1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Võ thuật cổ truyền của người việt miền tây nam bộ

166 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 37,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với những nơi khác, quá trình hình thành và phát triển hoạt động võ ở Tây Nam Bộ là quá trình chọn lọc, dung hợp nhiều dòng võ khác nhau, vì thế bản thân nó đã chứa đựng nhiều nét độc

Trang 1

Hồ Thị Mộng Huyền

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2009

Trang 2

Hồ Thị Mộng Huyền

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học

TS Trần Long

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2009

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Lịch sử vấn đề 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 8

7 Bố cục của luận văn 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TÂY NAM BỘ 10

1.1 Một số khái niệm 10

1.1.1 Võ thuật 10

1.1.2 Võ thuật cổ truyền 12

1.2 Môi trường văn hóa Tây Nam Bộ 15

1.3 Con đường hình thành của võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ 18

1.3.1 Võ được truyền từ các võ tướng, võ quan trong nước 20

1.3.2 Võ được truyền từ những người bình dân trong nước 22

1.3.3 Võ được truyền từ lưu dân nước ngoài 27

1.4 Một số môn phái tiêu biểu 28

1.4.1 Thất Sơn Thiếu Lâm 28

1.4.2 Côn Luân Bắc phái 28

1.4.3 Hắc Long (Cần Thơ) 29

1.4.4 Bắc phái Tây Sơn Xuân Bình võ thuật đạo 30

1.4.5 Hắc Long (Bến Tre) 30

1.4.6 Quyền thuật tự do 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TÂY NAM BỘ 32

2.1 Nội dung của võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ 32

2.1.1 Võ lý 32

2.1.1.1 Âm dương ngũ hành và võ thuật 32

2.1.1.2 Bát quái trong võ thuật 39

2.1.1.3 Tâm pháp 40

2.1.2 Võ thuật 43

2.1.2.1 Đòn thế võ hình thành từ thao tác lao động 43

2.1.2.2 Đòn thế võ mô phỏng động tác của động vật 48

2.1.2.3 Về phương pháp dạy võ 52

2.1.3 Võ đạo 55

2.2 Một số đặc điểm của võ cổ truyền Tây Nam Bộ 58

2.2.1 Các môn phái hình thành theo con đường thứ sinh 58

2.2.2 Hoạt động võ chủ yếu gắn với đấu đài 60

2.2.3 Hoạt động võ có khuynh hướng tự do 62

2.2.4 Luyện võ với mục đích phòng thân 64

CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TÂY NAM BỘ 67

3.1 Các đặc trưng văn hóa 67

Trang 4

3.1.1 Tính tổng hợp 67

3.1.2 Tính linh hoạt 70

3.1.3 Tính dung hợp 73

3.2 Vai trò của võ thuật cổ truyền trong đời sống cư dân Tây Nam Bộ 78

3.2.1 Góp phần vào công cuộc khai hoang mở đất 78

3.2.2 Góp phần vào công cuộc chống giặc giữ nước và chống cường hào 79

3.2.3 Tham gia các phong trào rèn luyện thể chất, thi đấu 82

3.2.4 Góp phần xây dựng hình tượng văn học 89

3.2.5 Góp phần xây dựng hình tượng sân khấu 95

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 1 110

GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG ĐỀ TÀI 110

PHỤ LỤC 2 114

GIỚI THIỆU MỘT SỐ VÕ SƯ Ở TÂY NAM BỘ 114

PHỤ LỤC 3 125

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ MÔN PHÁI 125

PHỤ LỤC 4 133

MỘT SỐ BÀI THIỆU VÀ BÀI THẢO 133

PHỤ LỤC 5 154

VÕ NGHỆ THUẬT 154

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng được hình thành cách đây hơn 300 năm nhưng vùng đất này đã có một quá trình lịch sử khá lâu đời.Trong hành trình Nam tiến để mở mang bờ cõi, nhiều lớp cư dân từ khắp nơi

đổ về đã làm cho nơi đây Từ chỗ hoang sơ trở thành điểm giao lưu, hội tụ văn hóa Từ đó, văn hóa Tây Nam Bộ trở nên phong phú, đa dạng và phát triển trên cơ sở của văn hóa truyền thống Việt Nam

Theo các tài liệu khảo cứu về Nam Bộ, ngay từ thế kỷ XVII, lớp cư dân mới đã hòa trộn nét văn hóa riêng với văn hóa vốn có của cư dân địa phươnglàm cho bộ mặt văn hóa vùng này trở nên khác biệt so với các vùng văn hóa khác Sống giữa vùng đất hoang sơ, nhiều thú dữ, con người không thể sống biệt lập, khép kín mà cần phải có sự liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng và giữa các cộng đồng với nhau Trong hoàn cảnh lịch sử đó, họ cần phải vượt qua thách thức của tự nhiên và xã hội để tồn tại, giữ gìn và phát triển cộng đồng Vì thế con người đã sử dụng các phương thức tự vệ như mộtcách để bảo vệ bản thân, gia đình và xã hội

Để có được sức mạnh gấp bội và tinh thần mạnh mẽ, võ đã được cư dânlựa chọn và sử dụng hiệu quả vào việc đấu tranh với thiên nhiên và các thếlực khác Qua quá trình phát triển, võ thuật không chỉ là một phương thức tự

vệ, phương tiện rèn luyện thể chất mà còn là cầu nối cho sự giao lưu, học hỏi của mỗi người Tuy không có bề dày phát triển như nhiều nơi khác trong nướcnhưng hoạt động võ ở Tây Nam Bộ ngày càng tạo được chỗ đứng trong phong trào võ thuật cổ truyền Việt Nam

Võ thuật là một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa thể chất nói riêng; nó phản ánh một phần đời sống xã hội đồng thời đáp

Trang 6

ứng nhu cầu sinh tồn của con người So với những nơi khác, quá trình hình thành và phát triển hoạt động võ ở Tây Nam Bộ là quá trình chọn lọc, dung hợp nhiều dòng võ khác nhau, vì thế bản thân nó đã chứa đựng nhiều nét độc đáo tạo nên diện mạo riêng, góp phần làm cho bức tranh võ thuật nước nhà thêm đa dạng.

Do những đặc điểm trên, việc tiến hành nghiên cứu võ thuật cổ truyền trong văn hoá của người Việt ở Tây Nam Bộ có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của võ thuật cổ truyền gắn liền với đời sống văn hoá của người Việt ở Tây Nam Bộ

Từ đó, chúng tôi xác định các nội dung cơ bản, đặc trưng văn hóa cũng như

vị trí, vai trò và chức năng của võ thuật cổ truyền trong đời sống cư dân Tây Nam Bộ Công trình này cũng nhằm góp phần bổ sung vào bức tranh toàn cảnh của văn hoá Tây Nam Bộ

3 Lịch sử vấn đề

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đề tài võ thuật không chỉ được các võ sư trong và ngoài nước chú tâm biên khảo mà còn được không ít nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác quan tâm Tuy nhiên, phần lớn các tác giả chỉ đề cập vấn đề này một cách khái quát hoặc đi vào một số khía cạnh nhỏ trong phạm vi của địa phương hoặc một môn phái

Ngoài một số giáo trình võ thuật dành cho sinh viên chuyên ngành như

Giáo trình võ thuật của sinh viên Cao đẳng Sư phạm khoa Giáo dục thể chất, Giáo trình võ học của sinh viên khoa Võ thuật Trường Đại học Hồng Bàng…,

đề tài còn được đề cập trong một số công trình khác như:

Trang 7

Công trình Lược sử võ thuật cổ truyền Việt Nam do nhóm tác giả

PGS.TS Mai Văn Muôn, PGS.TS Chu Quang Trứ, Lê Anh Thơ, Ngô Xuân Bính biên soạn năm 1991 Công trình đã đưa ra cái nhìn một cách khái quát

về nền võ thuật cổ truyền Việt Nam Trong đó, các tác giả đã dành phần 3 của chương III để giới thiệu một số môn phái của các môn võ Nam Bộ Tuy nhiên vấn đề chỉ được trình bày ở dạng đi sâu vào lĩnh vực chuyên ngành thể dục thể thao và các môn phái được đề cập đến chỉ là những môn phái tiêu biểu, danh tiếng

Cuốn Bước đầu tìm hiểu võ học Việt Nam - sách đặt hàng của Viện

Khoa học thể dục thể thao (Ủy ban Thể dục thể thao), là công trình của nhiều tác giả gồm những người có tâm huyết với nền võ thuật nước nhà, các võ sư, lương y, … đã sưu tầm, tổng hợp một cách có hệ thống và định rõ quá trình hình thành, phát triển của nền võ vật Việt Nam Cuốn sách có 4 phần đi sâu

giới thiệu về nền võ học Việt Nam bao gồm: Võ học Việt Nam xưa và nay, võ

đạo, đóng góp của các chưởng môn vào việc phục hưng nền võ học dân tộc và

võ học Việt Nam trước sự phát triển của nền thể dục thể thao khoa học, dân tộc, nhân dân Các nội dung được trình bày có hệ thống, khá chi tiết, thể hiện

được bức tranh toàn cảnh của hoạt động võ thuật của Việt Nam Tuy nhiên, đối với hoạt động võ thuật của Tây Nam Bộ thì được đề cập chưa nhiều, chủ yếu trong phần 3 là phần đóng góp của các chưởng môn vào việc phục hưng nền võ học dân tộc có nhắc đến sự đóng góp của một số võ sư đã có mặt tại vùng đất Tây Nam Bộ trước đây Do đó, người đọc chưa có cái nhìn khái quát

về hoạt động võ thuật ở Tây Nam Bộ

Công trình nghiên cứu do võ sư Phạm Đình Phong chủ biên có tiêu đề

là Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc – đặc trưng võ cổ truyền Bình Định đã

phản ánh những nét cơ bản về nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định Đây là công trình nghiên cứu công phu, khách quan và có luận cứ khoa học,

Trang 8

sưu tầm được nhiều tư liệu cổ có giá trị thể hiện rõ sự đa dạng, tính hấp dẫn của võ cổ truyền Bình Định, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của võ cổ truyền Bình Định, qua đó giúp mọi người hiểu thêm về nền văn hóa, đất nước, con người Việt Nam Tuy nhiên, công trình chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp làquê hương Bình Định trong sự phát triển chung của hệ thống võ thuật cổ truyền Việt Nam.

