện mới khi những lưu dân Thuận - Quảng bỏ
xứ ra đi khai khẩn vùng đất phía Nam mới làm nảy sinh tính hào hiệp như một đặc tính điển hình nổi trội của người Việt miền Tây Nam Bộ Trong điều kiện thiên nhiên hào phóng, đất rộng người thưa và đã được giải thoát khỏi những định kiến hẹp hòi, không chịu sự ràng buộc của những tư duy phong kiến nặng nề… tinh thần hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ như tìm được mảnh “đất lành” để đơm hoa kết trái và phát triển Nó tạo nên
cá tính của người Việt nơi đây: hào hiệp, cao thượng, vị tha, vì nghĩa quên
Trang 28Chương 1: Những vấn đề chung 28
mình, không so đo tính toán thiệt hơn, luôn sẵn lòng giúp đỡ đối với bất kì
ai không kể thân sơ quen lạ, không kể thân phận địa vị, không kể người đó đến từ nơi đâu và quá khứ như thế nào
1.3.2 Định nghĩa tính hào hiệp
Ở phương Đông, hai chữ hào hiệp có nguồn gốc từ Trung Quốc Hào ( ) là người có tài năng kiệt xuất ( ); cương quyết, lòng
dạ ngay thẳng, thoải mái, không chịu sự ràng buộc gò bó ( ); nó cũng có nghĩa là những người ngang ngược, có thế lực riêng ( ) Còn hiệp ( ) là hành động hoặc người có hành động bằng khả năng của bản thân giúp đỡ người bị ức
Ở Việt Nam, hào hiệp được định nghĩa là người là có tinh thần cao thượng, rộng rãi, hết lòng vì người khác, không tính toán thiệt hơn [Hoàng Phê cb 2009: 318-319]
Theo định nghĩa của Nguyễn Lân thì hào là rộng rãi, mạnh mẽ, tài trí hơn người Hiệp là giúp đỡ người yếu kém Hào hiệp là rộng rãi và sẵn lòng cứu giúp người khác trong lúc khó khăn [Nguyễn Lân 1989: 287]
Qua đó ta thấy trong tiếng Việt, hào hiệp là một từ ghép gốc Hán
được người Việt vay mượn trực tiếp qua âm đọc Hán Việt, đồng thời cũng giữ nguyên cấu trúc cũng như ý nghĩa Các từ điển tiếng Việt khi giải thích
từ hào hiệp hầu như chỉ nói lại những ý nghĩa vốn có của từ gốc tiếng Hán
Ở phương Tây, từ với nghĩa “hào hiệp” trong tiếng Anh là một tính
từ - chivalrous - và được giải nghĩa là sự lịch thiệp, tử tế, trọng danh dự đặc biệt là với phụ nữ (polite, kind, behaving with honour, especially towards women) Để nói về tính hào hiệp, trong tiếng Anh còn dùng những từ đồng nghĩa khác như gallant được định nghĩa là dũng cảm, đặc biệt trong những trường hợp khó khăn (brave, especially in a very difficult situation) [Oxford 2000: 205, 527] Ngoài ra các từ như knightly, great-hearted,
Trang 29Chương 1: Những vấn đề chung 29
noble-mind cũng được dùng để chỉ sự cao thượng, hào hiệp, đại lượng, có
tinh thần thượng võ, nghĩa hiệp
Trong tiếng Pháp, hào hiệp - chevaleresque cũng có nghĩa tương tự
như trong tiếng Anh, người hào hiệp được cho là những người xử sự theo
nguyên tắc hiệp sĩ (règles chevaleresques, de la chevalerie): dũng cảm, lịch
sự và rộng lượng (bravoure, courtoisie, générosité) Hoặc từ magnanime được giải nghĩa là người tốt bụng, khoan hòa, rộng lượng (bon, clément, généreux); nói chung là có tấm lòng bao dung, hướng về phía những người thế cô sức yếu (Qui est enclin au pardon des injures, à la bienveillance envers les faibles, les vaincus) [Le Nouveau Petit Robert 1995: 361, 1323]
Trong tiếng Nga, một người hào hiệp (hay một hiệp sĩ) - pыцарь
nhất thiết phải có những phẩm chất đạo đức như: dũng cảm, trung thành với
