Nghiên cứu lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ là tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống mà những thế hệ người Việt đã mang theo khi di cư vào vùng đất mới, cũng như những biến
Trang 1-
NGÔ THỊ HỒNG QUẾ
LỄ GIỖ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT
MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
-
NGÔ THỊ HỒNG QUẾ
LỄ GIỖ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT
MIỀN TÂY NAM BỘ
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60.31.06.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Trang 3Tôi cam đoan luận văn Lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao chép của bất cứ đề tài luận văn hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả khác
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hồng Quế
Trang 4LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
2.1 Mục tiêu khái quát: 7
2.2 Mục tiêu cụ thể: 8
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
6.1 Về cơ sở lý luận 11
6.2 Phương pháp nghiên cứu 11
6.3 Nguồn tư liệu 11
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN 14
1.1 Một số khái niệm liên quan đến luận văn 14
1.1.1.Thờ cúng tổ tiên 14
1.1.2 Lễ 16
1.1.3 Giỗ 17
1.1.4 Họ 17
1.1.5 Lễ giỗ họ 18
1.1.6 Các tên gọi của lễ giỗ họ ở Tây Nam Bộ 19
1.1.6.1 Cúng việc lề 20
1.1.6.2 Một số dạng cúng liên quan đến lễ giỗ họ 23
1.2 Quan niệm về tổ tiên 26
1.2.1 Quan niệm về linh hồn tổ tiên 26
1.2.2 Quan niệm về chữ hiếu đối với ông bà tổ tiên 28
Trang 51.3.1 Lược sử hình thành vùng đất Tây Nam Bộ 30
1.3.2 Cư dân và đặc điểm phân bố cư dân của người Việt miền Tây Nam Bộ 32
1.3.3 Giao lưu văn hóa Việt - Hoa - Khmer - Chăm ở miền Tây Nam Bộ 34
1.4 Cấu trúc dòng họ của người Việt miền Tây Nam Bộ 36
1.4.1 Cấu trúc làng của người Việt miền Tây Nam Bộ 36
1.4.2 Quan hệ dòng họ của người Việt Tây Nam Bộ 39
Tiểu kết chương 1 44
CHƯƠNG 2: LỄ GIỖ HỌ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 45
2.1 Thời gian giỗ họ 45
2.2 Tổ chức giỗ họ 49
2.2.1 Người chủ trì 49
2.2.2 Người tham gia 50
2.3 Các bước chuẩn bị 52
2.3.1 Về thức cúng 54
2.3.2 Về cách thức cúng 60
2.4 Các nghi thức (Nghi lễ) 61
2.4.1 Ngày cáo gia tiên 61
2.4.2 Ngày giỗ chính 62
2.4.3 Nghi lễ liên quan trong giỗ họ 68
Tiểu kết chương 2 76
CHƯƠNG 3: LỄ GIỖ HỌ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA HIỆN NAY CỦA NGƯỜI VIỆT MIỀN TÂY NAM BỘ 77
3.1 So sánh những biến đổi trong lễ giỗ họ truyền thống của người Việt Tây Nam Bộ với lễ giỗ họ người Việt miền Bắc và miền Trung 77
3.1.1 Những khác biệt về việc viết gia phả và từ đường 77
3.1.2 Quan niệm về người trưởng tộc 79
3.1.3 Quan niệm về vai trò của người con gái 83
3.2 Những biến đổi 85
3.2.1 Nguyên nhân biến đổi 85
Trang 63.3 Vai trò và chức năng của lễ giỗ họ của người Việt Tây Nam Bộ 91
3.3.1 Lễ giỗ họ nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Việt Tây Nam Bộ 91
3.3.2 Lễ giỗ họ thể hiện nét văn hóa của người Việt miền Tây Nam Bộ 96
3.3.3 Lễ giỗ họ giúp vào việc tạo sức mạnh cho dòng họ, cộng đồng 102
Tiểu kết chương 3 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
DANH MỤC ẢNH 122
PHỤ LỤC THU THẬP TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀN DÃ 126
PHỤ LỤC BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 128
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khác với một số dân tộc ở trên thế giới, người Việt Nam rất coi trọng ngày mất so với ngày sinh Nên việc thờ cúng tổ tiên là việc làm để bày tỏ lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với người đã khuất Chính vì vậy, người Việt coi trọng việc thờ cúng tổ tiên và họ coi việc cúng lễ là cần thiết và là công việc không thể thiếu Ngoài việc trong mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên thì người Việt còn có hình thức lễ giỗ họ Lễ giỗ họ là một hình thức tưởng nhớ đến công lao của các vị cao tổ sáng lập ra dòng họ, cũng là một dạng thờ cúng tổ tiên Lễ giỗ họ là một thiết chế xã hội hết sức đa dạng và phức tạp, phản ánh các mối quan hệ văn hoá vật chất
và tinh thần, tình cảm và tâm lý Dưới góc độ văn hoá, lễ giỗ họ là một hiện tượng văn hoá
Lễ giỗ họ phản ánh đặc trưng văn hoá tộc người và là một hiện tượng có liên quan chặt chẽ đến toàn bộ hệ thống xã hội như kinh tế, văn hoá, giáo dục, đạo đức… Nghiên cứu lễ giỗ họ của người Việt nhằm tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống mà những thế hệ người Việt Nam đã sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc mình
Các hình thức giỗ họ thay đổi theo lịch sử và khác nhau ở các xã hội khác nhau Sự chuyển biến của nó là kết quả của những mối tương tác không chỉ giữa các thành viên bên trong họ tộc mà quan trọng hơn nữa là sự tương tác giữa giỗ họ với các yếu tố xã hội bên ngoài Chúng vừa thể hiện tính đa dạng, phức tạp vừa có những nét đồng nhất trong quá trình phát triển Trong truyền thống văn hoá của người Việt Nam, đạo lý uống nước nhớ nguồn luôn luôn được đề cao Lễ giỗ họ là một hình thức tín ngưỡng thể hiện rõ nét truyền thống ấy
Quá trình nhập cư của người Việt vào vùng đất Tây Nam Bộ tính từ cuối thế
kỷ XVII Họ cùng với người Khmer, người Hoa và các dân tộc anh em khác trở thành chủ nhân của vùng đất này Dần dần, người Việt trở thành tộc người chiếm số lượng dân cư đông nhất tại Tây Nam Bộ Người Việt di cư vào Tây Nam Bộ là những nông dân, thợ thủ công nghèo khổ do cuộc sống bức bách, khổ cực phải rời
Trang 8bỏ quê hương bản quán Đến vùng đất mới, thiên nhiên phong phú và đa dạng, vừa
có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn đối với cuộc sống con người Tuy vậy, người Việt qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau, cùng với đồng bào một số dân tộc anh em, bằng mồ hôi và công sức, cùng với truyền thống cần cù, kiên nhẫn và sáng tạo vốn văn hoá phong phú và đặc sắc của mình, đã từng bước chinh phục và biến cải môi trường ấy thành một vùng đất trù phú và tươi đẹp
Nghiên cứu lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ là tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống mà những thế hệ người Việt đã mang theo khi di cư vào vùng đất mới, cũng như những biến đổi của các hình thức giỗ họ trong quá trình định cư tại vùng đất này
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ”
làm đề tài nghiên cứu của luận văn nhằm:
- Hệ thống hoá những quan niệm, qui tắc, qui trình và các lễ tục trong giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ
- Khảo sát những biến đổi trong giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ trong mối tương quan với những biến đổi về kinh tế - xã hội và quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá với các tộc người khác
- Làm rõ những nét độc đáo, những giá trị văn hoá truyền thống của phong tục giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ qua đó thấy rõ được nét văn hoá trong việc
tổ chức đời sống cá nhân, cộng đồng, vai trò của lễ giỗ họ trong đời sống của người Việt Tây Nam Bộ, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong phong tục giỗ họ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu khái quát:
Tìm hiểu về lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ để thấy được tính cố kết cộng đồng của người Việt, đặc biệt là tình thân huyết thống, tình cảm thiêng liêng của các thế hệ mai sau đối với tổ tiên - các bậc tiền nhân trong quá trình định
cư tại vùng đất mới Qua đó sẽ thấy được những đặc điểm văn hóa riêng của lễ giỗ
họ người Việt Tây Nam Bộ
Trang 92.2 Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam
Bộ với mục đích làm sáng tỏ những quan niệm, qui tắc, quy trình và các lễ tục trong giỗ họ; những biến đổi trong lễ giỗ họ cũng như những giá trị văn hoá trong phong tục giỗ họ
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về tộc người Việt ở địa bàn Tây Nam Bộ Tuy nhiên, vấn đề về lễ giỗ họ chỉ có một số công trình đề cập một cách khái quát, lẻ tẻ, thiếu hệ thống
Trong các tác phẩm viết về phong tục Việt Nam của Toan Ánh, Phạm Côn Sơn, Phan Kế Bính, Sơn Nam; các tác giả này cũng chỉ đề cập đến phong tục giỗ họ của người Việt nói chung mà chưa đi sâu vào tìm hiểu lễ giỗ họ của người Việt trên
địa bàn Tây Nam Bộ Trong tác phẩm “Văn hoá dân gian người Việt ở Nam Bộ”
của tập thể tác giả Thạch Phương - Hồ Lê - Huỳnh Lứa - Nguyễn Quang Vinh đã đề cập sơ lược đến phong tục giỗ của người Việt ở Nam Bộ nói chung mà chưa nhấn mạnh đến những nét riêng, độc đáo thể hiện qua phong tục giỗ họ của người Việt Nam Bộ, với những đặc điểm về địa lý - nhân văn - lịch sử của vùng đất Tây Nam
Bộ
Trong tác phẩm “Văn hóa cư dân đồng bằng sông Cửu Long” của các tác giả
Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường cũng đã đề cập đến việc cúng lễ tổ tiên ở nông thôn Nam Bộ có tục quy định vật cúng nhất định cho từng dòng họ Mục đích của việc quy định vật cúng này là làm cho dòng họ dễ nhận biết nhau Hễ gặp vào ngày, tháng, giờ cúng được truyền lại và với vật cúng nào đó thì không biết nhau cũng có thể nhận ra người cùng dòng họ tổ tiên với mình