Năm 1969 Giáo sư Trần Quốc Vượng viết tác phẩm Tìm hiểu truyền

thống thượng võ của dân tộc Đây là cuốn sách trình bày những nét sơ lược về

quá trình phát triển nền thể dục thể thao của dân tộc ta từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX Cuốn sách được viết theo lối kể chuyện, có những mẫu chuyện mang tính truyền thuyết, giai thoại văn học, thơ ca dân gian thể hiện khái quát lịch sử thể dục thể thao Việt Nam Tuy nhiên, công trình chỉ nghiên cứu từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX, do đó tác giả đã không thể đề cập đầy đủ đến hoạt động võ của con người vùng đất Tây Nam Bộ

Thời gian gần đây xuất hiện tác phẩm Múa – trình thức võ thuật trên

sân khấu cải lương của Võ sư – Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thu Vân do Nhà xuất

bản Sân khấu ấn hành Công trình này trình bày theo cách kể lại những kinh

nghiệm mà tác giả đã học được từ các vị tiền bối trong hình thức ca ra bộ - là

ca kèm theo điệu bộ trên sân khấu cải lương bao gồm múa, động tác ngoại bộ

và võ thuật Tác giả trình bày có hệ thống vấn đề đặt ra nhưng chưa được tổng kết và phân tích để xây dựng thành lý thuyết của một hình thức nghệ thuật

Cuốn sách Làng võ Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh của các tác giả

Vũ Trường, Thiện Tâm, Hồ Tường do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2005 trình bày khá sinh động về bức tranh làng võ Thành phố Hồ Chí Minh Tuy chủ yếu viết về hoạt động võ ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh nhưng

Trang 9

trong đó cũng có một số bài viết đề cập đến thành tích của các võ sĩ nổi tiếng

và một vài hoạt động võ ở Tây Nam Bộ thời kỳ trước năm 1975

Nhìn chung các công trình nêu trên đã trình bày một cách khái quát và

có hệ thống về võ thuật cổ truyền Việt Nam Đó là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu tốt hơn về võ thuật cổ truyền Việt Nam nói chung đặc biệt là võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ

Một số tạp chí như Tạp chí Xưa và Nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật,

Sổ tay võ thuật… các báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Bình Định, Hà Tây…, các

Đài Truyền hình Trung ương và địa phương, mạng Internet cũng có giới thiệu nhiều bài viết của các võ sư, các nhà nghiên cứu không chuyên, các nhà báobàn về võ thuật cổ truyền Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả chưa nhìn nó ở góc độ văn hoá học

Nhìn tổng thể, hầu hết các công trình nghiên cứu, các bài viết đã được đăng tải chủ yếu đi vào việc mô tả, giới thiệu về võ thuật cổ truyền Việt Nam hoặc đi sâu vào một mảng đề tài; hầu như chưa có công trình chuyên nghiên cứu về võ thuật cổ truyền Việt Nam trong văn hoá người Việt ở Tây Nam Bộ một cách có tính hệ thống

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là võ thuật cổ truyền của người Việt ở Tây Nam Bộ trên các phương diện: con đường hình thành và phát triển, những nội dung cơ bản, các đặc điểm, các đặc trưng văn hóa và vai trò của võ thuật cổ truyền trong đời sống cư dân

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chỉ tập trung tiếp cận một số môn phái trực thuộc Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đang hoạt động tại Tây Nam Bộ hiện bảo lưu được những giá trị nghệ thuật có tính hệ thống Các địa điểm tiến hành khảo sát thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ và một số

Trang 10

tỉnh lân cận như: An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre Đây là những địa phương có hoạt động võ thuật cổ truyền khá tiêu biểu.

Về thời gian, đối tượng được nghiên cứu trong giới hạn khoảng từ đầuthế kỷ XX đến nay

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Qua việc nghiên cứu và đối chiếu với thực tiễn của hoạt động võ cổ truyền Tây Nam Bộ với đời sống cư dân nơi đây, chúng tôi làm rõ các đặc điểm và đặc trưng văn hóa của võ cổ truyền Tây Nam Bộ trong nền văn hóa Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn làm rõ vai trò, chức năng, vị trí của hoạt động võ cổ truyền trong đời sống văn hoá Tây Nam Bộ nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung Từ đó, luận văn sẽ giúp cho các cấp quản lý văn hoá –thể dục thể thao có cái nhìn bao quát về sự phát triển của võ cổ truyền Việt Nam ở Tây Nam Bộ và có những định hướng trong việc tổ chức, quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của nó trong quá trình phát triển văn hóa của địa phương

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các lý thuyết văn hoá học làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: hệ thống – cấu trúc, liên ngành, so sánh, phân tích và tổng hợp, khảo sát thực địa, quy nạp để tiếp cận và làm sáng tỏ vấn đề

Nguồn tư liệu sử dụng để viết luận văn gồm:

- Những tư liệu về văn hoá, lịch sử, triết học, võ thuật, sân khấu, một

số tác phẩm văn học được sưu tầm trong nước có liên quan

- Các báo, tạp chí, các trang website

Trang 11

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ

Các khái niệm về Võ thuật và Võ thuật cổ truyền Sơ lược một số con

đường hình thành và phát triển của võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ Giới thiệu một số môn phái tiêu biểu đang hoạt động ở Tây Nam Bộ

Chương 2: Nội dung và đặc điểm của võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ

Các nội dung cơ bản, các đặc điểm của võ cổ truyền ở Tây Nam Bộ

Chương 3: Đặc trưng văn hóa và vai trò của võ thuật cổ truyền trong

đời sống cư dân Tây Nam Bộ

Làm rõ các đặc trưng văn hóa và vai trò của võ cổ truyền trong đời sống của cư dân Tây Nam Bộ

Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục gồm một số bài thiệu của những môn phái đang đóng góp cho diện mạo văn hóa địa phương, một số hình ảnh minh hoạ và một số tư liệu khác

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TÂY NAM BỘ

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Võ thuật

Từ xa xưa, khởi đầu bằng những động tác tay chân đơn giản, con người

đã biết tìm ra những tư thế đặc thù vừa để rèn luyện thân thể, vừa nâng cao khả năng tự vệ và chiến đấu Qua quá trình lao động gian khổ, hoạt động săn bắt đòi hỏi con người phải có một thể chất đặc biệt, động tác phải nhanh nhẹn, tinh khéo để đối phó với những tình huống bất ngờ khi đụng độ với thú dữ Mặt khác, trong cuộc thử thách với thiên nhiên, con người ngày càng phải đối mặt với nhiều hiểm nguy, đòi hỏi họ phải có khả năng tự vệ cao để bảo vệ chính mình và bảo vệ cộng đồng Từ trong bản năng sinh tồn của mình, con người hình thành nên ý thức luyện tập và nâng cao dần kỹ năng lao động và chiến đấu; từ chỗ dùng sức bằng cơ bắp đến chỗ sáng tạo và cải tiến công cụ khắc phục dần tính thô sơ nhằm nâng cao hiệu quả lao động, chiến đấu

Theo thời gian, các động tác, các tư thế trong hoạt động lao động sản xuất của con người đã được đúc kết thành những bài tập, thành các kỹ năng chiến đấu mang tính đặc thù Chính qua quá trình lao động sản xuất và hoàn thiện bản thân võ thuật được hình thành

Như vậy, nội hàm của Võ được hiểu là hoạt động thể lực xuất hiện

trong quá trình con người tương tác với tự nhiên từ những hoạt động lao động

để sinh tồn dần đạt tới sự thuần thục, nhằm nâng cao khả năng tự vệ và chiến đấu

Khi sức sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định đã dẫn đến sự phân hóa giai cấp và xã hội ngày càng sâu sắc, các cuộc xung đột xảy ra thường xuyên, từ đó nảy sinh ý thức bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng Lúc

Trang 13

này, võ còn được dùng để chỉ hành động sức mạnh trong lúc tấn công, tự vệ hoặc đánh dẹp giặc ngoại xâm…

Võ là một Hán tự, biến âm của từ Vũ Chữ Võ do “chữ Nhất (một hành vi), chữ Chỉ (chấm dứt), chữ Giặc (sự bắn giết) ghép lại” [UBTDTT 2006:

167]

Võ thuật là thuật ngữ ra đời vào giai đoạn đầu thời Nam Triều (khoảng

thế kỷ V sau Công nguyên) ở Trung Quốc nhằm đề cao phương pháp, cách thức, sự khéo léo cũng như kỹ thuật chiến đấu, từ đó phát huy toàn diện sức mạnh của con người để chiến thắng đối phương

Trong Thần Kỳ Đích Võ Thuật của Trịnh Cấn – Điền Văn Thanh đã viết: “Võ thuật là một hạng mục thể dục truyền thống dân tộc, lấy đá, đánh,

huých, nắm, cản, vật làm kỹ thuật căn bản”1 Hoặc Võ thuật theo cách giải thích trong Từ điển Thể thao là: “môn thể dục truyền thống của mỗi dân tộc,

lấy các động tác như đánh, đá, vật, tóm, bắt, ngáng, quật,… làm nội dung chủ yếu” [Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo 2000: 839] Với các cách giải thích

như trên thì hoạt động võ thiên về việc nhấn mạnh đến các động tác và đòn thế võ tay không mà chưa đề cập đến võ có binh khí cũng như phương pháp

sử dụng và mục đích của chúng trong cuộc sống

Trong một số từ điển khác, nhiều tác giả đã cho rằng, “võ thuật là thuật

đánh võ” [Nguyễn Như Ý 1999: 1821; Hoàng Phê 1994: 1080; Hoàng Văn

Hành 2003: 779; Viện Ngôn ngữ học 2002: 1030] Theo tác giả Nguyễn Lân,

“võ thuật là phương pháp dùng võ” [2000: 2029] Các cách hiểu như trên còn

mang tính khái quát

Võ thuật trong Từ điển bách khoa toàn thư mở 2như sau:

1 Nguồn theo UBTDTT 2006:168.

2 http://vi.wikipedia.org

Trang 14

“Võ thuật là kỹ thuật hay phương thức dùng sức mạnh (nội lực, ngoại

lực) để chiến thắng đối phương” Đây là cách giải thích khá đầy đủ, thể hiện

được những nét chung nhất của võ thuật

Các khái niệm đã nêu, về cách diễn đạt tuy có khác nhau nhưng đều hàm chứa nét nghĩa chỉ những hoạt động của con người khi phải đối mặt với kẻ thù

Từ các khái niệm trên, chúng tôi giới thuyết về khái niệm võ thuật như

sau: Võ thuật là tổ hợp các hoạt động rèn luyện kỹ năng, thể chất, kỹ thuật và

chiến thuật đối kháng nhằm không ngừng nâng cao khả năng tự vệ và chiến đấu của con người.