nghĩa vụ, cao thượng với phụ nữ (смелость, верность долгу, благородство поотношению к женщине7) Tính hào hiệp (рыцарство) được cho là sự cống hiến quên mình, lòng hảo tâm (cамоотверженность, благородство ) [Ожегов С.И 2007: 976]
Đó là những định nghĩa theo các từ điển hiện đại, còn theo từ điển từ
nguyên Etymology thì thực ra từ chivalrous đã xuất hiện từ khoảng giữa thế
kỷ XIV với nghĩa là hào hiệp, cao quý Tuy nhiên đến khoảng thế kỷ thứ XVI thì từ này bị cho là lỗi thời và hiếm khi được sử dụng trong tiếng Anh
và cả tiếng Pháp Tuy có vẻ như hoàn toàn biến mất trong tiếng Pháp nhưng
sau đó từ chivalrous đã được hồi sinh vào thời Trung cổ (khoảng cuối thế
kỷ XVIII) nhờ các tác giả văn học lãng mạn Kể từ đây từ chivalrous được
sử dụng một cách hạn chế để chỉ về tính hào hiệp của những hiệp sĩ, kỵ sĩ dòng dõi quý tộc - những người đàn ông có nghĩa vụ chiến đấu cho nhà vua hoặc lãnh chúa mà mình phục vụ Họ được rèn luyện để có những phẩm chất đạo đức quan trọng như rộng lượng, khảng khái, khoan dung độ lượng
7 Nguồn: http://mirslovarei.com/content_bes/Rycar-54170.html
Trang 30-có cũng -có một số khác biệt Tính hào hiệp hay hành động hào hiệp trong
các ngôn ngữ phương Tây thường được giới hạn trong mối liên hệ giữa chủ
thể với các lãnh chúa, nhà vua Hào hiệp ở đây nghiêng về nét nghĩa trung
thành, hết mình phụng sự chủ nhân, đặc biệt là thường chỉ dùng cho nam giới (các hiệp sĩ) để thể hiện thái độ lịch sự, tôn trọng và giúp đỡ phái nữ
Trong khi đó, từ hào hiệp trong ngôn ngữ phương Đông, cụ thể ở đây là
Trung Hoa và Việt Nam không hướng riêng đến một đối tượng nào mà dùng để chỉ chung, thể hiện tấm lòng khoan dung, độ lượng của người này đối với người khác, không phân biệt người hào hiệp là nam hay nữ
Chúng ta có thể lý giải điều này từ nguồn gốc loại hình văn hóa của phương Đông và phương Tây Phương Tây vốn là một nền văn hóa trọng
động với tính cách thiên về dương, ưa sự phát triển, trọng sức mạnh, trọng
nam giới, coi khinh phụ nữ Chính vì vậy mà khi các nhà tư tưởng bắt đầu
đòi bình quyền cho phụ nữ thì từ chivalrous - hào hiệp cũng được dùng để
chỉ ý nghĩa “tôn trọng phụ nữ” Mặc dù vậy, nó thường chỉ được dùng để nói đến một đặc tính riêng có của đàn ông (cao quý, rộng lượng) chứ hầu như không được dùng cho phụ nữ Trong khi đó người phương Đông, đặc biệt là Việt Nam lại có truyền thống âm tính, ưa sự ổn định và trọng phụ nữ,
chính vì vậy nên hào hiệp trong định nghĩa hoàn toàn không có ý nghĩa phân biệt giới, dù là nam hay nữ đều có thể có tính cách hào hiệp như nhau
Nhìn chung, ta thấy định nghĩa hào hiệp của phương Tây tập trung
liệt kê một số tính cách cần phải có đối với người được cho là hào hiệp, nó đúng nhưng chưa có độ khái quát cao, đồng thời nó cũng có hạn chế khi thường giới hạn chủ thể (chỉ có đàn ông - hiệp sĩ) Trong khi đó, định nghĩa
Trang 31Chương 1: Những vấn đề chung 31
của Trung Hoa và Việt Nam là khá giống nhau bởi chúng cùng theo lối chiết tự, giải thích ý nghĩa của từng từ đơn trong đó Những định nghĩa này giúp ta tiếp cận đối tượng một cách cụ thể hơn
Trong luận văn này, chúng tôi xác định cụm từ tính hào hiệp để chỉ
về tính cách, phân biệt với hào hiệp như một động từ chỉ hành động Tính cách này trong quá trình hình thành và phát triển được biểu hiện và có những tác động chi phối trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống con người:
từ văn hóa nhận thức đến văn hóa tổ chức đời sống và văn hóa ứng xử Trên