Những tài liệu liên quan trực tiếp đến vấn đề lễ giỗ, nội dung chính của các bài viết của các tác giả: Sơn Nam, Bùi Ngọc Mai… đã miêu tả về các yếu tố văn hoá của lễ giỗ họ Trần Ngọc Thêm cũng đã đề cập khái quát đến tục cúng việc lề của
cư dân Việt Tây Nam Bộ về nội dung cúng, nghi thức cúng việc lề như sau:
Trang 10Điểm đặc biệt trong nghi thức cúng việc lề là người cúng cố tái hiện lại cuộc sống nhọc nhằn, cơ cực của ông bà, tổ tiên thời xưa đi khẩn hoang ở Nam Bộ, như thức cúng chỉ dọn trên đệm bàng hoặc chiếu trải dưới đất ngoài sân Dùng đũa thô, chén sành hoặc hái lá sen, lá môn làm dĩa, lấy gáo dừa, bẹ chuối làm chén, bẻ cộng tre làm đũa,… Thức cúng đều là những món ăn mộc mạc, đơn
sơ, phản ánh hoàn cảnh sống thiếu thốn, như cá lóc nướng trui, cháo ám (cá để nguyên vảy, không chặt bỏ kỳ, vi, đuôi); rau ráng luộc, mắm sống, cốm nổ rang,… Mỗi dòng họ có thức cúng và ngày cúng đặc trưng riêng là hai dấu hiệu riêng mà chỉ trong dòng họ mới biết để thuận tiện cho việc nhận diện dòng họ Hoạt cảnh thả bè chuối ở ngã ba sông, rạch để hạ thủy tiễn đưa tổ tiên về cố hương Nghi thức này có ý nghĩa “Nam tiến, Bắc hồi” gợi nhớ cảnh vượt biển vào Nam lập nghiệp và quay thuyền về quê hương bản quán ở miền ngoài [48, tr 747]
Cách thức cúng như thế nhằm để con cháu đời sau hình dung phần nào cuộc dấn thân phiêu bạt tìm đất sống gian nan của tiền thân, từ đó nhớ ơn tổ tiên và cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh ấy
Tác phẩm “Nhà ở, trang phục và ăn uống của các các dân tộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long” của Phan Thị Yến Tuyết cũng đã giới thiệu rằng: “Cúng việc lề là việc cúng theo thông lệ của lề thói xưa nay, là giỗ hội của con cháu cúng gom lại thành “Cửu huyền thất tổ” trong dòng họ, tức những bậc tiền bối nhiều đời trước
từ thời xa xưa đã quá vãng…” [57, tr.88]
Bài viết “Tục cúng việc lề và cúng việc lề ở Long An” của Nguyễn Tấn Quốc
in trong tạp chí văn Nghệ Long An cũng có giới thiệu sơ lược về nghi thức cúng, các thức cúng và cách thức cúng trong đám cúng việc lề ở tỉnh Long An
Bài viết “Cúng việc lề - Một tín ngưỡng mang dấu ấn thời khai hoang của lưu dân Nam Bộ” của Nguyễn Hữu Hiếu in trong “Nam Bộ đất và người” tập II, tác giả
cũng đã giới thiệu nhiều đến nghi thức cúng, các thức cúng đặc trưng riêng và cách thức cúng có liên quan trong đám cúng việc lề của các dòng họ ở tỉnh Đồng Tháp
Trang 11Tuy nhiên, dưới góc nhìn văn hoá học, chưa có nhiều luận văn đi vào tìm hiểu, nghiên cứu có hệ thống và phân tích toàn diện về giỗ họ, đánh giá các giá trị văn hoá, văn hoá tổ chức cộng đồng của người Việt thông qua việc tìm hiểu quan niệm, quy tắc, lễ tục trong giỗ họ Các đề tài luận văn thạc sĩ của Lương Văn Sáu, Trần Thị Thanh Đào, Trần Đăng Khoa… chủ yếu viết về phong tục thờ cúng tổ tiên có đề cập đến đám cúng việc lề, cúng tảo mộ, cúng tổ cô nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu lễ giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do bị giới hạn về thời gian nghiên cứu nên tác giả chưa có điều kiện khảo sát, điền dã và tham dự các lễ giỗ họ ở tất cả các tỉnh Tây Nam Bộ Vì vậy, tác giả chọn hai tỉnh Long An, Bến Tre là nơi có tục cúng giỗ họ phổ biến để làm nguồn tư liệu cho luận văn của mình
Đối tượng nghiên cứu: Lễ giỗ họ của người Việt hai tỉnh ở đồng bằng Sông Cửu Long như Bến Tre, Long An
Về chủ thể: Nghiên cứu giới hạn chủ yếu những gia đình chủ trì lễ giỗ họ và những người tham gia trong giỗ họ
Giới hạn không gian văn hóa của luận văn là nơi diễn ra lễ giỗ họ ở một số gia đình ở tỉnh Bến Tre, Long An
Giới hạn thời gian văn hóa là thời gian tiến hành nghi lễ giỗ họ Thông thường thời gian tiến hành gồm ba ngày: ngày tiên thường, chánh giỗ và hậu thường Vì giỗ
họ là dịp có nhiều con cháu từ xa về, vì vậy ngoài lý do có một ngày chuẩn bị trước
đó thì dịp về đám giỗ là dịp thăm bà con và bàn thảo công việc của họ hàng Ngày nay, việc này đã thay đổi, có họ cúng giỗ trong hai ngày: tiên thường và chánh giỗ,
có họ cúng trong ngày chánh giỗ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo, những giá trị văn hoá truyền thống trong phong tục giỗ họ của người Việt và những biến đổi nảy sinh trong quá trình giao lưu văn hoá với các tộc người khác Trên cơ sở đó, góp phần bảo lưu những giá trị văn hoá tộc người và làm cơ sở khoa học cho việc hoạch
Trang 12định các chính sách xã hội trong việc xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hoá
Về thực tiễn, luận văn này sẽ đóng góp một phần nhỏ giúp cho việc quản lý văn hóa (cấp cơ sở) có cách nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn trong quá trình sưu tầm, bảo tồn, phát triển di sản văn hóa và áp dụng vào việc giữ gìn di sản văn hóa của người Việt ở miền Tây Nam Bộ
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, điền dã, khảo sát Cụ thể các công việc làm của các phương pháp trên là: quan sát, ghi chép, phỏng vấn, thu âm, ghi hình… và hệ thống hóa tư liệu điền dã, miêu tả khách quan diễn trình của nghi lễ giỗ họ
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để xử lý tài liệu thu thập để viết luận văn nhằm làm nổi bật những nét đặc trưng trong phong tục giỗ họ của người Việt miền Tây Nam Bộ
- Vận dụng kết quả nghiên cứu của các chuyên ngành khác, chủ yếu là văn hóa học, dân tộc học, sử học để nhận diện, mô tả phong tục giỗ họ theo cách nhìn lịch đại, đồng đại, qua đó nhận diện những nét văn hóa ứng xử của người Việt qua phong tục giỗ họ
6.3 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tiến hành tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Trước hết và chủ yếu là nguồn tư liệu của tác giả luận văn thu thập được trên địa bàn điền dã tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Bến Tre, Long
An Các niên giám, số liệu thống kê và tài liệu liên quan đến đề tài
Trang 13Bên cạnh đó, tác giả đã tiến hành hai đợt khảo sát, điền dã trong năm 2014 và
2015 tại tỉnh Bến Tre, Long An để thu thập tư liệu và tham dự các lễ giỗ họ Tác giả
đã tiến hành phỏng vấn, ghi âm những người tham gia trong lễ giỗ họ: những người chủ trì và những người tham gia; ghi hình nghi thức cúng giỗ họ Theo thống kê chưa đầy đủ được thu thập từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh được khảo sát và điều tra điền dã thì tác giả thấy rằng tục cúng giỗ họ khá phổ biến, đặc biệt là
ở Long An hiện nay có hơn năm trăm gia đình còn giữ được tục cúng này
Các nguồn tài liệu của các học giả trong nước liên quan đến phong tục giỗ họ của người Việt đã công bố, có trích dẫn rõ ràng, các công trình nghiên cứu, biên khảo, bài viết đăng tải trên các tạp chí, hội thảo, hội nghị, các tài liệu, hình ảnh được tập hợp từ các thư viện, cá nhân, phương tiện truyền thông đại chúng, trên mạng Internet…
Hiện tại tác giả đang làm việc tại bảo tàng, có mối quan hệ công tác với các tỉnh miền Tây Nam Bộ và gia đình ba mẹ ruột đang sinh sống tại tỉnh Vĩnh Long,
do đó việc thu thập tư liệu thông qua công tác điền dã ở các tỉnh Tây Nam Bộ là điều có thể thực hiện được Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian hạn hẹp nên tác giả chỉ chọn khảo sát điền dã ở hai tỉnh Long An và Bến Tre
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mục lục, dẫn luận, kết luận, thư mục tài liệu và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: “Một số vấn đề về lý thuyết và thực tiễn liên quan”: giới thiệu
khái quát về người Việt ở miền Tây Nam Bộ - những vấn đề liên quan đến đề tài; các tư tưởng, quan điểm, học thuyết về giỗ họ để làm cơ sở lý luận chỉ dẫn cho đề tài của luận văn
- Chương 2: “Lễ giỗ họ truyền thống của người Việt miền Tây Nam Bộ” tìm
hiểu về quan niệm, qui tắc, quy trình và các lễ tục trong giỗ họ truyền thống của người Việt miền Tây Nam Bộ
Trang 14- Chương 3: “Lễ giỗ họ trong đời sống văn hóa hiện nay của người Việt miền
Tây Nam Bộ” nhằm tìm ra những biến đổi và rút ra những giá trị văn hoá của phong tục giỗ họ trong đời sống của cá nhân, cộng đồng và xã hội
Trang 15
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN
1.1 Một số khái niệm liên quan đến luận văn
1.1.1 Thờ cúng tổ tiên
Thờ cúng là hành vi tâm linh thể hiện lòng biết ơn, niềm tin, sự sợ hãi của con người về những thực thể siêu nhiên nhằm cầu mong những điều tốt đẹp cũng như để ngăn ngừa những điều bất hạnh, những tai họa của cá nhân hoặc cộng đồng
Tổ tiên là những người đã khuất có cùng huyết thống (ông bà, cha mẹ ) đã có công sinh thành dưỡng dục các con cháu trong một gia đình, dòng họ
Thờ cúng tổ tiên là hành vi tâm linh thể hiện niềm tin, lòng biết ơn của con cháu đối với những người đã khuất có cùng chung huyết thống nhằm cầu mong sự phù hộ, độ trì và chứng giám tấm lòng thành của thế hệ con cháu đối với các bậc tiền bối đã quá vãng