1.1.2 Võ thuật cổ truyền

Một số nhà nghiên cứu đã đưa vào tự điển khái niệm cổ truyền Trong

Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân và Từ điển Tiếng Việt của

Hoàng Phê (cb) nêu khái niệm về cổ truyền như sau “cổ truyền là vốn có từ

xưa và được truyền lại” [Nguyễn Lân 2000: 411; Hoàng Phê (cb) 1994: 197]

Các cách giải thích này thể hiện rõ ý nghĩa bao quát của từ cổ truyền

Như vậy, từ “cổ truyền” chứa đựng sự quan tâm tới bề dày lịch sử của

sự tồn tại hoặc sự truyền bá một thực thể nào đó Cũng từ ý nghĩa trên, chúng

ta có thể mở rộng một cách hiểu khác, những di sản cổ truyền không chỉ giới hạn ở phạm vi cổ xưa truyền lại mà cả những sản phẩm được sáng tạo trong thời kỳ hiện đại nhưng vẫn bám sát những nguyên tắc và phương thức cổ truyền

Trên cơ sở đó, chúng tôi giới thuyết về khái niệm võ thuật cổ truyền

như sau: Võ thuật cổ truyền là tổ hợp các hoạt động rèn luyện kỹ năng, thể

chất, kỹ thuật và chiến thuật đối kháng do nhân dân sáng tạo, gìn giữ và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trang 15

Võ thuật tự thân chỉ là những kỹ thuật cá nhân Để tồn tại và phát triển,

nó phải được hệ thống thành bài bản theo những nguyên tắc nhất định và được chủ thể lưu truyền dưới hình thức là môn phái hoặc võ phái Do đó, khi nghiên cứu võ thuật của một quốc gia hoặc một vùng, miền nào đó, chúng ta cần bắt đầu nghiên cứu từ các môn phái, võ phái bởi trong từng môn phái, võ phái sẽ chứa đựng các nội dung của võ thuật

Võ thuật cổ truyền - là thuật ngữ chuyên ngành được dùng để phân biệt với các bộ môn khác trong hệ thống võ thuật nói chung Võ thuật cổ truyền của từng quốc gia thể hiện bản sắc văn hóa và mang tính dân tộc cao Do đó,

võ thuật cổ truyền là một di sản văn hóa quý báu của mỗi dân tộc và của nhân loại nói chung

Khi nói đến võ thuật cổ truyền Việt Nam, theo võ sư Lê Kim Hòa người đã có nhiều năm gắn bó với phong trào võ thuật cổ truyền nước nhà và hiện là Phó chủ tịch Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, phụ trách về chuyên môn, võ thuật cổ truyền Việt Nam là tập hợp của tất cả các dòng võ có nguồn gốc lâu đời ở Việt Nam Trong các dòng võ nước ngoài du nhập vào có dòng võ Thiếu Lâm (Trung Hoa) đã hòa nhập và bổ sung vào dòng võ chung của dân tộc Người Hoa khi sang định cư ở Việt Nam đã mang theo văn hóa truyền thống của mình, trong đó có võ để truyền bá cho người Việt Nam và đóng góp cho quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Còn các dòng võ khác như Taekwondo, Karatedo, Judo,…là những dòng võ mới du nhập vào những thập niên gần đây Đối với nước ta, các dòng võ đó thuộc võ hiện đại Các võ phái có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào nước ta bằng nhiều mục đích khác nhau, nhiều thời gian khác nhau nhưng tiêu chí cơ bản nhất để các dòng võ này thuộc võ cổ truyền Việt Nam là chủ thể lưu truyền phải có sự giao lưu và thâm nhập văn hóa trên đất nước ta từ lâu đời, trong đó, võ Thiếu Lâm (Trung Hoa) là một điển hình

Trang 16

-Một tiêu chí khác của võ cổ truyền Việt Nam, dù được hình thành trong thời hiện đại nhưng nội dung hoạt động của môn phái phải bám sát nguyên tắc

và phương thức cổ truyền, không bị ảnh hưởng của yếu tố khác

Vovinam - Việt võ đạo là môn phái do cố võ sư Nguyễn Lộc sáng lập tại

Hà Nội từ năm 1938, nhưng đến năm 1940 mới chính thức ra mắt Môn phái lấy nền tảng từ các môn võ, vật dân tộc và ứng dụng tinh hoa của các môn võ

khác để dần hoàn thiện bài bản của mình Vovinam - Việt võ đạo vừa kết hợp

tinh hoa của võ cổ truyền Việt Nam nhưng cũng vừa kết hợp tinh hoa của các môn võ hiện đại

Vovinam - Việt võ đạo không trực thuộc Liên đoàn Võ thuật cổ truyền

Việt Nam mà được tách riêng thành một tổ chức khác có tên gọi là Liên đoàn

Vovinam - Việt Nam Do đó, ở góc độ khác ta hiểu đó là môn võ dân tộc.

Như vậy, về nội hàm của Võ thuật cổ truyền Việt Nam bao gồm tất cả

những môn phái, võ phái cổ từ xưa còn truyền lại cùng những võ phái có nguồn gốc nước ngoài đã được nhân dân tiếp nhận, sáng tạo và sử dụng trong môi trường văn hóa của mình từ nhiều thế hệ

Tây Nam Bộ đã tiếp nhận võ thuật cổ truyền như tiếp nhận một hiện tượng văn hóa Võ đã theo chân các võ tướng, các thành phần lưu dân khác đến vùng đất mới, tham gia vào công cuộc khai hoang mở đất và chống giặc giữ nước, cùng với cư dân địa phương tạo nên diện mạo riêng cho võ thuật Tây Nam Bộ Hoạt động võ cũng đi theo những bước thăng trầm của sự biến động xã hội Do đó, ngoài những đặc điểm chung của nền võ thuật cổ truyền nước nhà, hoạt động võ ở đây còn thể hiện những nét độc đáo mang đặc trưng của vùng miền Từ chỗ hoạt động tản mạn, chủ yếu hình thành trên sự dung hợp của nhiều môn phái, võ phái khác nhau theo khuynh hướng tự do gắn với mục đích tự vệ và đấu đài, đến hôm nay về cơ bản hoạt động, võ Tây Nam Bộ

Trang 17

đã đi vào qui củ dưới sự quản lý của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.Như vậy, võ cổ truyền Tây Nam Bộ là một bộ phận của võ cổ truyền Việt Nam.

Qua đây, chúng tôi có thể giới thuyết về hoạt động võ Tây Nam Bộ như sau: Võ cổ truyền Tây Nam Bộ bao gồm tất cả các môn phái, võ phái có nguồn gốc từ võ cổ truyền Việt Nam, hình thành trong sự tương tác giữa con người với con người và con người với thiên nhiên nhằm mang lại giá trị thiết thực cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng

Hoạt động võ thuật ngày càng được nâng cao về kỹ thuật, hiệu quả, là những nội dung biểu diễn và thi đấu trong các giải thể thao quần chúng và giải thể thao thành tích cao Ngoài các chức năng chính là tự vệ và chiến đấu,

võ thuật còn thực hiện chức năng giao lưu văn hóa trở thành cầu nối để các môn phái, võ phái học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau

1.2 Môi trường văn hóa Tây Nam Bộ

Miền Tây Nam Bộ - vùng đất cực nam của Tổ quốc, bao gồm các tỉnh thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Từ trước thế kỷ XVI nơi đây vẫn còn hoang sơ, chưa được khai phá nhiều Khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Trung do nghèo khổ không chịu đựng nổi cơ cực, lầm than, hoặc trốn chạy sự truy đuổi của chính quyền phong kiến

mà xiêu tán về phương Nam, tìm vùng đất mới lập nghiệp Cuộc sống buổi đầu đầy khó khăn, gian khổ và đầy thách thức mà những lưu dân khi đặt chân đến đây không lường hết được Trong quá trình khai hoang lập ấp, các lưu dân phải liên tục chống chọi với các loài thú dữ, muỗi mòng, rắn rết và sơn lam chướng khí, bệnh tật Họ đã liều mình, mạo hiểm trong cuộc mưu sinh ở vùng đất mới

Trang 18

Cho đến cuối thế kỷ XVIII mà đặc biệt là trong nửa đầu thế kỷ XIX, sự xâm nhập của lưu dân Việt vào vùng đất Tây Nam Bộ ngày càng nhiều, lớp trước lớp sau bằng nhiều con đường đã tìm đến vùng đất mới Việc di cư củalưu dân có khi ồ ạt theo chủ trương của nhà nước phong kiến nhưng cũng có khi đi lẻ tẻ, theo gia đình hoặc theo nhóm Họ hợp thành “dân ấp, dân lân” để dựa vào nhau làm ăn, giúp đỡ nhau trong lúc gặp khó khăn, hoạn nạn, cùngnhau chống lại thú dữ, cường hào, trộm cướp, tuy nhiên sự cố kết cộng đồng lúc bấy giờ còn rất lỏng lẻo Cuộc sống chưa ổn định, họ dễ dàng chuyển đi nơi khác làm ăn tạo dựng nơi cư trú mới Hoặc cũng có thể vì nạn cường hào

ức hiếp mà họ đành phải bỏ mảnh đất vừa khai phá để đi tìm nơi khác khẩn hoang

Qua hơn hai thế kỷ, nhiều lớp lưu dân Việt lần lượt đến Tây Nam Bộ khai phá lập làng Đến đầu thế kỷ XX, cộng đồng cư dân Việt ở vùng đất này đã được hình thành

Cộng đồng lưu dân đến Tây Nam Bộ phần lớn là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ từ tứ phương tụ lại Trong lớp người Việt di

cư vào Tây Nam Bộ còn có những người “trốn tránh binh dịch, những tù

nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo…kể cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn” [Huỳnh Lứa 1987: 42].