cơ sở những bổ sung như trên, chúng tôi xác lập một định nghĩa để làm việc
về tính hào hiệp như sau:
Hào hiệp là tính cách của người cao thượng, vị tha, sẵn lòng giúp
đỡ người khác một cách thường xuyên
1.3.3 Nguồn gốc của tính hào hiệp
Tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ bắt nguồn từ hai nguyên nhân
Thứ nhất, là từ những điều kiện tự nhiên
Trong buổi đầu khai khẩn, khu vực này tuy giàu có nhưng còn rất hoang sơ, rừng thiêng nước độc chưa có vết chân người, có chăng chỉ toàn
là muỗi, mòng, vắt, rắn Người lưu dân chưa quen phong thổ, đã “nghèo cháy nóp” lại còn phải đối mặt với nạn “hùm tha sấu bắt, mái gầm tại lỗ, rắn hổ về nhà”… chưa kể những cơn sốt rét rừng thường xuyên hành hạ mà
bà con thân thuộc thì chẳng có được mấy người ở bên để giúp đỡ Đồng cảnh hoạn nạn, cùng gặp khó khăn nên ngay từ buổi đầu con người đã nhận thức được rằng họ phải biết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau như một việc làm tất yếu
Sau những bước thăm dò bỡ ngỡ, dần dần các cư dân mới phát hiện
ra sự giàu có, hào phóng của đất rừng phương Nam Cái xứ sở “gà vịt ăn
Trang 32Chương 1: Những vấn đề chung 32
lúa, heo ăn cháo gạo lứt” mà theo lời bác Ba Phi “dưới kinh, cá quẫy ùn ụt, trên rừng chim chóc bay rần rần” Đặc sản không thiếu thứ gì, cá trê lội
đặc dưới đìa, rùa kết thành bè, heo rừng thì vô số kể, chim chóc nhiều hơn
lá rừng tràm, hàng ngày mỗi sáng chúng đều ra sân xếp hàng tập thể dục, cá sấu nằm khắp bên bờ sông như củi lụt, một lần ăn ong thì sáp nặn ra được chiếc xuồng be mười… [Viện KHXHVN 2005: 981-1015] Thiên nhiên ưu đãi, vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn, không cần phải bo bo giữ của khiến con người càng cư xử rộng rãi với nhau hơn
Hinh 3
Thiên nhiên ưu đãi miền Tây Nam Bộ Nguồn: internet
Thứ hai, là từ những điều kiện xã hội
Trước hết, miền Tây Nam Bộ là nơi tập trung lưu dân tứ xứ, họ ra đi trong loạn lạc, bức bách nên có mấy ai đem theo được cả gia đình; không có cái tình huyết thống nên họ đối đãi với nhau chủ yếu bằng cái nghĩa của bạn
Trang 33Chương 1: Những vấn đề chung 33
bè Họ thường tự nhủ phải đối tốt với cả người dưng, để khi gặp hoạn nạn
thì còn có người giúp đỡ Họ sống rộng rãi với tinh thần “người đi trước rước kẻ đi sau” do đã nếm trải đủ cay đắng mùi đời nên rất cảm thông, sẵn
sàng chia xẻ và đùm bọc Hơn nữa, tại nơi ở mới, mối quan hệ cố kết cộng đồng rất lỏng lẻo, không còn chặt chẽ như chốn cũ, những mối quan hệ này cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chính mình nên trong giao lưu, tiếp xúc, con người cũng trở nên rộng rãi, vị tha hơn, vì lợi ích của người khác hơn
Bên cạnh đó, do sự thay đổi thành phần xã hội diễn ra quá nhanh chóng: làm chủ mướn nhân công, thất mùa phá sản lại đi làm công cho người khác; hoặc một số người sống trên mảnh đất màu mỡ nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo do thường xuyên bị cường hào, địa chủ bóc lột… Lên voi xuống chó chẳng mấy hồi, của cải hôm nay nằm trong tay nhưng ngày mai
“đội nón” ra đi lúc nào chẳng biết nên người lưu dân có khuynh hướng chỉ xem trọng thực tại, sống hôm nay chẳng cần biết đến ngày mai Hôm nay đối đãi với bè bạn hết lòng hết dạ đi đã, còn hôm sau bạn có phản thì đó là chuyện của… tương lai Thêm vào đó, đời sống văn hóa tinh thần thiếu thốn nên những cuộc giải trí của họ chỉ đơn giản là nhậu nhẹt, hát hò với bạn bè