Nhà nghiên cứu Đặng Nguyên Vạn có nhận xét về tục thờ cúng tổ tiên, theo nghĩa rộng không chỉ thờ những người có công sinh thành đã mất, là những người
có cùng huyết thống, mà thờ cả những người có công với cộng đồng, làng xã, đất nước
Từ xưa người Việt Nam coi trọng nền luân lý dựa trên căn bản đạo đức là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Nhân dân ta đặc biệt coi trọng chữ đức Đức còn có đức nhân (tức giữ đạo làm người) đức nghĩa và đặc biệt là đức lễ [49, tr.13] Biết giữ lễ nghĩa là biết đối xử với người như đối xử với mình, chịu ơn người phải biết nhớ ơn, chịu người giúp đỡ phải biết báo đáp Đức nghĩa và lễ nghĩa ấy đã luôn nằm trong tâm thức của nhân dân ta Vì vậy, để giữ đạo làm người con cháu các thế hệ mai sau luôn đối xử có tình và có hiếu với ông bà cha mẹ Việc báo hiếu được thể hiện từ khi ông bà cha mẹ còn sống phải biết kính trọng, yêu thương Đến khi ông bà cha
mẹ mất, lòng hiếu thảo được thể hiện qua việc tổ chức thờ cúng, xây dựng mồ mả rất trang trọng và tôn nghiêm
“Thờ cúng tổ tiên của người Việt được cố định ở chiều sâu tiềm thức không phai nhạt Người ta khẳng định con người, cá nhân không hề đoạn tuyệt với dòng
Trang 16giống, dù là trên phạm vi cả dân tộc hay phạm vi từng gia đình” [25, tr 49] Trên
phạm vi cả dân tộc, người Việt Nam có ngày giỗ Quốc tổ Hùng Vương mùng Mười
tháng Ba với câu tục ngữ nhắn nhủ con cháu “Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ
Tổ mùng Mười tháng Ba” Đó là ngày toàn dân ta tưởng nhớ đến vị Quốc Tổ đã có
công khai sinh ra dân tộc Việt Nam Trên phạm vi dòng tộc, mỗi dòng họ điều có ngày giỗ tổ riêng của dòng họ mình để tưởng nhớ đến người đã có công trong việc khai sinh ra dòng họ và tạo dựng nên cơ nghiệp cho con cháu ngày nay Trong mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên của từng chi họ thờ tổ tiên từ năm đời trở xuống Trên phạm vi nghề nghiệp với nhau thì có giỗ tổ nghề Ở phạm vi làng có ngày giỗ
vị Thành hoàng của làng Như vậy, trong mọi hoạt động của cuộc sống, người Việt Nam đều có lễ giỗ để tưởng nhớ đến công ơn của người đã khai sinh ra dân tộc Việt Nam, sinh ra dòng họ, nghề nghiệp cũng như người che chở phù hộ cho hậu thế trong cuộc sống và công việc
“Những câu tục ngữ như “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ, người có tông” đã chứng tỏ rằng tiềm thức dân gian hết sức bền vững, để rồi trên cơ sở đó nâng thành những nghi thức, những tập tục, những khuôn mẫu truyền từ đời này sang đời khác thành nét văn hóa tinh thần không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt Nam” [25, tr.49] Trong gia đình người Việt nói chung và người Việt Tây Nam
Bộ nói riêng dù giàu hay nghèo đều có bàn thờ gia tiên và hằng ngày được con cháu trong gia đình thắp hương để tưởng nhớ, cầu xin sự che chở, phù hộ của tổ tiên để con cháu được bình yên và may mắn
Nhân dân ta quan niệm tổ tiên về cõi vô hình, nhưng linh hồn không thể mất,
mà vẫn xem xét hành vi của con cháu để giúp đỡ làm ăn phát đạt, hoặc uốn nắn những việc làm sai trái và chứng giám tấm lòng thành của thế hệ hiện tại trong các ngày kỵ nhật, lễ tiết hàng năm
“Thờ phụng tổ tiên của nhân dân ta là nét đẹp về đạo lý uống nước nhớ nguồn, nét đẹp trong tình cảm, tâm tư của người sống với người đã chết, họ mong muốn tổ tiên bất tử để dìu dắt, che chở cho con cháu, cho dòng họ nối tiếp phát triển” [25, tr.49] Chính vì vấn đề tâm linh này mà mỗi khi trong gia đình có bất cứ
Trang 17việc gì quan trọng hay khó khăn, con cháu đều thắp hương cầu xin ông bà, tổ tiên phù hộ cho mọi việc được tốt lành
1.1.2 Lễ
Theo từ điển của Hoàng Phê định nghĩa lễ như sau:[40, tr.557]
Về mặt từ nguyên lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Bất cứ một sự kiện hay sự việc quan trọng nào đó xảy ra trong đời người hay một quốc gia, một dân tộc nào đó người ta thường dùng từ lễ Lễ cũng là một nghi thức đánh dấu những nghi lễ vòng đời của một con người hay một quốc gia, một dân tộc chẳng hạn như ta thường gọi lễ cưới,
lễ hỏi, lễ Quốc Khánh, lễ giỗ Tổ, lễ giỗ họ… Đó là những nghi lễ quan trọng của một con người hay một quốc gia, một dân tộc
Ngoài ra lễ còn có nghĩa là những gì đem biếu tặng hay dùng cúng quỷ thần Với ý nghĩa này lễ hàm nghĩa là những vật phẩm dùng để cúng tế
Lễ cũng có nghĩa là những phép tắc phải theo khi tiếp xúc với người khác, thường là với người trên Nó mang ý nghĩa là những quy tắc đối nhân xử thế của con người đối với những bậc cha chú, ông bà, thầy cô, bạn bè…
Bên cạnh đó, lễ còn có nghĩa là vái lạy để tỏ lòng cung kính theo phong tục cũ Với nhiều ý nghĩa như vậy nên lễ rất quan trọng đối với con người Vì vậy nên khi nó được ghép với các từ khác thì lại cũng có nhiều ý nghĩa và quan trọng khác nhau, ví dụ như:
Lễ nghi là các nghi thức của một cuộc lễ và trật tự tiến hành
Lễ nghĩa là những phép tắc phải theo để cư xử trong gia đình xã hội, sao cho phải đạo người trên kẻ dưới theo tư tưởng nho giáo
Lễ vật là vật dùng để biếu tặng hay cúng tế
Trong luận văn này tác giả dùng khái niệm lễ với ý nghĩa là một nghi thức đánh dấu sự kiện quan trọng của dòng họ nhằm tưởng niệm ngày mất của một con người - vị thủy tổ của dòng họ
Trang 181.1.3 Giỗ
Giỗ: tưởng nhớ người đã chết (thường có cúng theo phong tục cổ truyền) vào dịp kỷ niệm ngày chết hằng năm [40, tr.404] Ngày giỗ theo chữ Hán có nghĩa là ngày húy kỵ, nhật kỵ của một người nào đó
Theo Phạm Côn Sơn: Theo cổ lễ, ngày giỗ là “chung thân chi tang” có nghĩa
là ngày tang trong suốt cả đời người Mỗi năm vào đúng ngày chết của một người sau khi đã qua mãn tang từ một đến ba năm (tùy theo quan niệm của mỗi gia đình) là một lần giỗ cho nên người xưa coi trọng ngày giỗ ông bà cha
mẹ Đây là ngày con cháu tưởng nhớ đến ngày người thân từ giã cõi trần để về với tổ tiên ông bà [42, tr.230]
Vậy ngày giỗ là ngày tưởng nhớ đến người đã thân đã mất, con cháu tổ chức cúng mâm cơm để tưởng nhớ Ngày giỗ còn gọi là ngày nhật kỵ hay ngày kỵ
họ Trong phạm vi cả nước có rất nhiều họ trùng nhau nhưng không phải cùng dòng
họ nếu không có cùng huyết thống với nhau Có những người có công được vua ban cho tên họ riêng cho dòng họ ấy Trong quá trình lịch sử của người Việt khi di cư từ miền Bắc vào miền Trung rồi đến miền Nam, có những dòng họ buộc phải thay đổi
họ cho nên có thể họ Nguyễn ở miền này lại có dòng họ với họ Trần của vùng khác Ngoài ra, có những người thoát ly theo Đảng để hoạt động cách mạng cũng thay đổi
họ để thuận tiện cho việc hoạt động bí mật và tránh ảnh hưởng đến gia đình Cũng
có những người vì lý do gia đình bên nội không nhìn nhận huyết thống nên không được lấy họ cha mà phải lấy họ mẹ
Trang 19Có những họ đông con cháu, phân chia thành nhiều chi nhánh di cư đi nhiều nơi, cách xa nhau không có liên lạc thường xuyên với nhau Nếu gia phả, tộc phả bị thất lạc do chiến tranh, loạn lạc hay nhiều nguyên nhân khác thì người nhỏ thường được nghe ông bà mình kể lại từ đời này sang đời khác để biết được bà con dòng họ của mình còn sinh sống ở tỉnh này, tỉnh khác Cho nên người Việt thường hay có thói quen là mỗi khi gặp khách lạ đều xin phép được hỏi tên họ, quê quán, tông chi
họ hàng, tuổi tác để dễ dàng xưng hô cho phải đạo và cũng để nhận biết ra bà con dòng họ nếu có Do đó mà có thể tránh được việc đáng tiếc xảy ra như hôn nhân, tranh chấp…
1.1.5 Lễ giỗ họ
Lễ giỗ họ là hình thức cúng để tưởng nhớ đến công ơn của các vị cao tổ đã sáng lập ra dòng họ
Có họ lấy ngày mất của vị cao tổ sáng lập ra dòng họ để cúng nhưng cũng có
họ không lấy ngày mất của cụ cao tổ do không còn nhớ được ngày mất của cụ nên
họ ấn định một ngày nào đó trong năm dễ nhớ hoặc lấy một ngày theo tích cũ của các cụ cao niên truyền lại mà cúng Đặc biệt, có những dòng họ trong quá trình Nam tiến, vì trốn tránh sự truy bắt của triều đình phải thay tên đổi họ hay vì cuộc sống cơ cực nơi vùng đất mới và chiến tranh loạn lạc nên đôi khi không tổ chức được giỗ họ một cách thường xuyên như ở miền Bắc và miền Trung, nhưng trong tâm thức họ vẫn luôn nhớ rằng họ có nguồn gốc sâu xa của ông bà tổ tiên ở miền Bắc, miền Trung Sau này, đất nước có nhiều thay đổi và cuộc mưu sinh đỡ vất vả hơn, họ bắt đầu nghĩ đến việc tổ chức một ngày giỗ họ để ghi nhớ công ơn của người đã khai sinh ra dòng họ và cũng là ngày con cháu của dòng họ tề tụ về đông
đủ để cùng nhau thắp nén hương tưởng nhớ đến những vị cao tổ đã có công trong việc tạo dựng nên sự nghiệp cho con cháu ngày nay Như họ Nguyễn ở ấp Hậu Hòa,
xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa tỉnh Long An lấy ngày 16 tháng 2 Âm lịch hằng năm là ngày cúng bà Chúa Xứ của các vị cao tổ làm ngày giỗ họ của dòng họ mình Họ Ngô ở xã Hưng Trung B, huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre lấy ngày kiếu ông
bà mùng 3 tháng Giêng Âm lịch làm ngày giỗ họ