Trong bức tranh về thành phần lưu dân Việt đến Tây Nam Bộ, chúng ta

có thể nhận thấy rằng, đa số họ là dân tứ chiếng, rày đây mai đó, nhìn chung ítchữ nghĩa, không đất cắm dùi, cùng quy tụ về nơi đất rộng nhưng thưa người

để xây dựng cuộc sống mới trong muôn vàn hiểm nguy Khi bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để đến mảnh đất phương Nam sơn cùng thủy tận, chạm trán với thiên nhiên hoang dã sơ khai, đầy bí hiểm, các lưu dân không thể sống đơn độc, trái

Trang 19

lại hoàn cảnh ấy đã buộc họ phải có cách nghĩ, cách làm phù hợp với điều

kiện khách quan của vùng đất mới Vì thế, “hoàn cảnh đó không trọng nghĩa,

không hào hiệp, không nhân ái thương người sa cơ lỡ bước thì không dễ sống còn” [Nguyễn Sỹ Nồng 2005: 179].

Miền Tây Nam Bộ là vùng đất đa dân tộc Ngay từ thời Chúa Nguyễn

đã có sự cộng cư của các cụm dân cư người Khmer, người Chăm, người Việt

và người Hoa Văn hóa của các dân tộc ở miền Tây Nam Bộ là kết quả của quá trình nhiều thế kỷ chung sống, cùng khai phá và xây dựng vùng đất mới của Tổ quốc

Một trong những dân tộc có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình khai hoang ở vùng đất Tây Nam Bộ là người Hoa Tuy người Hoa có mặt ở Việt

Nam từ lâu đời, nhưng “ở vùng Tây Nam Bộ người Hoa đến đây muộn hơn,

chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ XVII, gắn liền với sự kiện người Mãn Thanh lật đổ nhà Minh” [Trần Văn Bính 2004: 160] Nói cách khác, họ đến với tư cách là

những người “vong quốc”, “vong thần” tìm kiếm đất sống

Không ít người Hoa có mặt cùng với người Việt từ khi mở đất phương Nam Họ tự nguyện coi vùng đất này là quê hương của mình như Trần Thượng Xuyên3, Dương Ngạn Địch xin làm bề tôi cho chúa Nguyễn ở Đàng Trong; Mạc Cửu – một thương nhân người Hoa – vì bất mãn nhà Thanh nên

đã bỏ quê hương để đến vùng Mang Khảm4 (Hà Tiên) chọn một nơi hoang vu

vô chủ để sinh sống…

Những đóng góp của người Hoa trong công cuộc khai phá vùng đất Tây Nam Bộ là rất lớn Con cháu của họ đã tiếp nối làm tròn nghĩa vụ công dân, có những đóng góp nổi bật trong đời sống văn hóa tinh thần như Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh - những người Việt gốc Hoa là

3 còn có tên là Trần Thắng Tài.

4 Theo “Gia Định thành thông chí” còn gọi là Mường Khảm [Trịnh Hoài Đức 1999: 119]

Trang 20

những nhà thơ nổi tiếng ở Nam Bộ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, được mệnh danh là “Gia Định tam gia” Trong đó Trịnh Hoài Đức nổi tiếng với bộ

sách Gia Định thành thông chí – một bộ sách được đánh giá cao và đáng tin

cậy vào sử liệu về lịch sử và địa lý vùng đất Nam Bộ

Người Hoa tuy có đời sống cộng đồng có phần khép kín so với một số tộc người khác nhưng sự ảnh hưởng của văn hóa người Hoa đến cộng đồng cư dân ở Tây Nam Bộ khá nhiều Văn hóa của người Hoa hòa vào nếp sống văn hóa cộng đồng các cư dân Tây Nam Bộ

Như vậy, Tây Nam Bộ từ vùng đất hoang dã, đầy rừng rậm, thú dữ qua bàn tay con người đã trở nên trù phú, hấp dẫn nhiều dòng người từ khắp nơi

tụ lại Từ trong ngọn nguồn cuộc sống, con người đã thích ứng với một thiên nhiên đa dạng, xây dựng một cộng đồng làng xã không khép kín, cuộc sống

đó đã tạo cho con người lòng dũng cảm, thực tế, năng động, cởi mở và một lối sống dễ hòa nhập Sự hòa nhập, liên kết nhiều cộng đồng dân cư, nhiều thành phần dân tộc, nhiều luồng văn hóa đã tổng hòa nên những tính cách, năng lực của người Việt ở Tây Nam Bộ mà những tính cách tốt đẹp ấy chỉ phát huy sức mạnh khi chúng hướng đến mục đích tốt đẹp

Văn hóa của Tây Nam Bộ là văn hóa của cư dân tứ phương trên đất nước Việt Nam tụ lại, của nhiều dân tộc sát cánh bên nhau xây dựng vùng châu thổ cực nam của đất nước

1.3 Con đường hình thành của võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ

Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Tây Nam Bộ gắn liền với công cuộc khai khẩn đất hoang của cư dân Trong buổi đầu sơ khai, con người đã phải chống chọi với nhiều thế lực hùng mạnh và sự hiểm nguy để sinh tồn Muốn trụ được nơi vùng đất mới, con người cần phải trang bị cho mình những phương thức để chống trả kẻ thù và thú dữ Võ thuật vì thế đã

Trang 21

hình thành và len lỏi vào đời sống nhân dân, trở thành một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống.

Sau năm 1880, các khoa thi võ trong triều đình bị bãi bỏ Hoạt động võ trên cả nước bị cấm đoán, phải lui vào truyền dạy bí mật Ở Tây Nam Bộ, võ

đã theo chân những người Nam tiến Những người sáng lập và truyền dạy võ

ở Tây Nam Bộ xuất thân từ những võ tướng, võ quan và lưu dân, trong đó có

cả những lưu dân người Hoa và cả cư dân địa phương

Khi nghiên cứu về sự hình thành hoạt động võ cổ truyền ở Tây Nam

Bộ, chúng tôi thấy rằng, võ cổ truyền ở vùng đất này được hội nhập từ rất nhiều nguồn

Đối với các môn phái có nguồn gốc trong nước cũng như nước ngoài chủ yếu do lưu dân truyền dạy Tuy đến Tây Nam Bộ vào những thời điểm khác nhau, nhưng các môn phái đã có những đóng góp đáng kể cho phong trào luyện tập võ thuật của địa phương Trên nền tảng của các môn phái này

đã làm cơ sở cho việc hình thành các môn phái mới (cách gọi để phân biệt với môn phái đã có từ trước, ở nơi khác không thuộc Tây Nam Bộ)

Đa số các môn phái được thành lập ở Tây Nam Bộ đã kế thừa tinh hoa của một võ phái hoặc môn phái có sẵn Việc cho ra đời môn phái nhằm thỏa mãn nhu cầu luyện võ của nhân dân, qua đó phản ánh thực trạng của sự phát triển võ thuật ở địa phương không chỉ về bề rộng mà cả bề sâu

Dựa trên tiêu chí về chủ thể lưu truyền và sáng tạo, chúng tôi đã phân loại về con đường hình thành các võ phái đang hoạt động ở đây như sau:

Võ được truyền từ các võ tướng, võ quan trong nước;

Võ được truyền từ những người bình dân trong nước;

Võ được truyền từ lưu dân nước ngoài (chủ yếu người Hoa)

Trang 22

1.3.1 Võ được truyền từ các võ tướng, võ quan trong nước

Sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, nhiều võ quan, võ tướng đã lánh vào vùng đất Nam Bộ và trực tiếp truyền dạy võ cho các thế hệ con cháu và nghĩa quân Trong thời loạn lạc, việc duy trì hoạt động võ nhằm mục đích chống triều đình và bọn quan lại ức hiếp nhân dân Vì thế, việc lưu truyền võ trong thời

kỳ này ở Tây Nam Bộ chủ yếu theo hình thức “truyền miệng”

Khi thực dân Pháp xâm lược, nhiều phong trào khởi nghĩa của nông dân nổ ra Họ được các thủ lĩnh nghĩa quân truyền dạy võ trước khi tung quân

ra chiến đấu chống kẻ thù Tiêu biểu có một số thủ lĩnh phong trào là những

võ tướng như Lê Văn Duyệt, Trương Định, Nguyễn Trung Trực…

Lê Văn Duyệt là “người tinh thông võ nghệ, giỏi dùng binh” [Vũ Ngọc

Khánh 2007: 280], được thọ giáo từ các thầy võ của vùng đất Tây Sơn Ông là tổng trấn thành Gia Định, chiêu tập dân lưu vong, bọn tội phạm tham gia vào công cuộc khai hoang vùng đất mới

Con nuôi Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi5 được quan tuần vũ Cao Bằng

cử đến giúp Lê Văn Duyệt “Năm 1833 Lê Văn Khôi cùng các bạn võ nổi dậy

chiếm thành Phiên An và giữ được hơn 2 năm Trong hoàn cảnh đó, các võ sĩ

ở vùng đất mới được tập hợp lại lập ra võ phái Tây Sơn Nhạn và tôn Lê Văn Duyệt làm tổ sư” [Mai Văn Muôn (cb) 1991: 186].

Trương Định - người đã lãnh đạo nghĩa quân gồm những người nông dân và các sĩ phu yêu nước khởi nghĩa dưới ngọn cờ “Bình Tây Đại nguyên soái” Với giáo búp đa6 và các loại vũ khí thô sơ khác, nghĩa quân của Trương Đinh đã tấn công tiêu diệt nhiều đồn địch và đánh đắm một số hạm pháo địch

Võ Duy Dương còn gọi là Thiên Hộ Dương, được nhân dân xưng tụng

là “Ngũ linh thiên hộ” Khi Pháp xâm lược, Thiên Hộ Dương đã chiêu mộ

5 Lê Văn Khôi tên thật là Bế Hữu Khôi.

6 Xem thêm phụ lục 1.

Trang 23

đông đảo nghĩa binh và mở rộng địa bàn hoạt động ở vùng Tân An và Đồng

Tháp Mười Ông thường nhắc nhở mọi người “Văn ôn, võ luyện không ai tự

nhiên có thể tài giỏi được Các người có công luyện tập thì ắt sẽ có thủ đắc như ta” [Mai Văn Muôn (cb) 1991:191].