vì trong cảnh cô đơn chỉ có người bạn là nguồn vui duy nhất
Bản chất đã là những con người mang đặc trưng dương tính, dám bỏ chốn cũ ra đi tìm cuộc sống mới nơi vùng đất mới, cho nên đây phải là những con người hết sức mạnh mẽ, ngang tàng Tại vùng đất mới, họ trở thành vua một cõi, được dọc ngang vẫy vùng tự do cho nên đối với những người ít ỏi xung quanh hay những người lạ mới đến sau, họ cũng tỏ ra cao thượng hơn Trong quá trình phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ, tinh thần hào hiệp của người Việt còn được bồi dưỡng, vun đắp và phát triển thêm dưới sức ảnh hưởng của sự du nhập văn hóa Trung Hoa - cụ thể là ảnh hưởng tinh thần nghĩa hiệp trong truyện Tàu, đặc biệt là tiểu thuyết kiếm hiệp Theo Lưu Hồng Sơn, từ khoảng năm 1903 đến năm 1930 đã có đến
Trang 34Chương 1: Những vấn đề chung 34
135 lượt các bộ truyện Tàu được xuất bản ở Sài Gòn, từ Tam Quốc đến Tây Hớn, Đông Châu Liệt Quốc, Vạn huê lầu, Thanh xà Bạch xà, Phong thần, Thủy hử, Tây du… Truyện Tàu tác động mạnh đến nếp sống, nếp suy nghĩ,
sinh hoạt và ứng xử của người Việt miền Nam đến nỗi Bình Nguyên Lộc
phải thốt lên: “Dân Nam Kỳ lục tỉnh vì mê truyện Tàu mà bị nhiễm nhân sinh quan của người Tàu rất đậm, những anh trạo phu, những anh tướng cướp cũng muốn có tác phong của Đơn Hùng Tín, của Quan Công…” [Hội
khoa học lịch sử TPHCM 2009: 529]
Trong giai đoạn những thú vui chơi giải trí còn hạn chế, các tuồng
tích sân khấu không nhiều, “truyện Tàu nổi lên trong cái bối cảnh văn học còn nghèo nàn ở thập kỷ đầu thế kỷ XX như một anh chàng khổng lồ.”
[Bằng Giang 1998: 246] Tinh thần nghĩa hiệp của những hảo hán Lương
Sơn Bạc trong Thủy Hử, của những Kiều Phong, Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ
Xung… trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung đã bắt gặp được điểm chung
ở lối sống phóng khoáng, tự do, thích phiêu lưu mạo hiểm của những lưu dân người Việt (trong đó có một số lượng không nhỏ những tay tướng cướp, tội phạm bị truy nã tìm chốn thoát thân để làm anh hùng hảo hán vẫy vùng một cõi - đã đề cập ở mục 1.2.3) Thực tế đó đã khiến loại truyện này càng
dễ dàng xâm nhập trong tầng lớp bình dân và được tiếp thu phát triển ở mức
độ cao hơn Đó cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy tính hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ tồn tại bền vững và phát triển dài lâu
1.4 Tiểu kết
Nhìn một cách toàn diện, tính cách dân tộc là một hệ thống các đặc điểm của cộng đồng được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài, chính vì vậy mà nó đã có sự ổn định tương đối và chi phối tư duy, cách ứng
xử của con người Nó cũng có thể có những chuyển biến khi chịu sự tác động của điều kiện lịch sử - xã hội khách quan, tuy nhiên những chuyển
Trang 35Chương 1: Những vấn đề chung 35
biến này không diễn ra một cách đột ngột, tức thời mà phải trải qua một quá trình lâu dài Con người Việt Nam trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử cũng đã dần hình thành nên những cá tính riêng Và điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến từ khá sớm, từ Đào Duy Anh với
Việt Nam văn hóa sử cương, cho đến Nguyễn Hồng Phong, Cao Xuân Huy,
Trần Văn Giàu, Trương Chính, Trần Ngọc Thêm…
