Trong điều kiện mở cửa hội nhập hiện nay, để góp phần vào việc giữ gìn và phát huy những giá trị của âm nhạc dân gian Việt Nam nói chung và Lý nói riêng, người viết chọn vấn đề “Lý trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
NGUYỄN NGỌC ANH
LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
TP Hồ Chí Minh – 9/2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
NGUYỄN NGỌC ANH
LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐỖ HƯƠNG
TP Hồ Chí Minh – 9/2009
Trang 3MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
5.1 Ý nghĩa khoa học 6
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6
6.1 Phương pháp nghiên cúu 6
6.2 Nguồn tư liệu 7
7 Bố cục của luận văn 7
Chương 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Khái niệm, đặc trưng và phân loại Lý 8
1.1.1 Khái niệm Lý 8
1.1.2 Các đặc trưng của Lý 11
1.1.3 Phân loại Lý 13
1.2 Đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ 16
1.2.1 Đời sống văn hóa 16
1.2.2 Đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ 17
1.2.3 Tính cách văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ 25
Tiểu kết 27
Chương 2 28
LÝ TRONG TỌA ĐỘ VĂN HÓA MIỀN TÂY NAM BỘ 28
2.1 Lý nhìn từ chủ thể 28
2.1.1 Người Việt ở Miền Tây Nam Bộ 28
2.1.2 Lý của người Việt ở Miền Tây Nam Bộ 30
2.2 Lý trong thời gian 37
2.2.1 Nguồn gốc 37
2.1.2 Quá trình phát triển Lý 38
2.2 Môi trường diễn xướng của Lý 44
2.2.1 Lý trong môi trường tự nhiên 44
2.2.2 Lý trong môi trường xã hội 52
Tiểu kết 59
Chương 3 60
ĐẶC TRƯNG CỦA LÝ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA 60
NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 60
3.1 Tính mộc mạc 60
3.1.1 Tính mộc mạc thể hiện trong nội dung Lý 61
3.1.2 Tính mộc mạc thể hiện trong nghệ thuật 65
3.2 Tính linh hoạt 74
3.2.1 Tính linh hoạt thể hiện trong nội dung Lý 74
3.2.2 Tính linh hoạt thể hiện trong nghệ thuật 79
3.3.Tính hóm hỉnh 90
3.3.1 Tính hóm hỉnh thể hiện ở nội dung Lý 91
3.3.2 Tính hóm hỉnh thể hiện trong nghệ thuật Lý 96
Tiểu kết 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 1: 111
BẢNG CHÚ GIẢI MỘT SỐ THUẬT NGỮ ÂM NHẠC 111
Trang 4So với các địa phương khác trên cả nước, Lý ở Nam Bộ nói chung, ở miền Tây Nam Bộ nói riêng còn “non trẻ” hơn, bởi gắn với cuộc “Nam tiến” của người Việt Trung Bộ và Bắc Bộ
Tại vùng đất Nam Bộ, Lý đạt tới đỉnh cao của sự đa dạng bài bản cũng như nội dung thể hiện, bởi có sự kế thừa của Lý hai miền Trung Bộ - Bắc Bộ
và ảnh hưởng của vùng đất mới huyền bí, dày đặc kênh rạch, đầm lầy
Lý của người Việt miền Tây Nam Bộ là kết quả sự cộng hưởng văn hóa các tộc người chung sống trong cộng đồng cư dân, bởi vậy Lý vừa mang đặc điểm chung của Lý người Việt, vừa mang nét văn hóa riêng, thể hiện đặc trưng văn hóa miền Tây Nam Bộ Lý đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
Trong điều kiện mở cửa hội nhập hiện nay, để góp phần vào việc giữ gìn
và phát huy những giá trị của âm nhạc dân gian Việt Nam nói chung và Lý nói
riêng, người viết chọn vấn đề “Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền
Tây Nam Bộ” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu Lý trong đời sống văn hóa của người Việt tại miền Tây Nam
Bộ là mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết nghiên cứu và so sánh các làn điệu Lý miền Tây Nam Bộ với các làn điệu Lý miền Đông Nam Bộ, miền Trung Bộ và Bắc Bộ Việt Nam Qua Lý để hiểu thêm đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ, bởi chính đời sống văn hóa đã tạo ra Lý, và Lý góp
phần làm cho đời sống văn hóa thêm phong phú
Trang 53 Lịch sử vấn đề
Lý đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có nhiều đề tài nghiên cứu về
Lý, nhiều bài bản được sưu tầm và ghi âm Phần lớn các công trình nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành âm nhạc, chưa có công trình nào nghiên cứu đặc trưng văn hóa của Lý, đặc biệt là Lý ở miền Tây Nam Bộ
Công trình chuyên ngành âm nhạc
Lý trong dân ca người Việt của nhóm tác giả Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Lê
Anh Trung, là công trình nghiên cứu độc lập đầu tiên về Lý Với phương pháp
hệ thống, phân tích, các tác giả đã nêu bật những đặc trưng nghệ thuật của Lý, đây chính là nguồn cung cấp các cứ liệu có giá trị, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu Lý trong đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Tác giả Dương Bích Hà trong công trình nghiên cứu Lý Huế, tuy không
trực tiếp đề cập đến vấn đề Lý ở miền Tây Nam Bộ, nhưng với những giả định
về nguồn gốc, xuất xứ, và sự phát triển của Lý Huế, cũng gợi mở hướng tìm hiểu về Lý của người Việt trên bình diện thời gian
Ở công trình Âm nhạc cổ truyền Việt Nam và lịch sử âm nhạc, tác giả
giới thiệu một cách khái quát các thể loại dân ca Việt Nam, trong đó có đề cập đến tính phổ quát trong đời sống của Lý “Mọi sự vật, hiện tượng trong cuộc sống đều có thể trở thành đề tài của Lý” [Nguyễn Thụy Loan 2001: 35]
Với Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền, Nguyễn Viêm đã nói đến vai trò của Lý trong đời sống “Để phổ biến kinh nghiệm sản xuất có Lý đất giồng,
ca ngợi đức tính cao thượng và nói lên cái đẹp trong cuộc sống có Lý Ba Tri, miêu tả cái hữu hình trong thiên nhiên có Lý cây xanh; còn oán trách nhau có
Lý lu là, mỉa mai châm biếm có Lý con chuột, Lý con sam… ” [Nguyễn Viêm
1996: 27]; cũng trong công trình trên, với phương pháp nghiên cứu địa văn hóa, tác giả đã phác họa một vài nét cơ bản của Lý ở từng vùng văn hóa “Từ miền Trung trở vào đến miền Nam có khá nhiều điệu Lý” [Nguyễn Viêm 1996: 22]
Ngoài những công trình tiêu biểu trên, còn có một số sách chuyên ngành của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc như: Trần Văn Khê, Tô Vũ, Hoàng Kiều… cũng bàn tới Lý, song đó cũng là những nghiên cứu theo hướng chuyên ngành âm nhạc
Trang 6Bên cạnh những công trình mang tính lý luận âm nhạc, còn có rất nhiều
các bài bản Lý được sưu tầm và hệ thống như tuyển tập 250 điệu Lý quê hương [Lư Nhất Vũ, Lê Giang 1985], 300 điệu Lý Nam Bộ [Lư Nhất Vũ, Lê Giang 2002], Dân ca Cửu Long [Lư Nhất Vũ, Lê Giang 1986], Dân ca Hậu giang [Nhiều tác giả 1986], Dân ca Bến Tre [Nhiều tác giả 1991], Dân ca Sông Bé
[Lư Nhất Vũ, Lê Giang 1981]… và các bài bản Lý nằm riêng lẻ trong các tuyển tập dân ca Việt Nam được nhiều nhà sưu tầm ghi chép lại Những công trình sưu tầm, hệ thống về bài bản Lý là cơ sở cho các công trình nghiên cứu văn hóa
Công trình nghiên cứu về văn hóa
Trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Ngô Đức Thịnh
với phương pháp nghiên cứu địa văn hóa cũng nhận định về vị trí của Lý đối với vùng dân ca Nam Bộ “Âm nhạc Nam Bộ thể hiện rõ nét trong dân ca Nam
Bộ qua các điệu Lý” và những đặc thù riêng của Lý ở mỗi vùng miền, địa phương như “Những làn điệu Lý thống nhất cho cả vùng, tuy nhiên, giữa các địa phương Lý cũng mang sắc thái riêng như ở Hậu Giang, Cửu Long, Kiên Giang… nó ẩn chứa tâm tư, nguyện vọng ước muốn của con người… ” [Ngô Đức Thịnh 2004: 284]
Trần Ngọc Thêm trong Văn hóa học và Văn hóa Việt Nam xếp “Âm
nhạc và các làn điệu dân ca Việt Nam” trong đó có Lý, thuộc nghệ thuật thanh
sắc Tác giả đã xem “ Nghệ thuật thanh sắc Việt Nam với tính cách là sản phẩm của nền văn hóa nông nghiệp trọng âm”, do đó các làn điệu dân ca Việt Nam đều thiên về diễn tả tình cảm nội tâm mang đậm chất trữ tình và rất chú trọng luyến láy, gợi nên những tình cảm quê hương, những nỗi buồn man mác (âm tính)… ” [Trần Ngọc Thêm 2004: 100] Những nhận định trên đã xây dựng một hướng tiếp cận loại hình văn hóa cho việc nghiên cứu Lý trong đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Trang 7Từ hướng nghiên cứu Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, nhóm tác
giả đã đưa Lý vào hệ thống các sinh hoạt diễn xướng dân ca giữ chức năng “về chuyện sinh hoạt và thế sự - xã hội”, với nhận xét “Loại hình Lý hàm chứa chức năng thông báo, bình luận, bày tỏ thái độ trước mọi sự vật, hay sự kiện sinh hoạt hàng ngày từ đơn giản nhất” [Nhiều tác giả 1992: 165]
Với công trình Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, các tác
giả đã nhận định vai trò của Lý trong đời sống văn hóa “Người nông dân Nam