Nguyễn Biểu quê ở Tân Phú (Đồng Tháp) là người rất khỏe mạnh Ông tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân của Thiên Hộ Dương giữ chức chỉ huy đội phòng vệ nên ông còn được gọi là Phòng Biểu

Võ Duy Dương và Phòng Biểu là những người có công đưa võ Tân Khánh – Bà Trà7 hội nhập vào phong trào chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ

Nguyễn Trung Trực là một nông dân nghèo, giỏi bơi lặn Ông đã cùng

nghĩa quân có những chiến công rất oanh liệt mà trong bài thơ Điếu Nguyễn

Trung Trực của danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt đã khen ngợi bằng hai câu thơ:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa, Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Thái Bạch đã dịch là:

Lửa bừng Nhựt Tảo rêm trời đất Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần 8

Câu nói rất nổi tiếng của ông đến ngày nay trong dân gian và cả chính

sử còn truyền tụng: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết

người Nam đánh Tây”

Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức là người có võ nghệ cao cường, tên thật

là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại làng Tường Khánh, huyện Kiến

7 Môn phái được thành lập vào đầu thế kỷ XIX tại vùng Tân Khánh, tỉnh Sông Bé (cũ).

8 Nguồn: http://vi.wikipedia.org

Trang 24

Hưng (nay là xã Khánh Hậu - Thị xã Tân An) trong một gia đình 3 đời làm võ tướng

Từ năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh và lập nhiều công trạng, vì thế, ông được ban quốc tính họ Nguyễn và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Chưởng Hậu Quân, Chưởng Tiền Quân, Tổng Trấn Gia Định Thành,… Ông

là người trung cang, nghĩa khí, được nhân dân tôn thờ như một vị tiền hiền vì

có công khai phá Giồng Cai Én (Khánh Hậu Long An) Lăng mộ của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức được đặt tại ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An, nằm cách trung tâm thị xã khoảng 3km về phía Tây

Trên đây chỉ là một số những võ tướng tài năng được dân gian ca tụng, trên thực tế còn rất nhiều vị võ tướng hữu danh và vô danh khác như Lê Cao Dõng, Nguyễn Phước Khoát… đã giương cao cờ chống Pháp và chống triều đình phong kiến phản động

Điểm nổi bật của các võ tướng trong thời kỳ này là “họ chỉ nổi danh vì

những võ công nhiều hơn là thành tích điều hành đất nước” [Vũ Ngọc Khánh

1999: 282]

Các môn võ do các võ tướng, võ quan truyền dạy đã phát triển và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong lực lượng nghĩa quân, phục vụ phong trào kháng chiến của nhân dân Do lối dạy không bài bản, chủ yếu là truyền miệng nên ngày nay có một số bài bản đã thất truyền hoặc không còn tồn tại

1.3.2 Võ được truyền từ những người bình dân trong nước

- Võ được truyền từ lưu dân

Vùng đất Tây Nam Bộ là nơi hội tụ của nhiều thành phần dân cư trong

cả nước Xưa kia, đây là nơi trú ngụ chủ yếu của lớp lưu dân miền Trung, họ

là “ những người nông dân xiêu tán, những người trốn tránh binh dịch, những

tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang,

Trang 25

thầy đồ nghèo, tóm lại là những người tận cùng của xã hội từ vùng Ngũ Quảng 9 vào” [Nguyễn Công Bình 2008: 98] Theo chân các thành phần lưu

dân từ vùng Ngũ Quảng, võ Bình Định sớm có mặt tại vùng đất Tây Nam Bộ Không ít người trong số họ có võ nghệ cao cường thử vận nơi vùng đất mới Những miếng võ, thế võ họ mang theo trong suốt cuộc hành trình là một trong những tài sản quí giá để họ mưu sinh lập nghiệp Từ đó, Tây Nam Bộ trở thành nơi cư ngụ của những người giỏi võ và giàu bản lĩnh

Việc lưu truyền võ trong thời kỳ mới khai hoang chủ yếu là tự phát, theo hình thức truyền miệng hoặc bí truyền cho thân tộc nhằm chống thú dữ, giành đất trồng trọt, giữ an ninh xóm làng

Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động võ cổ truyền được sự quan tâm của Nhà nước, phong trào võ thuật có điều kiện phát triển Nhiều võ sư là môn đệ của một vài môn phái võ Bình Định từ nhiều nơi khác nhau đã đến Tây Nam Bộ mở võ đường Lúc này, các môn phái bắt đầu đi vào bài bản

“chấm dứt thời kỳ truyền miệng, chuyển sang thời kỳ truyền văn” [UBTDTT

2006: 140] Hiện nay, trên nhiều tỉnh thành ở Tây Nam Bộ đã và đang phát triển một số chi phái của võ Bình Định như Tây Sơn – Bình Định, Tây Sơn Nhạn, Tây Sơn – Thiếu Lâm, …

Trong số những võ sư từ nhiều địa phương trên cả nước đến Tây Nam

Bộ phát triển võ thuật cổ truyền, chúng tôi có thể kể một số gương mặt tiêu biểu như:

Võ sư Sáu Giàu là một lưu dân người Huế Sau khi tìm đến vùng đất mới – Bến Tre để lập nghiệp, ông đã truyền dạy võ cho cư dân địa phương

Từ nền tảng của võ Bình Định mà võ sư Sáu Giàu truyền dạy, các môn đệ của

9 gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Trang 26

ông đã cho ra đời môn phái Hắc Long tại Bến Tre Môn phái đã góp phần giữ yên xóm làng

Võ sư Xuân Liễu là người gốc Biên Hòa (Đồng Nai) nhưng cô đã chọnvùng đất An Giang làm quê hương thứ hai của mình Vốn mang trong mình dòng máu con nhà võ, võ sư Xuân Liễu đã bỏ nhiều công sức để gầy dựng phong trào dạy và học võ ở An Giang So với một số địa phương khác ở Tây Nam Bộ, hoạt động võ cổ truyền ở An Giang phát triển khá bền vững Với lối

dạy chân truyền, môn phái Bắc phái Tây Sơn Xuân Bình võ thuật đạo của võ

sư Xuân Liễu ở An Giang đã gặt hái được nhiều thành công trong các giải đấu không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài

Khi nói đến võ sư Xuân Liễu, nhiều người trong giới hoạt động võ thuật đã ngợi khen cô về sự tâm huyết và sự kế thừa tinh hoa của các vị tiền bối, xem đó là nền tảng để phát triển môn phái Vì thế, nhiều thế hệ môn sinh của cô trưởng thành đã có những đóng góp tích cực cho hoạt động võ ở địa phương

Lưu dân đến từ khắp nơi trên đất nước ta không chỉ làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội cho vùng đất Tây Nam Bộ mà còn góp phần làm cho các hoạt động văn hóa thể thao ở đây phát triển, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân

- Võ được hình thành và truyền từ cư dân địa phương

Cư dân Tây Nam Bộ nổi tiếng với những nét tính cách đặc trưng là cởi

mở, phóng khoáng và trọng nghĩa khinh tài Do đó, ngoài việc tiếp nhận những luồng văn hóa khác, họ còn tham gia sáng tạo văn hóa mang bản sắc riêng mà võ thuật là một điển hình

Trước năm 1975, khi nói về võ ở Tây Nam Bộ, nhiều người thường nhắc đến “võ vườn”, “võ miệt vườn” hay “võ lâm” Các võ sĩ miệt vườn vốn xuất

Trang 27

thân từ những cư dân địa phương Họ thường có những đòn thế hiểm hóc mang

tính sở trường như “ông Sáu Cường nổi danh với bộ pháp “cuồng phong tảo

diệp cước”; ông Đoàn Tâm Ảnh nổi danh với công phu “nhất dương chỉ”; …”

[UBTDTT 2006: 258] Họ cũng chính là những người thầy dạy võ cho nhân dân và truyền cho nhân dân những phương thức tự vệ để bảo vệ an ninh trật tự, tiêu trừ trộm cướp, giữ gìn xóm làng Ngoài mục đích tự vệ, họ còn tham gia vào các cuộc đấu đài để khẳng định mình và phát triển hoạt động võ ở địa phương

Ngày nay, khi nói đến võ sĩ miệt vườn, giới hâm mộ võ thuật ở Tây Nam Bộ thường nhắc đến những danh sư như ông Năm Hợi (Kiên Giang), ông Sáu Cường (Trà Vinh), Bùi Văn Biển (Kiên Giang), Tiểu La Thành (Vĩnh Long), …

Bên cạnh những đóng góp trong phong trào luyện tập và thi đấu võ thuật, ở đây còn nổi lên một số võ sư tham gia sáng lập môn phái mới Các môn phái này đến hôm nay vẫn còn hoạt động và phát triển, có nhiều đóng góp cho hoạt động võ của Tây Nam Bộ

Võ sư Võ Thành Miêng quê ở Kiên Giang Trong một cuộc truy quét, bọn địch đã bắt và tra tấn ông rất dã man Chúng đã chặt hai tay và hai chân của ông, từ đó ông có tên là thầy Mười Cùi Năm 1941, võ sư Võ Thành

Miêng đã sáng lập môn phái Hắc Long tại Kiên Giang dựa trên nền tảng của

võ Thiếu Lâm Môn phái này hiện nay đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều tỉnh thành