Từ nghiên cứu tính cách dân tộc cho đến nghiên cứu tính cách vùng miền là một chặng đường tất yếu, đặc biệt là đối với những vùng đất mới, chưa được khám phá và tìm hiểu nhiều như miền Tây Nam Bộ Trên cơ sở những ghi chép điền dã kết hợp với việc vận dụng các phương pháp khoa học cần thiết, những tính cách của người Việt Nam Bộ cũng dần được các nhà nghiên cứu khái quát lên một cách có hệ thống Tuy nhiên, sự nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc khái quát những đặc trưng chung Chưa có sự tìm hiểu về từng tính cách riêng lẻ một cách có hệ thống và khoa học Trên
cơ sở vận dụng những thành tựu nghiên cứu sẵn có, luận văn này đã đi sâu vào phân tích, tìm hiểu một tính cách cụ thể được xem là nổi trội của người Việt miền Tây Nam Bộ, đó là tính hào hiệp
Với việc xác lập định nghĩa: “Hào hiệp là tính cách của người cao thượng, vị tha, sẵn lòng giúp đỡ người khác một cách thường xuyên” Chương này đã xác định và lý giải những nguồn gốc đã làm phát sinh ra tính hào hiệp Cụ thể, với định nghĩa bao gồm ba đặc trưng: 1/ “Cao thượng”, 2/ “Vị tha”, 3/ “Giúp đỡ” và một cách thức 4/ “Một cách thường xuyên” thì việc truy tìm nguồn gốc chủ yếu cũng dựa vào những kiến thức nền tảng về hệ tọa độ văn hóa của miền Tây Nam Bộ
Tính cao thượng - điều này xuất phát từ bản chất dương tính vốn có của những con người mạnh mẽ, ngang tàng Vốn không chịu đựng nổi cuộc sống cũ nên đã bỏ đi tìm nơi ở mới Tại vùng đất mới họ được dọc ngang vẫy vũng một cõi, tự thấy mình cao hơn người khác Vì thế trong ứng xử, đối xử với người xung quanh, với kẻ mới đến, họ cũng tỏ thái độ cao
Trang 36Chương 1: Những vấn đề chung 36
thượng hơn Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của tinh thần nghĩa hiệp trong truyện Tàu - với hình ảnh của những anh hùng hảo hán cũng đã tác động mạnh đến nếp sống, nếp suy nghĩ, sinh hoạt và ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ Bắt gặp điểm chung ở lối sống tự do, phóng khoáng của những lưu dân người Việt, tinh thần cao thượng như được tiếp thêm sức mạnh để phát triển bền vững và lâu dài hơn
Lòng vị tha - tiếp tục trở lại nguồn gốc vốn là lưu dân tứ xứ của người Việt miền Tây Nam Bộ Họ ra đi trong loạn lạc, bức bách, không có gia đình, không có người thân Mối quan hệ cố kết cộng đồng không còn chặt chẽ mà trở nên lỏng lẻo, những mối quan hệ này cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ nên trong giao lưu, tiếp xúc, con người cũng trở nên vị tha hơn, vì lợi ích của người khác hơn
Sự giúp đỡ - với những điều kiện tự nhiên gây nhiều khó khăn ở buổi đầu khai hoang lập làng, đất rộng người thưa Những người mới đến lại là những người đồng cảnh hoạn nạn nên ngay trong những ngày đầu tiên, họ
đã ý thức được phải biết tương trợ, giúp đỡ nhau để cùng tồn tại Trong quá trình khai khẩn, phát hiện sự giàu có, hào phóng của vùng đất mới, con người càng không phải vất vả giữ từng miếng ăn nên họ càng cư xử hào hiệp, rộng rãi với nhau hơn
Trang 37
Chương 2: Tính hào hiệp trong văn hóa nhận thức của người Việt Tây Nam Bộ 37
CHƯƠNG 2: TÍNH HÀO HIỆP TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ
Nhận thức của người Việt Nam nói chung, người Việt miền Tây Nam Bộ nói riêng đã được hình thành từ rất sớm và được cố định trong một khoảng thời gian dài Những nhận thức ấy đã được bộc lộ qua nhiều phương diện khác nhau, thể hiện rõ ràng nhất là trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn
từ Nó không chỉ cho chúng ta thấy những nhận thức về con người, về vũ trụ, nhân sinh quan, thế giới quan qua từng bước thăng trầm của lịch sử mà qua đó còn bộc lộ những tính cách nổi bật mà bản thân con người tự nhận biết về mình
Đối với người Việt miền Tây Nam Bộ thì văn chương - đặc biệt là văn chương dân gian không chỉ là tâm sự, là nỗi niềm thương nhớ đất tổ quê cha mà nó còn là nơi lưu giữ quá trình nhận thức về những mối quan hệ trong cuộc sống, về lối tư duy và cách ứng xử ở đời Từ những bài ca dao dân ca, những truyện kể dân gian cho đến những sáng tác văn học thành văn, chúng ta đều nhận ra trong đó ít nhiều sự khẳng định về tinh thần đoàn
kết gắn bó “chung lưng đấu cật, thích cách kề vai”, nằm lòng câu “lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” để xả thân cứu người, coi nhẹ hiểm nguy, xem thường danh lợi, “tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa tựa thiên kim” Đặc
biệt là tấm lòng hào hiệp giúp bạn hết mình
Sống trong những môi trường tự nhiên và xã hội đặc thù (đã trình bày ở mục 1.2), người Việt miền Tây Nam Bộ đã nhận thức được nhu cầu phải chia xẻ tài - sức của bản thân mình để thích ứng với những điều kiện của một vùng đất mới Trong những giai đoạn đầu, khi trong tay chưa có
bất cứ của cải gì, họ dung sức lực để phá sơn lâm, đâm hà bá, để giúp đỡ
lẫn nhau cùng vượt qua hoạn nạn khó khăn Khi trong tay đã tích lũy được vốn liếng, họ tiếp tục dùng tiền bạc, vật chất đó chia xẻ với những người mới đến bằng một tinh thần rộng lượng, hết mình
Trang 38Chương 2: Tính hào hiệp trong văn hóa nhận thức của người Việt Tây Nam Bộ 38
2.1 Nhận thức về nhu cầu chia xẻ tài - sức để thích ứng với môi trường tự nhiên
2.1.1 Thiên nhiên miền Tây Nam Bộ khi những người lưu dân lần
đầu tiên đặt chân đến, đó không phải là một miền đất lạc thổ trên đồng cò bay thẳng cánh, dưới đồng lấp lánh cá tôm Mà đó là nơi muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội tựa bánh canh, nơi cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy Thơ
ca dân gian có bài còn tả:
“Tôi ở Tà Vang Lạc Hóa,
Mưa dông nhiều quá làm ăn chẳng khá
Nghèo cháy nóp rã bèn
Tôi trở xuống Long Xuyên
Bị chìm thuyền mất áo
Tôi qua Tân Bằng cán gáo
Lại bị nạn sấu rượt cọp vồ
Thôi thôi tôi trở lại Tà Phô
Dựa lưng anh Đàng Thổ…
Nghe nhạc hồ ngũ âm.” [Nguyễn Văn Hầu 2004a: 166]
Bài ca dao dân gian đơn giản, nhưng đã vẽ ra trước mắt chúng ta những mối hiểm nguy thực sự của một miền đất lạ, nơi rừng thiêng nước
độc không dấu chân người Để có thể tồn tại, để có thể tạo ra nguồn sống,
nhiệm vụ của con người trước hết là phải chinh phục thiên nhiên Tức là phải chấp nhận một cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ trong khi còn chưa thật
sự biết rõ kẻ thù của mình Trong cuộc chiến đó, họ không thể đơn độc, họ cần có sự đoàn kết gắn bó, cần có những người anh hùng cao thượng, vì nghĩa lớn sẵn sàng giúp đỡ muôn người
Trang 39Chương 2: Tính hào hiệp trong văn hóa nhận thức của người Việt Tây Nam Bộ 39
2.1.2 Và hình ảnh những người anh hùng đó đã được phản ánh khá đầy đủ trong hàng loạt giai thoại dân gian về những người có công giúp dân diệt trừ các loài vật gây hại như sấu, cọp, rắn… Đây là một mảng đề
tài lớn và hết sức quen thuộc trong khối tư liệu về truyện kể dân gian ở Nam