Bộ nói lên cuộc sống đa dạng và phong phú của mình qua các làn điệu Lý” [Nhiều tác giả 1990: 397], tuy chưa đi vào nghiên cứu về đề vấn đề này, nhưng công trình cũng là một gợi ý cho việc nghiên cứu về Lý trong đời sống văn hóa một cách độc lập
Nhìn chung, số lượng nghiên cứu Lý từ góc độ văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ không phải là nhiều, đặc biệt, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào độc lập nghiên cứu đặc trưng văn hóa của Lý miền Tây Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các làn điệu Lý trong thành tố văn hóa tổ chức của người Việt miền Tây Nam Bộ
Nghiên cứu các làn điệu Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ là xét văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ theo cấu trúc: Chủ thể - Không gian – Thời gian Đối tượng được nghiên cứu không chỉ là bài bản các điệu Lý mà còn ở hình thức diễn xướng, môi trường diễn xướng và ảnh hưởng của Lý trong đời sống tinh thần, vật chất của người Việt miền Tây Nam
Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài giới hạn ở các điệu Lý của người Việt miền Tây Nam Bộ, bao gồm 12 tỉnh và một thành phố: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ Trong đó, người viết chủ yếu tập
Trang 8trung tìm hiểu Lý tại các tỉnh Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và thành phố Cần Thơ
Để làm rõ hơn đặc trưng Lý của người Việt miền Tây Nam Bộ, đề tài còn khảo sát Lý ở miền Đông Nam Bộ và các vùng Bắc Bộ, Trung Bộ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài hướng tới đi tìm những lý luận về giá trị văn hóa của Lý trong dân ca Việt Nam nói chung và Lý của người Việt ở miền Tây Nam Bộ nói riêng
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua những vấn đề được đề cập trong quá trình nghiên cứu của mình, người viết đóng góp một phần nhỏ giúp cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, những nhà quản lý hoạt động văn hóa nghệ thuật có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn trong việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ nói riêng, cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung đối với âm nhạc dân gian trong quá tình đổi mới, hội nhập ngày nay
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cúu
Nghiên cứu Lý trong đời sống văn hoá của người Việt miền Tây Nam
Bộ người viết vận dụng kiến thức liên ngành và tiếp cận từ góc nhìn văn hóa học
Phương pháp hệ thống cấu trúc Thông qua phương pháp này Lý được
xem xét, phân tích không chỉ trên một bình diện chỉnh thể, trong phạm vi nội tại của một tác phẩm riêng lẻ mà trong cả hệ thống của thể loại
Với phương pháp hệ thống liên ngành của văn hóa học, người viết
nghiên cứu Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ từ Nghệ thuật học, Nhân học xã hội, Âm nhạc học để lý giải những vấn đề phản ánh trong các hiện tượng văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ qua Lý
Phương pháp so sánh để làm rõ hơn vai trò, chức năng của Lý với các
thể loại âm nhạc dân gian khác của người Việt miền Tây Nam Bộ; so sánh văn
Trang 9hóa với người Việt miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ, Bắc Bộ Việt Nam; so sánh với các loại hình văn hóa khác trên thế giới
Phương pháp điền dã, phương pháp nghiên cứu thực địa để tìm hiểu di
sản thể loại Lý trong văn hóa dân gian người Việt miền Tây Nam Bộ, đánh giá mức độ ảnh hưởng của Lý trong đời sống văn hóa của họ
6.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm: các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Văn hóa học, Âm nhạc học, Nghệ thuật học Nguồn này cung cấp cho đề tài những cứ liệu quan trọng để hiểu về văn hóa, đời sống văn hóa người Việt, thể loại Lý trong dân ca người Việt
Ngoài việc tiếp cận trên văn bản, người viết cũng thu thập nguồn tư liệu qua điền dã, thu âm, ghi hình, phỏng vấn trực tiếp những nhà nghiên cứu về âm nhạc, nghiên cứu về văn hóa dân gian kết hợp với việc sưu tầm gián tiếp trên Internet các bài viết, băng, đĩa về Lý
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Đây là chương có tính chất lý luận, trình bày về: khái niệm, đặc trưng và phân loại Lý; đời sống văn hóa, đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam
Bộ, là cơ sở để triển khai các luận điểm chính trong luận văn
Chương 2: Lý trong tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ
Tìm hiểu Lý trong tọa độ văn hóa miền Tây Nam Bộ nhìn từ các góc độ: chủ thể, không gian, thời gian
Chương 3: Đặc trưng của Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền
Tây Nam Bộ
Qua nội dung và nghệ thuật của Lý, tìm hiểu đặc trưng Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm, đặc trưng và phân loại Lý
Lý trong từ điển Từ và ngữ giải thích là “danh từ chỉ làn điệu dân ca”
[Nguyễn Lân 1989: 1052]
Theo Từ điển tiếng Việt, Lý là “bài hát dân ca” [Nhóm tác giả 2000:
623]
Từ điển Hán Việt thì giải thích: “Lý là câu hát quê kệch của người nhà
quê” [Thiều Chửu 1990: 432]
Như vậy, việc giải thích từ Lý là “làn điệu”, “câu hát”, “bài hát”, được
hiểu với nghĩa là danh từ để chỉ tên riêng cho một trong những thể loại ca hát
dân gian Tuy nhiên, giải thích Lý là “quê kệch” thì chưa thật sự xác đáng
Để hiểu rõ hơn về thể loại Lý, người viết xin dẫn thêm một số khái niệm của các nhà nghiên cứu âm nhạc và văn hóa
Theo nhạc sĩ Lư Nhất Vũ “Lý bắt nguồn từ gốc Hán Việt: Lý ca, nghĩa
là những điệu hát quê mùa Các điệu Lý không ghi tên tác giả, không có bản phổ ký âm và được bảo lưu hay truyền bá bằng phương thức truyền miệng; Lý
là những khúc hát bình dân của tộc người Việt, là thể ca khúc ngắn gọn súc tích thể hiện sâu sắc đề tài và nội dung của mọi khía cạnh, mọi hiện tượng trong cuộc sống, mọi trạng thái tình cảm và ước mơ của quần chúng qua nhiều thế hệ nối tiếp [Lư Nhất Vũ 2006: 1, 110]
Trong công trình nghiên cứu Việt Nam dân ca tuyển, nhạc sĩ An Ba khi
nói về Lý đã cho rằng: “Lý là chuyên chỉ những bài dân ca thuộc thể ca dao có
Trang 11tiết tấu gọn gàng, tổ chức hoàn chỉnh, Lý chiếm một vị trí quan trọng trong dân
ca Việt Nam” [dẫn theo Hoàng Kiều 2001: 206] Tương tự như trên, trong công
trình nghiên cứu Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, giải thích “Lý trong
diễn xướng dân ca Nam Bộ là loại hình gồm những ca khúc nhỏ, gọn, đề cập một cách súc tích, hồn nhiên và nên thơ đến mọi sự vật, đồ vật, con vật, cây trái cảnh trí xung quanh ” [Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992: 159]
Việc giải thích Lý là danh từ chỉ tên riêng của thể loại vừa nêu, nhằm phân biệt những bài hát dân ca mộc mạc của những người lao động bình dân, với những bài hát chuyên nghiệp có bản nhạc trong dòng âm nhạc chuyên nghiệp
Nhưng cũng có khi Lý lại được hiểu với nghĩa là động từ “hát”, nhà
nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng với Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, cho rằng
trong dân gian “Lý được coi là đồng nghĩa với hát” [Huỳnh Ngọc Trảng 2006: 17], và đó cũng đồng thời là quan điểm của nhạc sĩ Lư nhất Vũ trong công trình
nghiên cứu Lý trong dân ca người Việt “Lý đồng nghĩa với hát” [Lư Nhất Vũ 2006: 1] và nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Viêm trong chuyên khảo Truyền
thống âm nhạc Việt Nam cũng nhận xét “Lý được hiểu với nghĩa là ca hát”
[Nguyễn Viêm 1995: 61]
Nhiều nơi ở miền Nam người ta gọi “lý một bài” tức là hát một bài, người viết xin trích dẫn một vài trường hợp, như câu mở đầu của bài Lý tháng giêng (Bến Tre) có viết rằng:
Kính thưa cô bác, mấy thầy
Lóng tai nghe tôi lý cái bài tháng giêng
Trong Quan họ Bắc Ninh cũng có câu hát
“Đôi người đàn, đôi em lý”
Như vậy, từ “Lý” được hiểu là hát - ca hát Tuy chưa thật sự thống nhất trong cách giải thích, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã dùng từ “Lý” là động từ “hát”, vừa là danh từ để chỉ tên của thể loại “Lý” trong dân ca Việt Nam
Trang 12Lý vừa mang đặc trưng của nghệ thuật dân gian nói chung và dân ca nói riêng như tính tập thể, tính truyền miệng, tính dị bản nhưng vẫn mang những nét đặc thù của thể loại Lý, đó là lối cấu trúc ngắn gọn, bày tỏ thái độ trước mọi
sự vật, đồ vật, con vật, cây trái, hay từ những sự kiện đơn giản nhất trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Để có khái niệm và phân biệt các thể loại chủ yếu trong sinh hoạt dân ca người Việt ở Nam Bộ như Hò, Lý, Nói có thể xem xét trong bảng 1.1
Mọi thể loại dân ca đều mang những đặc trưng cơ bản, nhưng vẫn tạo được tính khu biệt do thực hiện các chức năng khác nhau
vật, hiện tượng trong đời sống thường ngày cũng như trong các sinh hoạt cộng đồng một cách cụ thể
của con người Gắn liền với nhịp điệu, động tác mang đặc tính lao động
Nói
Tính tập thể, tính truyền miệng,
tính dị bản
Gắn với các trích đoạn truyện thơ Nôm và các bài
Vè bằng làn điệu âm nhạc
Hình 1.1 Bảng so sánh một vài thể loại dân ca Nam Bộ
Để định nghĩa về “Lý” cần căn cứ vào đặc trưng cơ bản và tính khu biệt trong nội dung, hình thức và thể loại của Lý Từ những căn cứ vừa nêu, có thể đưa ra một khái niệm Lý như sau:
Lý là những bài hát do nhân dân lao động sáng tạo và tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác; Lý có cấu trúc ngắn gọn, đề cập một cách cụ thể đến từng
Trang 13sự vật, hiện tượng trong đời sống thường ngày cũng như trong các sinh hoạt cộng đồng
1.1.2 Các đặc trưng của Lý
Nghệ thuật là một thành tố của văn hóa, mang những đặc trưng chung
của văn hóa như: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử
Lý trước hết phải có tính hệ thống, bởi Lý là một thực thể bao gồm
nhiều yếu tố hợp thành, thể hiện qua giai điệu, nhịp điệu, lời ca có liên quan mật thiết với nhau một cách có tổ chức Sự thống nhất của thực thể tạo nên những giá trị cho bài bản Lý Ví như, một bài bản Lý nếu được trình diễn ở nhịp độ nhanh, giai điệu vui tươi, nhưng lại kết hợp với lời ca oán trách não nề,
chỉ là một tập hợp các yếu tố mà thiếu tính hệ thống Nhờ tính hệ thống mà bài
bản của Lý được tổ chức một cách chặt chẽ cả về hình thức cũng như nội dung
Tính giá trị là đặc trưng quan trọng thứ hai của Lý Lý do nhân dân lao
động sáng tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu về tinh thần, và là tấm gương phản ánh
trung thực cuộc sống, tâm hồn, tính cách dân tộc, đó là giá trị tinh thần Xét về
ý nghĩa, Lý mang giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ, vì qua Lý chúng ta có thể hiểu được đức tính cần cù, gan dạ, lòng thủy chung cũng như cảm nhận được nhiều phẩm chất tốt đẹp của con người với cái chân – thiện – mỹ
Đặc trưng thứ ba của Lý là tính nhân sinh Người lao động là chủ thể
sáng tạo ra Lý, đồng thời Lý tác động trở lại đối với con người Con người sáng tạo ra Lý, Lý luôn gắn bó với con người, nó gần như có mặt ở mọi nơi, mọi lúc, ngay cả trong lúc lao động mệt nhọc cũng như những lúc nghỉ ngơi thư giãn, do
đó, Lý gắn liền với tính nhân sinh
Tính lịch sử của Lý thể hiện qua quá trình phát triển lâu dài và có sức
sống bền vững Lý được lưu truyền và kế thừa từ những sáng tạo bền bỉ của biết bao thế hệ ông cha, đã tạo nên một kho tàng phong phú với hàng trăm bài
ca giàu sức truyền cảm
Ngoài những đặc trưng cơ bản trên, Lý còn có những đặc trưng riêng như một thể loại âm nhạc dân gian: tính phổ biến rộng rãi, tính khuyết danh, tính truyền miệng, tính ứng tác, và tính tập thể
Trang 14Tính tập thể là đặc trưng cơ bản nhất của Lý, làm cho Lý khác với các
bài hát (ca khúc chuyên nghiệp) có tác giả Từ khi ra đời đến nay, Lý không phải do một người sáng tạo nên mà đều là những sáng tác tập thể, là sản phẩm của nhiều người, đó là những người dân lao động bình dị, chính vì vậy mà Lý
đã mang trong mình những phẩm chất cơ bản nhất của lối tư duy cũng như tình cảm, tập quán của cộng đồng sáng tạo ra chúng
Bên cạnh tính tập thể, Lý còn có tính truyền miệng Tính truyền miệng
là phương thức mà người này hát truyền lại cho người khác nghe để rồi thuộc
và có thể hát lại Tính truyền miệng cũng là một đặc trưng quan trọng trong âm nhạc dân gian nói chung và thể loại Lý nói riêng Lý là sản phẩm của nghệ thuật ứng tác, các điệu Lý không phải do những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp sáng tạo, Lý không có bản phổ ký âm, do đó tính truyền miệng
là hình thức truyền bá duy nhất Nhưng quần chúng nhân dân ngày một có học, trình độ văn hóa của họ ngày một cao, nên một số những sáng tác tập thể của nhân dân cũng có phần được ghi chép rồi mới truyền đi Điều này hoàn toàn đúng với quy luật của xã hội, song trên lĩnh vực âm nhạc dân gian tính truyền miệng vẫn được đánh giá là quan trọng
Tính ứng tác, là đặc tính vốn có trong âm nhạc dân gian Đó chính là
đặc trưng biến thái được phát triển trong phương thức “truyền miệng” có từ xa xưa Nghệ thuật truyền miệng của dân gian luôn gắn liền với tính ứng tác, là quá trình tái tạo nhằm thích ứng với điều kiện và nhu cầu thẩm mỹ của con người trong xã hội Ứng tác với nhiều thủ pháp như từ một làn điệu nhưng hát bằng nhiều lời ca khác nhau Để phù hợp với ngữ điệu, người hát buộc phải thay đổi bằng cách, đảo lộn trật tự của dấu giọng, thêm các tiếng đệm, tiếng lót tạo nên những điệu Lý với màu sắc riêng, những âm hưởng khác nhau với nhiều cách thức và nghệ thuật phong phú
Lý miền Tây Nam Bộ vẫn mang những đặc trưng của Lý trong dân ca người Việt nói chung, song lại có những nét đặc thù riêng như một tiểu loại dân ca: Tính đơn giản, được bắt nguồn từ sự mộc mạc, thẳng thắn trong tính cách người dân miền Tây Nam Bộ Tính mở, tính không cân phương hệ quả của sự phóng khoáng và khả năng linh hoạt cho Lý miền Tây Nam Bộ
Trang 151.1.3 Phân loại Lý
Lý là những bài hát dân ca, trong đó sự kết hợp phần lời ca và phần giai điệu có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hình tượng hoàn chỉnh của tác phẩm Mối quan hệ hữu cơ giữa lời ca và giai điệu là một trong những yếu tố tạo nên sự phong phú, đa dạng cho thể loại Lý Đây chính là cơ sở để phân loại
Lý dựa vào nội dung và cấu trúc nghệ thuật Tuy nhiên, nói đến thể loại Lý, không chỉ nói đến những câu hát, những bài hát nhất định, mà còn là nói đến hình thức diễn xướng của Lý Một điệu Lý có thể được hát riêng lẻ theo thể thức đơn diễn, nhưng cũng có khi được cả một tập thể hát theo thể thức đồng diễn Cũng như mối quan hệ giữa lời ca và giai điệu được thể hiện trong nội dung của Lý, mối quan hệ giữa bài bản với hình thức diễn xướng cũng là cách phân loại được khá nhiều nhà nghiên cứu sử dụng
Sự phân loại Lý dựa vào nội dung nghệ thuật và phương thức trình diễn, tuy chưa có sự thống nhất nhưng có thể nêu ra những cách phổ biến như: những bài hát về phong tục lễ hội, những bài hát giao duyên, những bài hát tự sự, những bài hát dùng trong sinh hoạt gia đình và các sinh hoạt khác
Nhà nghiên cứu Tú Ngọc, phân thể Lý có hai loại: “Những bài hát giao
duyên và những bài hát sinh hoạt gia đình và các sinh hoạt khác” [Tú Ngọc
1994: 38] Tương tự như cách phân loại trên, nhóm tác giả [Thạch Phương, Hồ
Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh 1992: 165] cũng phân Lý gồm những bài dân ca trữ tình lứa đôi và những bài dân ca về chuyện sinh hoạt và thế sự xã hội (với hai tiểu loại sinh hoạt diễn xướng: Lý về sự vật sự đời và Lý có tính chất lễ nghi)
Theo Đặng Nguyễn, Lý “là loại hát tự sự, hát để bộc bạch nỗi niềm của
riêng mình” [Đặng Nguyễn 1997: 9] Nhưng nhà nghiên cứu Nguyễn Viêm, thì
xếp Lý vào những bài hát giao duyên, bởi “Nội dung giao duyên được phản
ánh đậm nhất trong các điệu Lý” [Nguyễn Viêm 1995: 61] Theo Dương Bích
Hà thì nên gọi là “Giao duyên tự tình” [Dương Bích Hà 1997: 86]
Lý rất đa năng và có nội dung đa dạng Nếu căn cứ vào những điều kiện trên để xếp Lý vào thể loại giao duyên hoặc tự sự thì sẽ làm mất đi hai đặc
Trang 16trưng cơ bản nhất của Lý đó là: tính tập thể trong sinh hoạt và tính ứng đối linh hoạt trong ca hát
Cách phân loại Lý từ góc độ chuyên ngành âm nhạc, với tư cách là những bài hát được kết hợp bởi các phương tiện nghệ thuật âm nhạc và lời ca, chủ yếu dựa vào nội dung và nghệ thuật Cách phân loại như trên chưa thật sự phù hợp để tìm hiểu Lý trong đời sống văn hóa
Nghiên cứu một thể loại âm nhạc dân gian cần chú ý đến chức năng xã hội của nó Thể loại ấy đựơc sinh ra trong môi trường diễn xướng như thế nào? Phương thức sinh hoạt ra sao? Thể loại ấy nhằm đáp ứng nhu cầu gì trong đời sống?
Cách phân loại từ góc nhìn văn hóa chủ yếu gắn liền Lý với những lĩnh vực sinh hoạt chính như lao động, nghi lễ, gia đình và xã hội mà qua Lý phản ánh những tâm trạng, những tư tưởng, tình cảm đa dạng của con người trong nhiều mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội, được xác định bởi thời gian và không gian nhất định Từ góc nhìn này, Lý có thể phân loại dựa trên các chức năng như tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giao tiếp và giáo dục [Trần Ngọc Thêm 2004: 7-8]
Chức năng tổ chức xã hội, nhằm hợp nhất mọi người lại với nhau tạo sự
liên kết trong cộng đồng củng cố sự bền vững cho làng xã qua đó phát triển năng lực sáng tạo cá nhân
Chức năng điều chỉnh xã hội, thể hiện khả năng thích nghi với môi
trường xung quanh qua sự điều chỉnh những ứng xử, hành động một cách tương ứng, góp phần định hướng các chuẩn mực mà con người hướng tới
Chức năng giao tiếp, tạo ra những điều kiện và phương tiện cho sự giao
tiếp, giúp con người gắn kết lại với nhau
Chức năng giáo dục, nhằm hình thành nhân cách con người tạo nên nền
tảng tinh thần của xã hội bằng những giá trị truyền thống và những giá trị đang hình thành, hướng con người tới các giá trị thẩm mỹ như chân – thiện – mỹ
Căn cứ vào những chức năng vừa nêu trên, có thể phân loại Lý như sau:
Trang 17Chức năng Giá trị Nội dung Lý thể hiện
Lý mười hai tháng
môi trường qua sự điều chỉnh những ứng xử, hành động
Phát triển xã hội và định hướng các chuẩn mực mà con người hướng tới
Lý dừa tơ, Lý trồng chuối, Lý chim quyên,
Lý con cò, Lý mâm thau,
Lý áo vá quàng, Lý nàng dâu, Lý ông thôn
phương tiện cho sự giao tiếp, giải trí
Thông tin liên lạc
Lý trái mướp, Lý dây bầu, Lý bông tràm, Lý lựu lê, Lý cái áo, Lý cái cửa, Lý đòn xóc, Lý nước ròng, Lý gió xuôi,
Lý bắc cầu
người tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội
Hướng con người tới các giá trị thẩm mỹ
Lý lựu lê, Lý bông hoa
lý, Lý con két, Lý con bìm bịp, Lý con rồng, Lý con nhện, Lý con cóc,
Lý bánh ít trần, Lý chiếu bông, Lý cột chòi
Hình 1.2 Bảng phân loại Lý miền Tây Nam Bộ
Tuy nhiên, những bài Lý đã lược kể trong bảng phân loại trên, cũng có khi cùng thực hiện nhiều chức năng trong quá trình phát triển, tạo nên sự biến đổi và chuyền hóa rất đa dạng
1
Nội dung các bài Lý ở phần phụ lục 3
Trang 181.2 Đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ
1.2.1 Đời sống văn hóa
Đời sống văn hóa là toàn bộ cách thức, hình thức hoạt động văn hóa hoặc có tính văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Nói cách khác, đó là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa vì sự phát triển của con người và cộng đồng Đời sống văn hóa được thể hiện ra muôn hình, muôn vẻ trong sinh hoạt văn hóa, trong lao động, trong ứng xử và giao tiếp, trong việc tạo dựng môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh, trong cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân
Đời sống văn hoá là sự hoạt động của con người trong lĩnh vực văn hóa Đời sống văn hoá ở trong đời sống hằng ngày, trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng đồng nhất định Một cách khác, đời sống văn hoá biểu hiện trong hoàn cảnh môi trường cụ thể và phụ thuộc vào từng cơ sở cụ thể Xét đời sống văn hoá của một dân tộc, một quốc gia là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp Cho nên xem xét đời sống văn hoá của từng đơn vị nhỏ để từ đó tổng hợp lại và
so sánh, người ta sẽ đánh giá được đời sống văn hoá của đơn vị lớn như: huyện, tỉnh hay cả nước nói chung
Đời sống văn hóa nằm trong đời sống xã hội, song hoạt động của nó thẩm thấu vào mọi mặt của đời sống xã hội Bao gồm các lĩnh vực, các dạng hoạt động khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người
Đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa, những
sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong
xã hội
Như vậy, đời sống văn hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên cơ cấu của văn hóa Nói cách khác, đời sống văn hóa là một phức hệ hoạt động văn hóa diễn ra trong thực tiễn, từ văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần
Trang 19Con người
sản phẩm văn hóa
Hoạt động văn hoá
Hình 1.3 Sơ đồ đời sống văn hóa
Nguồn: Nguyễn Ngọc Anh vẽ
Môi trường
văn hoá
Theo sơ đồ (hình 1.3.) trên ta thấy, xuất phát từ những nhu cầu văn hóa của con người, đời sống văn hóa bao gồm toàn bộ những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, thông qua các thiết chế văn hóa và các thể chế văn hóa Như vậy, đời sống văn hóa là kết quả mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố: nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa trong môi trường văn hóa
1.2.2 Đời sống văn hóa người Việt ở miền Tây Nam Bộ
Nam Bộ là một trong hai vùng châu thổ đồng bằng lớn nhất Việt Nam Trong lúc vùng châu thổ Bắc Bộ được coi là đất gốc, quê hương của dân tộc và văn hóa Việt thì Nam Bộ được coi là đất mới, nơi vươn xa của cộng đồng người Việt trong quá trình phát triển đất nước
Tìm hiểu về đời sống văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ là nghiên cứu khía cạnh văn hóa sâu bền nhất trong nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của người Việt ở đây Muốn hiểu rõ hơn khía cạnh này, cần nghiên cứu các
Nhu cầu văn hóa
Trang 20nhân tố đã tác động và hình thành đời sống văn hóa Đó là yếu tố tự nhiên, cư dân, mối quan hệ xã hội… của người Việt miền Tây Nam Bộ
Về môi trường tự nhiên, miền Tây Nam Bộ là đồng bằng mới được khai thác từ thế kỷ XVI trong quá trình Nam Tiến của người Việt Ở đây khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa và nắng nóng, chịu ảnh hưởng của biển và thủy triều, mật độ dân cư thấp hơn hai miền Trung và Bắc Bộ
Miền Tây Nam Bộ từ sớm là ngã ba của các luồng giao lưu với nhiều nền văn hóa cổ ở vùng hải đảo Đông Nam Á, và ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Quốc Các giao lưu với Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonesia thời cận hiện đại cũng rất mạnh mẽ và sống động Cùng với nó là các ảnh hưởng văn hóa Pháp và Mỹ Nhìn về đặc thể, Nam Bộ so với hai miền Bắc
và Trung Bộ thì sự giao lưu, ảnh hưởng với bên ngoài và từ bên ngoài mạnh
mẽ, sống động hơn
Trong khi phẩm chất của người Việt ở Bắc và Trung Bộ là thuần nông thì người Việt ở miền Tây Nam Bộ có những đặc điểm khác biệt Người nông dân Nam Bộ sống trong điều kiện đất rộng, người thưa, tài nguyên phong phú, phương thức canh tác của họ là khai hoang, lấy quảng canh là chính Nông dân làm ruộng theo kiểu “móc lõm”, hàng năm một gia đình cày phát gieo sạ trên
Hình 1.4: Đồng bằng miền Tây Nam bộ
Nguồn: http://farm4.static.flickr.com/3447/3313780938_
195789f493_o.jpg
Trang 21diện tích 5 - 7 ha, nhưng chỉ thu hoạch cầu may 3 - 4 ha mà thôi Ngoài thời gian làm ruộng theo kiểu cầu may đó, họ còn thu hoạch nhiều nguồn lợi khác
từ thiên nhiên như tôm cá, chim, thú rừng, mật ong… Bởi thế ở đây có câu “đất làm chơi ăn thật” Trước đây, ở Nam Bộ người nông dân rất ít quan tâm đến việc đắp đê, đào mương máng làm thủy lợi để canh tác Do vậy, cách thích ứng với môi trường của họ ít có tính chế ngự như ở Bắc Bộ mà nặng về tính hòa đồng, buông xuôi theo điều kiện tự nhiên
Sông nước là điều kiện tự nhiên của các miền ở Việt Nam, tuy nhiên cảnh quan sông nước, kênh rạch ở miền Tây Nam Bộ điển hình hơn Do vậy,
có người mệnh danh miền Tây Nam Bộ là văn minh kênh rạch Kênh rạch chằng chịt khắp vùng Chính môi trường tự nhiên này quy định nhịp điệu làm
ăn, vui chơi, giải trí của người Việt miền Tây Nam Bộ Ở đây, con thuyền là
phương tiện đi lại, chuyên chở chính yếu, bởi thế mới có câu ở cửa miệng “Sắm
xuồng là để làm chân” Dấu ấn này để lại trong ngôn ngữ như “xe đò”, “quá giang”
Do đồng bằng về kênh rạch của Nam Bộ gắn với biển, rừng tràm, rừng ngập mặn, đầm lầy có mặt ở nhiều nơi và là nguồn lợi thiên nhiên quan trọng của con người, nên sau nghề làm lúa thì nghề đánh bắt thủy sản được coi là nghề quan trọng thứ hai, đặc biệt là nuôi cá bè
Hình 1.5: Chợ trên sông ở miền Tây Nam bộ
Nguồn: http://du-lich.chudu24.com/f/d/090406/anh3_hp.jpg
Trang 22Trong đời sống văn hóa, người Việt ở Bắc Bộ có tâm lý hướng nội trong sản xuất cũng như giao tiếp theo kiểu
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Đó là xu hướng quay về giữ lấy chất nông nghiệp “nông vi bản”, hạn chế giao lưu với ngoại bang Đời sống làng xã cơ bản vẫn là tự cấp tự túc Lúa sản xuất ra được giữ lại trong nhà để lo đủ ăn từ mùa thu hoạch này tới mùa sau, nếu có thừa mới bán dần nơi chợ quê để chi tiêu, sắm sửa hàng ngày
Trái lại, người Việt miền Tây Nam Bộ trong sản xuất và trong quan hệ
xã hội có xu hướng hướng ngoại nhiều hơn, họ không nhất nhất quay về trong cái vỏ của gia đình và làng xã Trong sản xuất, sản phẩm lúa đã thành hàng hóa Hình ảnh tới mùa thu hoạch, các đoàn thuyền buôn từ Sài Gòn và các đô thị khác về tận ruộng mua lúa của người nông dân rất quen thuộc ở miền Tây Nam Bộ Họ chỉ giữ lại một phần nhỏ lúa gạo để ăn tháng đầu, còn bán đi lấy tiền kinh doanh kiếm lãi và mua gạo ở chợ về ăn theo kiểu “gạo chợ nước sông”
Trong sản xuất kinh doanh, người Việt miền Tây Nam Bộ năng động và cởi mở, nhạy bén với thị trường Họ có thể thay đổi hướng và đối tượng kinh doanh miễn là đáp ứng nhu cầu thị trường và thu lợi nhiều
Từ nền tảng sản xuất và xu hướng hướng ngoại, người Nam Bộ dễ dàng tiếp thu cái mới, ảnh hưởng từ bên ngoài Đời sống văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ có sự pha trộn ở mức cao giữa cái cũ và cái mới, cái bản địa
và ngoại lai
Về cơ cấu và quan hệ xã hội, tuy cùng chung mẫu số là Nhà (gia đình) - Làng - Nước, nhưng ý thức về cội nguồn, ý thức lịch sử và truyền thống của người Việt miền Tây Nam Bộ không sâu nặng và bền chặt như người Việt ở Bắc Bộ, do thành phần cư dân hay biến động vì nơi đây còn nhiều miền đất chưa khai phá nên người dân có thể dễ dàng rời đi tìm những vùng đất dễ làm
ăn hơn
Tổ chức làng xã ở miền Tây Nam Bộ không tập trung như ở Bắc và Trung Bộ Ở đây, cư dân cư trú theo ấp (làng) và xã là phổ biến Trong mỗi ấp,
Trang 23từng gia đình sống rải rác theo đất canh tác của từng nhà theo kiểu tiền viên hậu điền (trước có vườn, sau có ruộng)
Nhà cửa làm đơn giản, sơ sài chứ không có ước vọng xây dựng kiên cố kiểu nhà ngói, sân gạch như ở Bắc Bộ Do hoàn cảnh của những người đi khai hoang không mấy khi ổn định, cùng với lý do sinh thái, đất mới, sình lầy, nền không chắc khó có thể xây kiên cố Nhà ở miền Tây Nam Bộ, cất ven kênh rạch và loại nhà cao căng trên mặt nước (từ bờ sông nhô ra, hoặc chơi vơi giữa đồng) Cột kèo là cây tràm, cây đước, cây tre hoặc thân dừa Mái và vách đều bằng lá dừa nước chặm lại
Làng ở miền Tây Nam Bộ không có ruộng công mà chỉ có ruộng tư Tuy
có đình là nơi thờ Thành Hoàng và sinh hoạt cộng đồng, nhưng lễ nghi không thật chặt chẽ, sống động và đa dạng như đình làng ở Bắc và Trung Bộ Làng không có hàng rào tre và cổng làng ngăn cách Việc ngụ cư của làng không chặt chẽ và nghiệt ngã như Bắc Bộ Có thể nói ý thức cộng đồng của người Việt ở miền Tây Nam Bộ không mạnh mẽ và nghiêm ngặt như người vùng khác Họ ít chú ý tới gốc gác, dòng dõi, lai lịch, nhưng lại rất quý trọng quan hệ giữa cá nhân và cá nhân Do vậy, quan hệ bạn bè dựa trên sự tương hợp về thân phận, tính cách, sở thích… tạo nên mối quan hệ xã hội bền chặt và khá điển hình
Hình 1.6 Nhà ở miền Tây Nam Bộ
Nguồn: http://d.violet.vn
Trang 24Về đại thể, đời sống vật chất thể hiện ăn, mặc, ở, đi lại của người Việt miền Tây Nam Bộ đều có những nét chung, tuy nhiên ở đây cũng có những sắc thái riêng tạo nên đời sống văn hóa đặc thù của người Việt vùng này
Về cách mặc của người Việt miền Tây Nam Bộ từ trước đến nay về cơ bản vẫn giống như các vùng khác trong cả nước Người nông dân làm ruộng vườn ở cả ba miền cùng thường sử dụng màu sẫm Tuy nhiên, có một số điểm đáng lưu ý, quần áo phổ biến của người Nam Bộ là bà ba đen (người Việt Bắc
Bộ gọi là áo cánh) Màu đen là màu chủ đạo đối với bộ bà ba nhuộm bằng cây tràm, khác với áo cánh miền Bắc có màu nâu được nhuộm bằng củ nâu, đó là nguồn vật liệu tự nhiên của mỗi vùng Người Nam Bộ, nam cũng như nữ phần đông đều sử dụng khăn rằn, chiếc khăn này sử dụng được rất nhiều việc trong cuộc sống hàng ngày được người Việt tiếp thu từ người Khơme
Những người giàu như quan lại, điền chủ, thương gia và công chức thì trang phục lại khác Họ “khăn đóng, áo dài đen, quần trắng ” tươm tất, sang trọng
Hình 1.7: Áo bà ba và khăn rằn của người phụ nữ Nam bộ
Nguồn: http://lucbat.com/admin/upload/1080812012147.210.jpg
Trang 25Chiếc áo dài từ miền Bắc đưa vào cũng được cải tiến: xẻ tà cao, vạt áo ngắn hơn và được dùng bằng vải hoa nhiều màu sắc, thể hiện sự năng động và linh hoạt cao
Cách ăn uống của người Việt miền Tây Nam Bộ không đi vào cách thức nấu nướng cầu kỳ, tỉ mỉ, đi vào thưởng thức cái tinh tế của lối sống, như cách
ăn của người Huế hay Bắc Bộ Ăn uống của người Việt miền Tây Nam Bộ thiên về sự dư dật, phong phú, ít chú ý tới cái tinh vi trong cách nấu, cách bày, tới mỹ cảm trong ăn uống Người Việt ở đây chủ yếu ăn nhiều, ăn no, ăn thoải mái Khi có khách, bè bạn thì ăn uống của người Việt miền Tây Nam Bộ là môi trường để bộc lộ, giải bày theo kiểu “nhậu lai rai” từ buổi này sang buổi khác
Do vậy, khung cảnh của việc ăn uống là con người và quan hệ con người, chứ không phải là quan hệ với thiên nhiên, cảnh đẹp, nơi kỳ thú như người Huế ở Trung Bộ
Trong đời sống tinh thần, người Việt ở miền Tây Nam Bộ tuy là nông dân nhưng họ không có ước vọng đổi đời bằng học hành chữ nghĩa như ở Trung và Bắc Bộ Họ không quá trọng học hành như người dân Bắc Hà, họ không ưa trầm tư, suy ngẫm mà có phần sống cởi mở, chan hòa, ưa hành động hơn là nghĩ ngợi Người Việt miền Tây Nam Bộ muốn diễn đạt những cảm xúc tình tự hay sự kiện cảnh vật, người ta thường “nói”: Nói vè, nói thơ, nói tuồng… Cách định danh này chứa đựng ý nghĩa là cách thức diễn xướng gần gũi với đời thường, ẩn chứa tâm tư, nguyện vọng, ước muốn, phẫn uất của con người Nói (Lý, Vè, Tuồng, Cải lương…) quen thuộc tự nhiên như lời nói, nói lên là thành vè, nói lên là thành tiếng Do lối sống, tâm lý cởi mở như vậy, nên người Việt miền Tây Nam Bộ rất ưa thích ca hát, nhất là ca hát Cải lương, ca Tuồng, hát Lý… Đó là điểm khác biệt với người Việt Bắc Bộ, ưa thích Chèo, hát Quan họ còn người Việt ở Trung Bộ thì chuộng ca Huế, hát bài Chòi
Về tổng quan đời sống văn hóa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ được hình thành do những ảnh hưởng cơ bản ở môi trường tự nhiên, nguồn gốc lịch sử của cư dân và quá trình giao lưu với các dân tộc bản địa Những người khai phá đất mới này là những người coi nghĩa khí làm đầu, kết bạn bè huynh
đệ giữa những người có nghĩa khí đáng tin cậy
Trang 26Miền Tây Nam Bộ vùng đất văn hóa dân tộc đa dạng, nơi cư trú của nhiều dân tộc, người Việt, người Khơme, người Hoa, người Chăm Người Việt sống hòa hợp, làm ăn sinh hoạt với họ, cùng chung cảnh ngộ, người Việt biểu lộ tính khí hiền hòa, nhường nhịn, mong sao có cuộc sống bình yên, vui
vẻ Triết lý sống “nhân ái, nghĩa tình” càng sâu sắc hơn Hơn ba thế kỷ qua, các
cộng đồng dân tộc cộng cư ở miền Tây Nam Bộ đã khẳng định được sức sống mãnh liệt trên vùng đất mới của tổ quốc Các dân tộc đã đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công cuộc xây dựng cuộc sống, kiến tạo những nét văn hóa thêm phong phú, và hơn hết đã góp phần gìn giữ trọn vẹn đất nước trước các cuộc xâm lấn,
nô dịch từ nhiều phía
Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng có một diện mạo văn hóa hết sức đa dạng Nếu như người Việt có những điệu Lý, câu Hò và những làn điệu cải lương ngọt ngào thì người Khmer lại thể hiện bản sắc của mình trong câu hát Aday, hay điệu múa Roămvuông và những bước nhảy theo nhịp trống Chay dăm Nếu như người Chăm có những hoạt động trong đời sống nghệ thuật sôi động vào những ngày kết thúc tháng Ramadan, sinh nhật Muhammed hoặc các dịp hôn nhân, cưới hỏi thì người Hoa lại góp vào đời sống văn hóa miền Tây Nam Bộ những câu hát Tiều, hát Quảng, tuồng Tàu, múa lân… Những điểm riêng đặc sắc đó của mỗi tộc người ngày một phát triển
và hội nhập vào nhau, hình thành nét đặc trưng của văn hóa miền Tây Nam Bộ
Trong cư xử, người Việt ở đây hào hiệp, trọng nghĩa, coi khinh tiền tài,
vì nghĩa khí mà xả thân; mến khách, khi quý trọng, thông cảm có thể nhường cơm xẻ áo mà không hề bận tâm Người miền Tây Nam Bộ cởi mở, chan hòa,
dễ kết thân, dễ hòa vào cộng đồng mới lạ; không sĩ diện kiểu kẻ sỹ, không mấy coi trọng vấn đề môn đăng hộ đối; bộc trực và thẳng thắn, ít rào đón vòng vo
Họ thích kết thân bạn bè, chè chén, ăn chơi xả láng ồn ào Đam mê ca xướng, hát Bội, Cải lương, nhất là các âm điệu sầu tư của vọng cổ
Trong đời sống văn hóa của mình, người Việt miền Tây Nam Bộ sẵn sàng tiếp nhận và hướng về cái mới, nhạy cảm với cái mới trong cả việc làm
ăn, vui chơi giải trí
Trang 27Lưu dân người Việt đi về phương Nam, trong hành trang văn hoá cội nguồn có những hình thức diễn xướng dân gian của quê hương được họ mang
về vùng đất mới Những làn điệu dân ca đã bén rễ ăn sâu, gắn chặt với đời sống mới của người dân lao động và được lưu truyền từ đời này sang đời khác
Nam Bộ - vùng đất trù phú, xanh tươi Người Nam Bộ phóng khoáng, nhân ái, nghĩa tình, hào hiệp và yêu ca hát Có một nét văn hóa vùng này làm bất kỳ ai khi rời khỏi đều mang theo một cảm giác khó tả Đó là những điệu Lý mộc mạc, trữ tình Âm điệu hồn nhiên, dân dã thấm đẫm tâm hồn người Việt, với một chút hoài nhớ, khó quên Người ta thường “lý” với nhau trong những lúc lao động sản xuất, trong kỳ nông nhàn, vào những ngày lễ, Tết thậm chí là mừng tân gia, giỗ quả… Bên cạnh đó, họ còn thường xuyên tổ chức các cuộc thi Hò, thi Lý để thể hiện tài năng với nhau, tìm nguồn vui trong đời sống
Người Nam Bộ có điều khác lạ, đó là họ hát bất kỳ lúc nào Buồn cũng hát, vui cũng ca Dù cho cuộc sống bộn bề, hoặc hoàn cảnh khó khăn nhưng họ vẫn yêu cuộc sống, ca hát để thêm lạc quan hướng tới tương lai Họ hát Lý khi lòng bất chợt dậy lên những nỗi u hoài thương cảm, sâu lắng trong niềm trầm
tư suy ngẫm, nhưng cũng lại hát Lý để được hân hoan, cuốn hút trước nhịp sống năng động, sôi nổi của thời hiện đại
1.2.3 Tính cách văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ
Tính cách văn hóa người Việt Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng là sự tổng hợp của những nhân tố chính: truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiếp biến với văn hóa phương Tây trong bối cảnh tự nhiên – xã hội Nam Bộ
Nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người Việt miền Tây Nam Bộ Người Việt, tộc người chủ đạo của văn hóa Việt Nam cư trú ở những vùng đồng bằng sông nước, tạo nên văn hóa nông nghiệp lúa nước, nền tảng của văn hóa Việt Nam Tây Nam Bộ là vùng sông nước kênh rạch điển hình nhất, sông nước trở thành
cơ sở hình thành tính cách con người - con người sông nước với tính sông
nước Do gắn liền với sông nước, mọi hoạt động, tư duy, phương ngữ rất giàu
Trang 28các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng và khái niệm liên quan đến sông nước mà trong tiếng Việt toàn dân không có
Tính tổng hợp và đặc trưng thiên về âm tính của truyền thống văn hóa dân tộc, đặt trong bối cảnh nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện
là nguồn gốc của tính bao dung Tính bao dung xét trên góc độ khoa học, đó là
sự hội nhập giao lưu và hòa đồng giữa cộng đồng các dân tộc Các tôn giáo khác nhau vẫn tôn trọng nhau và cùng tồn tại Người miền Tây luôn chân tình, cởi mở và dễ hòa mình, dễ dung nạp những tính cách trái ngược nhau
Tính trọng nghĩa là thái độ ứng xử của người Việt Nam nói chung chứ
không riêng của người miền Tây Nam Bộ Nhưng đây là một nét nổi trội trong tính cách của người dân vùng đất mới Trọng nghĩa là tinh thần của những con người nghĩa khí, những con người sẵn sàng xả thân mình để cứu người, để làm những việc mà họ cho là hợp với đạo lý và lòng trung thành Vốn là những lưu dân đi tìm sự sống trong muôn ngàn cái khó khăn nguy hiểm Qua nhiều lần thoát hiểm nhờ sự liên kết, nhờ tinh thần hoạn nạn tương cứu, họ sẵn sàng đùm bọc, chia sẻ sống hết mình Tính trọng nghĩa khiến người miền Tây coi nhẹ tiền tài, của cải vật chất và rất hiếu khách
Tính năng động tác động và chi phối đến nhiều phương diện của đời
sống con người Là một đặc tính rất đặc biệt của người Việt nói chung, tính năng động như một nét điển hình văn hóa miền Tây Nam Bộ nói riêng Tính năng động có biểu hiện rất đa dạng từ khả năng thay đổi cách sống, nơi ở, nghề nghiệp dễ tiếp nhận cái mới qua sự sáng tạo, ứng biến trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội Hệ quả của tính năng động là
sự linh hoạt thể hiện ở nhiều phương diện như nghệ thuật ngôn từ với khả năng diễn đạt khái quát và cụ thể cao; đặc biệt nghệ thuật thanh sắc, chính tính linh hoạt là yếu tố tạo nên sự phong phú, đa dạng cho thể loại Lý nói riêng và dân
ca Nam Bộ nói chung
Tính thiết thực biểu hiện ở việc trọng nội dung hơn hình thức, trọng cụ
thể hơn trìu tượng Người dân miền Tây trong lịch sử khẩn hoang luôn luôn phải đương đầu với nghịch cảnh, bởi thế họ không có thì giờ để con cà con kê, nếu cần diễn đạt thì nói một cách dứt khoát, nghĩ sao nói vậy, không quá giữ
Trang 29kẽ, nói ngắn gọn, trực tiếp và rõ ràng, bởi vậy từ ăn, mặc, ở, tư duy, giao tiếp đều rất đơn giản, dân dã, không cầu kỳ phức tạp
Ngoài tính bao dung, tính trọng nghĩa, tính năng động, tính thiết thực người miền Tây còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính hào hiệp, lòng hiếu khách, đôn hậu, và tính bộc trực, mạnh mẽ, với tư chất thông minh và giàu nghị lực
Tính cách người Việt miền Tây vẫn là tính cách Việt Nam, vẫn là những con người yêu nước có tinh thần dân tộc đã từng dũng cảm chiến đấu chống ngoại xâm Đây chỉ là những nét nổi trội của tính cách người Việt được khắc họa ở Lý thể hiện trong đời sống văn hóa miền Tây Nam Bộ
Tiểu kết
Con người là chủ thể sáng tạo của Lý và Lý là một tiểu thành tố của văn hóa, giữa Lý và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Văn hóa ảnh hưởng đến đời sống của Lý và ngược lại, Lý cũng là tấm gương phản chiếu đời sống văn hóa Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ đã thể hiện mối tương quan này Những tính cách của người Việt trong đời sống văn hóa như tính mộc mạc, tính linh hoạt, tính hóm hỉnh đã trở thành nét đặc trưng trong Lý người Việt miền Tây Nam Bộ
Trang 30Chương 2
LÝ TRONG TỌA ĐỘ VĂN HÓA MIỀN TÂY NAM BỘ
Tìm hiểu Lý trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ, có thể dựa trên các bình diện: Lý trong thời gian, Lý trong không gian và Lý của người Việt ở miền Tây Nam Bộ
2.1 Lý nhìn từ chủ thể
2.1.1 Người Việt ở Miền Tây Nam Bộ
Cuối thế kỷ XVI, người Việt từ khắp các vùng miền đất nước, với đủ các ngành nghề đã tiếp nối
nhập cư vào Nam Bộ khai phá
lập nghiệp, trở thành trào lưu
đi tìm nguồn sống thịnh vượng
ở vùng đất mới
Tiến trình nhập cư của
người Việt từ miệt ngoài vào
đất Đồng Nai – Gia Định nói
chung và vùng đồng bằng
châu thổ sông Cửu Long nói
riêng, diễn ra liên tục Những
đoàn người Việt chân đất theo
Hình 2: Ghe thuyền trên sông Hậu
Nguồn: http://www.ubvk.hochiminhcity.gov.vn/Uploads/thi enmy/cam%20xuc%20ve%20song%20nuoc_cho%2
0noi%20mien%20Tay.jpg
Trang 31Đến đây xứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ
Cá vùng cũng kinh
Tình hình sinh sống của người Việt ở vùng đất mới, dù kinh sợ nhưng
họ vẫn kiên gan khắc phục khó khăn gian khổ Lớp cư dân mới, chủ yếu là người Việt lần lượt khai khẩn nhiều nơi trên đồng đất vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là những vùng giữa sông Tiền, sông Hậu là những vùng có nhiều thuận lợi cho việc trồng lúa nước Qui mô khai khẩn theo kiểu quảng canh trên những cánh đồng bao la, thay cho thâm canh ở Bắc Bộ Đây là một đặc điểm trong cách thức khẩn hoang thời kỳ đầu
Miền Tây Nam Bộ ngay trong buổi đầu khai phá, đã có nhiều dân tộc sống chung, xen kẽ với nhau Đây là một điểm đáng chú ý so với các vùng trên đất nước Việt Nam Lưu dân người Việt cùng người kiều ngụ như người Hoa, Khơme, Chăm, và các dân tộc anh em khác trở thành chủ nhân của vùng đất này, do vậy quá trình giao lưu hòa hợp về nhân chủng và văn hóa diễn ra phức tạp hơn ở Bắc Bộ Trong khi người Việt ở Bắc và Trung Bộ “thăng bằng” và chừng mực trong đời sống tâm linh thì người Nam Bộ có đặc điểm tương đối khác Do sinh sống trong môi trường đất mới, thiên nhiên còn hoang dã, mối quan hệ trong cuộc sống là giữa những người tứ xứ do thất cơ lỡ vận ở quê cũ
mà ra đi, kinh tế sớm mang tính thương trường, trình độ dân trí còn thấp… đó
là điều kiện nảy sinh và phát triển các hình thức tín ngưỡng mang sắc thái đa dạng Điều đáng lưu ý, đời sống văn hóa tinh thần ở nơi đây trong quá trình cộng cư giữa người Việt, người Khơme, người Hoa, người Chăm đã diễn ra hiện tượng tồn tại đan xen nhiều tôn giáo khác nhau, trong khi giữa các dân tộc
ấy vẫn giữ được tinh thần bao dung về mặt tín ngưỡng Ngoài các tôn giáo lớn như: Phật, Kitô giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo, Nho giáo… còn có các tín ngưỡng địa phương: Cao Đài, Hòa Hảo, thờ thần thổ địa, thờ tổ tiên (Đạo Ông Bà), thờ cá Ông (cá Voi), thờ Mẫu (Mẫu của Việt, Khơme, Chăm) thờ Thần Tài, Tiền Hiền, Hậu Hiền… thậm chí còn nảy sinh cả những thứ đạo mang tên kỳ lạ: Đạo Ngồi, Đạo đi chậm, Đạo Nằm, Đạo câm…
Trang 32Trong quá trình giao lưu, tiếng Việt dần dần trở thành tiếng phổ thông của các dân tộc anh em Hiện tượng song ngữ hay đa ngữ Việt – Khơme, Việt – Chăm, Việt – Khơme – Hoa, trở nên bình thường ở nơi đây Tuy sống xen lẫn nhau nhưng vẫn thừa nhận và biết tôn trọng phong tục tập quán của nhau Cư dân Việt do bản chất cởi mở, dễ hòa đồng, tính cách thuần hậu, dung nạp được những tính cách trái ngược nhau, nên thường sống hòa thuận với nhau
Việc mở rộng công cuộc khần hoang và sản xuất nông nghiệp trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX của người Việt ở miền Tây Nam Bộ đã làm thay đổi hẳn cảnh quan thiên nhiên và đời sống xã hội, đời sống văn hóa vùng này
Người Việt là lực lượng lao động chính, có vai trò rất lớn trong việc khai phá mảnh đất miền Tây Nam Bộ Người Việt chiếm 90% dân số, còn lại là
Người Việt ở miền Tây Nam Bộ, với bản tính cần cù siêng năng, không quản ngại sương gió phong ba, lại vốn sành nghề nông, giỏi chài lưới, cùng biết bao nỗ lực “cật lực lao động”, “đi và sống” Hàng trăm hàng vạn con người trải qua hơn ba thế kỷ, mỗi tấc đất đã thắm đượm biết bao giọt mồ hôi, nước mắt và
cả những giọt máu của họ, đã làm nên miền Tây Nam Bộ ngày nay thịnh vượng
về kinh tế, phong phú về văn hóa, thật đáng trân trọng
2.1.2 Lý của người Việt ở Miền Tây Nam Bộ
2.1.2.1 Lý như một thành tố trong đời sống văn hóa
Là một thành tố trong đời sống văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ,
Lý giữ vị trí tinh thần rất quan trọng và tồn tại trong sự hòa quyện chặt chẽ với nếp sống của con người nơi đây, từ lao động sản xuất, đến sinh hoạt thường ngày cũng như tín ngưỡng, phong tục diễn ra trong từng thời điểm của đời sống cộng đồng
Trong khi phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của người miền Tây Nam
Bộ, Lý đã làm nổi bật lên vẻ đẹp cốt cách con người với những giá trị đạo đức,
về cái chân, thiện, mỹ, để từng bước tự hoàn thiện và thích ứng với những biến
2
.http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=3151&LOAIID=16&LOAIREF=5&TGID=747
Trang 33đổi của môi trường, góp phần định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các ứng
xử của con người
Do gắn liền với con người và hoạt động thực tiễn của con người trong xã hội, Lý ở miền Tây Nam Bộ mở rộng ra những vấn đề nhân sinh qua khả năng ngẫu hứng về một sự vật hiện thực, nhằm ca ngợi lòng nhân hậu, bác ái, tinh thần hợp quần của cộng đồng nhất là trong những cơn nguy biến
Lý luôn mang âm hưởng của thời gian, mang một phần của tính chất thời sự Bởi Lý được hình thành trong một quá trình lịch sử, từ lúc con người sống trong cảnh thanh bình đến khi đất nước bị xâm lăng, và non sông thống nhất, Bắc - Nam liền một giải Lý được tích lũy qua nhiều thế hệ với những truyền thống quí báu của cha ông, góp phần hình thành nhân cách con người và duy trì những phẩm chất tốt đẹp cho các thế hệ mai sau Chính vì vậy, Lý thực
sự đã đạt được vị trí quan trọng, làm phong phú và tạo những nét độc đáo cho đời sống văn hóa người dân nơi đây
2.1.2.2 Đặc điểm của Lý
Lý được phổ biến ở khắp cả ba miền Bắc – Trung – Nam, mỗi nơi có những nét đặc trưng riêng về nghệ thuật cũng như ngữ điệu tiếng nói Lý ở miền Bắc thường gắn liền với lễ hội và mang phong thái trang trọng, duyên dáng, nếu có chút dí dỏm thì cũng rất kín đáo, tế nhị Lý ở miền Trung là sự giao thoa sâu đậm giữa dòng nhạc cung đình bác học với dòng nhạc dân gian
xứ Huế và thuờng mang tính trữ tình sâu lắng kết hợp vẻ trau chuốt, mượt mà
Lý của người Việt miền Tây Nam Bộ là sự kế thừa Lý Bắc Bộ và Trung
Bộ, nhưng vẫn có những nét khác biệt rõ rệt Lý ở đây vừa mang nét vui tươi trẻ trung của Bắc Bộ, vừa mang tính chắc khỏe, tính trữ tình của Lý Trung Bộ
Lý miền Tây Nam Bộ không cầu kỳ mà rất giản dị, mộc mạc, nhưng không kém phần linh hoạt, sự sáng tạo, được thể qua cách đặt tên, lời ca, âm điệu… cũng như hình thức biểu hiện
Trang 34đời sống sinh hoạt, thể hiện nét văn hóa rất đậm chất của vùng miền Tây Nam
Bộ Các loại cây trái vốn quen thuộc đều có thể trở thành tên gọi như: “Cây ổi, cây bưởi, cây khế, cây chanh đến cây duối, cây bần, cây quéo, cây cám Những thức ăn bình dân như: bánh ít, bánh bò, bánh canh, dưa giá những con
có cánh biết bay như: chim sắt, chim quyên, chim nhạn đến những con bé nhỏ dưới nước như: con cua, con ốc, con cá Lý cũng không quên nói đến những vật dụng hàng ngày gắn bó với con người như: cái áo, cái nón, cột chòi, cái phảng [Lư Nhất Vũ 2006: 1]
Để đặt tên cho Lý, người ta thường lấy mấy chữ đầu câu hát để gọi tên như: Lý chiều chiều, Lý cây ổi, Lý cây khế
Bìm bịp kêu con nước lớn ròng
Em vội lấy chồng bỏ trẻ mồ côi
Lý con bìm bịp Cũng có khi các điệu Lý lại dùng tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi đặt tên như: Lý giọng ứ, Lý tang tình, Lý lu là, Lý tình tang, Lý tang tít…
Ai về Giồng Dứa qua truông Gió lay (lu là ) bông sậy bỏ buồn cho em
Lý lu là Hoặc người ta dựa vào chính nội dung trong lời thơ để đặt tên như Lý con cúm núm, Lý con sáo, Lý con sam, Lý trái mướp, Lý trái ổi, Lý cái phảng,
Lý cảnh chùa, Lý vọng phu…
Anh nằm bụi chuối anh rên Miệng kêu bớ vợ đem mền đắp cho
Lý bụi chuối Ngoài những cách đặt tên phổ biến như vừa nêu trên, tên gọi của Lý còn
có thể là địa danh như: Lý Cái Mơn, Lý Ba Tri… hoặc Lý được đặt tên theo loại hình Bóng Rỗi Nam Bộ như: Lý giọng bóng, Lý dâng bông, Lý giọng kiềng…
b Lời ca
Người Việt có truyền thống yêu thơ ca, tình cảm đó được thể hiện rõ nét trong các điệu Lý Tìm hiểu về phần lời ca của Lý, đa số lời ca của các điệu Lý
Trang 35là ca dao thuộc nhiều thể thơ dân gian, những thể thơ có cấu trúc chặt chẽ như thể thơ lục bát, song thất lục bát một lối thơ có bản sắc dân tộc thuần túy, không bị vay mượn niêm luật ngoại lai, rất phù hợp với tiếng nói và tâm hồn người Việt
Hai tay bưng dĩa bánh bò Giấu cha giấu mẹ cho trò đi thi
Lý dĩa bánh bò Thể thơ sáu tám được sử dụng ở nhiều dạng, có thể từ một cặp cho đến nhiều cặp:
Hai cặp sáu tám (bốn câu):
Ví dầu lịch vắn lươn dài Quạ đen cò trắng thằng chài xanh lông Thằng chài lặn hụp dưới sông
Gánh gạo đưa chồng nước mắt như mưa
Lý chim thằng chài
Ba cặp sáu tám (sáu câu):
Tay cầm cái đát nắm nan Vừa đi vừa đát vừa đan cái lờ Trách ai ăn mít bỏ xơ
Ăn cá bỏ lờ bỏ nghĩa chị em Ngồi buồn rọc lá gói nem Con chị trốn mất con em ngồi buồn
Lý vãi chài Ngoài thể thơ sáu tám, lời ca trong các điệu Lý còn sử dụng rất nhiều các thể thơ dân gian khác như thể thơ bốn chữ, bảy chữ, tám chữ, thể thơ bảy bảy ở dạng nguyên thể hoặc biến thể…
Thể thơ bốn chữ:
Con nước trong xanh Chảy quanh hòn đá
Em chờ nước cạn Bắt cá bắt tôm
Trang 36Con suối trong xanh Chảy quanh sườn dốc
Em chờ nước cạn Bắt ốc hái rau
Lý tang tình Thể thơ bảy chữ:
Gió mùa xuân rưng rưng nước mắt Nhớ đến chàng đau thắt từng cơn
Gió mùa hè nằm nghe tiếng dế Nhớ đến chàng không thể ngủ yên
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ Năm canh chày thức đủ vừa năm
Gió mùa đông phòng không lạnh lẽo Nhớ đến chàng thắt thẻo ruột gan
Truyền thống văn hóa gốc nông nghiệp, trọng tình cảm, có khuynh hướng thiên về thơ ca là đặc trưng cơ bản trong nghệ thuật ca từ của dân ca Việt Nam nói chung và Lý nói riêng Song Lý ở miền Tây Nam Bộ vẫn tạo nên nét khác biệt so với Lý các vùng miền, đó là khuynh hướng thiên về lối phổ thơ
tự do, thể thơ hỗn hợp… Lời ca lúc chẵn lúc lẻ, lẻ cả câu lẫn lời tạo nên thế sô lệch rất đặc trưng của tính mở, sự phóng khoáng
Con gà trống cộ Nằm dựa bàn minh Anh thề với em Bên kia là miễu Bên đây là đình Đình kia miếu nọ cho linh thiêng Đừng cho bạn cũ tư tình với ai
Lý miễu lý đình
Trang 37Tuy nhiên, thơ gốc chỉ là yếu tố khởi đầu tạo nên ca từ Trong các bài bản Lý, sự kết hợp của các tiếng đệm lót, tiếng láy, đưa hơi mới hình thành lời ca trọn vẹn
c Thang âm, điệu thức
Thang âm và điệu thức là thuật ngữ dùng để chỉ một phương tiện diễn
cảm rất quan trọng của âm nhạc Là những yếu tố cơ bản nhất trong diễn tả nội dung, hình tượng nghệ thuật, thang âm và điệu thức có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự hình thành tính dân tộc của mỗi nền văn hóa âm nhạc Thang âm, điệu thức không chỉ tác động và chi phối đến quá trình phát triển của giai điệu mà còn góp phần tạo nên những sắc thái, những âm hưởng mang tính đặc thù của mỗi tộc người, mỗi vùng và mỗi khu vực
Thang âm, điệu thức có từ thời cổ đại cho đến cận kim, nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm mang tính thống nhất Ở đây có thể hiểu, “Thang
âm là chuỗi âm dùng trong một loại, một bản nhạc không hạn định đầu cuối” [Nhiều tác giả 1993: 27] và “Điệu thức là hệ thống mối tương quan về cao độ của các âm thanh trong một bài bản” [Phạm Tú Hương 2003: 56]
Điệu thức năm âm là dạng điệu thức gồm có 5 bậc Nền âm nhạc dân tộc nhiều nước trên thế giới có sử dụng dạng điệu thức này như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên Ở mỗi nước lại có những dạng điệu thức năm âm cho riêng mình Trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, điệu thức năm âm được sử dụng rất phổ biến và vô cùng phong phú
Miền Tây Nam Bộ từ sớm là ngã ba của các luồng giao lưu, gặp gỡ với nhiều tộc người, với nhiều nền văn hóa khác nhau Đó chính là yếu tố cơ bản tạo nên sự đa dạng về chủng loại và tính chất cho hệ thống thang âm, điệu thức người Việt Lý ở miền Tây Nam Bộ là sự kế thừa Lý người Việt ở Việt Nam, với đầy đủ các dạng thang âm, điệu thức trong âm nhạc dân gian Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống thang âm và điệu thức được sử dụng trong Lý miền Tây Nam Bộ vẫn mang nét khác biệt Bởi lẽ, thang âm, điệu thức là sự sáng tạo của
tư duy nghệ thuật, không có hình mẫu trong thiên nhiên mà nó gắn liền với những sắc thái tình cảm, những trạng thái tâm hồn của người dân nơi đây Mỗi
âm trong thang âm, điệu thức được phân chia và quy định tỉ mỉ đồng thời được
Trang 38biến hóa, phát triển hết sức đa dạng, phụ thuộc vào tính chất từng bài bản nhất định, với đầy đủ các sắc thái từ trữ tình, trong sáng, vui tươi, khỏe khoắn đến buồn thương, khắc khoải
Các điệu Lý miền Tây Nam Bộ có sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn
và khai thác mạnh mẽ hệ thống thang 5 âm của người Việt Chủ yếu là các dạng điệu thức 5 âm với tên gọi Bắc, Nam, Xuân (Nam Xuân), Oán, còn điệu Huỳnh thì ít gặp hơn Về tính chất điệu Bắc mang lại sắc thái tươi vui, sảng khoái, khỏe khoắn; điệu Nam lại thể hiện sắc thái dịu dàng, mềm mại, trữ tình; điệu Xuân là sự pha trộn hài hòa vừa tươi sáng lại vừa man mác buồn; còn điệu Oán mang đến sắc thái lâm ly, ai oán và mùi mẫn
Nếu đem so sánh với điệu thức 5 âm của Trung Hoa gồm Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, thì sẽ thấy điệu Bắc tương ứng với Chủy, điệu Nam tương ứng với Vũ, điệu Xuân tương ứng với Thương, điệu Huỳnh tương ứng với Cung, đây chính là dấu ấn sâu đậm trong quan hệ cội nguồn với văn hóa Trung Hoa
Bảng so sánh điệu thức của Việt Nam và Trung Hoa
Điệu thức năm âm
Việt Nam
Điệu thức năm âm Trung Hoa
Tính chất
mác buồn
Riêng điệu Oán được coi là độc đáo ở vùng miền Nam Việt Nam từ lâu đời Điệu thức Oán là “Hệ quả của mối giao lưu văn hóa giữa âm nhạc Việt – Chăm – Khơme – Hoa” “Ngoài dân ca người Việt ở Nam Bộ, có nhiều làn điệu dân ca Khơme, Chăm cũng sử dụng điệu thức Oán dạng biến thể” [Nhiều tác giả 1993: 144 - 253], “Ngay cả âm nhạc người Hoa cũng có ảnh hưởng giao thoa để ra đời điệu thức Oán, do hoạt động khá sôi nổi của các gánh hát Triều
Trang 39Châu tại đồng bằng sông Cửu Long – nơi có đông đảo người Triều Châu sinh sống” [Hoàng Kiều 2001: 112]
Lý chính là mảnh đất màu mỡ để điệu thức Oán đơm hoa kết trái Bằng điệu thức Oán, người Nam Bộ đã thổ lộ tâm tư, tình cảm cùng những nỗi buồn nhớ quê hương của những con người “xa xứ lạc loài” vào trong những điệu Lý
Sự phong phú của thang âm, điệu thức đã góp phần tạo nên Lý với đủ sắc thái đa dạng, từ trữ tình mềm mại đến rộn ràng trong sáng, từ tha thiết nhẹ nhàng đến chắc khỏe mạnh mẽ Lý như một bức tranh sinh động phản ánh gần như mọi hiện tượng, mọi sự vật trong đời thường người dân nơi đây
2.2 Lý trong thời gian
2.2.1 Nguồn gốc
Ca hát dân gian Việt Nam là một bộ phận ra đời sớm, có sức sống bền vững Ngay từ buổi ban đầu, ca hát dân gian luôn gắn chặt với mọi hoạt động thực tiễn của con người Những tiếng “dô ta” trong lao động nhằm thống nhất
về mặt nhịp điệu của một tập thể làm việc, như khi đẩy một vật gì nặng, một người khởi xướng hò lên “dô ta” và tất cả mọi người khác cùng hò theo nhịp nhàng “dô ta” thì đó chính là khởi nguồn của ca hát dân gian Như vậy, ca hát dân gian đã nẩy sinh trong quá trình lao động của con người và hỗ trợ trở lại để con người sản xuất và sáng tạo
Ca hát dân gian trở thành một sinh hoạt với tập quán lâu đời và phổ biến
ở các vùng dân cư trên đất nước ta Theo lẽ tự nhiên, các thể loại ca hát dân gian Việt Nam cũng xuất hiện vào những thời kỳ khác nhau trong lịch sử Lý là một thể loại ca hát, từ lâu đã trở nên gắn bó, thân thuộc trong đời sống văn hóa người Việt Nguồn gốc, quá trình phát triển của thể loại Lý là sự gắn bó hữu cơ với sự hình thành và phát triển của dòng âm nhạc dân gian Việt Nam
Theo nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Loan “Nếu ở phía Bắc, Lý chỉ xuất hiện thưa thớt như những bài riêng lẻ xen kẽ vào hệ bài bản của những thể loại khác thì bắt đầu từ Trị - Thiên mật độ sử dụng Lý đậm đặc hơn đặc biệt phát triển nhất là ở vùng Nam Bộ, và thật sự trở thành một thể loại riêng, một thể loại dân ca độc lập” [Nguyễn Thụy Loan 2001: 28]
Trang 40Trong Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền, Nguyễn Viêm cũng có cùng
quan điểm với Nguyễn Thụy Loan khi nói “Từ miền Trung trở vào đến miền Nam có khá nhiều điệu Lý” [Nguyễn Thụy Loan 1996: 22]
Đặng Nguyễn trong chuyên khảo Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị nhận
định “Khởi nguồn của Lý phải nói tới vùng Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế” [Đặng Nguyễn 1997: 8], đó cũng đồng thời là quan điểm của tác giả Dương
Bích Hà trong công trình nghiên cứu về Lý Huế cho rằng “Quê hương của Lý là
xứ Huế, là vùng đất Thuận Hóa” [Dương Bích Hà 1997:169] Tuy nhiên, số lượng bài bản của Lý Huế không phải là nhiều so với đất Nam Bộ, nhưng không hẳn khu vực nào chiếm số lượng nhiều nhất lại trở thành cái nôi của thể loại Lý
Tìm hiểu quá trình phát triển Lý không thể tách rời ngọn nguồn lịch sử văn hóa truyền thống dân tộc Cho đến nay, vẫn chưa đủ chứng cứ để lý giải một cách chính xác về nguồn gốc Lý, nhưng có một điều chắc chắn Lý đã có mặt trong lòng người Việt từ rất lâu đời
2.1.2 Quá trình phát triển Lý
Quá trình phát triển Lý gắn liền với cuộc Nam Tiến của người Việt về phương Nam qua từng thời kỳ lịch sử Hành trình Nam Tiến kéo dài gần 700 năm (từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18), mở rộng lãnh thổ Việt Nam từ Bắc vào Nam
Vùng châu thổ sông Hồng là địa bàn sinh tụ lâu đời của người Việt, nơi đây được xem là vùng đất tổ của dân tộc Việt Nam qua nhiều di khảo cổ học và
di tích lịch sử có liên quan tới thời các vua Hùng dựng nước và những thời kỳ đầu tiên trong lịch sử dân tộc Đó là cái nôi đã sinh thành và nuôi dưỡng nhiều thể loại dân ca rất đặc trưng của người Việt như Hát Ru, Hát Đồng dao, Hát Ghẹo, Hát Đúm, Hát Trống quân, Hát Ả đào, Hát Quan họ
Đất Kinh Bắc có Hát Quan họ là thể loại hát đối đáp nam nữ của người Việt ở phía Bắc Hát Quan họ tuy thuộc mảng lễ nghi phong tục, nhưng lại mang chất giao duyên trữ tình và dáng vẻ thế tục Hát Quan họ, một thể loại được coi là đỉnh cao nhất trong các thể loại dân ca của người Việt, không bởi
sự phong phú về làn điệu, bài bản, mà chính là ở trình độ nghệ thuật cao Tìm