Võ sư Mai Văn Phát, quê gốc Thuận Hưng, Ô Môn (Cần Thơ) Ông đã từng tham gia học võ của nhiều người thầy khác nhau, từ đó ông nắm vững nhiều bài quyền và môn binh khí Ông đã tham gia mở lớp dạy võ tại Cần Thơ

và thi đấu võ đài tại Châu Đốc, Long Xuyên, Nam Vang… Đến năm 1964, tại

Trang 28

Ô Môn (Cần Thơ), võ sư Mai Văn Phát đã sáng lập môn phái Thiếu Lâm

Trung Sơn Hiện nay, môn phái đang phát triển ở nhiều tỉnh thành của khu

vực Tây Nam Bộ như Long An, Bến Tre, Kiên Giang, Cà Mau…

Võ sư Trần Văn Tư, quê ở Bình Nguyên, An Hội, Bến Tre - người đã

sáng lập môn phái Hắc Long (Bến Tre) Từ nhỏ, ông đã học võ của ông Sáu

Giàu là võ sư và là một lưu dân người Huế vào Bến Tre lập nghiệp Được học với hình thức gia truyền cho nên ông đã sở đắc được nhiều bài quyền và binh khí nổi tiếng từ võ Bình Định Do đó khi truyền dạy cho các môn đệ, ông đã dạy một cách bài bản và theo lối dạy chân truyền, vì thế mà không ít đệ tử của ông sau này đã nối nghiệp rất vững vàng

Trong số những người tham gia sáng lập môn phái mới ở Tây Nam Bộ còn có võ sư là người địa phương sang Trung Hoa tầm sư học võ để về truyền dạy cho nhân dân

Một gương mặt khá nổi tiếng trong làng võ cổ truyền Việt Nam là võ

sư Đoàn Tâm Ảnh “Võ sư Đoàn Tâm Ảnh tên là Nguyễn Văn Sáu 10 , sinh năm 1900” [UBTDTT 2006: 197] Ông đã từng đến học võ tại Trung Quốc với

Mộc Đức Thiền Sư Khi về Việt Nam, võ sư Đoàn Tâm Ảnh đã tham gia dạy

võ và lập Võ đường Côn Luân Bắc phái Ngoài ra, ông còn tham gia lập Tổng

hội Võ lâm Việt Nam tại Sài Gòn Tuy xuất thân từ vùng đất Tây Nam Bộ

nhưng những đóng góp của võ sư Đoàn Tâm Ảnh đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động võ thuật của nước nhà

Một số võ sư, võ sĩ khác tuy còn “mai danh ẩn tích” nhưng họ đã đóng góp nhiều công sức và trí tuệ vào việc hình thành và lưu truyền hoạt động võ

ở vùng đất Tây Nam Bộ

10 Theo “Lược sử Võ Cổ truyền Việt Nam”: Đoàn Tâm Ảnh vốn tên là La Tô [1991: 215].

Trang 29

Bên cạnh những môn phái đã hình thành và phát triển từ hàng chục năm nay, ở Tây Nam Bộ còn nổi lên một số môn phái được tách ra từ một môn phái

cũ hoặc được thành lập mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của hoạt động ở địa phương như môn phái Thiếu Lâm Long Sơn (tách ra từ Thất Sơn Thiếu Lâm)

1.3.3 Võ được truyền từ lưu dân nước ngoài

Tây Nam Bộ là vùng cộng cư của nhiều dân tộc như Việt, Hoa, Khmer, Chăm… Sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong quá trình hình thành vùng đất này có một vị trí nhất định

Về phương diện võ thuật, võ Trung Hoa đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của võ cổ truyền Việt Nam Trong số những lưu dân người Hoa đến nước ta theo phong trào “phản Thanh, phục Minh” có những người võ nghệ cao cường, môn đồ của nhiều chi phái võ Thiếu Lâm, trực tiếp truyền bá dạy

võ cho người Việt để từ đó lan tỏa ra cộng đồng

Họ đến Tây Nam Bộ không chỉ tham gia dạy võ mà còn tham gia sáng lập môn phái mới Các môn phái này đã có những ảnh hưởng nhất định đến phong trào võ thuật của địa phương, thậm chí còn lan tỏa ra nước ngoài gây tiếng vang lớn

Có những nhân vật mà khi nhắc đến tên tuổi không chỉ trong giới hoạt động võ thuật ở Tây Nam Bộ mà ở khắp Việt Nam đã có nhiều người biết đến như Mạc Cửu, Lâm Văn Quí, Lâm Văn Thêm,

Vào năm 1919, hai võ sư người Hoa là Lâm Văn Quí và Lâm Văn Thêm thường gọi là “Lào Quí” và “Lào Thêm” từ Hà Nam (Trung Quốc) theo đoàn lưu dân đến Việt Nam lập nghiệp Các võ sư này đã từng có 25 năm tu luyện tại Thiếu Lâm Tự Tung Sơn (Hà Nam – Trung Hoa) Khi đến sinh sống

tại Cần Thơ, hai ông đã thành lập môn phái Thất Sơn Thiếu Lâm

Trang 30

Hiện nay, Câu lạc bộ Thất Sơn Thiếu Lâm tại Cần Thơ do võ sư Lê Hoàng Minh làm chủ nhiệm Môn phái còn phát triển mạnh mẽ ở California

do võ sư Lê Đình Trưởng – là môn đệ của hai võ sư người Hoa gầy dựng

So với một số môn võ khác của Trung Hoa hiện đang phát triển trên nhiều địa phương như Võ Đang, Nga Mi, Không Động… thì ở Tây Nam Bộ,

võ Thiếu Lâm phát triển hơn cả Có nhiều môn phái đã lấy nền tảng từ võ Thiếu Lâm như Thất Sơn Thiếu Lâm, Quyền thuật tự do, Thiếu Lâm Long Sơn… để làm nội dung chính cho môn phái của mình

Tuy hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau, ngày nay hoạt động võTây Nam Bộ đang phát triển mạnh mẽ, mong muốn khẳng định sự bền vững của mình và trở thành phương tiện rèn luyện thể chất hiệu quả của đông đảo nhân dân

1.4 Một số môn phái tiêu biểu

1.4.1 Thất Sơn Thiếu Lâm

Môn phái Thất Sơn Thiếu Lâm là môn phái ra đời vào những năm đầu thế kỷ XX do hai võ sư người Trung Quốc là Lâm Văn Quí và Lâm Văn Thêm sáng lập tại Cần Thơ Tên môn phái Thất Sơn Thiếu Lâm là tên ghép của địa danh Thất Sơn (An Giang) và tên võ Thiếu Lâm (Trung Quốc) Hiện nay, Câu lạc bộ Thất Sơn Thiếu Lâm tại Cần Thơ do võ sư Lê Hoàng Minh làm chủ nhiệm

1.4.2 Côn Luân Bắc phái

Côn Luân Bắc phái do võ sư Đoàn Tâm Ảnh sáng lập Côn Luân Bắc phái còn gọi là Thập bát La Hán quyền, thuộc dòng võ Hoa Bắc (Trung Quốc)

Vào năm 1984 võ sư Võ Văn Tiễn (là môn đệ của võ sư Đoàn Tâm Ảnh) bắt đầu dạy võ Côn Luân Bắc phái cho thanh thiếu niên ở thị trấn Thạnh Trị – Sóc Trăng Lúc này, phong trào luyện võ chủ yếu để tham gia đấu đài

Trang 31

cho nên việc dạy võ theo kiểu tự phát Phong trào bắt đầu được định hướng khi Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1991 Sau đó, võ đường Côn Luân Bắc phái của võ sư Võ Văn Tiễn được tỉnh Sóc Trăng cử tham gia giải do tỉnh Hậu Giang đăng cai vào năm 1991 – 1992 Đến năm

2000 võ đường được chính thức đổi tên là Câu lạc bộ Côn Luân Bắc phái do

võ sư Võ Văn Tiễn làm chủ nhiệm và huấn luyện viên trưởng Từ ngày thành lập đến nay, câu lạc bộ đã nhiều lần tham gia thi đấu giải ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và quốc gia

Ngoài ra, Côn Luân Bắc phái còn phát triển mạnh ở một số tỉnh thành như Đồng Tháp có võ sư Lê Văn Lý làm huấn luyện viên trưởng, Cần Thơ có

võ sư Phùng Kiến Lạc làm chủ nhiệm Câu lạc bộ Côn Luân Bắc phái,

1.4.3 Hắc Long (Cần Thơ)

Môn phái Hắc Long do võ sư Võ Thành Miêng sáng lập vào năm 1941 tại Rạch Giá (nay thuộc Kiên Giang) Trong thời Pháp thuộc, hoạt động võ thuật bị nghiêm cấm Hắc Long đã lùi vào vùng sâu U Minh Thượng để hoạt động và thu nhận nhiều môn sinh là nông dân và du kích quân Do sự mến mộ của đông đảo dân chúng, Hắc Long đã được khôi phục Năm 1966, tại chợ Mít Nài, cầu Đôi Mới (nay là cầu Nhị Kiều) Cần Thơ, võ sư Võ Thành Miêng cùng một số đệ tử đã cho ra đời võ đường mới Từ đó, võ Hắc Long ngày càng lan tỏa ở nhiều tỉnh, thành thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang…thu hút khá nhiều môn sinh

Năm 1984, võ sư Võ Thành Miêng qua đời tại Bình Minh Đến năm

1991 trong Đại hội đồng môn của môn phái Hắc Long đã bầu võ sư Lê Hồng Chương làm chưởng môn đời thứ hai và đến năm 1997 võ sư Nguyễn Việt Hùng được trao quyền làm chưởng môn đời thứ ba

Trang 32

1.4.4 Bắc phái Tây Sơn Xuân Bình võ thuật đạo

Nữ võ sư Xuân Liễu tên thật là Lê Thị Liễu, người gốc Biên Hòa đã

được võ sư Nguyễn Xuân Bình - người sáng lập môn phái Bắc phái Tây Sơn

Xuân Bình võ thuật đạo - truyền dạy võ Năm 1989 võ sư Xuân Liễu về huyện

Phú Tân (An Giang) dạy võ Bắc phái Tây Sơn Xuân Bình võ thuật đạo, sau

18 tháng cô chuyển về Long Xuyên mở võ đường và phát triển cho đến nay

Ngày nay, do sự thống nhất của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, các môn phái có ảnh hưởng từ võ Tây Sơn được gọi chung là võ Tây Sơn Bình Định Vì thế, từ đó không còn tên gọi là Bắc phái Tây Sơn Xuân Bình võ thuật đạo và nó trở thành một nhánh của võ Tây Sơn11 Hiện nay võ

sư Xuân Liễu là trưởng tràng của môn phái Tây Sơn Bình Định khu vực Tây Nam Bộ và phụ trách hoạt động võ cổ truyền của tỉnh An Giang