Bộ Thực tế, đối với những người lưu dân chân ướt chân ráo mới đến xứ này thì ban đầu họ chỉ là “khách”, còn rắn, rết, cọp, sấu, heo rừng mới thực
sự là “chủ” Và những vị “bá chủ sơn lâm” này không hề có thiện chí hoan nghênh những vị “khách không mời” kia Chính vì vậy mà mới có cảnh:
“Mỗi miếng ruộng khai hoang, đổi mấy mạng người Các ông già bà lão thường kể lại cho con cháu nghe không biết bao nhiêu chuyện rùng rợn Cọp hùm nhan nhản, ban ngày xông vào các xóm vồ đàn bà, trẻ nít, bắt trâu bò Rắn hổ mây to hơn bắp vế, hai mắt đỏ như hai ngọn đèn lướt ào ào như cơn gió, đầu lắc lư cất cao khỏi ngọn sậy…” [Đoàn Giỏi 2005: 385]
Là những người ra đi “tìm sự sống từ muôn vàn cái chết”, lẽ nào đến đây lại bó tay chịu quy hàng Trong hoàn cảnh buộc phải “phá sơn lâm”,
“đâm hà bá”, nếu người lưu dân không có lòng hào hiệp, không vì nghĩa
quên mình, thương người sa cơ lỡ vận thì thật sự không dễ sống còn Những lớp người xả thân diệt trừ loài vật gây hại để mang lại sự bình yên cho xóm làng đã trở thành hình ảnh tiêu biểu cho lòng hào hiệp của người Việt miền Tây Nam Bộ
Đó là những bậc anh hùng vì nghĩa quên mình được nhân dân ngưỡng mộ, đồng thời cũng là mẫu người lý tưởng mà mỗi người đều muốn học theo Họ đem cái tài của mình để giúp mọi người mà chẳng bao giờ
nhận là làm ơn cho ai, chỉ đơn giản là “ở cho hết dạ hết lòng thì thôi” Họ
sẵn sàng
“Dấn mình vô chốn chông gai
Kề lưng cõng bạn vòng ngoài thoát thân.” [Bảo Định Giang và nnk
1984: 501]
Trang 40Chương 2: Tính hào hiệp trong văn hóa nhận thức của người Việt Tây Nam Bộ 40
Thậm chí, dẫu có hy sinh thân mình cũng chẳng tiếc:
“Lao xao sóng bủa dưới lùm
Thò tay vớt bạn chết chìm cũng ưng” [Bảo Định Giang và nnk 1984:
54]
Dù tất cả đều xuất thân từ những người nông dân chân đất quê mùa,
nhưng cái nghèo vẫn không thể làm che khuất tấm lòng hào hiệp luôn tồn tại trong họ Họ ra tay diệt thú dữ không vì danh cũng chẳng vì lợi, đơn giản chỉ vì muốn giúp dân trừ họa, mang lại sự bình yên cho xóm làng Họ tạo nên hình ảnh người nông dân mang cốt cách của bậc trượng phu ngạo nghễ,
ngang tàng, coi thường hiểm nguy, dám một mình “xuống sông hốt trứng
cá sấu, lên bờ xỉa răng cọp” Tạo nên một lớp thế hệ anh hùng luôn được
người đời kính nể và cố gắng noi theo
2.1.3 Thách thức của tự nhiên không chỉ đến từ những loài vật hung
dữ gieo rắc tai họa cho người dân mà còn đến từ chính bản thân cái xứ sở vốn được mệnh danh là rừng thiêng nước độc - nó không mang đến cái chết
tức thì mà gây nên những cơn bạo bệnh cho một cái chết dần dần
“Nếu lỡ ngủ mê để cánh tay ra sát vách mùng, thì chúng cắm vòi vào hút máu đầy bụng, phóng uế, rồi hút nữa Những con khác không có chỗ đậu, cắm vòi vào đít con trước mà hút, cứ như thế con này nối con kia dài như một sợi dây!” [Nguyễn Hữu Hiếu 1988: 119]
Đó là những lời miêu tả về nạn “giặc muỗi” kinh hoàng ở miền Tây Nam Bộ Ở xứ sở nóng ẩm quanh năm, xung quanh là rừng rậm bít bùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho những “đại binh đoàn muỗi” sản sinh nhiều vô
kể Muỗi bay “mát mắt mát tay”, muỗi “như hốt trấu mà rải”, tiện tay quơ lên là “hốt được cả nắm” Muỗi nhiều đến nỗi “khiêng được cả trâu” nên
trâu cũng phải ngủ mùng chứ huống gì con người! Mùng lại phải may mấy lớp nếu không thì chẳng ăn thua, lại còn phải đốt thêm mẻ un… Người ta đi