Trang 201.1.6 Các tên gọi của lễ giỗ họ ở Tây Nam Bộ
Cách gọi tên của lễ giỗ họ mỗi miền ở nước ta có sự khác nhau nhưng nhìn chung đều là hình thức giỗ họ Chẳng hạn như ở miền Bắc gọi tên là giỗ họ, trong khi đó miền Trung gọi là giỗ chạp còn miền Nam thì có nhiều tên gọi khác nhau, có nơi gọi là giỗ họ, giỗ tổ họ, cúng việc lề, vật lề hay cúng lề Có nơi gọi là giỗ hiệp, giỗ hội, giỗ gộp
Đối với người Việt miền Bắc do cấu trúc dòng họ có từ lâu đời và có nhà từ đường của mỗi dòng họ, nên lễ giỗ họ được tổ chức tại từ đường Có những họ cư ngụ lâu đời nên con cháu trong họ tộc rất đông đúc, ngày giỗ họ không cần phải mời khách, chỉ có con cháu trong họ mà thôi Có những họ lớn, có điều kiện kinh tế nên ngày giỗ họ được cúng rất linh đình, có mời phường bát âm đến tế lễ Qua nghi thức cúng giỗ của các dòng họ này có thể biết được địa vị xã hội của các vị tiền hiền khi còn sinh tiền Ví dụ lễ cúng giỗ của tổ tiên dòng họ Trần Công là Trần Công Xích được tổ chức với các nghi thức rất long trọng, vì ông này nguyên là một võ tướng biên trấn từ thời Nguyễn Hoàng Sau những cuộc chinh phạt chiến thắng ông đều được lệnh triều đình Đàng Trong đưa quân, mộ dân, lập làng tại Quảng Nam, được phong chức Tổng Quản (quan võ kiêm quan văn) Do đó, khi cúng tế vị tiền hiền này, ngoài các nghi thức như cờ xí rợp trời, tế heo sống, trống chiêng cùng ban nhạc lễ, đội lễ sanh còn có cả tế văn tế võ Nghi thức tế võ Việt Nam cổ truyền vốn
là nghi thức dành để cúng tế các vị quan Võ [Nam/Phong-tuc-tap-quan-cua-cu-dan-xua-o-TP-Ho-Chi-Minh/80104024/148]
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Ở miền Trung, có hình thức giỗ chạp vì được tổ chức cúng vào tháng chạp nên được gọi là giỗ chạp Hằng năm, cứ vào dịp trước Tết Nguyên Đán, con cháu trong dòng họ ở tại quê nhà và đi làm ăn xa cũng nhớ về quê để quét dọn, giẫy cỏ, sơn phết mồ mả ông bà Người Việt miền Trung gọi ngày này là ngày chạp họ Ngày chạp họ còn được gọi là ngày giỗ họ để bà con trong dòng họ có dịp gặp gỡ nhau, thắt chặt thêm tình đoàn kết, gắn bó trong gia tộc cũng như nhắc nhở con cháu thế
hệ nối tiếp nhau gìn giữ gia phong Sau khi đã thăm viếng, sửa sang lại mồ mả ông
bà tổ tiên, người trưởng tộc của dòng họ làm một mâm cơm cúng ông bà tại nhà từ
Trang 21đường của dòng họ Sau nghi thức cúng, con cháu trong dòng họ theo vai vế cùng ngồi lại với nhau dùng cơm thân mật
Cũng có dòng họ, chi trưởng chủ trì việc cúng giỗ họ hằng năm, to hay nhỏ tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình Có thể tổ chức cúng lớn ba năm hoặc năm năm một lần là tùy từng dòng họ Riêng từng chi nhánh cũng có thờ tổ tiên của chi nhánh mình
Hiện nay ở miền Trung, gia đình nào có điều kiện thì cúng giỗ tổ tiên từ đời thứ năm trở xuống, còn nếu không có điều kiện thì chỉ cúng ông nội, bà nội hoặc cha mẹ của mình thôi Các đời trên nữa thì cúng chung một ngày cùng với giỗ chạp hay chọn một ngày nào đó trong năm để hiệp tế tổ tiên Ngày giỗ chạp được nhiều dòng họ tổ chức sau khi đã chạp mộ ông bà tổ tiên xong, con cháu chuẩn bị một mâm cơm cúng giỗ ông bà tổ tiên để tưởng nhớ công ơn của bậc tiền nhân
Khi nói về những ngày giỗ ở miền Trung, Lê Nguyễn Lưu có viết: Vào những ngày kỵ giỗ (húy nhật) nếu là các đời gần gồm ông bà, cha mẹ, con cái, gia đình làm lễ tại bàn thờ gia tiên; nếu là các đời xa hơn thì làm lễ tại nhà thờ chi phái, đương nhiên cũng có cỗ bàn, nhưng không nhiều lắm Tại nhà thờ họ, người ta chỉ tổ chức húy kỵ ngài thủy tổ, nhưng thường vì phả không để lại ngày mất cụ thể, nên chọn một ngày cố định hằng năm làm kỷ niệm Ngoài ra, người ta còn chọn một ngày cố định khác để tiến hành lễ tế chung tổ tiên và các đời trên gọi là hiệp tế hay hiệp kỵ Chẳng hạn, họ Lương làng Mỹ Lợi lấy ngày Đông chí tế thủy tổ, một ngày trong tháng trọng xuân hiệp tế tổ tiên [28, tr.322]
Ở miền Nam, giỗ họ có nhiều tên gọi khác nhau, theo tìm hiểu của chúng tôi thì được giải thích như sau:
1.1.6.1 Cúng việc lề
Lề: thói quen đã thành nếp, thành lệ [ 40, tr.557]
Qua khảo sát các lễ giỗ họ của người Việt Tây Nam Bộ thường được gọi là cúng việc lề, cúng vật lề hay cúng lề, giỗ hiệp, giỗ gộp Trong bài nghiên cứu này
Trang 22có đôi lúc tác giả xin được phép gọi theo cách của người Việt Tây Nam Bộ là cúng việc lề hay cúng vật lề là một dạng của giỗ họ
Theo Phan Thị Yến Tuyết thì cho rằng cúng việc lề là nghi thức cúng truyền thống theo việc đã thành lề thói, thành lệ, được hình thành trong quá trình khai phá,
khẩn hoang vùng đất Nam Bộ của người Việt Trong tâm thức của những cư dân
Nam Bộ, dù họ có bị lưu lạc vào Nam nhưng họ vẫn còn gốc gác của dòng họ mình
ở miền Bắc, miền Trung, nên việc tổ chức cúng việc lề trước là để tưởng nhớ đến tổ tiên dòng họ ở miền Bắc, miền Trung, sau là tưởng nhớ đến công ơn của những tiền nhân của dòng họ đã có công trong việc khai hoang vùng đất mới và tạo dựng nên
sự nghiệp của dòng họ trên vùng đất này
Cúng việc lề, cúng vật lề hay cúng lề là tên gọi chung để chỉ cúng giỗ họ của các lưu dân từ miền Trung vào Nam từ nhiều thế kỷ trước để khẩn hoang, lập làng, khai phá vùng đất mới Các tên gọi này chưa thấy xuất hiện trong từ điển, riêng chữ
“lề” trong Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích là “thói đã quen,
lệ cũ, thói riêng” Cúng việc lề là một dạng giỗ họ của cư dân người Việt Tuy nhiên, hình thức cúng này không có ở miền Bắc và không rõ ràng ở miền Trung do
sự khác biệt về vật cúng quy định của mỗi dòng họ Cúng việc lề khá phức tạp, đa dạng vì ở Nam Bộ, tín ngưỡng này bao hàm nhiều nội dung được đan xen và lồng ghép vào nhau Người dân Nam Bộ quan niệm về tín ngưỡng này khá rõ ràng, minh
bạch như một công thức: “Trước là cúng việc lề, sau là cúng đất, cúng cô hồn”[64,
tr.303]
Cúng việc lề còn là dạng “giỗ hội” là ngày “hiệp kỵ” tổ tiên của dòng họ, những bậc tiền bối quá vãng từ bốn đời trở về trước được tổ chức cúng gom chung lại thành giỗ “Cửu huyền thất tổ” Các bài vị thờ quá bốn đời trong nhà sẽ được con cháu chuyển về thờ chung trong nơi miếu họ, từ đường… để rồi đến ngày giỗ của dòng họ sẽ tổ chức “giỗ hội” chung một lần Ngày giỗ hội có thể chính là ngày cúng việc lề, hoặc là ngày mất của vị thủy tổ, hay chọn một ngày trong tháng tảo mộ, thường vào tháng chạp Âm lịch (gọi là “lễ chạp”) Nó còn là dạng giỗ hiệp tức là nhiều người trong dòng họ cùng hiệp lại với nhau để làm giỗ Trái lại, ở miền Bắc
Trang 23giỗ họ chỉ cúng giỗ vị thủy tổ của dòng họ chứ không cúng gộp những vị quá vãng
từ đời thứ tư trở về trước [ cua-cu-dan-xua-o-TP-Ho-Chi-Minh/80104024/148]
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Phong-tuc-tap-quan-Giỗ hiệp, giỗ gộp là nghi thức cúng giỗ những người trong dòng họ từ đời trước của đời thứ năm thì gom lại cúng cùng ngày với ngày giỗ của dòng họ Điều này có nghĩa rằng con cháu chỉ cúng tại nhà mình cao nhất là từ đời ông sơ bà sơ hoặc đời ông cụ bà cụ, còn các đời trên nữa thì gom về thờ chung với nhà thờ của dòng họ và được cúng gộp chung với ngày giỗ của dòng họ để con cháu các chi
trong dòng họ cùng tụ hợp về dự lễ Nhà văn Sơn Nam có viết: “Nhà thờ tổ thờ thần chủ, kiểu bài vị thờ bốn đời trước gọi Cao, Tằng, Tổ, Khảo… Hễ đến đời thứ năm thì đem ông Cao( cũ) mà chôn (chôn cái thần chủ), rồi đôn lên, đại khái ông Tằng trở thành ông Cao Không thờ quá bốn đời, đời thứ năm xưa hơn, xem như chẳng còn dấu ấn” [38, tr.95 ] Bên cạnh đó, người Việt còn quan niệm rằng, ông
bà từ đời thứ tư trở lên mất đã lâu và đã đầu thai rồi nên không cúng giỗ hằng năm vào ngày mất nữa và được gom lại cúng chung một ngày với vị thủy tổ của dòng họ
Ở Nam Bộ, cũng có một loại giỗ gọi là giỗ hội nhưng không liên quan đến khái niệm giỗ hội trong luận văn này Vì ở một số địa phương có trường hợp nhiều người trong làng cùng chết trong một ngày do bom đạn hay nạn tàn sát của giặc Để tưởng nhớ những người đã mất này cả làng tổ chức ngày giỗ hội cho họ
Cúng việc lề còn nhằm cầu an cho dòng họ, khấn bái ông bà, tổ tiên quá vãng phù hộ con cháu tránh được mọi điều rủi ro, dịch bệnh, tai ương
Cúng việc lề cũng bao hàm cả nghi thức cúng thí thực Người ta cúng một mâm cơm để ngoài sân dành cho cô hồn, cho những vong linh xấu số "xiêu mồ lạc mả", chết khi phiêu bạt, tha phương trên bước đường khẩn hoang, kiếm sống, không
có con cháu cúng kiếng, thờ tự
Cúng việc lề hầu như luôn kèm theo cúng đất (tức cúng tạ thổ, cúng chủ thổ),
là một dạng tín ngưỡng xuất xứ từ tục cúng "tạ thổ kỳ yên" của cư dân vùng Ngũ Quảng trong quá trình khẩn hoang ở Nam Bộ Tín ngưỡng "tạ thổ" rất được xem trọng và đã được địa phương hoá Do thiên nhiên Nam Bộ khi mới khai phá còn quá
Trang 24khắc nghiệt (thú dữ, rừng thiêng, nước độc, dịch bệnh…), nên người ta cúng đất nhằm ngụ ý mua hay thuê, hoặc mượn tạm đất của thần linh hay của người chủ trước để gia đình dòng họ được yên ổn làm ăn sinh sống Trong tâm thức của người Việt Tây Nam Bộ, mảnh đất mà họ đang sống trước đây thuộc quyền sở hữu của một người chủ cũ nào đó, nên họ phải cúng tạ lễ người chủ cũ để họ được sinh sống
và canh tác bình yên trên mảnh đất này Vì vậy, việc cúng thổ chủ là một việc làm hết sức cần thiết, trước là để tạ lễ, ghi nhớ công ơn của những người chủ cũ, sau là
để cầu mong sự an lành cho gia đạo trong cuộc sống
Trong trường hợp tổ tiên dòng họ đi từ Trung vào Nam bằng tàu ghe thì trong
lễ cúng việc lề người ta lấy thân chuối làm thành chiếc tàu nhỏ, hoặc mô hình một chiếc ghe bầu bằng giấy trên đó đặt thức ăn, được xem như lương thực đi đường -
để đưa tiễn tổ tiên quay về với cội nguồn xưa ở miền Bắc hay miền Trung - sau đó chiếc tàu này được thả trôi nơi ngã ba sông, rạch
1.1.6.2 Một số dạng cúng liên quan đến lễ giỗ họ
a Cúng tảo mộ
Tảo mộ theo nghĩa đen có nghĩa là quét mộ Tảo mộ của người Việt có khác với tảo mộ của người Hoa Người Việt thường quét mộ ông bà từ 23 tháng 12 Âm lịch đến trước Tết còn người Hoa thường tảo mộ vào tiết thanh minh trong khoảng tháng 3 Âm lịch Khi đã quét dọn, sơn phết mồ mả ông bà xong, người Việt cúng một mâm cơm trước mộ, sau đó mang thức ăn vào nhà để cả họ cùng ăn Người Hoa thì tập hợp ăn tại mộ ông bà sau khi đã cúng xong
Vào dịp thanh minh, nếu có điều kiện nhiều dòng họ người Việt cũng tổ chức cải táng, sửa sang, xây dựng lại mồ mả ông bà mình cho khang trang Trong dịp này, người ta thăm viếng, cải táng hoặc sửa sang phần mộ tổ tiên, thân nhân Người
Việt quan niệm “Sống có cái nhà, thác có cái mồ” nên mộ của người quá cố thường
được xây dựng rất khang trang, tôn nghiêm để ông bà tổ tiên được nở mặt nở mày nơi chín suối Vì vậy, đối với các gia đình khá giả, con cháu thường tổ chức xây dựng lại mồ mả của ông bà tổ tiên để tỏ lòng hiếu kính đối với tổ tiên Họ quan niệm rằng xây dựng mồ mả ông bà cho đẹp để ông bà phù hộ, độ trì cho con cháu
Trang 25làm ăn khấm khá Và cũng theo quan niệm rằng ông bà tổ tiên đã có công tạo dựng nên sự nghiệp cho con cháu hôm nay, nên việc chăm sóc, xây dựng mồ mả ông bà
là một việc làm thể hiện lòng tri ân, sự kính trọng và biết ơn của con cháu đối với ông bà
Ngoài ra, khá đông người Việt tại Nam Bộ chủ yếu đi tảo mộ vào một số ngày khoảng rằm tháng chạp, là thời điểm mà việc đồng áng đã xong, người nông dân chỉ
chờ đón Tết Lúc đó, người ta mới có điều kiện để “chuẩn bị” cho tổ tiên, thân nhân quá vãng "ăn Tết” Họ giẫy cỏ, cọ rửa, sơn phết lại bia mộ, đắp thêm đất,
trồng thêm hoa, thêm cây xanh quanh mộ Hành động này xuất phát từ quan niệm cho rằng mộ của người chết cũng quan trọng như cái nhà của người sống, nó phải được chăm sóc, chuẩn bị để đón Tết Một người có hiếu không khi nào để cho phần
mộ của tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình hoang tàn, lạnh lẽo Trong dịp tảo mộ, trẻ con cũng được người lớn dẫn theo để nhận biết phần mộ của tổ tiên, ông bà Đây cũng
là một hình thức giúp cho trẻ con biết được mình thuộc dòng họ nào, mộ phần ông
bà, tổ tiên nằm ở đâu để dần hình thành trong tâm thức trẻ về sự hàm ơn của con cháu đối với tổ tiên [http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Phong-tuc-tap-quan-cua-cu-dan-xua-o-TP-Ho-Chi-Minh/80104024/148]
Sửa sang mộ xong, người ta bày thức ăn cúng ngay tại mộ để dâng cúng tổ tiên, là những món ăn truyền thống của miền Trung như cá lóc nướng trui, bánh tráng nướng, cháo gà, gà xé phay… Thức cúng chủ yếu trong ngày quét mộ của nhiều dòng họ ở Tây Nam Bộ là cháo và gỏi gà xé phay Trước đây, việc tảo mộ chỉ
do những người con trai trong dòng họ đảm nhiệm, những người phụ nữ trong dòng
họ thì lo việc nấu các thức cúng Ngày nay, không phân biệt nam nữ, con cháu có lòng nhớ đến tổ tiên thì cùng nhau về tham dự Mỗi dòng họ tự quy định ngày quét
mộ chung của dòng họ mình Có những họ có nhiều chi nhánh thì trong họ cùng bàn với nhau chọn một ngày nào đó trong tháng không trùng nhau để con cháu trong dòng họ đều có thể tham dự được các ngày tảo mộ của dòng họ Chẳng hạn như, ngày quét mộ của vị tổ của dòng họ vào ngày 25 tháng chạp Âm lịch thì các chi
Trang 26nhánh trong dòng họ có muốn quét mộ ông bà tổ tiên trong chi nhánh mình thì phải chọn một ngày khác không trùng với ngày này để con cháu có thể tham dự được Không chỉ dừng lại đó, nhiều dòng họ còn tiếp tục tiến hành nghi thức cúng miếu, chủ yếu là miếu Ngũ hành, miếu Bà Chúa Xứ Trước đây, nơi khu mộ của những dòng họ cư trú lâu đời đều có lập miếu Ngũ hành, miếu Bà Chúa Xứ Vào dịp tảo mộ, mọi người trong dòng họ đều tề tựu đến miếu Ngũ hành, miếu Bà Chúa
Xứ của gia tộc để cúng Tùy theo tính chất của khu vực cư trú và nghề nghiệp mà
cư dân có thể lựa chọn một trong năm yếu tố của ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ
để đồng hóa thành một vị thần Ví dụ, những người làm nghề gốm, do sản phẩm của
họ phải được nung trong lửa nên yếu tố "hoả" trong ngũ hành được đề cao nhất, còn
với cư dân nông nghiệp do chủ yếu chỉ làm ruộng, cuộc sống gắn liền với đất đai
nên yếu tố "thổ" trong ngũ hành được đề cao nhất và được đồng hoá thành Thổ
thần Họ tin rằng Thổ thần là vị thần cai quản khu vực đất đai - nơi có các ngôi mộ - nên các ngôi mộ của tổ tiên sẽ được đặt dưới sự che chở, bảo hộ của Thổ thần Do quan niệm Thổ thần là vị thần hoang dã nên thức cúng chủ yếu là thịt heo, gà vịt, mắm sống[http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Phong-tuc-tap-quan-cua-cu-dan-xua-o-TP-Ho-Chi-Minh/80104024/14] Bà Chúa Xứ cũng được cư dân Nam Bộ xem là một vị phúc thần bảo hộ cho họ cũng như tổ tiên dòng họ vì Bà là người cai quản đất đai toàn cõi Khi cúng miếu Bà người ta chỉ cúng những thức cúng chay như bánh ngọt, chè xôi, trầu cau… Cúng miếu xong, mọi người tập trung vào nhà cùng
dự chung bữa cơm trong thân tộc
Ở Tây Nam Bộ cũng có một số dòng họ vì chiến tranh loạn lạc, vì con cháu không còn nhớ chính xác ngày giỗ họ của dòng mình nên họ lấy ngày xây dựng xong mộ của các vị tiền nhân của dòng họ làm ngày giỗ họ hằng năm Khi tác giả khảo sát ở Long An thì có họ Trần (Ông Trần Văn Sược ở ấp Hậu Hòa, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) do không còn nhớ chính xác ngày giỗ họ của dòng họ nên đã lấy ngày làm xong mộ của vị thủy tổ làm ngày cúng giỗ họ hằng năm của dòng họ này
b.Cúng tổ cô
Trang 27Tín ngưỡng thờ cúng tổ cô ở miền Nam nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng cũng là một dạng của thờ cúng tổ tiên và nó có liên quan đến lễ giỗ họ Trước đây, thờ cúng tổ cô là một dạng thờ cúng cô hồn - thờ những người nữ đồng trinh, chết oan, chết trẻ và linh thiêng như thần thánh, có nhiều câu chuyện huyền thoại xung quanh những cô hồn này Các hồn này thường biểu hiện hai "thái độ": thứ nhất là trừng phạt sự lơ là cúng lễ của con cháu bằng cách "bắt" trẻ con theo về thế giới bên kia hoặc quở phạt trẻ con làm cho chúng bị bệnh, khóc vô cớ về đêm; thứ hai là
“cứu nạn, độ trì” cho trẻ em nếu người lớn trong dòng họ biết giữ lễ thờ cúng Dạng thờ này vừa mang ý nghĩa lo sợ, vừa mang ý nghĩa hàm ơn Lâu dần, ngày cúng tổ
cô trở thành ngày giỗ họ của một số dòng họ ở Nam Bộ Vì vậy, nghi thức thờ cúng
tổ cô được nâng lên thành dạng của thờ cúng tổ tiên, có nhà thờ riêng và có nơi đã trở thành tộc miếu của một dòng họ Các tộc miếu này đủ chỗ cho tất cả các thành viên trong gia tộc hàng năm về dự giỗ họ Ví dụ, tại huyện Bình Chánh ở thành phố
Hồ Chí Minh có các tộc miếu thờ tổ cô của dòng họ Lại (thờ cô Lại Thị Diệu) ở các
xã Vinh Lộc B, Tân Tạo, Phong Phú…; Tộc miếu thờ tổ cô của dòng họ Hồ (thờ cô
Hồ Thị Hiên, hoặc Hồ Thị Bông) tại các xã Bình Chánh, Hưng Long, Tân Phú… Tại quận Tân Bình, tín ngưỡng tổ cô cũng được thờ chung với các vị tiền hiền nam trong những ngôi từ đường, miếu họ lớn như tộc miếu của dòng họ Trương Phú; tộc miếu của dòng họ Trần Công…[70, tr 454-460]
1.2 Quan niệm về tổ tiên
1.2.1 Quan niệm về linh hồn tổ tiên
Đối với người Việt Nam, tổ tiên luôn luôn thiêng liêng vì nếu không có tổ tiên thì không có chúng ta Họ quan niệm rằng tổ tiên dù đã quá vãng nhưng vẫn còn hiện hữu trên bàn thờ để phù hộ độ trì cho con cháu Vì thế, việc thờ cúng tổ tiên là một việc làm thể hiện chữ hiếu của người Việt
Thờ cúng tổ tiên là trách nhiệm có tính luân lý, sự phát lộ tình cảm và niềm tin huyết thống được thể hiện trong mỗi gia tộc, không có tính cách thần thánh hóa mà
nó đã ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người Việt Nam Bất cứ gia đình nào của người Việt đều có bàn thờ tổ tiên Thờ tổ tiên xuất phát từ tâm thành của người
Trang 28sống, thế hệ sau đối với người đã khuất, các thế hệ đi trước Thờ phải có lễ và cúng bái, hành động biểu lộ lòng thành kính và nhớ thương của con cháu đối với tổ tiên [42, tr.215]
Thờ cúng tổ tiên là một việc làm để bày tỏ lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, cụ kỵ đã khuất Trong mỗi gia đình người Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, họ tin rằng linh hồn người đã khuất luôn ngự trên bàn thờ Qua việc thờ cúng tổ tiên, sự liên lạc giữa người sống và người đã mất được thể hiện qua lời khấn vái hằng ngày của con cháu Người Việt quan niệm con người có hai phần: phần xác và phần hồn Nên khi con người mất đi là mất phần xác, còn phần hồn tinh anh hơn vẫn tồn tại Do đó, người Việt tin rằng linh hồn bất diệt, thể xác tiêu tan Linh hồn vẫn tồn tại và thường xuyên lui tới gia đình Chết chưa phải
là hết, sau khi chết linh hồn tiếp tục một cuộc sống ở cõi âm như cuộc sống của
người trên dương thế “dương sao âm vậy”, tức là họ cũng có nhu cầu ăn, ở, tiêu
dùng như người sống Sự thờ cúng chính là môi trường giao tiếp giữa thế giới hữu hình với vũ trụ thần linh, giữa con cháu và tổ tiên
Là người con hiếu thảo phải nhớ ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, và đã hiếu với cha mẹ thì cũng phải nhớ đến nguồn gốc của mình là ông bà, tổ tiên Sự tin tưởng ông bà, cha mẹ ngự trên bàn thờ có ảnh hưởng nhiều đến hành động của người sống Trước khi làm công việc đó họ thường suy nghĩ rằng mình làm như vậy
tổ tiên có chấp nhận không Họ sợ cho linh hồn tổ tiên buồn, như thế là mang tội bất hiếu Họ thắp hương tưởng nhớ tổ tiên và cũng cầu xin tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu Linh hồn tổ tiên đã khuất thường ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi con cháu trong việc hằng ngày và giúp đỡ con cháu khi cần Vì vậy, mỗi biến cố
dù lớn hay nhỏ xảy ra trong gia đình, gia chủ đều thắp hương khấn gia tiên, trước là
để trình bày mọi việc, sau là báo cáo với gia tiên để mong được sự an ủi, chia sẻ, phù hộ, độ trì cho con cháu Không phải ngẫu nhiên tổ tiên lại ngày càng trở nên linh thiêng đối với con cháu mà đây là một dạng tâm thức đã in sâu trong mỗi con người Việt Nam Ông bà cha mẹ dù có thác đi nhưng theo suy nghĩ của các con cháu, linh hồn của tổ tiên vẫn mãi còn tồn tại trên thế gian nên việc thờ cúng tổ tiên
Trang 29là một mối dây liên kết, kết nối giữa người chết và người sống Vì theo quan niệm
của người Việt Nam “Sống gởi, thác về” Việc sống trên trần gian chỉ là việc ở tạm,
còn chết mới là về với ông bà tổ tiên nên tổ tiên luôn được tưởng nhớ và kính trọng
1.2.2 Quan niệm về chữ hiếu đối với ông bà tổ tiên
Hiếu thảo là đặc tính luân lý và là đạo lý hàng đầu của người Việt Nam Được thụ hưởng cuộc sống bình yên và sung túc như ngày nay, người dân Tây Nam Bộ không bao giờ quên công lao của tổ tiên ông bà đã dày công khai phá Tổ tiên, cha
mẹ đã hi sinh cả cuộc đời mình để tạo ra những ruộng lúa phì nhiêu, những vườn cây ăn trái trĩu cành, những làng mạc, thôn xóm thanh bình… để con cháu có được hạnh phúc, ấm no ngày hôm nay Cha mẹ, ông bà tổ tiên được xem như vị thánh hiền luôn ở bên cạnh con cháu để giúp đỡ lúc khó khăn hoạn nạn, chỉ bảo công việc làm ăn, phù hộ cho những điều cầu nguyện và mong ước Vì vậy, hiếu thảo với cha
mẹ và lòng thành kính với tổ tiên là điều mà mỗi con người phải có trong việc giữ đạo làm người, là một nguyên tắc đạo đức cần phải có trước tiên đối với con người trong đời sống tinh thần Ngay từ nhỏ, cha mẹ đã dạy con cách đối xử có hiếu với ông bà, cha mẹ mình qua các lời hát ru nói về công ơn sinh thành đối với cha mẹ và
sự thành kính đối với tổ tiên [12, tr.372]
Người Việt Nam thể hiện lòng hiếu thảo của mình hằng ngày qua hành vi và tưởng nghĩ Tấm lòng đó không căn cứ vào giá trị vật chất hay số lượng các miếng
ăn, thức uống mà đặt trên nền tảng của lòng tưởng nhớ hằng ngày, sự chăm lo, chăm sóc, phụng dưỡng từng bữa ăn nơi con cháu Con có của thì sơn hào hải vị, của ngon vật lạ còn nhà nghèo khó thì cũng biết dâng cơm lành canh ngọt cho ông
bà, cha mẹ mình
“ Tổ tiên con ráng phụng thờ Mấy lời mẹ bảo ngày giờ chớ quên
Mẹ cha còn sống thì hơn, Không cha không mẹ như đờn đứt dây
Có cha như bát nước đầy, Côi mẹ như chích lạc bầy kêu sương”
Trang 30( Vè dạy con, dân ca Tiền Giang)
Hoặc là
“ Ở cho cha mẹ vừa lòng, Mai sau già yếu để phòng cậy nương
Ở sao biết kính, biết nhường,
Cố sao cho được dịu dàng nết na
(Vè dạy con, dân ca Bến Tre)
Lớn lên đứa trẻ luôn luôn được cha mẹ và xã hội dạy bảo và nhắc nhở về lòng thành kính ấy Cứ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia truyền đạt cho nhau tư tưởng về sự hiếu kính đối với ông bà cha mẹ Bằng những hành động hết sức cụ thể của mình, cha mẹ giáo dục con cháu sự yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ như đi thưa về trình, có thức ăn ngon, mới lạ, trái cây đầu mùa… điều đầu tiên là bảo con cháu mời ông bà ăn, hay dâng cúng ông bà tổ tiên trước, sau đó con cháu mới được dùng Khi thực hiện việc dâng cúng ông bà tổ tiên, ngoài ý nghĩa mời ông bà thưởng thức trước mà còn hàm ý đó là lộc của ông bà, cho nên con cháu nào được ăn lộc này sẽ được ông bà chứng giám và gia hộ được gặp nhiều may mắn Chính những hành động này đã dần dần hình thành trong tâm trí con cháu về đạo hiếu đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên Khi cha mẹ còn sống phải biết hiếu thảo với cha mẹ, không nên làm những điều gây buồn phiền cho cha mẹ Khi cha mẹ đã quá vãng, phải thờ cúng trang trọng và tránh làm những việc không hay làm cho vong hồn cha mẹ phải buồn tủi
Việc thờ cúng tổ tiên là tục lệ chung của người Việt trong cả nước Cho nên, trong mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên được đặt nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà Nơi thờ tự ấy là nơi linh thiêng nhất, nơi con cháu có thể gởi gấm tâm tư nguyện vọng và cả những nỗi lo toan, rủi ro của mình để cầu mong được sự an ủi chia sẻ và phù hộ, độ trì từ ông bà tổ tiên Ở Tây Nam Bộ, hành vi hiếu thảo với cha
mẹ và tôn trọng tổ tiên ngày càng gắn bó và sâu đậm hơn vì đó là tinh thần duy nhất của những người lưu dân xa quê hương
1.3 Người Việt miền Tây Nam Bộ
Trang 311.3.1 Lƣợc sử hình thành vùng đất Tây Nam Bộ
Khoảng cuối thế kỷ XVII, ở Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng đã bắt đầu xuất hiện một lớp cư dân mới, phần lớn là những nông dân, thợ thủ công ở các tỉnh phía Bắc vì cuộc sống khó khăn, bức bách phải rời bỏ quê hương, bản quán đến vùng đất mới Quá trình này diễn ra liên tục cùng với chủ trương chiêu mộ lưu dân vào khai hoang vùng đất mới của triều Nguyễn đã làm cho tiến trình nhập cư của người Việt ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn Do điều kiện tự nhiên hiểm trở và điều kiện kinh tế - kỹ thuật còn nhiều hạn chế, quá trình chinh phục vùng đất Tây Nam Bộ của những lớp lưu dân đầu tiên đã diễn ra khá chậm Cho đến khi đông đảo người Việt từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung di cư đến thì việc khai phá mới được triển khai mạnh
Khoảng cuối thế kỷ XVIII, người Việt đã định cư tại Mỹ Tho, Bến Tre, nhất là những vùng tiếp giáp với sông Vàm Cỏ, sông Tiền là những nơi có điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa nước Diện mạo của cộng đồng cư dân đã được hình thành trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu là nông nghiệp Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, phát triển sản xuất, các thôn ấp được hình thành ngày càng nhiều Việc quản lý xã hội bắt đầu đi vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển về đời sống tinh thần, đời sống văn hóa của cộng đồng Sản xuất nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho sự phân công lao động Chợ búa, thị
tứ, phủ lỵ, huyện lỵ được hình thành trên các trục giao thông đường thủy và đường
bộ tạo thành những trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa trong vùng Tổ chức hành chính ngày càng được hoàn chỉnh hơn
Từ thế kỷ XVII đến nữa đầu thế kỷ XIX, những người Việt di cư vào vùng đất Tây Nam Bộ chủ yếu là những nông dân nghèo khổ, lâm vào bước đường cùng phải rời bỏ quê hương làng mạc vào vùng đất mới [41, tr.37] Ở vùng đất mới, với những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên và quan hệ xã hội nên những cư dân này, ngoài những cái chung về tính cách, nếp sống, tập quán, đã nảy sinh những đặc thù và được truyền lại cho các thế hệ con cháu sau này Trong quá trình Nam tiến, hành trang quý giá nhất mà họ mang theo đó là những vốn quý báu trong phong tục, tập
Trang 32quán của quê hương bản quán trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên luôn được họ bảo tồn và lưu truyền lại cho con cháu thế hệ mai sau Thiên nhiên Tây Nam Bộ có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc khai phá như đất đai mầu mỡ, thời tiết thuận lợi, tôm
cá nhiều nhưng cũng có không ít những khó khăn như đất đai sình lầy, ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô, ngập mặn, phèn… Do vậy, họ phải vượt qua rất nhiều khó khăn mới thích ứng được với thiên nhiên trên bước đường khai phá để tạo lập cuộc sống mới
Nguồn gốc lịch sử cùng hoàn cảnh sống và những tác động của môi trường tự nhiên đã hình thành nên tính cách đặc trưng của những người dân trên vùng đất mới Những nề nếp sinh hoạt và tư tưởng vốn đã trở thành truyền thống văn hóa nơi quê hương bản quán với đặc trưng là ý thức cộng đồng, tương thân tương ái, những lưu dân đã nhanh chóng kết thành chòm xóm, dựa vào nhau để làm ăn, sinh sống trên vùng đất mới Họ đã trở thành những người nông dân mang trong mình tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ, hào phóng và đôn hậu - đó là những tính cách đặc trưng của cư dân Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng Quá trình chinh phục thiên nhiên và khai phá vùng đất mới cũng làm cho người dân vốn đã mang trong mình những tư tưởng phong kiến phải thay đổi quan niệm và cách sống cho phù hợp Điều này được thể hiện qua nhiều khía cạnh của cuộc sống, trong đó có phong tục giỗ họ
Trong tâm thức của những lưu dân từ miền Bắc, miền Trung vào Nam lập nghiệp đều mang theo hành trang của mình về tổ tiên, dòng họ và quê hương làng mạc nơi bản quán Nhưng chắc có lẽ do họ là những lưu dân nghèo khổ hay tội tù nên phải thay tên đổi họ trên vùng đất mới để tránh sự truy bắt của triều đình Quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ gặp không ít những khó khăn và lắm tai ương, nên
họ luôn hướng về tổ tiên để cầu mong tổ tiên phù hộ được bình an Đối với họ, tổ tiên luôn là những vị thần gần gũi, thân thương nhất và luôn là những vị thần che chở, bảo bọc cho con cháu trên bước đường lưu lạc Nơi rừng sâu nước độc cũng có lắm người phải bỏ mạng, nên trong tình thế này họ chỉ biết bám víu vào tâm linh cầu mong được sự che chở và phù hộ của ông bà, tổ tiên, những người quá cố Vì
Trang 33thế, họ luôn mang theo mình bàn thờ tổ tiên ông bà với lòng thành kính Cho nên, bất cứ người Việt nào, dù nghèo hay giàu, dù định cư cố định hay lênh đênh trên sông nước đều có một nơi trang trọng nhất để đặt bàn thờ tổ tiên Có những gia đình phải sống cuộc sống rày đây mai đó trên các con thuyền, họ vẫn có một nơi nhỏ, nhưng trang trọng để thờ cúng ông bà tổ tiên Quá trình mưu sinh nhiều vất vả nhưng trong tâm thức của họ luôn có ông bà tổ tiên dõi theo từng bước đi cũng như công việc làm ăn, làm cho họ cảm thấy được chia sẻ, động viên về mặt tinh thần rất nhiều Vì đây cũng là nhu cầu tâm linh cần thiết cho tất cả các lưu dân để tưởng nhớ đến cội nguồn, dòng họ của mình
1.3.2 Cư dân và đặc điểm phân bố cư dân của người Việt miền Tây Nam Bộ
Nam Bộ nói chung, Tây Nam Bộ nói riêng, là vùng cư dân hỗn hợp với nhiều nguồn gốc địa phương khác nhau cùng sinh sống Tuy nhiên, người Việt chiếm đa
số và phân bố đều khắp các tỉnh thành Theo kết quả điều tra gia phả của nhiều nhà nghiên cứu, nguồn gốc cộng đồng dân cư Việt ở vùng đất Tây Nam Bộ, đa số dòng
họ có gốc gác ở miền Trung, đặc biệt là vùng Ngũ Quảng cùng cộng cư với người Khmer, Chăm, Hoa Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, tôn giáo, tín ngưỡng khác biệt không làm cản trở sự đoàn kết, gắn bó giữa các tộc người
mà còn tạo nên sự giao lưu tiếp biến, hình thành nên những phong tục tập quán mang yếu tố đa dân tộc [17, tr.55] Chính yếu tố đa dân tộc lại ảnh hưởng ít nhiều đến phong tục giỗ họ của người Việt Tây Nam Bộ
Trang 34Hình 1.1: Bản đồ hành chính Tây Nam Bộ (Đồng Bằng Sông Cửu Long)
[ Nguồn: http://www.mekongdelta.com.vn/mekongdelta/news.asp]
Dựa vào điều kiện cư trú và những đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội, Mạc Đường chia vùng đất Tây Nam Bộ thành ba vùng dân cư chính Những vùng đất dân cư này đều có người Việt sinh sống Đó là vùng dân cư lưu vực sông, là nơi người Việt tập trung đông nhất, vùng đất mầu mỡ nằm dọc và giữa hai con sông Tiền và sông Hậu - nơi có số dân đông và trình độ phát triển kinh tế xã hội nhanh hơn so với các khu vực khác Tiếp đến là vùng dân cư tiếp cận biển thì người Việt sống xen kẻ cùng người Hoa, Khmer Vùng dân cư bị ngập nước là vùng tứ giác Long Xuyên, vùng nước ngập ở Đồng Tháp là vùng cư trú của cả người Việt, Khmer và Chăm [17, tr.60]
Sự hình thành các thôn ấp phân bố đều ở khắp nơi, từ vùng có điều kiện thiên nhiên thuận lợi đến vùng sâu vùng xa, góp phần khẳng định vai trò làm chủ và công lao của người Việt trên vùng đất mới Họ ý thức rất sâu sắc về ý nghĩa và tác dụng của việc phân bố dân cư đối với việc mở mang kinh tế, gìn giữ an ninh thôn xóm, bảo vệ và xây dựng đất nước Lúc đầu, việc phân bố dân cư diễn ra một cách tự phát
Trang 35theo hình thức đất lành chim đậu, nơi nào dễ làm ăn sẽ quần tụ thành xóm làng Sau
đó là khuyến khích những người có tài tự đứng ra mộ dân lập ấp, hình thành các đồn điền ở những nơi xung yếu và đã chuyển thành thôn ấp dân sự Do điều kiện tự nhiên vùng đất Tây Nam Bộ có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, nên lúc đầu để tiện cho việc đi lại, cư dân Tây Nam Bộ chủ yếu sống dọc theo các con sông
Đa số nhà ở Tây Nam Bộ được cất quay mặt ra các con sông Nơi nào có sông thì
cư dân tập trung khẩn hoang và sinh sống tại nơi đó nhiều hơn Khi đường bộ phát
triển thì xuất hiện nhà cửa dọc theo các trục lộ
1.3.3 Giao lưu văn hóa Việt - Hoa - Khmer - Chăm ở miền Tây Nam Bộ
Tây Nam Bộ là vùng đất đa tộc người cùng cộng cư sinh sống với nhau Ngay
từ thời kỳ đầu đã sớm là nơi gặp gỡ của các dân di cư người Việt, Hoa, Khmer, Chăm Chính những sắc thái văn hóa đa tộc người đến lượt chúng lại tạo ra những sắc thái văn hóa riêng ảnh hưởng đến lễ giỗ họ của người Việt Tây Nam Bộ Chẳng hạn như trong ngày giỗ họ, ngoài những người trong dòng họ, người ta còn mời thêm những người hàng xóm, láng giềng cùng đến dự, hoặc vai trò của người phụ nữ…
Với chính sách di dân của triều Nguyễn, đến năm 1757, quá trình Nam tiến của người Việt dần dần hoàn tất và tiến sâu đến vùng đất Cà Mau Để thuận lợi cho việc quản lý cư dân, nhà Nguyễn thiết lập bộ máy cai trị tại đây Như vậy, tính từ thế kỷ XVIII, bên cạnh người Khmer, cư dân bản địa có mặt sớm nhất của vùng đất Tây Nam Bộ, còn có các đợt di dân vào các thời điểm khác nhau của người Việt, Hoa, Chăm Từ đây bắt đầu một thời kỳ mới đối với vấn đề dân cư và tộc người của vùng đất này Cùng cộng cư trong suốt hơn ba thế kỷ, các tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm đã có những giao lưu tiếp xúc văn hóa của nhau, đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới Mỗi tộc người cư trú trong những điều kiện sinh thái khác nhau, chịu tác động bởi những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau và có những đặc trưng văn hóa riêng của từng tộc người Tuy nhiên, do cùng chung một vận mệnh lịch sử của những người
di dân khẩn hoang, do quá trình cộng cư lâu dài, sự giao lưu tiếp xúc văn hóa ngày
Trang 36càng nhiều nên đã hình thành một diện mạo văn hóa vùng vừa mang tính đa dạng phong phú vừa mang những yếu tố văn hóa riêng của từng tộc người ở vùng đất Tây Nam Bộ
Cùng cộng cư lâu đời với nhau, trải qua quá trình lao động chinh phục thiên nhiên và đấu tranh chống lại các thế lực hà khắc, các tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm đã đoàn kết, hòa hợp, chung sức chung lòng với nhau để tồn tại và phát triển
Đó là quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện và sâu sắc của những người lao động cùng chung cảnh ngộ Trong đó, người Việt là tộc người đông nhất
và có nhiều loại hình văn hóa đa dạng nhất, là nhân tố quan trọng nhất trong mối giao lưu nảy sinh từ yêu cầu thực tế của cuộc sống để làm giàu thêm vốn văn hóa của mình cùng với các dân tộc cộng cư
Ngoài sự giao lưu về sinh hoạt kinh tế và văn hóa vật chất, sự giao lưu còn đi vào phong tục, tập quán và các dạng thức văn hóa tinh thần của các tộc người, dễ nhận thấy nhất là hiện tượng song ngữ Nhiều người Việt sống trong vùng có đông người Khmer cũng có thể giao tiếp bằng tiếng Khmer và ngược lại người Khmer cũng sử dụng tiếng Việt Các vùng có ba tộc người Việt, Hoa, Khmer sinh sống như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu… cả ba tộc người đều ăn tết Nguyên Đán, tết Nguyên Tiêu và tết Chol Chnam Thmei Trong các ngày lễ tết, các tộc người này tiến hành thăm mộ tổ tiên, cúng chùa, thăm hỏi chúc tết nhau, đồng thời cũng làm
và thưởng thức những loại bánh, món ăn truyền thống của nhau
Cả người Việt và người Hoa đều tổ chức lễ giỗ họ tại nhà từ đường, miếu kiếng họ, hội quán… của dòng họ Người Việt tiếp thu những phong tục, nghi thức cúng của người Hoa trong việc tổ chức lễ giỗ họ và cách viết gia phả của dòng họ
Có những dòng họ người Việt Bắc Bộ và Trung Bộ ghi gia phả của dòng họ rất kỹ Người Việt Tây Nam Bộ tiếp thu việc viết gia phả của người Hoa để lưu lại cho con
cháu ngày nay nhưng chỉ ở dạng viết phả đồ để con cháu biết được bà con dòng họ
mà thôi Người Việt Tây Nam Bộ không viết gia phả của dòng họ mình vì nhiều lý
do như sau: chiến tranh loạn lạc, do họ là những tội phạm trốn tránh sự truy nã của triều đình, cư dân nghèo ít chữ, nông dân thợ thủ công nghèo khổ phải làm việc thật
Trang 37cật lực để đấu tranh giành lấy sự sống với thiên nhiên khá khắc nghiệt Vì thế, họ không có thời gian để suy nghĩ đến việc viết gia phả của dòng họ mình sau một ngày dài bán mặt cho đất, bán lưng cho trời Từ sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, họ mới bắt đầu nghĩ đến việc viết gia phả để thế hệ mai sau biết được gốc gác, bà con họ hàng của dòng họ Tuy nhiên, việc viết gia phả đòi hỏi người viết phải có kiến thức sâu rộng và biết tất cả công danh sự nghiệp của những người trong họ nên vì thế nhiều dòng họ chỉ dừng lại ở việc viết phả đồ mà thôi Vì những vị cao niên trong dòng họ đã mất nên họ cũng không biết tên tuổi chính xác của những vị tiền bối trước đó Một số họ tộc do chiến tranh loạn lạc, tập ghi gia phả bị mất Vì vậy, việc ghi phả đồ của dòng họ chỉ được những người trong dòng
họ viết lại sau này với niềm mong ước biết được gốc gác tổ tiên và bà con họ hàng của nhau
Người Khmer không làm lễ giỗ ông bà mình tại nhà mà dòng họ anh em tập hợp nhau đến chùa cùng làm lễ giỗ Hay trong tang lễ của người Khmer đều được tổ chức trong chùa và sau đó thi thể của người chết được thiêu và gởi lại chùa Ảnh hưởng văn hóa của người Khmer, người Việt ngày nay cũng tổ chức đám ma, thiêu người chết, gởi hài cốt trong chùa và tổ chức giỗ ông bà mình trong chùa
1.4 Cấu trúc dòng họ của người Việt miền Tây Nam Bộ
1.4.1 Cấu trúc làng của người Việt miền Tây Nam Bộ
Khác với làng người Việt ở Bắc Bộ và Trung Bộ, làng người Việt Tây Nam
Bộ là làng được người Việt tạo lập trong quá trình tới vùng đất này để khai phá Nó được ra đời từ nhu cầu cấp tốc khai phá đất mới từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX Có làng do dân cư nhiều nguồn tập hợp mà lập nên Làng nào có tuổi đời cao nhất cũng chỉ hơn ba trăm năm Do được tập hợp từ nhiều nguồn dân khác nhau nên nhiều dòng họ khác nhau cùng sinh sống trong một làng Không có bất cứ một làng nào mà một dòng họ duy nhất nào chiếm đa số Thời gian định cư của các kiến họ (tức là dòng họ theo cách gọi của Nam Bộ) của các làng Việt ở đây tính đến nay khoảng chừng chỉ đến mười thế hệ [46, tr.7- 15]
Trang 38Làng Việt Nam Bộ không có cổng làng, không được bao bọc quanh lũy tre như làng Việt ở đồng bằng sông Hồng mà nó có tính mở thoáng Lối sống của người nông dân Nam Bộ, không có sự phân biệt giữa dân chính cư và dân ngụ cư như làng Việt Bắc Bộ cho nên người dân dễ dàng bỏ đi nơi khác nếu thấy nơi đó không thích hợp cho họ tiếp tục sống Bên cạnh đó, làng Việt Nam Bộ không có cảnh nhiều đời dòng họ sống chung với nhau như làng Việt Bắc Bộ, do đó tính cố kết trong quan hệ dòng họ là không chặt chẽ mà thay vào đó là quan hệ láng giềng Cùng chung cảnh ngộ, cùng rời bỏ quê hương làm ăn nơi đất lạ, khi quan hệ thân tộc không còn chặt chẽ nữa, dây liên kết gắn bó giữa người và người chỉ còn lại nghĩa tình giữa họ với nhau Do vậy mà cách đối nhân xử thế của người Việt Nam
Bộ rất hòa hợp, đoàn kết, thân ái, hiếu khách và bộc trực Vì trong quá trình khai phá Nam Bộ người Việt cùng sống và cùng khai phá với người Khmer, người Chăm, người Hoa và cả người Mạ, người Stiêng, người Mnông…
Do điều kiện tự nhiên và lịch sử, làng xóm ở Nam Bộ nói chung và Tây Nam
Bộ nói riêng thường khá lỏng lẻo về mặt thiết chế Hầu hết các làng không có hương ước, cũng không có thần tích, thần phả Làng Việt Tây Nam Bộ là làng được hình thành dọc các con sông và trục lộ giao thông và được tái cấu trúc trên cơ sở văn hóa làng truyền thống của làng Việt ở phía Bắc nhưng có sự thích nghi với không gian sống cộng cư cùng nhiều dân tộc tại vùng đất Tây Nam Bộ Các tên làng đều thể hiện niềm mong ước về một cuộc sống bình yên, thái bình, ấm no, hạnh phúc, giàu có, phú quý của những lưu dân Cho nên, tuy làng của người Việt Tây Nam Bộ có nhiều dòng họ sinh sống lâu đời với nhau nhưng không có bất cứ làng nào mang tên của một dòng họ như làng ở miền Bắc Làng Việt Tây Nam Bộ là làng mới nên thường có chữ Tân, Thạnh, Phú, Bình, Quới…
Đặc biệt, việc di dân trong quá trình Nam tiến có sự hỗ trợ của chính quyền Khi nói về sự cai trị của nhà nước trong việc lập làng tại Nam Bộ, địa chí Đồng Nai
viết: “Nhà nước chiêu mộ những thành phần lưu tán - trong đó có tù binh, tứ cố vô thân - hay phân bổ nhân dân và nhiều loại binh lính đến khai đất đai lập ra làng”
[13, tr.119]
Trang 39Làng của người Việt Nam Bộ được hình thành do những lưu dân từ miền Bắc, miền Trung cùng những quan lại, binh lính được phái đến làm nhiệm vụ, các nhà nho, thầy thuốc, và cả những tội đồ lưu đày biệt xứ… Có cả những phần
tử tội phạm bị triều đình truy nã phải thay tên đổi họ lưu lạc đến vùng đất này
để trốn tránh Đến Nam Bộ, họ nhanh chóng tập hợp lại thành làng, xóm và cùng với những tộc người như Hoa, Khmer, Chăm khai khẩn vùng đất này để sinh cơ lập nghiệp [1, tr 24]
Các tên làng ở Tây Nam Bộ đều thể hiện niềm mong ước được ấm no, hạnh phúc và bình yên của cư dân nên hầu hết có những tên gọi như An Hòa, An Bình, Bình An Các làng trong thời kỳ đầu hình thành một cách tự phát, dựa trên tinh thần tương thân, tương trợ nhau là chính, chưa bị ràng buộc bởi luật lệ, quy chế nghiêm ngặt với những lệ làng, hương ước phức tạp như ở miền Bắc Xã hội không
có sự phân biệt giữa dân ngụ cư và dân chính cư Vì vậy, mối quan hệ giữa các người dân với nhau rất bình đẳng, không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào Họ sống chủ yếu với nhau bằng tình nghĩa và nỗi đồng cảm của người cùng cảnh ngộ xa quê hương để đến vùng đất mới khai phá và tạo dựng nên sự nghiệp riêng cho mình
Từ sau khi nhà Nguyễn thiết lập và củng cố bộ máy hành chính, xã hội được tổ chức chặt chẽ hơn nhưng nhìn chung thiết chế làng ở đây vẫn lỏng lẻo hơn so với
làng ở Bắc Bộ Thôn xóm của lưu dân thuở đầu còn có đặc trưng “dễ hợp, dễ tan”, những con người từ tứ xứ di chuyển đến, ban đầu tụ hợp thành những “dân ấp, dân lân” rồi cũng có thể dễ dàng di chuyển đi nơi khác nếu họ thấy nơi đó không thuận
lợi cho việc sản xuất và đời sống của mình Thời kỳ đầu, lúc từ miền Bắc, miền Trung vào Nam họ đi cùng với cả bà con ruột thịt và hàng xóm ở quê cũ, cùng dìu dắt nhau vào Nam lập nghiệp, họ cùng sống với nhau, nhưng một thời gian sau do công việc làm ăn không thuận lợi nên họ có thể bỏ đi tìm vùng đất mới thuận tiện hơn cho việc sinh sống của mình Chính vì thế nên quan hệ dòng họ không còn chặt chẽ như ở nơi quê cha đất tổ do phải xa nhau để mưu sinh
Trong môi trường định cư mới, nhiều dòng họ cùng sinh sống trong một làng,
họ phải cùng chung lưng đấu cật với nhau để đấu tranh với thiên nhiên, giành lấy sự
Trang 40sống Trải qua nhiều đời, con cháu của những gia đình này sinh sôi, nảy nở nhiều,
số ruộng đất được khai thác nhiều hơn, thôn xã dần dần hình thành Tình hình này rất khác với các làng Việt Bắc Bộ Cư dân của một làng phát triển từ sự tăng lên của một thành viên của một dòng họ Chính vì vậy, để ghi nhận sự phát triển đó, người
ta lấy tên họ đặt cho tên làng Trong khi đó, làng của người Việt Tây Nam Bộ được hình thành do các dòng họ khác nhau của các lưu dân cùng sinh sống với nhau Và theo chính sách quản lý của triều Nguyễn, làng Việt Tây Nam Bộ ngay từ khi hình thành đã có vai trò của Nhà nước phong kiến, lại được hình thành muộn hơn làng Việt Bắc Bộ nên tên làng cũng mang ý nghĩa tốt đẹp [24, tr 58-59]
Đặc biệt, quá trình hình thành làng và sự can thiệp của nhà nước đã làm cho những nét văn hóa truyền thống của làng Việt Bắc Bộ không được thể hiện ở làng Việt Tây Nam Bộ như không có hương ước, không có hương thôn Do điều kiện địa
lý tự nhiên, do vị trí tọa lạc của làng Việt, do quy mô của các làng khác nhau nên hình thái cư trú cũng hết sức khác nhau Trong khi làng Việt Bắc Bộ sống co cụm trong vườn nhà quanh lũy tre làng thì làng Việt Tây Nam Bộ chủ yếu cư trú trên diện rộng dọc theo các con sông, các con kênh, những nơi khô ráo có nguồn nước ngọt và đằng trước là ghe thuyền qua lại, xung quanh là vườn cây ăn trái, đằng sau
là ruộng đồng Không gian cư trú thoáng đãng và rộng rãi tạo nên lối sống của người Việt miền Tây Nam Bộ cũng phóng khoáng hơn
Nhìn chung chế độ tư hữu ruộng đất chiếm ưu thế ở làng Việt Tây Nam Bộ nên người dân có quyền đối với ruộng đất mà mình đã khai phá và không lệ thuộc quá nhiều vào làng
Làng Việt ở Tây Nam Bộ có những đặc trưng riêng do điều kiện, lịch sử địa
lý, xã hội tạo ra Chính những đặc trưng riêng ấy, đến lượt chúng lại tạo ra bản sắc của văn hóa Việt trên vùng đất mới trong đó có lễ giỗ họ của người Việt
1.4.2 Quan hệ dòng họ của người Việt Tây Nam Bộ
Quan hệ huyết thống xuất hiện rất sớm và ở hầu hết các dân tộc trên thế giới
Từ lúc sinh ra, con người không thể sống cô độc mà phải dựa vào nhau để sống Từ bao đời nay, cứ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia cùng sinh sống dựa vào nhau Do đó,