11 Theo võ sư Xuân Liễu.

Trang 33

1.4.6 Quyền thuật tự do

Môn phái Quyền thuật tự do ra đời từ năm 1954 do võ sư Nguyễn Văn Trà (còn gọi là ông Năm Tàu Hủ) sáng lập

Trước đây, môn phái không có tên gọi cụ thể mà chỉ gọi tên chung là

Võ đường Năm Châu Sau năm 1990, khi có sự ra đời của Liên đoàn Võ thuật

cổ truyền Việt Nam và sự đồng ý của Sở Thể dục Thể thao tỉnh Hậu Giang,

môn phái được đổi tên là Quyền thuật tự do, có hệ thống đai đẳng và võ phục

theo qui định chung

Tóm lại, quá trình hình thành và phát triển của võ cổ truyền Tây Nam Bộ gắn liền với quá trình khai hoang, mở đất của lưu dân Mặc dù trải qua những bước thăng trầm cùng với sự biến thiên của lịch sử, nhưng hoạt động võ ngày càng phát triển và lớn mạnh, có hoạch định cho sự phát triển rõ ràng

Bằng một số con đường lưu truyền chính như thông qua sự có mặt của các võ tướng, võ quan, lưu dân trong nước mà chủ yếu là vùng Ngũ Quảng; lưu dân từ Trung Hoa và một số võ sư, võ sĩ là cư dân địa phương,… đã góp sức để cùng lưu truyền, hình thành và phát triển hoạt động võ cổ truyền ở Tây Nam Bộ

Ngày nay các môn phái có nguồn gốc từ võ Trung Hoa đã gia nhập và trở thành một bộ phận của võ cổ truyền Việt Nam, làm cho hoạt động võ cổ truyền nước ta thêm phong phú và sinh động

Trang 34

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TÂY NAM BỘ 2.1 Nội dung của võ thuật cổ truyền Tây Nam Bộ

Hoạt động võ ở Tây Nam Bộ gắn liền với quá trình hình thành vùng đất cực nam của Tổ quốc Được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, trải qua những bước thăng trầm nhưng ngày nay diện mạo của võ cổ truyền Tây Nam Bộ đã có những bước khởi sắc và trở thành một bộ phận của võ cổ truyền Việt Nam Võ cổ truyền Tây Nam Bộ đã kế thừa của các vị tiền bối trên nhiều phương diện như võ lý, võ đạo và hệ thống võ thuật

2.1.1 Võ lý

Cũng như các môn phái khác thuộc hệ thống võ cổ truyền Việt Nam, võ

lý của võ cổ truyền Tây Nam Bộ gắn liền với triết học phương Đông, trong đó triết l ý âm dương, ngũ hành được xem là nền tảng

2.1.1.1 Âm dương ngũ hành và võ thuật

- Về triết lý âm dương và ngũ hành

Theo triết lý phương Đông cổ đại, bản nguyên của vũ trụ là thái cực, đó

là nguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn loài Trong thái cực có sự phân hóa thành hai mặt đối lập là âm và dương gọi là lưỡng nghi Sự tác động của âm

và dương sinh ra tứ tượng và tứ tượng lại sinh ra bát quái Sự biến chuyển liên tục này sẽ tạo thành vạn vật Âm dương ban đầu được xem là khái niệm phổ biến của trời đất

Triết lý âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt đối lập và thống nhất của mọi sự vật, hiện tượng Triết l ý âm dương được thể hiện cụ thể trong Thái cực đồ

Trang 35

Thái cực đồ là một đồ hình, gồm một hình tròn có hai màu đen trắng dựa vào nhau, ôm nhau thành một thể thống nhất Thái cực đồ lấy đen làm

âm, lấy trắng làm dương và cá trắng mắt đen với hàm ý “trong dương có âm” và cá đen mắt trắng với hàm ý “trong âm có dương” (H2.1)

“Vạn vật phụ âm nhi bảo dương, xung khí dĩ

vi hợp” [Giáp Văn Cường, Trần Kiết Hùng 1996:

134] có nghĩa là muôn vật sinh ra từ âm và dương, xung nhau để hòa nhau Như vậy, hai khí âm dương cân bằng sẽ sinh ra hòa khí

Âm và dương biến đổi không ngừng, dương có thể chuyển hóa thành

âm và âm có thể chuyển hóa thành dương Nguyên tắc “âm dương tiêu

trưởng” thể hiện trong thái cực đồ đã cho thấy, khi phần đen nhiều thì phần

trắng sẽ ít dần và ngược lại Điều này có nghĩa là khi âm thịnh thì dương suy

và dương thịnh thì âm suy Âm đạt đến cực điểm thì sinh dương, dương đạt đến cực điểm thì sinh âm đó là quy luật chuyển hóa của vạn vật

Trong quan điểm của các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại, ban đầu họ

“xem tất cả các hiện tượng đều bao hàm hai mặt chính và phản, và họ dùng

khái niệm âm dương để giải thích hai thế lực vật chất vừa đối lập vừa liên hệ tác động qua lại, tiêu trưởng lẫn nhau của giới tự nhiên” [Doãn Chính,

Trương Giới, Trương Văn Chung 1994: 13] Về sau, triết lý âm dương được

mở rộng, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều có thể được giải thích bằng triết lý âm dương

Việt Nam vốn là “vùng phát sinh triết lý âm dương, lại vừa được tiếp

nhận triết lý âm dương như một sản phẩm hoàn thiện” [Trần Ngọc Thêm

2006: 110] từ văn hóa Hán Do đó, thông qua quy luật biến đổi, chuyển hóa

H 2.1: Thái cực đồ

Trang 36

của âm dương mà người Việt Nam đã suy diễn và phân tích trên mọi phương diện của cuộc sống

Học thuyết ngũ hành cho rằng, năm loại hành chất là kim, mộc, thủy,

hỏa, thổ là “cái mà con người ta không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, là

những nguyên tố cấu thành vạn vật” [Doãn Chính, Trương Giới, Trương Văn

Chính 1994: 9] Trong thực tế, âm dương và ngũ hành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Sự kết hợp này đã cho ra sự đối lập thống nhất và sự chế ước lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng Do đó, con người thường gọi chung là học thuyết âm dương ngũ hành

Năm hành được phân bổ theo năm phương hướng khác nhau đó là phương Nam ứng với hỏa, phương Bắc ứng với thủy, phương Đông ứng với mộc, phương Tây ứng với kim và trung tâm là thổ Trong ngũ hành có sự tương sinh tương khắc nhằm đạt đến sự

cân bằng của vạn vật (H2) Tương sinh

thể hiện sự tương tác, hỗ trợ giữa các

hành chất đó là: “mộc sinh hỏa, hỏa

sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy,

thủy sinh mộc”; tương khắc (còn gọi là

tương thắng) thể hiện sự chế ước lẫn

nhau giữa các hành chất là: “thủy khắc

hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc

khắc thổ, thổ khắc thủy” Mối quan hệ

“tương sinh, tương khắc” đã làm cho

vạn vật không ngừng biến đổi Trong

cuộc sống, tùy theo chức năng và hình thái của sự vật mà con người qui vào trong ngũ hành để xem xét

H2 Ngũ hành tương sinh, tương khắc

Trang 37

- Triết lý âm dương ngũ hành trong võ cổ truyền Tây Nam Bộ

Về võ lý, đối với võ cổ truyền Việt Nam “võ học chắc chắn chịu sự

ràng buộc và ảnh hưởng tác động rất lớn của triết học và vì vậy chúng ta cần phải nắm vững những điểm cốt yếu trong triết học phương Đông” [UBTDTT

2006: 162], trong đó, triết lý âm dương ngũ hành là nền tảng lý luận

Là một bộ phận của võ cổ truyền Việt Nam nên võ cổ truyền Tây Nam

Bộ đã dựa vào triết lý phương Đông và kết hợp hài hòa giữa âm dương ngũ hành để tạo nên nhiều thế võ hiểm hóc và độc đáo của đa số các môn phái.Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng môn phái mà nguyên lý về âm dương, ngũ hành được vận dụng một cách linh hoạt

Triết lý phương Đông thể hiện trong võ thuật qua học thuyết âm dương

ngũ hành nhằm “giải thích sự biến đổi công thủ trong quyền thức,… tạo ra các

biến chiêu nối tiếp nhau và sự chế ước lẫn nhau của các chiêu thức”

[UBTDTT 2006: 172] Trong võ thuật, triết l ý âm dương được biểu hiện qua sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa tĩnh và động, giữa mạnh và yếu… Sự kết hợp này đã sinh ra nhiều bài võ, thế võ rất lợi hại

và đem lại hiệu quả cao Tính linh hoạt trong nguyên tắc “dĩ nhu chế cương, dĩ

đoản chế trường” đã tạo ra những đòn thế luồn lách, né tránh chớp nhoáng

Học thuyết âm dương không chỉ gắn với hoạt động luyện tập võ thuật

mà còn trong kỹ thuật chiến đấu Trong chiến đấu, dù là phòng thủ (cách quay, cách phá) hay tấn công (vật, đánh, tóm, bắt,…) cũng không xa rời sự biến hóa của âm dương Tất cả những chiêu, thế, quyền, cước, những đường thảo và những binh khí đều phải áp dụng nguyên tắc căn bản “âm – dương, cương – nhu, thực – hư”

Cũng như các môn phái khác trong hệ thống võ cổ truyền Việt Nam, võ

cổ truyền Tây Nam Bộ coi trọng các qui luật vận động và các triết lý tĩnh –

Trang 38

động của triết lý phương Đông Hầu hết các môn phái đã thể hiện được sự mềm dẻo trong động tác, vận khí nhiều hơn dùng lực, hư hư ảo ảo và không dùng sức chọi sức …

