1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử với không gian của người việt miền tây nam bộ

168 73 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 12,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, đã có không ít những công trình nghiên cứu về văn hóa Tây Nam bộ, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về văn hóa ứng xử với không gian của người

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HOÁ HỌC - -

TRẦN VĂN TRƯỜNG

VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI KHÔNG GIAN

CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HOÁ HỌC

Tp HỒ CHÍ MINH - Năm 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HOÁ HỌC - -

TRẦN VĂN TRƯỜNG

VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI KHÔNG GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HOÁ HỌC

Mã ngành: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN THU HIỀN

Tp HỒ CHÍ MINH - Năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

DẪN LUẬN .1

I Lý do chọn đề tài ……… ……… … ………… ….1

II Lịch sử vấn đề……… ……… …… ……… …… … 2

III Đối tượng và mục đích nghiên cứu……… …… …… ……… … 6

IV Phạm vi nghiên cứu……… …… ……… … 6

V Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……….………….… … ……… ….6

VI Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu……….…… …… … … … 7

VII Đóng góp của luận văn …… ……….……… … ……… ……… 8

VIII Bố cục luận văn……… ………….……… …… …… ….8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 Không gian….…… …… ….…… ……… ……… ……….10

1.1.1 Khái niệm không gian ……… …… ……… 10

1.1.2 Không gian trong quan hệ với thời gian ……….…… …… … … … 12

1.1.3 Các chiều kích không gian, các phạm trù không gian……….… … ….15

1.1.3.1 Các chiều kích không gian……….……… 15

1.1.3.2 Các phạm trù không gian ….……… ……….… ……….15

1.2 Văn hóa ứng xử và văn hóa ứng xử với không gian ……… ……….21

1.2.1 Văn hóa ứng xử 21

1.2.2 Văn hóa ứng xử với không gian…… …….……… …… …… 22

1.3 Văn hóa vùng và vùng văn hóa …… …… ….….………… … …… … 23

1.3.1 Văn hóa vùng 23

1.3.2 Vùng văn hóa 23

1.4 Định vị tọa độ văn hóa người Việt miền Tây Nam bộ …… ………… ….….…25

1.4.1 Không gian văn hóa…… ……….……… …………26

1.4.2 Chủ thể văn hóa………… ……… ……… 33

1.4.3 Thời gian văn hóa………… ……….… ……….40

Tiểu kết……… …… ……… ……….……….… 44

Trang 4

CHƯƠNG 2: ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ TRONG QUAN HỆ GIỮA

KHÔNG GIAN NHÂN TẠO VÀ KHÔNG GIAN TỰ NHIÊN 47

2.1 Không gian sản xuất, mưu sinh trong quan hệ với môi trường tự nhiên ….47

2.2 Không gian cư trú trong quan hệ với môi trường tự nhiên 59

2.3 Không gian giao thông trong quan hệ với môi trường tự nhiên …… ……64

Tiểu kết … ……… ………… …… 80

CHƯƠNG 3: ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ TRONG QUAN HỆ GIỮA KHÔNG GIAN CÁ NHÂN VÀ KHÔNG GIAN XÃ HỘI … 82

3.1 Tổ chức không gian nông thôn và đô thị ……… 82

3.1.1 Tổ chức không gian nông thôn …… … … ………… 82

3.1.2 Tổ chức không gian đô thị ……… ………….…89

3.2 Không gian ngôi nhà trong ứng xử quan hệ gia đình và xã hội 95

3.2.1 Không gian ngôi nhà trong ứng xử quan hệ gia đình .… … …….95

3.2.2 Không gian ngôi nhà trong ứng xử quan hệ xã hội … 99

3.3 Đình làng như một không gian xã hội 101

3.4 Văn Miếu như một không gian xã hội 105

3.5 Chợ như một không gian xã hội ……….… 109

Tiểu kết……… …….… …….…….112

CHƯƠNG 4: ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ TRONGQUAN HỆ GIỮA KHÔNG GIAN THIÊNG VÀ KHÔNG GIAN PHÀM TRẦN 114

4.1 Đình, miếu, chùa như những không gian thiêng ………114

4.1.1 Đình làng như một không gian thiêng ……… 114

4.1.2 Chùa như một không gian thiêng ……… ….121

4.1.3 Văn Miếu như một không gian thiêng ….134

4.1.4 Miếu như một không gian thiêng ….135

4.2 Không gian thờ phụng trong gia đình 138

4.2.1 Gian thờ …… …….… … 138

4.2.2 Các bàn thờ .……… ………….…… ….141

4.2.3 Mâm cúng 143

Tiểu kết……… …… ………… ……… 147

Trang 5

KẾT LUẬN 149

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

I Tài liệu tiếng Việt 153

II Tài liệu nước ngoài 160

III Tài liệu từ internet 161

Trang 6

DẪN LUẬN

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Miền Tây Nam bộ là một vùng đất thiên nhiên đa dạng, một đồng bằng rộng lớn và trù phú nhất Việt Nam Từ xưa, đây là một nơi hội tụ nhiều nền văn hóa của các thành phần dân cư khác nhau, và cho đến nay nó vẫn là một vùng hỗn hợp dân cư – dân tộc của các tộc người chủ yếu: Việt, Hoa, Chăm, Khmer

Theo dòng lịch sử, cư dân Việt, vốn là những cư dân xiêu tán, thợ thủ công cùng khổ, những binh lính lao dịch lưu đày … dưới sự áp bức của giai cấp địa chủ phong kiến, chiến tranh địch họa, thiên tai… đã buộc phải rời xa xóm làng vào sâu những vùng đất phía Nam khẩn hoang lập nghiệp, đối mặt với những khó khăn thử thách trên vùng đất mới, thuần hóa đất đai, lập làng dựng nghiệp, tạo ra lối ứng xử với không gian đầy tính riêng biệt đặc trưng vùng

Trong quá trình khẩn hoang, bên cạnh những thuận lợi của vùng đất trù mật phương Nam, thì những di dân Việt cũng gặp khá nhiều khó khăn, thiếu thốn từ vật chất đến tinh thần Vì vậy để có thể sinh tồn, họ đã tạo nên những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần để thích ứng với thiên nhiên vùng đất mới Qua thời gian, cuộc sống dần ổn định, những người Việt từ các vùng miền khác nhau cùng với những vốn sống, những hành trang văn hóa, những đặc tính địa phương của mình cùng hòa nhập vào nhau đã tổng hợp sản sinh

ra một hệ thống văn hóa vừa có nét gần gũi với đồng bằng Bắc bộ nhưng vẫn có những nét biến tấu rất riêng mang đậm màu sắc văn hóa sông nước Nam bộ

Miền Tây Nam bộ là một vùng văn hóa với những đặc trưng riêng biệt so với các vùng văn hóa khác, ngay cả so với Đông Nam bộ, cùng ở Nam bộ, Tây Nam bộ vẫn có những nét khác biệt

Con người tồn tại trong không gian và thời gian, nên ứng xử của con người với không gian sẽ cho chúng ta thấy nhiều điều có ý nghĩa về văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử của họ Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu văn hóa ứng xử với không gian, trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến công trình The Hidden Dimension (Chiều kích ẩn dấu) của Edward T Hall (1990) Trong công trình này, ông đưa ra khái niệm proxemic, với nghĩa là cách thức của con người ứng xử với không gian

Trang 7

cá nhân và không gian công cộng Khái niệm proxemic từ đó được đưa vào một số từ điển thuật ngữ Nhân loại học văn hóa Và tìm hiểu văn hóa ứng xử với không gian trở thành một trong những hướng nghiên cứu trên thế giới

Ở Việt Nam, đã có không ít những công trình nghiên cứu về văn hóa Tây Nam bộ, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về văn hóa ứng xử với không gian của người Việt vùng này Vì vậy để góp phần vào việc tìm hiểu các khía cạnh văn hóa của những cư dân Việt nơi vùng đất Tây Nam bộ, chúng tôi chọn “Văn hóa ứng

xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ” để làm đề tài luận văn cao học

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, có những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập những vấn đề từ khái quát đến cụ thể, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến đề tài Cụ thể, các tài liệu tham khảo được phân loại như sau:

a Tài liệu trong nước

Thứ nhất: Những công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam nói chung của các tác giả: Đào Duy Anh 1938/2006; Phan Hồng Sơn 1983; Đinh Gia Khánh 1983; Đoàn Nguyên Phúc 1990; Chu Xuân Diên 1993; Trần Quốc Vượng 1998; Phan Ngọc 2002; Trần Ngọc Thêm 2004; Đỗ Long 2008 … khi trình bày các thành tố văn hóa Việt Nam, đâu đó đều đề cập đến những luận điểm liên quan đến ứng xử không gian trong văn hóa Việt Nam Đây là những gợi ý khái quát giúp chúng tôi vận dụng trong nghiên cứu văn hóa Nam bộ

Thứ hai: Những công trình nghiên cứu về Nam bộ của các tác giả: Sơn Nam 1964/1992/1993/2000; Đoàn Giỏi 1975; Lê Anh Trà 1984; Phan Quang 1985; Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992; Trần Thị Ngọc Lang 1995; Trần Ngọc Thêm 1996/2004; Huỳnh Công Tín 1996; Nguyễn Thế Truyền 1999/2002; Đào Duy Anh 2000; Huỳnh Lứa 2002; Lâm Uyên Ba 2003; Lê Văn Bột 2003; Hồ Bá Thâm 2003; Hồ Xuân Tuyên 2004; Nguyễn Văn Nở 2004; Mai Thanh Thắng 2006; Trần Văn Giàu, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Đầu, Nghiêm Thẩm 2007; Đinh Văn Hạnh 2008/2010; Nguyễn Phương Thảo 2008; Lý Tùng Hiếu 2008; Nguyễn Hữu Hiệp 2008; Trần Phỏng Diều 2008; Trần Văn Nam 2008; Hồ Tĩnh Tâm 2009; Nhất Thống 2009; Đinh Thị Dung

Trang 8

2011; Phan An 2011; ……đã phân tích về tổ chức làng xã, gia đình, văn hóa cư trú, văn hóa giao thông …của Nam bộ - Tây Nam bộ, qua đó cho thấy phần nào cách ứng xử với không gian của người Việt Nam bộ và Tây Nam bộ

Thứ ba: Trong những công trình nghiên cứu chuyên ngành về từng phương diện cụ thể như ngôn ngữ, giao tiếp, tâm lý, xã hội, văn học…của Việt Nam nói chung, Nam bộ nói riêng cũng có những thông tin liên quan đến ứng xử trong không gian của người Việt nói chung và người Việt miền Tây Nam bộ nói riêng như:

- Về phương diện ngôn ngữ, phương ngữ: Lê Anh Trà 1984; Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992; Trần Thị Ngọc Lang 1995; Huỳnh Công Tín 1996; Nguyễn Thế Truyền 1999/2002; Lâm Uyên Ba 2003; Hồ Xuân Tuyên 2004; Nguyễn Văn Nở 2004; Huỳnh Công Tín 2006/2007; Lý Tùng Hiếu 2008 thông qua ngôn ngữ tri nhận và cách diễn đạt, các tác giả đã phát hiện trình bày tinh tế nhiều mối quan hệ ứng xử với không gian của người Việt ở Nam bộ cũng như ở miền Tây Nam bộ

- Về các biểu hiện văn hóa và quá trình tiếp biến trong giao tiếp: Nguyễn Kim Thản 1982; Đoàn Giỏi 1982; Như Ý 1990; Thạch Phương, Huỳnh Lứa, Hồ Lê, Nguyễn Quang

Lê 1992; Lý Toàn Thắng 1994; Trần Thị Ngọc Lang 1995; Trần Ngọc Thêm 1996/2004; Phạm Minh Thảo 1996; Nguyễn Văn Khang 1996; Nguyễn Thế Truyền 1999; Hữu Đạt 2000; Đào Thản 2001; Nguyễn Đức Tồn 2002; Huỳnh Công Tín 2002/2007; Đông Phương Tri, Đinh Viễn Trí 2003; Nguyễn Thị Hoàng Yến 2006; Nguyễn Văn Lê 2006; Nguyễn Trọng Báu 2006; Nguyễn Ngọc Lâm 2006; Phạm Anh Toàn 2007; Sơn Nam 2007; Nguyễn Đăng Khánh 2008; Đỗ Long 2008; Nguyễn Hữu Hiệp 2008; ….cũng đã đưa ra nhiều vấn đề liên quan đến biểu hiện của quá trình tiếp biến văn hóa với không gian, mỗi một khoảng không gian văn hóa tối ưu đều cho chúng ta cái nhìn thực tế, khái quát về các giá trị ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ

Tóm lại, về mặt nội dung: Văn hóa ứng xử của người Việt Nam bộ nói chung và người Việt miền Tây Nam bộ nói riêng đã được tiếp cận khá phong phú và sâu rộng từ nhiều góc độ Cụ thể là những đặc điểm về sự du nhập văn hóa cộng cư, cách thức hành

xử, ứng phó với thiên nhiên, tính du nhập, mức độ biểu đạt của từ ngữ, dấu ấn thế giới quan và nhân sinh quan của con người trong ứng xử… Những công trình, bài viết tiếp cận từ nhiều góc độ văn hóa trên đã tạo nên những tiền đề khoa học và thực tiễn phong

Trang 9

Mặc khác, những nhận định, đánh giá về thái độ, tâm lý, tình cảm và phong cách ứng xử của người Việt ở Nam bộ nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng với không gian cũng được nhiều công trình, báo chí, bài viết đề cập Nó tạo nên những điểm tựa để tìm hiểu, đối chứng và so sánh, giúp cho việc nhận thức và đánh giá khách quan hơn Tuy nhiên, hầu hết các công trình chỉ dừng lại trong một vài phân tích nhỏ, và mang tính dàn trải Phần chứng minh các nhận định, đánh giá chưa được xúc tiến làm rõ, và đây sẽ là điểm mà đề tài phấn đấu tiếp nối làm sáng tỏ hơn những vấn đề này

Văn hóa ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ có thể tìm hiểu thông qua tính cách con người “Con người là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”

và tính cách con người là sản phẩm của quá trình tổng hòa đó Những nhận định và đánh giá về tính cách người Việt Nam bộ là nhóm nội dung tiếp theo cho phép chúng ta có cái nhìn biện chứng, khách quan về sự tác động của các điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,

xã hội đến hoạt động ứng xử và văn hóa ứng xử của con người miền Tây Nam bộ rõ nét hơn, đặc trưng hơn

Các đặc trưng trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam sẽ là nền tảng cho việc tìm hiểu “Văn hóa ứng xử với không gian của người Việt ở miền Tây Nam bộ” Những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa ứng xử với không gian người Việt miền Tây Nam

bộ so với Bắc bộ và Trung bộ giúp chúng ta thấy được bản sắc văn hóa và sự tiếp biến của văn hóa Việt Nam

Về mặt phương pháp: Những công trình của các tác giả đi trước đã sử dụng các phương pháp hệ thống – loại hình như Trần Ngọc Thêm; phương pháp cấu trúc như Phan Ngọc; phương pháp lịch sử như Trần Quốc Vượng …- xem xét vấn đề, cũng có những công trình sử dụng phương pháp so sánh, cả so sánh nội văn hóa (cho thấy những tương

Trang 10

đồng, khác biệt về văn hóa ứng xử giữa các vùng miền hoặc giữa chủng tộc Việt Nam) lẫn so sánh xuyên văn hóa (cho thấy những tương đồng, khác biệt về văn hóa ứng xử giữa Việt Nam, Trung Quốc, phương Tây)

Những nhận định, đánh giá dựa trên các quan sát thực địa, kinh nghiệm, vốn sống

và sự cảm thụ của mỗi nhà nghiên cứu cũng là một phương pháp nghiên cứu được nhiều tác giả sử dụng

Phương pháp điều tra và thống kê cũng là một trong các phương pháp mà các nhà nghiên cứu hay sử dụng để xác định những mặt biểu hiện của văn hóa Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu đang gặt hái được nhiều thành tựu lớn

b Tài liệu nước ngoài

Tuy không trực tiếp liên quan đến đề tài, nhưng những công trình như: Chiều kích

ẩn giấu; Bầu trời thấp; Không gian nguyên thủy đã có những gợi ý quan trọng với chúng

tôi về hướng tiếp cận ứng xử không gian về các nền văn hóa

Edward T.Hall trong công trình Chiều kích ẩn giấu - đã đưa ra lý thuyết và những

khái niệm công cụ để nghiên cứu ứng xử không gian (proxemic) từ các cấp độ dưới văn hóa (infracultural level), tiền văn hóa (preculturd level) và vi văn hóa (microculture) Ông cũng đã trình bày một cách thuyết phục nghiên cứu so sánh văn hóa ứng xử không gian trong các nền văn hóa phương Tây và phương Đông (Anh, Pháp, Đức, Nhật, Arab)

Han Van Der Horst trong công trình Bầu trời thấp đã trình bày cách thức tổ chức

xã hội của dân tộc Hà Lan, những quan niệm và cách suy nghĩ của người Hà Lan về môi trường sống cũng như cách ứng xử của người Hà Lan đối với không gian cá nhân, không gian xã hội, không gian công cộng, không gian riêng tư Qua đó giúp chúng ta có cách nhìn sâu sắc về đặc tính dân tộc Hà Lan

Robert Lowie trong công trình Không gian văn hóa nguyên thủy – thông qua nghiên

cứu của tác giả về các vấn đề hôn nhân, gia đình, tài sản, địa vị xã hội, chính trị và những dạng thức khác nhau của các tổ chức họ hàng, anh em ở các nền văn hóa của người da đỏ Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương và vùng Sibérie… tác giả đã cho chúng ta một cái nhìn về không gian văn hóa nguyên thủy trong các xã hội loài người là một không gian

đa chiều với những sắc thái đa dạng, đặc biệt tác giả cung cấp cho chúng ta một chuẩn

Trang 11

hệ thống về văn hóa ứng xử không gian của người Việt miền Tây Nam bộ

III ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hóa ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ, bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần mà người Việt miền Tây Nam bộ đã sáng tạo, tích lũy, trong suốt quá trình hoạt động ứng xử với không gian Mục đích nghiên cứu: Phân tích cách thức ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ, giải thích nguyên nhân của lối ứng xử đó từ các điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội Qua đó, góp phần soi sáng đặc điểm tính cách và văn hóa người Việt miền Tây Nam bộ trong so sánh với các vùng miền khác

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Về chủ thể: Nghiên cứu giới hạn trong tộc người Việt miền Tây Nam bộ

- Về không gian: Giới hạn trong khu vực 13 tỉnh miền Tây nam bộ Trong đó, chúng tôi tập trung khảo sát những không gian mang tính đặc trưng Tây Nam bộ

- Về thời gian: Nghiên cứu xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển từ truyền thống đến hiện đại của vùng đất Tây Nam bộ từ thế kỷ XVII đến nay

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về văn hóa ứng xử với không gian của người Việt Tây Nam bộ

V Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Đã có những công trình nghiên cứu đi trước, nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt nói chung và người Việt miền Tây Nam bộ nói riêng với những đối tượng cụ thể như: Ứng xử với nắng nóng; Ứng xử với môi trường sông nước… Công trình nghiên cứu của chúng tôi hướng đến tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ đối với một đối tượng có phần trừu tượng là thời gian Đề tài có thể đóng góp một hướng mới

Trang 12

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Chúng tôi sử dụng những phương pháp chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu hệ thống – cấu trúc: Xem ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ như một tiểu văn hóa (subculture) với các thành tố quan hệ giữa chúng Văn hóa ứng xử của con người nói chung được thể hiện qua ba quan

hệ cơ bản là quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với con người (quan hệ xã hội) và quan hệ giữa con người với những thế lực siêu nhiên (quan hệ trong đời sống tâm linh) Do đó, vận dụng trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu văn hóa ứng xử không gian của người Việt miền Tây Nam bộ thể hiện qua ba quan hệ:

1 Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian nhân tạo và không gian tự nhiên

2 Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian cá nhân

và không gian xã hội

3 Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian thiêng

Trang 13

- Thứ ba, phương pháp so sánh: Luận văn so sánh văn hóa ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ với các vùng miền khác (đặc biệt chú ý trong so sánh với văn hóa miền Đông Nam bộ và văn hóa Bắc bộ vì cả ba đều là vùng văn hóa đồng bằng) và với các tộc người khác của Việt Nam (so sánh ứng xử không gian của người Hoa, người Chăm, người Khmer cùng ở Tây Nam bộ có những nét tương đồng, khác biệt, những ảnh hưởng giao lưu, tiếp biến so với người Việt) Luận văn cũng so sánh văn hóa ứng xử với không gian của Việt Nam với phương Tây để cho thấy khi giao lưu chịu ảnh hưởng văn hóa khu vực và thế giới, văn hóa ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ đã

có những tiếp biến thế nào

- Thứ tư, phương pháp điền dã: Làm nghề du lịch chúng tôi có điều kiện để vận dụng phương pháp này để quan sát, đối chiếu, tìm hiểu thực tế ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ đối với không gian

VII ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Phân tích đặc điểm ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ thể hiện qua các thành tố: Văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử và trong quan

hệ so sánh với văn hóa các vùng miền, các chủng tộc khác có liên quan ở Việt Nam, so sánh với văn hóa các nước khác trong khu vực và trên thế giới

- Giải thích nguyên nhân, phân tích hệ quả, ý nghĩa của văn hóa ứng xử với không gian của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ với văn hóa và tính cách của người Việt miền Tây Nam bộ, từ truyền thống đến hiện đại

- Đóng góp cho thành tựu nghiên cứu văn hóa Tây Nam bộ, văn hóa Việt Nam, văn hóa vùng, văn hóa ứng xử với không gian

VIII BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương một: “Cơ sở lý luận và thực tiễn” bao gồm các khái niệm liên quan đến không gian, văn hóa ứng xử với không gian, vùng văn hóa và văn hóa vùng, định vị tọa

độ văn hóa người Việt ở miền Tây Nam bộ

Trang 14

Chương hai: “Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian nhân tạo và không gian tự nhiên” tìm hiểu về việc nhận thức, tổ chức và ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ với không gian sản xuất, mưu sinh, cư trú, giao thông trong quan hệ với môi trường tự nhiên

Chương ba: “Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian cá nhân và không gian xã hội” tìm hiểu về việc nhận thức, tổ chức và ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ với không gian nông thôn và đô thị, không gian nhà trong ứng xử quan hệ gia đình, xã hội và đình làng, Văn Miếu, chợ cũng được xem như một không gian xã hội

Chương bốn: “Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian thiêng và không gian phàm trần ” tìm hiểu về việc nhận thức, tổ chức và ứng xử của người Việt miền Tây Nam Bộ với các loại hình không gian thiêng như: Đình làng, chùa chiền, Miếu, gian thờ, bàn thờ và mâm cúng

- -

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 KHÔNG GIAN

1.1.1 Khái niệm không gian

Không gian là một phạm trù khá rộng và trừu tượng Qua khảo sát các nguồn tài liệu tham khảo, tài liệu tra cứu trong và ngoài nước, chúng tôi tìm thấy một số thuật ngữ, khái niệm và định nghĩa liên quan đến không gian như sau:

(1) Bút ký triết học [ V.I.Lenin 1916]: Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại diễn ra với

nhiều trạng thái chuyển đổi không ngừng, tất cả những thuộc tính đó thông qua thời gian đều tồn tại trong không gian Cùng với thời gian, không gian thể hiện các trạng thái hỗn mang của thế giới vật chất, cũng như trình tự diễn biến các quá trình, các giai đoạn hình thành, phát triển và mất đi của vật chất

(2) Khám phá vũ trụ và đời người [Quốc Ánh 1960: 129]: Không gian là khoảng

không rộng lớn, vô cùng, vô tận, trong đó có vô số thế giới Mỗi thế giới gồm có những

bộ tinh tú lớn, nhỏ quay quần với nhau, nương nhau mà tồn tại

(3) Triết học Kant [Trần Thái Đỉnh 1969: 50/51/107]: Bằng triết lý siêu nghiệm,

Kant đưa nêu ra một số nhận định cơ bản về không gian

“Không gian được biểu tượng như một cái gì lớn vô cùng, có tính chất dữ kiện (l’espace est représentée commeune grandeur infinie donnée) - là một biểu tượng vô cùng

vì không gian chứa đựng tất cả vũ trụ vạn vật”

“Mỗi khi ta kinh nghiệm một sự vật, ta luôn thấy nó nằm trong không gian, vì sự vật nhất thiết có trương độ và có vị trí: Như vậy mỗi khi ta kinh nghiệm một vật thể, ta đã đồng thời nhận thấy sự thực của không gian”

(4) Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới [Jean Chevalier, Alain Gheerbrant 1997:

486]: “Không gian, gắn không tách với thời gian, vừa là nơi chứa đựng những gì có thể

xảy ra…Vừa là nơi chứa đựng những gì đã thực hiện - khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã được tổ chức”

“Không gian giống như một khoảng rộng vô biên, không biết đâu là trung tâm, bành trướng theo mọi chiều”

Trang 16

tố thời gian, dùng làm thướt đo chuyển động (trước đó – trong lúc đó – sau đó) và đo tốc

độ (hơn – bằng – kém) Như vậy, không gian là biểu tượng chung của môi trường, ở bên ngoài hay bên trong, mà bất kỳ một sinh thể nào, cá thể hay tập thể, đều hoạt động trong đó”

(5) Từ điển Tiếng Việt phổ thông [Viện Ngôn ngữ học 2008]: Không gian là hình

thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với thời gian) trong đó vật chất vận động và phát triển không ngừng

(6) Đại từ điển tiếng Việt [Nguyễn Như Ý(cb) 2008: 824]: Không gian là hình thức

tồn tại cơ bản của vật chất trong đó các vật thể có độ dài, độ lớn khác nhau ở những vị trí với khoảng cách khác nhau Ngoài ra không gian còn là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người như: không gian bao la, không gian yên tĩnh

(7) Việt ngữ tinh nghĩa từ điển [Nguyễn Văn Minh, Long Điền 2010: 399]: “Thế

gian là cõi đời vạn vật cùng chung sống có ý bao gồm cả gầm trời”

Trước khi có định nghĩa hoàn chỉnh về không gian như trên, trong tư tưởng của người phương Đông xưa đã quan niệm cấu trúc không gian vũ trụ với mô hình tam tài và ngũ hành:

“Tam tài” là một khái niệm bộ ba, “ba phép”: Thiên - Địa - Nhân Nó thể hiện quan niệm của người xưa về cấu trúc không gian dưới dạng mô hình ba yếu tố

Còn “Ngũ hành” là khái niệm dùng để mô phỏng cấu trúc không gian vũ trụ bởi năm yếu tố (năm hành) theo thứ tự: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ

Từ sự kế thừa và tiếp cận các quan điểm của các học giả đi trước, chúng tôi rút ra khái niệm không gian như sau: Không gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất trong

đó các vật thể có kích thước khác nhau và ở những vị trí với khoảng cách khác nhau, không gian còn là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người với những thuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu, chiếm vị trí quan trọng trong nhận thức của con người trên nhiều phương diện

Trang 17

1.1.2 Không gian trong quan hệ với thời gian

Không gian gắn liền không tách rời với yếu tố thời gian [Jean Chevalier & Alain Gheerbrant 1997:486] Trên nền tảng triết học phương Đông, các sự vật và hiện tượng cũng được luận giải bằng những thuật ngữ như “thế giới”, “vũ trụ”, đây là những khái niệm để chỉ tổng thể không gian và thời gian “Thế giới” gồm có “Thế” nghĩa là đời (chỉ thời gian) và “giới” nghĩa là cõi (chỉ không gian) Như vậy, thế giới được hiểu là cõi đời, nghĩa là nó bao hàm cả không gian và thời gian

Về “vũ trụ” lại có câu:

“Tứ phương thương thượng hạ chi vũ,

Vãng cổ lai kim vị chi trụ”

Dịch:

“Bốn phương, trên dưới gọi là vũ,

Xưa qua, nay lại gọi là trụ” [Hoài Nam Tử - Tề tục huấn]

Theo cách hiểu đó thì vũ trụ cũng có nghĩa là một tổng thể không gian và thời gian,

mà con người là một bộ phận của tổng thể đó, nghĩa là nó là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, một tiểu thế giới trong đại thế giới Nhà thơ Trần Tử Ngang cũng đã từng nói lên sự

cô độc của con người khi đối diện không gian rộng lớn và thời gian không cùng:

“Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Độc thương nhiên nhi thế hạ” [Đăng U Châu đài ca - Trần Tử Ngang]

Trên cơ sở triết học Marx – Lenin, Không gian và thời gian là một mô hình toán học gộp không gian ba chiều với thời gian một chiều (chiều thứ tư) để tạo thành một cấu trúc thống nhất gọi là "continuum không - thời gian"(1)

Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động, không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình thức kết cấu,

có độ dài - ngắn - cao - thấp, đồng thời thể hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với

(1)

http://www.wattpad.com/214401/giao-trinh-triet-hoc-mac-lenin?p=70

Trang 18

Trước quan điểm của triết học Marx - Lenin, triết học phương Tây vào thế kỷ thứ XVII đã xảy ra cuộc tranh luận nổi tiếng giữa Newton và Leibniz về bản chất của không gian và thời gian “Newton lý giải rằng không gian và thời gian giống như những chiếc thùng, mỗi chiếc thùng chứa những thực thể của thực tại và những thứ chứa bên trong luôn tồn tại trong đó Không gian là một cái gì đó vẫn cứ tồn tại nếu không có sự việc nào xảy ra trong không gian và thời gian Thời gian cũng giống như vậy Không gian và thời gian tự tồn tại và không phụ thuộc vào những thứ khác

Leibniz lại cho rằng mọi vật không thực sự thay đổi Thời gian và không gian không phải là những chiếc thùng lớn để cho mọi thứ vào Thời gian và không gian chỉ là mối quan hệ bên trong giữa các sự kiện xảy ra Vì nếu các mối quan hệ, giữa cái trước - cái sau, giữa cái phải – cái trái cũng như mọi thứ đều giống nhau thì sẽ không có gì thay đổi Nói như Newton, cho dù có thể dịch chuyển mọi vật trong không gian xa rời vị trí cũ nhiều dặm, thì tất cả những mối quan hệ đó sẽ duy trì ở trạng thái cũ, không thay đổi, điều này vô lý Như vậy không gian và thời gian không có trạng thái tự tồn tại

Ngoài ra, trong cơ học cổ điển Isaac Newton, không gian và thời gian là hai khái niệm hoàn toàn riêng biệt Cùng một sự việc luôn trôi qua trong những khoảng thời gian giống nhau khi quan sát trong các hệ quy chiếu khác nhau Các sự việc này có thể được làm đồng bộ bằng việc dùng chung một đồng hồ đo thời gian tuyệt đối

(2)

http://www wattpad.com/ cac-pham-tru-vat-chat-van-dong-khong-gian-va-thoi-gian.html

Trang 19

Trong mô hình thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, thời gian diễn ra của cùng một sự việc là dài hay ngắn phụ thuộc vào lựa chọn hệ quy chiếu “Cách mô tả các sự việc được thực hiện chính xác trên một hệ thống hình học được sáng tạo bởi Hermann Minkowski, ở đó không gian và thời gian được xem xét là một cặp Đây là hình học Minkowski, nơi một sự kiện được nhận dạng bằng một thế giới điểm của bốn chiều không gian và thời gian liên tục”(3) “Đồng thời vật chất vận động trong không gian và thời gian Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, và là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể”

Ngoài ra, theo các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Mc Govern - Học viện công nghệ Massachussets (MIT) (4) - Con người phương Đông và phương Tây trong cách nhìn nhận mối tương quan giữa không gian và thời gian cũng có nhiều khác biệt Con người trong văn hóa phương Tây, thường tự coi mình như những thực thể độc lập, trong khi quan sát cảnh vật, họ thường tập trung quan sát đối tượng ở chính giữa hơn là những vùng phụ cận phía ngoài Ngược lại, văn hóa phương Đông nhấn mạnh yếu tố phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người “Khi người phương Đông quan sát một cảnh vật, họ thường chú ý và hướng đến ngữ cảnh xung quanh cũng như khách thể ở dưới góc độ: toàn bộ hình khối; hay nói cách khác, họ sẽ nhìn ngắm quang cảnh phía xa bao quanh chiếc xe BMW đậu trong công viên hơn là chỉ tập trung vào chiếc xe”(5), nghĩa là ý thức quan hệ giữa cái “Vô” và “Hữu”

(3)

Để hiểu được lợi điểm của chiều cao và có được phương tiện sử dụng trong chiều này, những nhà Toán học đặt thêm chiều thời gian (t) và gọi đó là chiều thứ tư, mục đích của sự đặt để này là xác định vị trí của vật thể trong không gian (xyz) ở thời điểm (t), chiều thứ tư mà Minkowski đề ra đó là chiều thời gian t Vì thế, vũ trụ hiện tại là một vũ trụ có chiều kích bốn chiều, bao gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian

(4)

Công trình của các giáo sư : John Gabrieli và Trey Hedden thuộc Viện nghiên cứu não bộ McGovern - Học viện công nghệ Massachussets (MIT); Sarah Ketay và Arthur Aron - Đại học Stony Brook - New York; Hazel Rose Markus - Đại học Stanford Nghiên cứu được tài trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia - Hoa Kỳ và tiến hành bởi Viện McGovern thuộc MIT.

(5)

http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_th%E1%BA%A5u_hi%E1%BB%83u:_ph%C6% B0%C6%A1ng_%C4%90%C3%B4ng_v%C3%A0_ph%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%A2y

Trang 20

“Nói chung, quan hệ giữa con người với không gian - thời gian theo quan niệm phương Tây, là quan hệ của cái được chứa đựng với cái chứa đựng – một quan hệ nhị nguyên

Phương Đông còn nhìn thấy một quan hệ nhất nguyên: không gian, thời gian còn là năng lượng vũ trụ của con người” [Phan Thu Hiền 1999: 78]

“Những khám phá này đã mở ra nhiều mối tương quan mật thiết giữa vạn vật, mọi vật trong vũ trụ đều được cấu thành nên bởi một mô nền tảng và mô đó (tissu fondamental) không phải là vật chất hay vi-thể (particules) mà chính là không gian và thời gian (espace-temps)” [Kim Định 1967: 6,7]

Ngoài ra, trên phương diện tâm lý – xã hội học, tổ chức các hoạt động nhân tính của con người và sự ảnh hưởng của chúng trong không gian cũng đều mang tính thời gian(6)

1.1.3 Các chiều kích không gian, các phạm trù không gian

1.1.3.1 Các chiều kích không gian

Xét không gian cụ thể / không gian vật lý / không gian vật chất, chúng ta có ba chiều kích: chiều dài, chiều rộng và chiều cao

Chiều thứ tư chính là chiều thời gian, mở ra không gian hồi tưởng hoặc không gian

mơ ước… thuộc về không gian tâm lý

1.1.3.2 Các phạm trù không gian

Các phạm trù ứng xử không gian được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Mỗi phạm trù xuất hiện đều là kết quả của quá trình nhận thức trước đó, đồng thời lại là bậc thang cho quá trình nhận thức tiếp theo của con người để tiến gần đến nhận thức đầy đủ hơn bản chất của sự vật V.I.Lenin viết: "Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự nhiên Con người bản năng, con người man

rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên Người có ý thức tự tách khỏi tự nhiên, những phạm

(6)

Ví dụ như một "ngôi nhà" được chia thành nhiều không gian sống khác nhau, phía trước là phòng khách; phía sau là nhà bếp, phòng ăn; phía trên là phòng ngủ, v v… Những không gian được sử dụng trong nhiều cách khác nhau và cho một loạt các hoạt động với ý nghĩa xã hội khác nhau Theo đó, phòng ngủ là không gian thân mật chúng ta hiếm khi có thể mời người lạ vào, thay vào đó, phòng khách là nơi được xem là không gian thích hợp cho những cuộc gặp gỡ, tiếp chuyện trong quan hệ xã giao với nhau giữa chủ nhà và khách

Trang 21

nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dù hình thức thể hiện của

nó là chủ quan V.I.Lenin viết: "Những khái niệm của con người là chủ quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc"(8)

Các phạm trù là kết quả của quá trình nhận thức của con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý thức của con người, mà còn luôn vận động, phát triển, chuyển hoá lẫn nhau Mặt khác, khả năng nhận thức của con người cũng thay đổi ở mỗi giai đoạn lịch sử Do vậy, các phạm trù phản ánh thế giới khách quan cũng phải vận động và phát triển để có thể phản ánh đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan Vì vậy, hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà nó thường xuyên được

bổ sung bằng những phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức khoa học

Dựa vào các nhà nghiên cứu đi trước, khi nghiên cứu ứng xử không gian của con người, chúng ta có thể nhận diện một số phạm trù không gian cơ bản thông qua hệ thống các khái niệm quan trọng của nhà nghiên cứu Edward T.Hall sau:

a Thứ nhất, từ cấp độ dưới văn hóa (infracultural level), Edward T Hall cho rằng

con người với tư cách là động vật cao cấp, cũng có những thuộc tính bản năng trong xử

sự không gian Điều này được xác định thông qua hai khái niệm:

- Khái niệm “lãnh thổ chủ quyền” (Territory) là khoảng không gian mà con người

và loài vật sử dụng, sở hữu, được bao quanh bởi bong bóng vô hình và bất khả xâm phạm đối với các thành viên hoặc giống loài khác Nó cung cấp một khung hình riêng mà trong

Trang 22

đó mọi thứ được thực hiện trong lãnh thổ đó như: ẩn nấu, nghĩ ngơi, giải trí [Edward T.Hall 1990: 10]

- Khái niệm “giống loài ưa liên hệ” và “giống loài không ưa liên hệ” (Contact

species – Non contact species) Edward T.Hall đã chứng minh bằng thực tế về một số loài thích kề sát nhau như: Hà mã, Heo, Dơi nâu…, nhưng có một số loài tránh động chạm nhau như: Thiên nga, Hải âu, chim ưng… [Edward T.Hall 1990: 13]

b Thứ hai, từ cấp độ tiền văn hóa (Precultural level), Edward T.Hall đã phân tích

các giác quan tiếp xúc không gian để nhận diện hai loại tiếp xúc: tiếp xúc cách xa và tiếp xúc gần

- Các giác quan tiếp xúc không gian cách xa gồm mắt (thị giác) - xa nhất, tai (thính

giác) và mũi (khứu giác) Ứng với đó là không gian thị giác, không gian thính giác và

không gian khứu giác [Edward T.Hall 1990: 117]

- Các giác quan tiếp xúc không gian gần sát bao gồm xúc giác Edward T.Hall nhận

diện không gian nhiệt [Edward T.Hall 1990: 117], và gần sát hơn nữa đến không còn khoảng cách là không gian tiếp xúc trực tiếp [Edward T.Hall 1990: 117]

c Thứ ba, từ cấp độ vi văn hóa (Microcultural level), Edward T.Hall nhận diện bốn

khoảng cách không gian

Có thể nói không gian tương tác trở thành một phần quan trọng trong ứng xử Chúng ta có thể dựa vào khoảng cách đó để đánh giá mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau

Quan sát trong các tình huống ứng xử của con người trong không gian, Edward T Hall đã hệ thống bốn khoảng cách trong không gian văn hóa phương Tây như sau:

Không gian thân mật (khoảng cách từ 0cm - 46cm) - Trong số tất cả các không

gian thì không gian này quan trọng nhất, con người được bảo vệ như thể đó là không gian riêng tư thuộc quyền sở hữu của mình Được phép xâm nhập vào khoảng cách này chỉ là những người có mối liên hệ tình cảm gắn bó Đó là con cái, cha mẹ, vợ chồng, người yêu, bạn bè thân thiết và bà con ruột thịt Trong không gian vùng này còn có một số khoảng cách mật thiết bao gồm khoảng cách mật thiết - gần và khoảng cách mật thiết - xa Tương

tự, các khoảng cách khác cũng vậy Với bán kính từ 6- 18cm, mà xâm nhập vào đó chỉ bằng cách tiếp xúc thể xác Đây là vùng siêu thân mật

Trang 23

Không gian cá nhân (46cm -1,2m) - Chỉ định khoảng cách nhất quán tách các

thành viên của các loài không tiếp xúc với nhau Giữa những cá thể loài vật được bao phủ bởi một “bong bóng vô hình” để duy trì khoảng cách giữa bản thân với những cá thể khác, kể cả con người, và có thể quan sát các sự vật xung quanh bằng các giác quan Khoảng cách này được xác định cá nhân trong các cuộc tiếp khách, tiệc tùng, liên hoan, trò chuyện bạn bè

Không gian xã hội (1,2m – 3,6m) là khoảng cách nhất định được cá thể ấn định

trong quá trình ứng xử với những cá thể lạ, không quen biết, và luôn trong phương diện

đề phòng, ví dụ như: thợ sửa ống nước, thợ mộc đến sữa sang trong nhà, nhân viên mới đến làm việc và những người mà chúng ta chưa biết rõ

Không gian công cộng (>3,6m) – Một số thay đổi quan trọng giữa các giác quan

xảy ra trong quá trình chuyển đổi từ các khoảng cách cá nhân và xã hội, được bao phủ bởi một vòng tròn “bong bóng vô hình” tạo nên một khoảng cách nhất định giữa các thành viên Ví dụ như khi chúng ta hướng đến một nhóm đông người thì thuận tiện hơn khi đứng một mình

[Nguồn: Allan Pease 1994:34]

Bên cạnh Edward T.Hall thì Allan B.Pease cũng chú ý đến ứng xử không gian Theo ông, con người là động vật bậc cao, nên cũng có những thuộc tính giống với bản năng

của loài vật: “Chim và động vật có vú đều có vùng lãnh thổ riêng mà nó chiếm giữ và

luôn phản ứng bảo vệ chống lại các loài khác không thuộc cùng loài với nó, nhưng nó có một loạt các khoảng cách thống nhất mà nó luôn duy trì” Hầu hết động vật đều có khoảng không gian nào đó quanh thân thể mà chúng ta cho là khoảng không cá nhân của chúng Khoảng không kéo dài bao xa thì phụ thuộc chính vào tình trạng đông đúc của môi trường mà trong đó động vật lớn lên hoặc mật độ cùng loài ở địa phương đó Vì vậy,

PUBLIC ZONE Over 3,6 m

SOCIAL ZONE 1,2-3,6 m

PERSONAL ZONE

46 cm-1,2 m

INTIMATE ZONE 15-46 cm

Trang 24

lãnh thổ riêng tư có thể bị kéo dài hoặc thu nhỏ phụ thuộc vào các hoàn cảnh địa phương

Ví dụ như một con sư tử lớn lên ở những vùng xa xôi của châu Phi, có thể có khoảng

không gian lãnh thổ với bán kính là 50 km hoặc nhiều hơn, điều này phụ thuộc vào mật

độ sư tử ở vùng đó và nó đánh dấu lãnh thổ của chúng bằng nước tiểu hoặc phân xung

quanh ranh giới của chúng Mặc khác, nếu sư tử được nuôi trong tình trạng giam cầm thì

khoảng không riêng tư chỉ vài mét, do hậu quả trực tiếp của điều kiện sống đông đúc

[Allan-Barbara Pease 2008: 192]

Ngoài ra, Allan B.Pease đặc biệt quan tâm đến không gian cá nhân Ông đã phân

tích sự khác biệt giữa những người sống ở nông thôn và thành thị đối với không gian này Theo ông, mỗi con người đều có khoảng không cá nhân, kích thước phụ thuộc vào mật độ

dân số ở nơi họ lớn lên Do đó, khoảng không cá nhân được quyết định theo nền văn hóa

Trong một số nền văn hóa như Nhật Bản, ở những thành phố lớn, với mật độ dân số

đông đúc, con người ở đây thích những khoảng không rộng và giữ khoảng cách với người

lạ Nghiên cứu của Allan B Pease còn cho thấy, những người tù thường có nhu cầu

khoảng không cá nhân lớn hơn so với hầu hết mọi người trong cộng đồng, do những

người liên tục gây gỗ thì thích đến gần với nhau, họ thích kết băng nhóm nên cần không

gian rộng Ngoài ra, khoảng cách vùng không gian của nông thôn và thành phố cũng khác

nhau, những người sống ở thành phố “bọt bong bóng” cá nhân là 46 cm, đây cũng là

khoảng cách được đo giữa hông và mình khi họ bắt tay nhau Những người lớn lên ở

những thị tứ có dân số ít, “bong bóng vô hình” không gian lên đến 1m hoặc nhiều hơn,

đây là khoảng cách được đo trung bình từ hông tới thân người kia khi họ bắt tay Những

người ở nông thôn thường đứng vững trên nền đất, hơi cúi xuống để bắt tay, trong khi

những người sống ở thành phố, cũng trong tình huống này thì đứng bình thường Những

người sống ở nông thôn vùng xa xôi nhu cầu khoảng không cá nhân rộng hơn, có thể lên

đế 6 m Họ thường không thích bắt tay, thay vào đó họ đứng cách xa và vẫy tay

Khi phân tích ứng xử không gian như một phương diện trong văn hóa giao tiếp

công sở, văn hóa doanh nghiệp Viện nghiên cứu văn hóa Đông Dương(9)đã đề cập đến

ba phạm trù không gian sau:

(9)

www.indochina.edu.vn

Trang 25

“- Không gian truyền thống: không gian này được thực hiện trên cơ sở các mối

quan hệ giữa người và người đã hình thành lâu dài trong quá trình phát triển xã hội như: quan hệ huyết thống, họ hàng, gia đình, quan hệ làng xóm láng giềng… vai trò cá nhân trong giao tiếp được quy định rõ ràng, trở thành những quy định bất thành văn, thấm đẫm vào từng xã hội, cuối cùng trở thành văn hoá ứng xử riêng trong xã hội đó Loại không gian này bị chi phối bởi văn hoá tập quán, hệ thống các quan niệm và ý thức xã hội

- Không gian chức năng: phát triển trong hoạt động chức nghiệp Loại không gian

này xuất phát từ sự chuyên môn hoá trong xã hội, ngôn ngữ và hình thức giao tiếp chịu ảnh hưởng bởi những quy định thành văn hay không thành văn, dần trở thành quy ước, chuẩn mực và thông lệ chung trong xã hội, không đòi hỏi bộc lộ cá tính hay những tình cảm riêng tư mà xuất phát từ sự đòi hỏi của nghi lễ ứng xử xã hội và hiệu quả trong công việc Đó là ngôn ngữ cho phép mọi người không quen biết nhau, rất khác nhau, nhưng khi thực hiện những vai trò xã hội nhất định đều phải tuân thủ sử dụng Ví dụ như quan

hệ giữa thủ trưởng và nhân viên, giữa người bán và người mua, giữa bác sĩ và bệnh nhân, giữa bị cáo và chánh án v.v

- Không gian tự do: được cảm thụ chủ quan như một giá trị tự tại, tự thân Những

quy tắc và mục đích giao tiếp không được định trước như khuôn mẫu, mà xuất hiện ngay trong quá trình tiếp xúc, tuỳ theo sự phát triển của các mối quan hệ Không gian tự do được thúc đẩy bởi tính chủ động, phẩm chất và mục đích của mỗi cá nhân, nó cần thiết trong quá trình xã hội hoá làm phát triển và thoả mãn các nhu cầu về lợi ích tinh thần và vật chất của các bên giao tiếp một cách nhanh chóng và trực tiếp Loại không gian này trong thực tế cuộc sống là vô cùng phong phú, trên cơ sở trao đổi những thông tin có được, làm thức tỉnh những hứng thú tình cảm sâu sắc cũng như giải toả xung đột của mỗi

cá nhân”(10)

(10)

ung-xu-noi-cong-so.html.

Trang 26

Ứng xử là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học con người Tư tưởng

về ứng xử được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỷ XX Các khái niệm, bản chất ứng xử chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn Mỗi tác giả đề cập

đến một mặt, một khía cạnh nào đó của hoạt động ứng xử

Trong chuyên ngành Tâm lý học đã có nhiều ý kiến, quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về ứng xử Khi tìm hiểu khám phá bản chất ứng xử của con người các nhà tâm lý học đã có các hướng khá rõ nét:

Nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E cho rằng ứng xử là bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin Theo ông, ứng xử là một quá trình hai mặt: Liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau Tuy nhiên ông chưa đưa ra được nội hàm cụ thể của liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau Sau ông, nhà tâm lý học người Anh M.Argyle đã mô tả quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau Ông coi ứng xử thông tin mà nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật

lý và chuyển dịch không gian Đồng thời, nhà tâm lý học người Mỹ T.Sibutanhi cũng làm

rõ khái niệm liên lạc như là một hoạt động mà nó chế định sự phối hợp lẫn nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham gia vào quá trình ứng xử hay như là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp hành động Ông viết: “Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản đơn hoá sự thích ứng hành vi lẫn nhau của

Trang 27

Trường phái hoạt động trong tâm lý học Xô Viết cũng đưa ra một số khái niệm về ứng xử như là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động con người, ngang với lao động và nhận thức (B.G.Ananhev); ứng xử và lao động là hai dạng cơ bản của hoạt động của con người (A.N.Lêônchep); và ứng xử là một hình thức tồn tại song song cùng các hoạt động (B.Ph.Lomov) Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm về ứng

xử của mình: Ứng xử là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng thức ứng

xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm ấy, không có sự đối lập giữa ứng xử bằng lời và ứng xử không bằng lời: “Ứng xử là một tổng thể toàn vẹn”(17).

Tóm lại, theo chúng tôi: Văn hóa ứng xử là lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của con người trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội trong một phạm vi hẹp, vi mô tới một phạm vi rộng, vĩ mô (cơ quan, đoàn thể, nhân gian, xã hội )

1.2.2 Văn hóa ứng xử với không gian

Vận dụng khái niệm văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm, chúng ta có thể khái niệm văn hóa ứng xử với không gian là hệ thống các giá trị được tích lũy, bảo lưu và trao

Trang 28

- Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian nhân tạo

và không gian tự nhiên

- Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian cá nhân

và không gian xã hội

- Ứng xử của người Việt miền Tây Nam bộ trong quan hệ giữa không gian thiêng và không gian phàm trần

1.3 VĂN HÓA VÙNG VÀ VÙNG VĂN HÓA

1.3.1 Văn hóa vùng

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và thế giới quan tâm nghiên cứu văn hóa vùng

Chúng tôi dựa vào định nghĩa của tác giả Ngô Đức Thịnh để nghiên cứu vấn đề: “Văn

hóa vùng là một dạng thức của không gian văn hóa, mà ở đó do quá trình giao lưu văn hóa lâu dài giữa các tộc người, đã tạo nên các sắc diện văn hóa chung” [Ngô Đức Thịnh 2004: 7]

1.3.2 Vùng văn hóa

Theo tác giả Ngô Đức Thịnh: “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống mà ở đó từ lâu đã có những mối liên

hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa

họ đã diễn ra những giao lưu ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của

cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” [Ngô Đức Thịnh 2004: 64]

(13)

http://kilobooks.com/archive/index.php/t-7523.html.

Trang 29

Trong Việt Nam văn hóa sử cương - tác giả Đào Duy Anh cũng đã xác định rằng

“chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lí khiến mỗi dân tộc sinh hoạt trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng thành khác nhau Bởi thế muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xem xét dân tộc ấy sinh trưởng ở trong những điều kiện địa lí như thế nào” [Đào Duy Anh 2002: 11]

Việc phân vùng văn hóa ở Việt Nam, có nhiều quan điểm và nhiều cách phân vùng khác nhau: Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn (1995) phân thành 8 vùng; Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận (1995) phân thành 9 vùng; Trần Quốc Vượng (1997), Chu Xuân Diên (2003), Trần Ngọc Thêm (2004) phân thành 6 vùng Hầu hết các cách chia nêu trên đều xem Nam Bộ là một vùng văn hoá Với phân vùng văn hóa Việt Nam làm 7 vùng văn hóa khác nhau: vùng đồng bằng Bắc bộ; vùng văn hóa Việt Bắc; vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung bộ; vùng văn hóa duyên hải Bắc Trung bộ; vùng văn hóa duyên hải Trung và Trung bộ; vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên; vùng văn hóa Nam bộ, và trong mỗi vùng lại chia thành các tiểu vùng, tác giả Ngô Đức Thịnh (1993/2004) cũng xem Tây Nam bộ là một tiểu vùng thuộc vùng văn hoá Nam Bộ

Tuy nhiên, “Tây Nam Bộ được nhìn nhận khá sớm thể hiện qua tên gọi trong so

sánh với Đông Nam Bộ như: Đồng bằng sông Cửu Long, Châu thổ sông Mekong, hay

miền Tây Nam Bộ (Southwestern Region) hay ngắn gọn hơn là miền Tây Trong thời Pháp thuộc, chúng ta thấy người Pháp cũng nhận thức đây là một vùng riêng biệt (theo địa - hành chính) Họ gọi vùng châu thổ sông Mekong là miền dưới của Nam Kỳ (Low Cochinchina - Basse Cochinchine), Miền Tây Nam Kỳ (Western Cochinchina, Cochinchine Occidentale) với những ý niệm về “Văn minh sông nước”…” [Pascal Bourdeaux: www.gio-0.com] [Đinh Thị Dung 2011](14)

Về mặt khoa học, có thể thấy vùng văn hóa Tây Nam bộ có những đặc điểm khác biệt cơ bản so với vùng văn hóa Đông Nam bộ:

Do đó, chúng tôi tán thành theo quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm và các tác giả đề tài khoa học cấp Đại học Quốc Gia trọng điểm của khoa Văn Hóa Học, trường

(14)

http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2014&Itemid=74

Trang 30

ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, cho rằng Tây Nam bộ với những đặc trưng riêng biệt, là một vùng văn hóa bên cạnh vùng văn hóa Đông Nam bộ

1.4 ĐỊNH VỊ TỌA ĐỘ VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

“Vị trí của một nền văn hóa trong xã hội, một vùng hay một miền nào đó … phải được xác định bởi một hệ tọa độ, một hệ tọa độ ba chiều: thời gian văn hóa, không gian văn hóa và chủ thể văn hóa

Thời gian văn hóa được xác định từ khi một nền văn hóa hình thành cho đến khi tàn lụi Nói chung, thời gian văn hóa không thể có ranh giới rạch ròi, là một khái niệm không rõ ràng Thời điểm khởi đầu của nột nền văn hóa là do thời điểm hình thành dân tộc (chủ thể văn hóa) quy định.

Không gian văn hóa có phần

phức tạp hơn: bởi văn hóa có tính

lịch sử, cho nên trong không gian

văn hóa có yếu tố thời gian

Vì có tính thời gian cho nên,

không gian văn hóa liên quan đến

Do vậy, không gian văn hóa

bao giờ cũng rộng hơn Việc xác

định hệ tọa độ ba chiều giúp ta dễ

quan sát cũng như xác định được

phương hướng, nắm bắt được vấn

đề cần tìm và không làm mất nhiều

thời gian nghiên cứu” [Trần Ngọc Thêm 1996: 33]

Bản đồ Việt Nam (18)

Trang 31

1.4.1 Không gian văn hóa

Xét về hoàn cảnh địa lý, miền Tây Nam bộ hay còn gọi là đồng bằng sông Cửu Long, là một không gian địa lý liền kề liên tục nằm tận cực Nam đất nước Việt Nam, có diện tích 39.739 km2, được hình thành từ những trầm tích phù sa và được bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi của mực nước biển, bao gồm 13 tỉnh thành(15): Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau phía Bắc giáp vùng Đông Nam bộ, phía Tây giáp Campuchia, phía Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông giáp biển Đông(16) Theo hằng số thứ hai trong công trình nghiên cứu “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam 2004” của tác giả Trần Ngọc Thêm: Nam bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với thế giới phương Tây; ngã

ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương

Với hằng số thứ 2 này, chúng ta thấy Nam bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế (Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với thế giới phương Tây; ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương) đã tạo nên một trạng thái động thường xuyên trong đời sống xã hội Tính cách người Nam bộ - Tây Nam bộ phóng khoáng, ít bảo thủ, nên con người vùng này “dễ tiếp nhận hơn cả những ảnh hưởng từ bên ngoài” [Trần Ngọc Thêm 1996/2004: 199]

Ở Nam bộ - Tây Nam bộ, tính “mở” không chỉ dừng lại ở cấu trúc không gian nội vùng mà còn cả không gian ngoại vùng Sự mở rộng không gian ứng xử, kéo theo sự mở rộng đối tượng với không gian cần ứng xử Với trạng thái động thường xuyên trong đời sống xã hội, tính tự trị xét ở phạm vi quốc gia đối với bên ngoài, Đông Nam Á và thế giới cũng thường xuyên bị tác động Do đó, so với Bắc bộ, thái độ rụt rè, e ngại trong ứng xử của người Việt ở Nam bộ - Tây Nam bộ cũng ít có điều kiện để hình thành và phát triển

Sự đa dạng về đối tượng (Đông Nam Á, thế giới phương Tây) trong quá trình tiếp xúc và

Trang 32

Xét về địa hình, cảnh quan và môi sinh thì miền Tây Nam bộ là nơi hội tụ nhiều yếu

tố thuận lợi, vừa đồng nhất vừa đa dạng so với thiên nhiên các vùng miền ở Việt Nam Khác với miền Đông Nam bộ, là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ, có độ cao trung bình từ 100 - 200m và là nơi tập trung đồi núi của toàn vùng Nam bộ; thì miền Tây Nam

bộ là vùng đất phù sa mới, có địa hình bằng phẳng vào loại hiếm thấy ở Việt Nam, độ cao trung bình chưa đầy 2m, và cao không quá 5 m so với mực nước biển Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao nhất là núi Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m)(18) Tuy cùng nằm trong vùng Nam bộ, nhưng với sự khác biệt về địa hình cũng có khả năng tạo nên một vài nét khác biệt về đặc điểm sinh sống và quan hệ con người ở hai miền Đông và Tây Nam bộ

Theo hằng số thứ nhất trong “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam 2004” của tác giả Trần Ngọc Thêm: Nam bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện: gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung

Với hằng số này, chúng ta thấy, ở Nam bộ - Tây Nam bộ với những điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tác động đến đời sống và quan hệ của con người, làm cơ sở hình thành

Trang 33

nên thái độ ứng xử của người Việt ở miền Tây Nam bộ, điều này được nhấn mạnh trong tính “mở” của môi trường sông nước, sự đa dạng và thuận lợi của môi trường tự nhiên Đây được xem là hằng số quan trọng nhất, mang tính quyết định nhất

Trước hết, tính “mở” của môi trường sông nước có một vai trò quan trọng trong việc phân bố và tổ chức không gian sinh hoạt, cư trú của con người

Nếu “môi trường sông nước là một đặc trưng cho thiên nhiên Việt Nam, thì Nam bộ được xem là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng”(19) Tuy nhiên, ở Đông Nam

bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh), “ngoại trừ hai đặc điểm nổi bật về thổ nhưỡng là đất đỏ bazan và đất xám – phù sa cổ, thì về cảnh quan - sinh thái, chưa có

gì đặc biệt lắm so với các vùng khác trong nước Sông ngòi, núi rừng, cây trái, cách làm

ăn sinh hoạt, tuy có mang một số nét riêng, nhưng về cơ bản, vẫn gần hao hao giống một

số vùng bán sơn địa ở Nam Trung bộ” [Thạch Phương 1992: 235] Trong khi đó, miền Tây Nam bộ là nơi thể hiện rõ hơn và vượt trội hơn tính chất “sông nước rất đặc trưng” này Ở đây có một hệ thống sông ngòi rất chằng chịt, với khoảng 2.500 km sông rạch tự nhiên và 2.500 km sông rạch đào “Nhưng sự khác biệt không phải chỉ về lượng, mà là cả một sự khác biệt về chất do kết quả tổng hợp của nhiều hệ thống gió mùa và nhiều hệ thống truyền triều tác động từ những hướng luôn luôn thay đổi nhau” [Nguyễn Công Bình 1990: 14, 15] Hệ thống sông nước Tây Nam bộ bủa vây các miệt, bao bọc các cù lao và len lỏi đi khắp vùng Nó không chỉ có vai trò quan trọng đối với lao động sản xuất mà còn chi phối toàn bộ sự sống và nhịp độ sinh hoạt của con người

Sự kết hợp của địa hình bằng phẳng và môi trường sông nước chằng chịt đã tạo nên một hệ chiều kích không gian rộng mở cho Tây Nam bộ, khả năng tạo nên vùng biệt lập

do phân tầng địa hình là kém hơn so với Đông Nam bộ và kém nhất so với cả nước Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Tây Nam bộ là vùng có môi trường sông nước điển hình nhất cả nước, kéo theo một cấu trúc không gian “mở”, tập trung và điển hình nhất Việt Nam

(19)

Lý Tùng Hiếu 2009:

http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1238&Itemid=74

Trang 34

Hệ thống sông ngòi Tây Nam bộ được thể hiện tập trung qua sự sung mãn và trù phú của Sông Cửu Long, dòng sông mẹ của các con sông, là đoạn cuối của Sông Mekong trên lãnh thổ Việt Nam trước khi đổ ra biển Đông Sông Mekong là con sông lớn thứ 12 trên thế giới (4.800km) và lớn nhất Đông Nam Á, tổng diện tích lưu vực tới 795.000 km2 Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng thuộc Trung Quốc (cao so với mực nước biển 5.000m), sông Mekong chảy qua 6 nước, từ Trung Quốc qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi đổ vào miền Tây Nam bộ của Việt Nam qua hai nhánh để ra biển(20)

Nhánh phía Bắc là sông Tiền, nhánh phía Nam là sông Hậu Càng xuôi về Nam, hai nhánh sông này càng rộng lớn

Trang 35

Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Cửu Long, chảy qua Tân Châu, Cao Lãnh, Sa Đéc đến Vĩnh Long, khi còn cách biển chừng 100km, chia ra hai nhánh thành sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên “Sông Mỹ Tho phân thành 6 nhánh đổ ra biển Đông theo 6 cửa là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Balai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, đến Cần Thơ chia thành nhiều nhánh rồi lại hội nhập ngay lại, cuối cùng đổ ra biển Đông qua cửa Ba Thắc(22), cửa Định An, cửa Tranh Đề” [Nguyễn Công Bình 1990: 12]

Toàn bộ Đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm bồi lắng phù sa của con sông

“Mẹ” Hằng năm, nơi đây nhận khoảng 90.000 triệu mét khối nước mưa và 550.000 triệu mét khối nước sông Mekong đổ về, tổng khối lượng phù sa lên đến 100 triệu tấn/ năm, gấp 7- 8 lần khối lượng phù sa sông Hồng Một phần phù sa theo lũ tràn bờ đi vào nội đồng, phần lớn đi ra cửa sông, bồi tụ vùng ven biển “Qua hàng ngàn năm tranh chấp sông với biển, đồng bằng được hình thành và vẫn còn đang tiếp tục hình thành Biết bao

cù lao sông lớn nhỏ được tạo ra” [Nguyễn Công Bình 1990: 14, 18]

Hệ thống sông ngòi ở miền Tây Nam bộ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long, các vùng trũng ở miền Tây như Đồng Tháp Mười ở hai bên sông Tiền, tứ giác Long Xuyên ở phía Tây sông Hậu, là những hồ nước thiên nhiên góp phần điều hoà lưu lượng cho sông Cửu Long vào mùa nước nổi tháng 9, tháng 10 Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, đây cũng là mùa nước lũ của sông Cửu Long Tổng lưu lượng nước là 475 tỉ mét khối nước/năm, mực nước mùa lũ có thể cao hơn mực nước mùa cạn là 4m, diện tích ngập lũ

có thể lên tới trên 1 triệu hecta Khi con sông ở thời kỳ lũ, vùng đồng bằng cửa sông không thể thoát kịp lượng nước khổng lồ của nó, nước lũ chảy ngược vào hồ Tonlé Sap Khi nước lũ rút đi, nước từ hồ lại tiếp tục chảy ra biển Hiệu ứng này làm giảm đáng kể C3%25A2y%2Bnam%2Bb%25E1%25BB%2599%26hl%3Den%26sa%3DG%26biw%3D1024%26bih%3D550%2 6gbv%3D2%26tbm%3Disch&itbs=1&iact=hc&vpx=446&vpy=235&dur=1071&hovh=190&hovw=266&tx=113&t y=115&oei=icWiTd_6MYWSuwPN8OCRBQ&page=1&ndsp=15&ved=1t:429,r:7,s:0

(22)

Hiện nay cửa sông Ba Thắc đã không còn, do những năm 70, hiện tượng bồi đắp phù sa ngày càng nhiều tại Cù Lao Dung (Sóc Trăng) nên đã lấp kín cửa Ba Thắc Sau này người dân địa phương đã nạo vắt và đổi tên thành sông Cồn Tròn

Trang 36

Ngoài ra, môi trường sông nước ở đây đã tạo nên một đời sống giao thông đường thủy, như một hình thức giao thông chủ đạo trong toàn vùng của con người Từ những ngày khẩn hoang, người Việt ở miền Tây Nam bộ đã phải gắn bó chặt chẽ nhịp sống của mình theo các tính chất thủy văn của hệ thống sông ngòi nơi đây Sự vận động của hệ thống truyền triều có thể tạo nên nhiều thuận lợi lẫn khó khăn cho sự đi lại của con người Đó cũng là một trong những điểm khác biệt của môi trường ứng xử của người Việt

ở miền Tây Nam bộ so với miền Đông Nam bộ và Bắc bộ

Sự cô đơn giữa một đất trời bao la, mênh mông sông nước, là tâm trạng hiện hữu thường trực trong đời sống tinh thần người Việt miền Tây Nam bộ, điều này càng được tô đậm khi xuôi về phía đất mũi Trong cuộc sống của người Việt miền Tây Nam bộ nói riêng và Nam bộ nói chung, ứng xử như một hoạt động tất yếu và cần được tăng cường

để con người có thể hòa nhập với cuộc sống mới

Ngoài ra, “với đặc điểm gió mùa cận xích đạo, hai mùa: mưa và kiệt, toàn vùng là một hệ thống mở biến nhịp với chế độ thuỷ văn Hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã mang về một lượng phù sa đáng kể dọc theo đê ven sông và dọc theo một số giồng cát ven biển, có cả đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười,

tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau” [Đinh Thị Dung 2011](24)

“Đây là vùng nằm gọn trong những vĩ tuyến Bắc rất thấp từ 8035’ đến 110, có khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, nóng ẩm quanh năm, không có mùa lạnh và rất ít bão Nhiệt

độ và độ ẩm đều thuộc hàng cao Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 270c Số giờ

Trang 37

nắng thuộc vào loại nhiều nhất trong cả nước, trên dưới 2.000 giờ/ năm” [Nguyễn Công

Bình, 1990: 14] Lượng mưa hàng năm là 2.335 giờ/năm, với 184 ngày mưa Hệ thống

sông ngòi chằng chịt và tiếp giáp với biển ở 3 mặt đã tạo cho Tây Nam bộ một khí hậu ôn

hòa, không quá nóng bức So với Đông Nam bộ thì Tây Nam bộ vẫn là vùng mát mẻ hơn.

Chế độ gió mùa nơi đây khá rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ gió mùa Tây

Nam, là mùa mưa, tập trung tới 80% - 90% lượng mưa cả năm; từ tháng 11 đến tháng 4 là

thời kỳ gió mùa Đông Bắc khô khan, cạn kiệt Hết mùa khô rồi đến mùa mưa Chính hai

mùa khí hậu này đã tạo nên một nhịp điệu chủ đạo, điều khiển các quá trình sinh sống của

con người và phát triển của tự nhiên

“Đồng bằng sông Cửu Long cũng ở xứ nhiệt đới gió mùa, nhưng không biết tới sự

thay đổi nóng lạnh qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; cũng không chịu cảnh mưa dầm

gió bấc như ở Đồng bằng sông Hồng” [Nguyễn Công Bình 1990: 14]

Điều kiện tự nhiên ở Tây Nam bộ rất thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài sinh

vật “toàn bộ 900 loài thực vật phát hiện ở đồng bằng này đều nằm trong giới hạn thực vật

nhiệt đới; nguồn lợi sinh vật chủ yếu là sinh vật ưa nước; hệ sinh thái rừng ngập mặn ven

biển là nét tiêu biểu của thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa” [Nguyễn Công Bình 1990: 20]

“Nhờ vào hệ thống sông MeKong, Đồng bằng sông Cửu Long đa dạng sinh học hơn hẳn

Đồng bằng sông Hồng Rừng ở Tây Nam bộ cũng mang một diện mạo riêng Không như

rừng Tây Nguyên, hay rừng Trung bộ, rừng ở đây là rừng ngập mặn (còn khoảng 150.000

ha tập trung chủ yếu ở Cà Mau và Bạc Liêu), rừng tràm đặc thù (hệ thống này hiện nay

có khoảng 100.000 ha).… Chính môi trường sinh thái này đã đưa tới một sắc thái địa -

văn hóa tiêu biểu của vùng Tây Nam Bộ Đó là văn hóa hồ - rừng, người dân đã dùng

rừng làm hồ chứa nước (U Minh hạ, Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên…) để canh

tác vào mùa khô Đặc biệt là hệ thống sinh thái cửa sông ven biển với phong phú tôm, cá

nước ngọt, nước lợ… Nơi đây còn có hệ sinh thái thủy sinh rất phong phú ở khu vực nội

địa vùng biển Tây Nam chiếm 13,5% trữ lượng cá của cả nước Bên cạnh đó là hàng chục

sân chim, nhiều nhất là tỉnh Cà Mau”(25)

Thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa Tây Nam bộ không chỉ thuận lợi cho cây trồng và

(25)

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93n.

Trang 38

đời sống con người mà nó còn “tồn tại và phát triển trong trạng thái tương phản: giữa sông và biển, mùa khô và mùa mưa, gió mùa Tây Nam và mùa gió chướng, lũ và hạn, nước ngọt rất thừa mà lại rất thiếu, đất phù sa ngọt với đất phèn, đất mặn… Mỗi sự nhận biết và sử dụng cái thuận lợi của thiên nhiên đó lại đồng thời đòi hỏi phải tìm ra cho được cái khó khăn cũng do nó gây nên để thích nghi và khắc phục” [Nguyễn Công Bình 1990: 21]

“Cấu trúc cảnh quan môi trường cũng như môi trường sinh thái của vùng đã quyết định các loại hình khai thác kinh tế như: nông, ngư, lâm nghiệp…, và qui định nên các phương pháp khai thác tác động vào thiên nhiên của con người, góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa vùng Ngoài ra, có một số nơi như: U Minh là tiểu vùng văn hóa lúa nước điển hình với việc nhờ vào nước mưa để canh tác (văn hóa tận dụng tài nguyên nước - điều này dễ nhận thấy ở những vùng mặn phèn vùng giồng duyên hải và vùng bán đảo

Cà Mau)” [Đinh Thị Dung 2011](26)

Từ môi trường tự nhiên đặc thù của vùng, nhiều làng nghề văn hóa độc đáo xuất hiện như: làng nghề dừa, làm đay, làm cói,… Sinh thái thủy vực dẫn đến nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản: nghề cá ven sông, nghề cá dùng đay, lưới

Môi trường thiên nhiên Tây Nam bộ luôn khơi dậy và đòi hỏi con người sự tìm tòi, khám phá và thích nghi Đó chính là tiền đề sinh động của quan hệ con người, cho nếp sống tương trợ, trọng tình, trọng nghĩa; cho nhu cầu sẻ chia tri thức, kinh nghiệm, tình cảm của người Việt, cũng như của người Việt với các tộc người khác ở Tây Nam bộ nói riêng và Nam bộ nói chung

1.4.2 Chủ thể văn hóa

“Những người Việt lần hồi có mặt tại Nam bộ nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng, là những người Việt ở Bắc bộ và phần nhiều từ vùng đất Ngũ Quảng” [Sơn Nam 1967/2007: 28, 29], từng được nhận diện đặc điểm nguồn gốc xuất thân trong một số công trình nghiên cứu của nhiều học giả đi trước với những nét đặc trưng sau:

Thứ nhất, thành phần chủ yếu nhất và đông đảo nhất là những người nông dân và thợ thủ công nghèo, vì đói kém, cơ cực do thiên tai và chiến tranh nội chiến kéo dài, vì

(26)

http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2014&Itemid=74

Trang 39

không chịu nổi sự bóc lột, áp bức hà hiếp của quan lại, địa chủ và chế độ phong kiến Việt Nam đang vào giai đoạn suy tàn, mục ruỗng…Họ buộc lòng phải rời bỏ làng mạc, quê hương mà lưu thân vào Nam bộ mong tìm kiếm sự sống So với người Việt còn bám trụ ở lại phần đất đàng cựu thì người Việt ở Nam bộ nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng

là thành phần chứa nhiều chất dương tính trong tính cách Họ không ngại sự thay đổi và bất trắc Ý chí thay đổi cuộc sống, thân phận đã tạo nên sức mạnh, lòng quả cảm buộc họ phải rời bỏ quê cha đất tổ, lên đường vào Nam lập nghiệp, tìm kế sinh tồn [Huỳnh Lứa 1987: 41, 43]; [Sơn Nam 2007: 28]; [Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàm 2005: 220]

Nếu như tính chất nghèo khổ, cùng cực, phải lang bạt để mưu sinh là đặc điểm chung của lưu dân người Việt ở Nam bộ thì chủ thể người Việt ở Tây Nam bộ thể hiện rõ nét hơn ở Đông Nam bộ Chúng ta có thể thấy rằng, nếu như có đủ điều kiện và cơ hội bám trụ, ổn định ở vùng đất Đông Nam bộ, những lưu dân tứ xứ đã không đi xuống miền Tây Nam bộ, “Dân miền Đông nói chung bám lấy Biên Hòa và cảng Sài Gòn, gần như ít

ai dời chỗ xuống phía Hậu Giang” [Sơn Nam 2000: 6] Chỉ có những người vì quá nghèo,

đã quá cùng cực, họ chỉ có thể trông cậy sự đổi đời vào đôi tay và nghị lực bản thân, vào

cơ hội kiếm sống ít sự cạnh tranh thì mới đi khai hoang ở miền Tây Nam bộ, vì nơi đây đất đai còn nhiều, dân cư thưa thớt

Thứ hai, “Ngoài số nông dân nghèo, thất sở, xiêu tán, các thành phần người Việt đến đây còn phải kể đến những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc được giải ngũ” [Huỳnh Lứa 1987: 42] “Bên cạnh đó, còn phải kể đến những tay giang hồ hảo hán, thích sống riêng biệt, tự do, phóng khoáng, không chịu chấp nhận sự hà khắc, thối nát của triều đình phong kiến, hoặc trốn tránh tù tội cũng tìm đường chạy vào Nam bộ” [Sơn Nam 1967/2007: 30, 35]

Nếu như tính chất phản kháng, ưa mạo hiểm, tự do, xuất thân phức tạp, “tứ xứ” là những đặc điểm nổi bật của lưu dân người Việt ở Nam bộ, thì các tính chất này được thấy

ở người Việt miền Tây Nam bộ nhiều hơn người Việt ở miền Đông Nam bộ Khẩn hoang

ở Đồng bằng sông Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về chính trị, quân sự, kinh

tế, văn hóa “Vua chúa qui định chính sách điền địa, thuế khóa, quân dịch và thưởng phạt Tùy theo nhu cầu mà có khi quân sĩ, lưu dân và tù nhân phải đóng đồn, lập ấp và cày cấy

ở nơi mất an ninh” [Sơn Nam 1997: 24] Những đợt đưa quân chinh phạt hay can thiệp

Trang 40

về mặt quân sự đối với người Cao Miên của các tướng lĩnh triều Nguyễn đều để lại dấu

ấn về mặt dân cư ở Tây Nam bộ Trong việc lập làng - phân chia điền địa, các chúa Nguyễn cũng chú ý đến các vị trí vùng biên Việc mộ dân lập đồn điền và lập ấp giữa thế

kỷ XIX (1856) của triều đình nhà Nguyễn, là các hình thức chiến lược lớn nhằm hai mục đích chính “giữ giặc” và “yên dân”, tập trung ở hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, và một phần ở Vĩnh Tế, Tịnh Biên và Ba Xuyên Theo đó, sự chuyển cư tại chỗ ở Nam bộ và sự

di dân tiếp theo của người Việt vùng ngoài đến Tây Nam bộ, dù ở hình thức tự nguyện hay cưỡng ép, đều cho thấy sự qui tụ của một tầng lớp chủ thể gai góc, dám đương đầu với những gian nguy, bất trắc… Đây thật sự là một diện mạo được nhấn mạnh ở người Việt miền Tây Nam bộ hơn so với miền Đông Nam bộ

Thứ ba, những “thầy lang, thầy đồ nghèo, và những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn” [Huỳnh Lứa 1987: 42], cũng tìm vào Nam bộ Phần lớn trụ lại ở miền Đông Nam bộ, bởi dân cư ở Đông Nam bộ đông đúc

và mang tính ổn định hơn, ngoài ra sức khỏe của các thầy đồ không thích hợp với công việc khẩn hoang nên họ không chọn Tây Nam bộ để tồn tại

Trong tiến trình hình thành và phát triển của mình, chủ thể người Việt ở miền Tây Nam bộ cũng thể hiện một diện mạo phân hóa giàu nghèo rõ nét nhất ở Nam bộ “Hẳn người xa xứ sẽ nghĩ, đến máy bay của Tây còn sắm được, cửa rào ngoài sân còn phải còm măng bên Pháp thì ai mà bì với mấy Hội Đồng ngày xưa” [Hồng Hạnh 2008: 39] Điền chủ giàu có nhất miền Nam cũng thuộc miền Tây Nam bộ, điển hình như: Công tử Bạc Liêu (Hắc Công Tử); gia đình trọc phú Bá Hộ Mính; Huyện Sỉa; Huyện Kê; Huyện Sổ; gia tộc Trần – Trinh; Cao – Triều; Chung – Bá; Bạch công tử (Lê Công Phước), còn thường gọi George Phước; Trương Văn Yên – Bạc Liêu sui gia với nhà khoa học nổi tiếng bác vật Lưu Văn Lang(27)…v.v

Ở Nam bộ nói chung, miền Tây Nam bộ nói riêng, Người Việt sống cùng các tộc người khác như người Khmer, người Hoa, người Chăm “Những chủ thể này cũng vì nghèo khổ, bị đàn áp, bức bách phải lang bạt mưu sinh” [Nguyễn Công Bình 1990: 223, 224] Tính chất tứ xứ như một đặc trưng của chủ thể văn hóa ở Nam bộ Từ đặc điểm

(27)

Nhà bác vật nổi tiếng miền Nam quê ở Gò Công, Tiền Giang tặng cho xứ Bạc Liêu một công trình có một không hai – Chiếc đồng hồ bằng đá sau khi Tỉnh Bạc Liêu được thành lập vào năm 1882

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w