Thông thường nhân dân phải đối phó với kẻ thù có sức mạnh hơn mình

Do đó, họ cần phải có những cách đánh năng động, sáng tạo, tiết kiệm sức lực

mà dứt điểm nhanh chóng Phương cách đối trị hữu hiệu là luồn lách, né tránh, mềm dẻo, hư thực, trong công có thủ, trong thủ tiềm ẩn thế tấn công vào nơi địch sơ hở Vì yếu hơn nên họ không thể dùng lực đối lực

Trong hệ thống các môn phái ở Tây Nam Bộ, có môn phái thiên về cương, có môn phái thiên về nhu, cũng có môn phái cương – nhu phối hợp Tuy nhiên, trong nhu có yếu tố cương, trong cương có yếu tố nhu, các đường quyền, cước phải có sự phối hợp công - thủ để bổ sung lẫn nhau, tạo yếu tố bất ngờ làm đối phương khó lượng định Bất kể môn phái nào cũng duy trì sự cân bằng âm dương trong quyền thuật cũng như trong võ có binh khí

Môn phái Tây Sơn Nhạn (thuộc Câu lạc bộ Tây Sơn Nhạn ở Cần Thơ,

do võ sư Lý Minh Tùng làm chủ nhiệm) thì thiên về nhu, nội quyền có 42 thế trong đó thế mạnh là tấn pháp và bộ tay chuyền (7 bộ) dùng để triệt thế Ngoài

ra, môn phái còn có thế “khắc thủ tấn công” và “thối thủ tấn công” nhằm tận dụng thế mạnh để tấn công đối phương12

Trên nền tảng của triết lý phương Đông, các nguyên lý âm dương, được vận dụng vào các đường roi, đường quyền nhằm tạo sự bổ khuyết cho các đòn thế nâng hiệu quả của các đòn thế khi tấn công đối phương Dù tấn công hay phòng thủ thì đòn thế trong các bài quyền cũng cần đến sự linh hoạt, uyển chuyển, biết chớp thời cơ để ra những đòn thế hiểm hóc, bất ngờ cho đối phương

12 Nguồn do võ sư Lý Minh Tùng – chủ nhiệm CLB Tây Sơn Nhạn (Cần Thơ) cung cấp.

Trang 39

Võ lý của võ cổ truyền Tây Nam Bộ cũng như võ cổ truyền Việt Nam lấy triết lý phương Đông làm cơ sở lý luận nhằm hướng tới tinh thần nghĩa hiệp, sự mềm dẻo, linh hoạt khi tiếp cận đối phương Từ đó tạo nên sự hài hòa trong hành vi ứng xử của các môn sinh.

Võ thuật không chỉ vận dụng triết lý âm dương mà còn kết hợp với học thuyết ngũ hành, trong đó nhấn mạnh đến các mối quan hệ chính là tương sinh và tương khắc Dựa vào quan hệ tương sinh để tạo nên những biến hóa nối tiếp nhau của các chiêu thức, đòn thế Ngược lại, võ thuật dựa vào quan

hệ tương khắc nhằm chế ước lẫn nhau giữa các chiêu thức

Ở những môn phái gốc Bình Định, Ngũ hành pháp là những thế luyện của

bộ tay theo kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Năm hành tương ứng với bộ tay như sau:

Kim là Mãnh hổ thôi sơn ở thế chủ động tấn công

Mộc là Cường long xuất hải ở thế tấn công

Thủy là Phụng hoàng triển dực ở thế vừa chuẩn bị tấn công, vừa phòng thủ.Hỏa là Bạch hạc tầm châu ở thế chọn cơ hội tấn công hoặc phát hiện thế tấn công của đối phương mà né tránh, phòng thủ

Thổ là Cuồng phong tảo địa ở thế chớp nhoáng tiến công13

Những đòn thế của bộ tay có quan hệ chặt chẽ và tương phản với nhau

“kim bắt lên, mộc bắt xuống, kim đấm thẳng, mộc đánh ngang” hoặc “trong

giao đấu, khi sử dụng bộ kim mà bị đối phương triệt tiêu thì nhanh chóng chuyển sang bộ thủy mà không thể chuyển sang bộ hỏa” [Nguyễn Thanh

Trang 40

cấu trúc theo ngũ hành như thế nào thì cơ thể con người cũng vậy Một bộ phận trên cơ thể con người đều có thể được đặt trưng bởi một trong năm hành.

- Ngũ tạng: Thận thuộc Thủy, Tâm thuộc Hỏa, Can thuộc Mộc, Phế

thuộc Kim, Tỳ thuộc Thổ

- Ngũ thể: Xương cốt thuộc Thủy, Huyết mạch thuộc Hỏa, Gân thuộc

Mộc, Da lông thuộc Kim, Cơ bắp thuộc Thổ

- Ngũ quan: Tai thuộc Thủy, Lưỡi thuộc Hỏa, Mắt thuộc Mộc, Mũi

thuộc Kim, Miệng thuộc Thổ

Các cơ quan này được gọi chung là “Nội ngũ hành” và “Ngoại ngũ hành” Chẳng hạn, ngũ tạng gọi là “Nội ngũ hành” còn ngũ quan gọi là

“Ngoại ngũ hành”

Khi luyện tập võ thuật, nội ngoại ngũ hành phải hợp nhau tức "nội ngũ hành phải hợp, ngoại ngũ hành phải thuận" như thế mới tạo được hiệu quả

Trong việc xác định phương vị, năm hành tương ứng với năm phương

vị là trước, sau, trái, phải, giữa Từ các phương vị này, các môn phái đã lập các bước tiến, lùi, sang trái, sang phải và đứng yên

Ngũ hành còn thể hiện trong hệ thống đai đẳng Trước đây, màu đai

được xếp theo thứ tự là đen, xanh, vàng, đỏ, trắng

Tuy nhiên, theo Quyết định số 12/QĐ-LĐVTCTVN ngày 08/07/2008

về việc sửa đổi, bổ sung quy chế chuyên môn của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, trong đó có nội dung sửa đổi hệ thống màu đai thì thứ tự

các màu đai được thay đổi là đen, xanh, đỏ, vàng, trắng.

Theo cách lý giải của những người hoạt động võ thuật cổ truyền ở nước

ta, hệ thống màu đai hiện nay dựa vào các màu biểu trưng của ngũ hành:

Màu đen ứng với hành Thủy;

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Lê Văn Chiêu 2007: Nghệ thuật sân khấu hát bội.-Tp.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật sân khấu hát bội
Nhà XB: NXB Trẻ
13. Lê Văn Quán 2007: Nguồn văn hóa Truyền thống Việt Nam.- H: NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn văn hóa Truyền thống Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao Động
14. Lưu Vinh (cb) 2006: Nghệ sĩ đời và nghề. – H: NXB GTVT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ sĩ đời và nghề
Nhà XB: NXB GTVT
15. Mai Văn Muôn (cb) 1991: Lược sử Võ thuật cổ truyền Việt Nam. - TP.HCM: NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Võ thuật cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: NXB TDTT
17. Mai Văn Muôn 2006: Cơ sở Văn hoá thể chất Việt Nam (sách dùng cho sinh viên các trường ĐH – CĐ TDTT và tài liệu tham khảo cho giáo viên giáo dục thể chất). – TP.HCM: NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hoá thể chất Việt Nam
Nhà XB: NXB TDTT
18. Ngô Viết Dinh (tuyển chọn & biên soạn nhiều tác giả) 2002: Đến với thơ Nguyễn Đình Chiểu.- TP. HCM: NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: NXB Thanh niên
19. Nguyễn Công Bình 2008: Đời sống xã hội ở vùng Nam bộ.- TP HCM: NXB ĐHQG TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống xã hội ở vùng Nam bộ
Nhà XB: NXB ĐHQG TP HCM
20. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (đcb) 1990: Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long. – TP.HCM: NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: NXB KHXH
21. Nguyễn Đình Chiểu 2003: Lục Vân Tiên. - H: NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lục Vân Tiên
Nhà XB: NXB Văn học
22. Nguyễn Văn Chung (cb) 2004: Giáo trình võ thuật.- H: NXB ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình võ thuật
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
23. Nguyễn Lân 2000: Từ điển từ và ngữ Việt Nam.-TP.HCM: NXB TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Nhà XB: NXB TP HCM
25. Nguyễn Thị Minh Thái 1999: Sân khấu và tôi. – TP.HCM: NXB Sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu và tôi
Nhà XB: NXB Sân khấu
26. Nguyễn Thu Vân 2006: Múa – Trình thức võ thuật trên sân khấu cải lương. – H: NXB Sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa – Trình thức võ thuật trên sân khấu cải lương
Nhà XB: NXB Sân khấu
27. Nguyễn Thu Vân 2009: Võ thuật cổ truyền – ứng dụng vào Sân khấu – Điện ảnh.-TP.HCM: NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ thuật cổ truyền – ứng dụng vào Sân khấu – Điện ảnh
Nhà XB: NXB Phương Đông
28. Nguyễn Như Ý (cb) 1999: Đại từ điển tiếng Việt.-H: NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB VHTT
29. Phạm Đình Phong 2000: Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc – đặc trưng võ cổ truyền Bình Định (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Hội võ cổ truyền Bình Định). – Bình Định: NXB Quy nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc – đặc trưng võ cổ truyền Bình Định
Nhà XB: NXB Quy nhơn
30. Phạm Vũ Dũng (chỉ đạo biên soạn) 2007: Hành trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam. - H: NXB Văn hoá – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá – Thông tin
31.Sơn Nam 2008: Sài Gòn xưa – Ấn tượng 300 năm & tiếp cận với ĐBSCL.-TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Gòn xưa – Ấn tượng 300 năm & tiếp cận với ĐBSCL
Nhà XB: NXB Trẻ
32. Sơn Nam 2005 (a): Tìm hiểu đất hậu Giang & lịch sử đất An Giang.- TP HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đất hậu Giang & lịch sử đất An Giang
Nhà XB: NXB Trẻ
33. Sơn Nam 2005 (b): Từ U Minh đến Cần Thơ; Ở chiến khu 9; 20 năm giữa lòng đô thị; Bình An..- TP HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ U Minh đến Cần Thơ; Ở chiến khu 9; 20 năm giữa lòng đô thị; Bình An
Nhà XB: NXB Trẻ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm