1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của vi hồng

112 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ là tên riêng dùng để chiếu Vật trong tác phẩm của Vi Hồng .... Theo tác giả, “Thuật ngữ chiếu vật reference được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Douvay BOUDDAHAO

CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN VẬT

TRONG TÁC PHẨM CỦA VI HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khác

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Đào Thị Vân, người

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu Vì vậy, tôi xin chân thành cảm ơn đến những người thầy, người cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ K24 (2016 - 2018) tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Xin chân thành cảm ơn trường Ban Giám hiệu, các thày cô giáo khoa Tiếng Việt Trường Ngôn ngữ Đại học Quốc gia Lào

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2018

Tác giả

Douvay BOUDDAHAO

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Khái quát về chiếu vật 8

1.1.1 Khái niệm chiếu vật và phân loại nghĩa chiếu vật 8

1.1.2 Khái quát về phương thức chiếu vật (cách chiếu vật) 14

1.2 Lí thuyết ba bình diện của ngôn ngữ 21

1.2.1 Bình diện kết học 21

1.2.2 Bình diện nghĩa học 22

1.2.3 Bình diện dụng học 23

1.3 Giao tiếp và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp 24

1.3.1 Khái niệm giao tiếp 24

1.3.2 Các nhân tố giao tiếp 25

1.4 Lí thuyết về lịch sự 29

1.4.1 Định nghĩa lịch sự 29

1.4.2 Các lí thuyết về phép lịch sự 30

Trang 6

Chương 2 KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ CÁC CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN

VẬT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG 34

2.1 Chiếu vật nhân vật bằng cách dùng các biểu thức tên riêng (gọi tắt là phương thức dùng tên riêng) 34

2.1.1 Nhận xét chung 34

2.1.2 Kết quả khảo sát 36

2.1.3 Đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ là tên riêng dùng để chiếu Vật trong tác phẩm của Vi Hồng 44

2.1.4 Các cách dùng biểu thức tên riêng để chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng 50

2.2 Chiếu vật nhân vật bằng cách dùng biểu thức miêu tả 52

2.2.1 Kết quả thống kê 52

2.2.2 Đặc điểm của các biểu thức miêu tả chiếu vật trong văn xuôi Vi Hồng 55

2.2.3 Một số cách xây dựng biểu thức miêu tả chiếu vật trong tác phẩm của Vi Hồng 59

2.3 Chiếu vật nhân vật bằng cách chỉ xuất trong văn Vi Hồng 63

2.3.1 Kết quả khảo sát 63

2.3.2 Đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ chỉ xuất dùng để chiếu Vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng 64

2.3.3 Một số cách chiếu vật bằng chỉ xuất trong tác phẩm của Vi Hồng 69

Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM CỦA VI HỒNG 74

3.1 Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách dùng tên riêng trong tác phẩm của Vi Hồng 74

3.1.1 Dùng tên riêng để chiếu vật giúp người đọc xác định được chính xác nhân vật trong tác phẩm mà nhà văn định nói đến 74

3.1.2 Tên riêng thể hiện giới tính của nhân vật 75

3.1.3 Tên riêng thể hiện nguồn gốc dân tộc của nhân vật và tính dân tộc cho tác phẩm 77

3.1.4 Tên riêng thể hiện thái độ của tác giả đối với nhân vật 78

Trang 7

3.2 Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách dùng biểu thức miêu tả trong

tác phẩm của Vi Hồng 81

3.2.1 Biểu thức miêu tả thể hiện được đặc điểm ngoại hình của nhân vật 81

3.2.2 Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được đặc điểm tính cách của nhân vật 85

3.2.3 Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được vị thế, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm học vị của nhân vật được qui chiếu 88

3.2.4 Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được thân phận của nhân vật 94

3.3 Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách chỉ xuất trong tác phẩm của Vi Hồng 94

3.3.1 Thể hiện được vai giao tiếp và vị thế của nhân vật trong tác phẩm 94

3.3.2 Thể hiện được nghề nghiệp, chức vụ, giới tính của nhân vật 95

3.3.3 Thể hiện được thái độ của tác giả hay của nhân vật đối với nhân vật 96

3.3.4 Góp phần đa dạng cách diễn đạt cho tác phẩm 97

3.3.5 Thể hiện giới tính của nhân vật 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

chiếu nhân vật trong 4 tác phẩm của Vi Hồng (gồm tên và tổ hợp từ biểu thị tên riêng) 41Bảng 2.5: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Vào hang 41

Bảng 2.6: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Người trong ống 42

Bảng 2.7: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Tháng năm biết nói 43

Bảng 2.8: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Chồng thật vợ giả 44

Bảng 2.8: Bảng tổng kết các biểu thức tên riêng cấu tạo đơn âm hoặc đa

âm 45Bảng 2.9: Bảng tổng kết biểu thức tên riêng có cấu tạo là một tổ hợp từ 46Bảng 2.10: Bảng thống kê các biểu thức miêu tả chiếu vật trong 4 tác

phẩm văn xuôi của Vi Hồng 53Bảng 2.11: Bảng tổng kết số lượt sử dụng biểu thức chiếu vật nhân vật

theo phương thức chỉ xuất trong văn xuôi Vi Hồng 64Bảng 2.12: Bảng tổng kết các biểu thức chiếu vật nhân vật theo phương

thức chỉ xuất có cấu tạo là từ trong 4 tác phẩm của Vi Hồng 65

Trang 9

Bảng 2.13: Bảng tổng kết các biểu thức chiếu vật nhân vật theo phương

thức chỉ xuất có cấu tạo là cụm từ trong 4 tác phẩm của Vi Hồng 66Bảng 2.14: Bảng tổng kết các biểu thức chỉ xuất nhân vật trong văn Vi

Hồng được phân loại theo ngôi 67Bảng 2.15: Bảng tổng kết các biểu thức chiếu vật nhân vật mang ý nghĩa

định vị vai giao tiếp số ít hay số nhiều 68Bảng 2.16: Bảng tổng kết các cách chiếu vật theo phương thức chỉ xuất

trong tác phẩm của Vi Hồng 71

Trang 10

đề dụng học đầu tiên mà các nhà ngữ dụng học quan tâm

1.2 Vi Hồng là một nhà văn dân tộc được mệnh danh là “kiện tướng” của

văn học thiểu số Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học do nhà nước trao tặng Với sức sáng tạo của khối óc, sự chân thực của cảm xúc và bầu nhiệt huyết của con tim, Vi Hồng đã góp một tiếng nói chân thành, sâu sắc vào bản đàn văn học viết về miền núi Các tác phẩm của ông được lấy từ chất liệu cuộc sống, thiên nhiên và con người núi rừng Việt Bắc, nơi mà nhà văn sinh ra, yêu mến và vô cùng am hiểu

1.3 Nhân vật trong mỗi tác phẩm văn học chính là linh hồn, là tư tưởng,

là tình cảm mà người nghệ sĩ gửi gắm, kí thác Trong tác phẩm của Vi Hồng, thế giới nhân vật hiện lên sinh động, phong phú Mỗi cái tên đều chứa đựng một ý nghĩa Phân tích, tìm hiểu tác phẩm văn chương nói chung, văn Vi Hồng nói riêng, ngoài việc quan tâm đến ngôn ngữ, thi pháp, kết cấu, giọng điệu, phong cách không thể không chú ý đến cách gọi tên nhân vật, miêu tả nhân vật bằng các phương tiện ngôn ngữ mà các nhà văn sử dụng

1.4 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chiếu vật và phương thức chiếu vật nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về cách chiếu vật (phương thức chiếu vật) nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng một cách công phu và bài bản

Trang 11

Phương thức chiếu vật nhân vật là một lĩnh vực nghiên cứu rất thú vị, mở

ra nhiều bất ngờ, mới mẻ khi đi tìm hiểu ngôn ngữ Vi Hồng, vì chiếu vật được

Vi Hồng sử dụng rất linh hoạt và tài tình trong tác phẩm của mình Hiện tượng

này đã đem lại hiệu quả tu từ rõ rệt Chọn đề tài “Cách chiếu vật nhân vật trong

tác phẩm của Vi Hồng” để nghiên cứu, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần vào việc

phân tích nhân vật trong tác phẩm văn chương nói chung, trong văn Vi Hồng nói riêng, từ đó hiểu sâu sắc tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật, tư tưởng, tình cảm của nhà văn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về tình hình nghiên cứu chiếu vật và phương thức chiếu vật

Chiếu vật và phương thức chiếu vật được nghiên cứu từ lâu, song phải đến những năm 1970 trở lại đây, vấn đề này mới thực sự được các nhà ngữ dụng học quan tâm đặc biệt

Nói đến tình hình nghiên cứu về chiếu vật và phương thức chiếu vật của các nhà ngôn ngữ học trong nước và ngoài nước, trước hết phải nói rằng rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Chỉ một số công trình khi nghiên cứu về ngữ dụng học nói có sơ qua về hiện tượng ngữ dụng đang bàn Nói về chiếu vật và phương thức chiếu vật, không thể không kể đến ba tác giả với các công trình tiêu biểu sau đây:

(1) G Green (1989), Pragmatics and Natural language Understanding,

LEA London

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã bàn về khái niệm chiếu vật và vai trò của chiếu vật trong việc hiểu nghĩa của một phát ngôn

Trước hết, tác giả đã nêu quan niệm về thuật ngữ chiếu vật Theo tác giả,

“Thuật ngữ chiếu vật (reference) được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan

hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [43, tr 37]

Trang 12

G Green cũng chỉ rõ vai trò của chiếu vật đối với việc hiểu nghĩa của một phát ngôn Tác giả đã chỉ rõ, các nhà logic học chú ý đến việc xác định tính đúng

- sai của các mệnh đề logic được diễn đạt bằng ngôn ngữ Nhưng trong ngôn ngữ

tự nhiên, có rất nhiều câu cụ thể mà các nhà logic không thể kết luận được nội dung của chúng đúng hay sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với sự vật nào đang được nói tới trong hiện thực

(2) Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb GD,

HN

Tác giả không dùng khái niệm chiếu vật mà dùng thuật ngữ “qui chiếu”

để chỉ khái niệm này Theo tác giả, có hai loại qui chiếu là qui chiếu hướng ngoại

và qui chiếu hướng nội Qui chiếu hướng ngoại là qui chiếu dựa vào tình huống, còn qui chiếu nội hướng là qui chiếu vào văn bản

Tác giả cho rằng, qui chiếu ngoại hướng là “sự thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa tên gọi vật với vật được gọi bằng cái tên đó, cũng tức là đưa tên gọi vật

về với vật được gọi tên ngoài ngôn ngữ” [DQB, tr 175] Qui chiếu nội hướng (hướng nội) là “Sự thiết lập mối quan hệ về mặt nghĩa giữa yếu tố ngôn ngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia cùng nằm trong một văn bản” Với cách hiểu về qui chiếu như vậy, tác giả đã phát biểu về qui chiếu như sau: “Trong văn bản nếu có từ ngữ khác trong văn bản đó chưa rõ nghĩa thì nó cần phải được làm rõ bằng cách tìm ra

từ ngữ khác trong văn bản đó chỉ rõ cái nghĩa ấy hoặc tìm ra cái việc ngoài văn bản cho biết nghĩa của từ ngữ chưa rõ nghĩa đó” [2, tr 182]

(3) Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb GD, HN

Từ góc độ nghĩa nghĩa, ngữ dụng, tác giả không dùng tên gọi sở chỉ mà dùng thuật ngữ chiếu vật Tác giả quan niệm: “Thuật ngữ chiếu vật (referent) được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó mà người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này, người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [8, tr 61]

Trang 13

Tác giả ĐHC đã quan tâm tới sự tương tác giữa người nói và người nghe

trong giao tiếp ở góc độ hành vi chiếu vật Ông cho rằng, “Chiếu vật không phải

là hành vi đơn phương do người nói (viết) quiết định Nó đòi hỏi sự cộng tác của người tiếp nhận” [8, tr 69]

Ngoài việc nêu khái niệm về chiếu vật, tác giả còn nhấn mạnh đến vai trò của chiếu vật và các phương thức chiếu vật Theo tác giả, có ba phương thức

chiếu vật chủ yếu là: phương thức dùng tên riêng, phương thức dùng biểu thức

miêu tả và phương thức dùng chỉ xuất

(4) Cao Xuân Hạo (2003), Câu trong tiếng Việt, quiển 1, Nxb Giáo dục H

Tác giả cho rằng, sở chỉ “là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đối tượng cụ thể” [18 tr.14]

Sở chỉ của từ chỉ được xác định khi nằm trong câu (phát ngôn), nói cách khác, trong câu nói các từ ngữ mới có sở chỉ Do đó, “Việc xác định sở chỉ của từ ngữ không thuộc bình diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [18, tr 54]

2.2 Về tình hình nghiên cứu chiếu vật- chỉ xuất trong tác phẩm văn chương nói chung và trong văn Vi Hồng nói riêng

- Có thể nói, việc tìm hiểu cách chiếu vật - chỉ xuất trong tác phẩm văn học đã có nhưng chưa nhiều Cũng có một số công trình nghiên cứu vấn đề này khá công phu nhưng chưa thật khái quát Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về chiếu vật - chỉ xuất trong tác phẩm văn chương:

+ Đỗ Xuân Quỳnh (2003), Sự chiếu vật và phương thức chiếu vật- khảo sát

qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP HN;

+ Nguyễn Tú Quiên (2005), Các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ biểu

thị nhân vật trong Truyện Kiều, Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học, ĐHSP HN

+ Nguyễn Tú Quiên (2011), Các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong văn học Việt Nam hiện đại, Luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học

Có thể nói, các công trình nghiên cứu vừa dẫn đã ít nhiều nói về vấn

đề chiếu vật, chỉ xuất, song hầu hết các công trình nghiên cứu này tập trung

Trang 14

bàn về các phương tiện ngôn ngữ dùng để chiếu vật - chỉ xuất chứ chưa bàn

kĩ về cách thức chiếu vật - chỉ xuất cũng như vai trò của từng phương thức chiếu vật - chỉ xuất Thực hiện đề tài này, chúng tôi tiếp thu thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu cách thức chiếu vật, vấn đề mà trước đây các nhà nghiên cứu còn nói đến một cách rất sơ lược

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách chiếu

vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

a) Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Chúng tôi giới hạn phạm vi ngữ liệu khảo sát là 4 tác phẩm của Vi Hồng là:

- Vào hang, Nxb Thanh niên, 1990;

- Chồng thật vợ giả, Nxb Hội nhà văn Việt Nam, Năm 1993;

- Người trong ống, Nxb Hội nhà văn Việt Nam, 2007, tái bản lần 1;

- Tháng năm biết nói, Nxb Thanh niên, 2009, tái bản lần 1

b) Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu đối tượng này, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu ba nội dung chính:

- Thứ nhất: Nghiên cứu đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ dùng để chiếu vật nhân vật mà Vi Hồng sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật

- Thứ hai: Nghiên cứu cách dùng các biểu thức ngôn ngữ chiếu vật được

Vi Hồng sử dụng để chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của mình

- Thứ ba: Tìm hiểu vai trò của các biểu thức và phương thức chiếu vật nhân vật nhân vật trong tác phẩm Vi Hồng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm 3 mục đích:

- Thứ nhất: Nghiên cứu các cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm Vi Hồng để góp phần làm rõ các cách chiếu vật nhân vật nói chung, cách chiếu vật nhân vật được Vi Hồng sử dụng nói riêng

Trang 15

- Thứ hai: Khẳng định giá trị của chiếu vật trong việc hiểu nội dung tác phẩm và phong cách nghệ thuật của Vi Hồng

- Thứ ba: Làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu thêm về cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm văn học và phân tích, giảng dạy tác phẩm văn học

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết làm căn cứ lí luận cho việc xử lí đề tài;

(2) Khảo sát, thống kê và phân loại các biểu thức ngôn ngữ và các phương thức chiếu vật trong những tác phẩm của Vi Hồng đã được chọn làm nguồn ngữ liệu khảo sát

(3) Miêu tả, phân tích và tổng kết các cách chiếu vật trong tác phẩm của

Vi Hồng, từ đó chỉ ra được vai trò của các cách chiếu vật mà nhà văn đã dùng để thấy được nét riêng của nhà văn trong việc lựa chọn ngôn từ

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được

dùng để thống kê và phân loại các biểu thức ngôn ngữ và các cách chiếu vật nhân vật trong các tác phẩm nói trên

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Những phương pháp nghiên cứu này

được dùng để phân tích, tổng hợp đặc điểm của các biểu thức chiếu vật và các cách chiếu vật nhân vật đã được thống kê và phân loại nói trên

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp so sánh, đối chiếu được dùng để

so sánh những cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng, theo đó chỉ

ra vai trò của từng cách chiếu vật - chỉ xuất mà nhà văn đã dùng

Trang 16

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về mặt lí luận: Đề tài góp phần chứng minh vai trò của lí thuyết chiếu

vật - chỉ xuất, đồng thời chỉ ra giá trị sử dụng của chúng trong tác phẩm văn học

cụ thể

6.2 Về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn hi vọng sẽ là tài

liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy ngữ văn trong xu thế đổi mới dạy học theo hướng tích hợp hiện nay và sau này Luận văn cũng có thể làm tư liệu cho những ai quan tâm tìm hiểu về tác phẩm của Vi Hồng nói riêng, tác phẩm văn học nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, tài liệu trích dẫn,

luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận

- Chương 2: Khảo sát và miêu tả các cách chiếu vật nhân vật trong một số tác phẩm văn xuôi của Vi Hồng

- Chương 3: Vai trò của các cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của

Vi Hồng

Trang 17

1.1 Khái quát về chiếu vật

1.1.1 Khái niệm chiếu vật và phân loại nghĩa chiếu vật

1.1.1.1 Khái niệm chiếu vật

a) Một số quan niệm về chiếu vật

Chiếu vật và phương thức chiếu vật đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trực tiếp hay gián tiếp bàn đến và có những quan niệm riêng của mình Trong nước, không thể không kể đến ý kiến của hai nhà ngôn ngữ học có tên tuổi, đó là tác giả Cao Xuân Hạo và tác giả Đỗ Hữu Châu

a.1 Quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo

Với tên gọi “sở chỉ” (thay vì cho cách gọi “chiếu vật” như một số nhà nghiên cứu khác), Cao Xuân Hạo đã nêu khái niệm “sở chỉ” như sau:

“Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đối tượng cụ thể” [18, tr 104]

Không chỉ đưa ra khác niệm về sở chỉ, tác giả còn cho rằng: muốn xác định sở chỉ của câu phải hiểu sở chỉ của các thành phần tạo câu và những tình huống nói ra câu đó Nói cách khác, tách ra khỏi câu, từ ngữ vẫn có nghĩa nhưng chưa có sở chỉ Và việc xác định sở chỉ của một từ ngữ không thuộc bình diện nghĩa học mà thuộc bình diện dụng pháp Nó là mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực [18, tr.104]

Như vậy, theo ý kiến của tác giả Cao Xuân Hạo thì để hiểu nghĩa sở chỉ của từ ngữ cần phải gắn nó với thế giới hiện thực, với hoạt động giao tiếp Tác giả còn chỉ rõ: Một danh từ riêng, một đại từ có thể được giảng nghĩa (“Nguyễn

Trang 18

Du là một nhà thơ lớn ”, “Tôi là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất ”) nhưng thật

ra như thế không phải là giảng nghĩa vì danh từ riêng và đại từ xác định không

có nghĩa, chỉ có sở chỉ “Giảng nghĩa” các từ ấy thật ra chỉ là cố gắng xác định cái sở chỉ của chúng Đại từ không xác định cũng không có nghĩa, nó chỉ có một

sở chỉ trống, khi dùng để hỏi tức là yêu cầu xác định cái sở chỉ trống ấy, và khi dùng để “phiếm chỉ” thì thật ra nó không “phiếm” chút nào Tác giả đã dẫn ra một số ví dụ để minh chứng cho quan điểm của mình như sau:

(1) Ai đi đâu đấy hỡi ai

Để ai gối chiếc đêm dài năm canh?

(2) Ở đâu và bao giờ, ai cũng cũng có thể đòi hỏi quiền được sống của mình Theo tác giả, trong câu (1), ai tất nhiên phải có sở chỉ rõ ràng lắm, không

thể vu vơ trong câu trách móc đáng yêu ấy

Trong câu (2), các đại từ đâu, bao giờ, ai có nghĩa là “tất cả”: ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người đều “ có thể đòi quiền ”

Tóm lại, cách hiểu về sở chỉ của tác giả Cao Xuân Hạo cho ta một cách nhìn mới về việc xác định nghĩa của từ và các đơn vị ngôn ngữ khác khi chúng

đi vào hoạt động, đó là: khi hành chức, các từ, cụm từ hay câu, v.v mới có nghĩa sở chỉ Nói cách khác, nghĩa sở chỉ của từ, cụm từ hay câu, chỉ xác định được khi đặt các biểu thức ngôn ngữ này trong ngữ cảnh

a.2 Quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu

Như đã nói ở phần Lịch sử vấn đề, tác giả ĐHC không dùng thuật ngữ sở

chỉ mà dùng thuật ngữ chiếu vật Tác giả quan niệm:

“Chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của các tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định” [8, tr 231]

“Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [8, tr 61]

Trang 19

Tác giả còn chỉ rõ rằng: “Tự bản thân từ ngữ không chiếu vật Chỉ có con người mới thực hiện hành vi chiếu vật Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa ra

sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ, bằng câu” [8, tr 62]

Theo tác giả, “có rất nhiều câu cụ thể mà nhà logic không thể kết luận nội dung của chúng đúng hay sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với sự vật nào đang được nói tới trong hiện thực” [8, tr 61] Tác giả đã dẫn một ví dụ để chứng

minh cho nhận định của mình là: Con mèo màu xanh [8, tr.61] và phân tích: mệnh

đề vừa dẫn sẽ sai nếu từ mèo được qui chiếu tới một sinh vật được gọi là mèo, một

loài động vật biết ăn thịt, cá và mọi người thường nuôi để nó bắt chuột, nhưng nó

sẽ đúng nếu mèo được qui chiếu tới một loại đồ chơi

Tác giả Đỗ Hữu Châu còn khẳng định: “giá trị đúng sai của một câu tùy thuộc vào sự chiếu vật của các từ tạo nên câu và sự chiếu vật của cả câu ”

“Quan hệ chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một ngữ cảnh nhất định, nói cho đúng hơn là trong một thế giới khả hữu - hệ qui chiếu nhất định” [8, tr 61] Bởi thế, theo ông, để hiểu được nghĩa của phát ngôn, diễn ngôn, trước hết phải xác định được nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vai trong diễn ngôn

đó “Xác định được nghĩa chiếu vật là xác định được, thứ nhất, thế giới khả hữu

- hệ qui chiếu của diễn ngôn và thứ hai, sự vật nào (hoạt động, tính chất, trạng thái nào, ) trong đó (thế giới khả hữu) được nói tới bằng biểu thức chiếu vật của diễn ngôn đang xem xét” [8, tr 63]

Với cách hiểu về chiếu vật như vừa trình bày, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm nghĩa chiếu vật và biểu thức chiếu vật như sau: “ Nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) là sự tương ứng giữa sự vật với một biểu thức chiếu vật” [tr.63] Còn “Biểu thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật” [8, tr.63]

Trang 20

Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng dẫn một ví dụ và phân tích để giúp người đọc

hiểu về hai khái niệm này là: Nam bạn tôi học rất giỏi [8, tr 63] Ông chỉ rõ: trong phát ngôn trên, Nam bạn tôi là một biểu thức chiếu vật và biểu thức chiếu vật này có cấu tạo là một cụm từ Biểu thức Nam bạn tôi có nghĩa chiếu vật là chỉ một người tên Nam trong thực tế đã được xác định là bạn tôi, để phân biệt với những người khác cũng tên là Nam nhưng không phải là bạn tôi

So sánh phát ngôn đã dẫn của tác giả Đỗ Hữu Châu với phát ngôn: Nam

học rất giỏi thì biểu thức Nam chưa xác định được nghĩa chiếu vật, bởi ta chưa

biết Nam là chỉ ai trong số nhiều người có cái tên như vậy trong thực tế

Nói tóm lại, tuy thuật ngữ khác nhau nhưng cách hiểu về chiếu vật (cách gọi của Đỗ Hữu Châu) và sở chỉ (cách gọi của Cao Xuân Hạo) đã dẫn trên có

phần đồng nhất

b) Quan niệm của luận văn về chiếu vật

Luận văn này theo tinh thần cơ bản của tác giả Đỗ Hữu Châu dùng khái niệm chiếu vật và tạm đưa ra một định nghĩa như sau:

Chiếu vật là hành vi người nói dùng các phương tiện ngôn ngữ theo một cách thức nhất định để chỉ rõ sự vật, hành động, tính chất mà mình muốn đề cập Với cách thức này, người nói nghĩ rằng người nghe có thể qui chiếu, có thể suy

ra hay nhận biết đúng sự vật, hành động, tính chất mà anh ta nói đến

1.1.1.2 Phân loại nghĩa chiếu vật

Nếu nghĩa chiếu vật là sự vật, có thể chia chúng thành 4 loại, là: (1) Nghĩa chiếu vật cá thể, (2) Nghĩa chiếu vật loại, (3) Nghĩa chiếu vật một số cá thể, (4) Nghĩa chiếu vật tập hợp

- Nghĩa chiếu vật cá thể: Khi từ, cụm từ hay câu (biểu thức chiếu vật) ứng

với một cá thể ta có nghĩa chiếu vật cá thể Ví dụ: Bạn Hương lớp tôi rất xinh

Biểu thức “Bạn Hương lớp tôi” có nghĩa chiếu vật cá thể Biểu thức chiếu vật

này dùng để qui chiếu tới một cá thể ‘Hương’- một người trong lớp ‘tôi’ chứ

không phải người khác cũng có tên là ‘Hương’

Trang 21

- Nghĩa chiếu vật một số cá thể: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một

số cá thể, ta nói biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật một số các thể Ví dụ:

Những con vịt trắng đang bơi kia là của nhà tôi Giả định có rất nhiều vịt đang

bơi dưới hồ, và những con vịt đó có con màu khoang nâu đen, có con màu nâu xanh, lại có con màu trắng Khi nói “Những con vịt màu trắng ” là ta đã loại được một số con vịt ra khỏi tập hợp ‘vịt’ và biểu thức chiếu vật này qui chiếu tới

‘một số con vịt’ chứ không phải ‘một con vịt’ Biểu thức chiếu vật đó có nghĩa

chiếu vật một số cá thể

- Nghĩa chiếu vật loại: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một loại sự

vật, ta có nghĩa chiếu vật loại Ví dụ: Nhà tôi nuôi rất nhiều vịt Biểu thức chiếu

vật “vịt” qui chiếu tới một loại động vật, đó là loài vịt chứ không phải là ngan,

gà hay ngỗng Biểu thức “vịt” có nghĩa chiếu vật loại

- Nghĩa chiếu vật tập hợp: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một số sự vật đồng chất, tức một số sự vật này là một nhóm đã được phân loại theo tiêu chí

giống nhau, ta nói biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật tập hợp Ví dụ: (Cô giáo nói) Tất cả các em nhóm học sinh giỏi văn sẽ học thêm vào buổi sáng; còn tất cả các em nhóm học sinh giỏi toán sẽ học thêm vào buổi chiều Các biểu thức

“nhóm học sinh giỏi văn”, “nhóm học sinh giỏi toán” được qui chiếu tới một nhóm sinh viên có chung bản chất: ‘giỏi văn’ hay ‘giỏi toán’

1.1.1.3 Phân biệt nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật

- Nghĩa của từ ngữ được ghi trong từ điển là nghĩa biểu vật Đây là những nghĩa chỉ phạm vi sự vật, hiện tượng mà cái từ ngữ đó có thể được dùng

- Trong ngôn bản thì nghĩa biểu vật trở thành nghĩa chiếu vật Ví dụ, một

từ như từ ‘ăn’ có nghĩa biểu vật là: đưa thức ăn vào miệng, nhai, nuốt xuống dạ

dày Nhưng khi chúng ta nói: con bò ăn cỏ, em bé ăn sữa, tôi ăn cơm thì ba từ

ăn ở ba câu có khác nhau (tức ba từ ăn có nghĩa chiếu vật khác nhau) vì cách ăn của ba đối tượng trên có khác nhau

Trang 22

Cho nên cần phải chú ý đến sự chuyển hóa giữa nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật trong ngôn bản Nói đến ngôn bản là nói đến mặt dụng học, tức là nói đến nghĩa chiếu vật Nhưng cơ sở để hiểu được nghĩa chiếu vật là nghĩa biểu vật của từ Đây là nói đến việc sử dụng từ ngữ bình thường, còn trong văn học nghĩa chiếu vật có thể có sự sáng tạo Ví dụ, trong truyện “Nửa đêm” của Nam Cao, nhân vật Trương Dự có nói một câu: “Ở đây có một con gà mái tơ rất đẹp, tôi muốn mua về để nuôi” Ngữ “Con gà mái tơ” không phải để chỉ một con gà mà

để chỉ người con gái Như vậy, nghĩa chiếu vật ở đây là ‘người con gái’

Phân tích nghĩa của các từ ngữ gọi nhân vật trong văn chương nói chung, trong văn Vi Hồng nói riêng là xác định nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiểu vật này

1.1.1.4 Phân biệt hiện tượng đồng nghĩa biểu vật và đồng nghĩa chiếu vật

Cần phân biệt hiện tượng đồng nghĩa biểu vật và đồng nghĩa chiếu vật Có khi các từ ngữ đồng nghĩa biểu vật cũng đồng nghĩa chiếu vật (đồng sở chỉ)

Chẳng hạn, như từ phụ nữ và từ đàn bà trong ví dụ sau đây:

Ví dụ (1): Phụ nữ lại càng phải phấn đấu Đây là lúc đàn bà phải cố gắng

để không thua đàn ông

Song cũng có trường hợp các biểu thức ngôn ngữ đồng nghĩa chiếu vật nhưng không đồng nghĩa biểu vật (tức từ ngữ đồng nghĩa văn cảnh, đồng nghĩa trong hoạt động chứ không đồng nghĩa ở dạng tĩnh tại) Xem lại cách gọi nhân vật chị Dậu của Ngô Tất Tố trong tác phẩm Tắt Đèn, tác giả đã gọi chị bằng

những cái tên, như: chị Dậu, chị ta, chị này, chị chàng con mọn Những biểu thức

ngôn ngữ này là đồng chiếu vật vì chúng cùng được dùng để chỉ một nhân vật song không ai gọi chúng là những từ ngữ đồng nghĩa biểu vật

Một ví dụ khác: Một người phụ nữ tạm kí hiệu là A, ta có nhiều biểu thức ngôn ngữ để chiếu chỉ A, chẳng hạn:

- Con của A gọi A là mẹ;

- Chồng của A gọi A là em;

Trang 23

- Mẹ của A gọi A là con;

- Chú của A gọi A là cháu;

- Con chị gái A gọi A bằng dì,

Các biểu thức: mẹ, em, con, cháu, dì nói trên không phải là những từ đồng

nghĩa nhưng là những từ đồng chiếu vật (đồng sở chỉ)

Vậy, đồng sở chỉ (hay đồng chiếu vật) được hiểu là các biểu thức ngôn ngữ khác nhau cùng được dùng để qui chiếu một đối tượng (đối tượng có thể là

sự vật, hành động hay tính chất)

1.1.2 Khái quát về phương thức chiếu vật (cách chiếu vật)

1.1.2.1 Khái niệm về phương thức chiếu vật

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật Chúng là con đường mà người nghe tìm ra nghĩa chiếu vật từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc) được” [8, tr.64]

Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, phương thức chiếu vật là cách thức

mà con người sử dụng phương tiện ngôn ngữ để thực hiện hành vi chiếu vật

Ví dụ (2): Có một đối tượng (chẳng hạn có một sinh viên trong một lớp

học tên là Hồng), tạm kí hiệu là A Khi nói đến A, muốn người nghe/đọc hiểu

được A là ai, ta thường có ba cách dùng các biểu thức ngôn ngữ (khác nhau) để

qui chiếu A, cụ thể:

- Dùng tên riêng để qui chiếu A (nếu trong lớp chỉ có một sinh viên tên

Hồng): Cô mời bạn Hồng phát biểu ý kiến!

- Dùng một biểu thức miêu tả: Cô mời bạn mặc áo len xanh phát biểu

ý kiến!

Nếu trong lớp chỉ có một sinh viên mặc áo len xanh thì nói như vậy đã đủ

cho người nghe biết mình định nói đến ai Ở đây là người nghe hiểu cô nói đến Hồng

- Dùng cách chỉ xuất: Cô mời bạn ngồi đầu bàn thứ hai, dãy giữa, phía

bên phải cô phát biểu!

Trang 24

Cách định vị không gian cho A cũng giúp người nghe xác định được A, loại được A ra khỏi tập hợp cùng phạm trù

Xin xem thêm các cách chiếu vật này ở mục 1.1.2.2 dưới đây

1.1.2.2 Các phương thức chiếu vật

Tác giả Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra ba phương thức lớn để chiếu vật, đó là: dùng tên riêng, dùng biểu thức miêu tả và dùng cách chỉ xuất (Xem lại ví dụ vừa dẫn)

a) Phương thức dùng tên riêng

- Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ ra cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi bằng tên riêng

đó Chẳng hạn, tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người; tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ ra cá thể sông, núi trong phạm trù vật thể tự nhiên

- Tên riêng không phải hoàn toàn không có nghĩa biểu niệm Giả định ở một dân tộc nào đó, tên riêng của người khác hẳn với tên riêng của đất đai, núi sông, khác hẳn với tên riêng của động vật (có người đặt tên cho chó, mèo ), v.v thì chỉ cần nghe tên riêng người nghe sẽ không rơi vào tình trạng mơ hồ chiếu vật Lúc này phạm trù người, đất đai, sông núi mà tên riêng gợi ra (do sự khác nhau trong cách đặt tên) là nét nghĩa biểu niệm của của tên riêng

- Tên riêng có thể trùng nhau Trùng tên riêng dù là của các đối tượng thuộc một phạm trù hay không cùng một phạm trù đều dẫn đến tình trạng mơ hồ

về chiếu vật Bởi vậy, để xác định được nghĩa chiếu vật của các tên riêng trùng nhau đó, ta có thể thêm danh từ chung đặt trước danh từ riêng, hoặc dùng định ngữ hay tiểu danh vào sau tên riêng, tùy theo các đối tượng trùng tên nằm trong một phạm trù hay khác phạm trù

Nếu các đối tượng trùng tên cùng nằm trong một phạm trù, ta thêm tiểu danh hay định ngữ hạn định vào sau tên riêng

Ví dụ (3): a Cô Hà khoa Vật lí vừa cưới chồng

b Cô Hà Minh vừa cưới chồng

Trang 25

Trong ví dụ (a), người nói đã dùng định ngữ ‘vật lí’ vào sau tên riêng ‘Hà’

để phân biệt ‘Hà’ của khoa ‘Vật lí’ với những ‘Hà’ khác, chẳng hạn như ‘Hà khoa Văn’, ‘Hà khoa Sinh’, v.v Thêm định ngữ hạn định như vậy là một cách giúp ta xác định được nghĩa chiếu vật của các tên riêng ‘Hà’ trùng nhau trong cùng một phạm trù

Trong ví dụ (b), ‘Minh’ là tiểu danh được người nói thêm vào sau tên riêng trùng nhau ‘Hà’ để giúp người nghe xác định nghĩa chiếu vật của tên riêng này Tiểu danh không có nghĩa là ‘tên nhỏ’ mà là một tên riêng khác, được dùng với chức năng không phải gọi tên mà là chức năng hạn định cho một tên riêng khác Việc dùng một tên riêng với chức năng để hạn định cho một tên riêng khác cũng

có vại trò giúp ta xác định được nghĩa chiếu vật của những tên riêng trùng nhau Tiểu danh lúc này có vai trò như một định ngữ hạn định

Nếu các đối tượng trùng tên không cùng nằm trong một phạm trù, ta dùng danh từ chung đặt trước danh từ riêng

Ví dụ (4) (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu): Có ba đối tượng thuộc ba phạm trù

khác nhau có cùng tên là Hương Giang, một đối tượng là khách sạn, một đối

tượng là sông và một đối tượng là người, muốn người nghe biết mình định nói tới ai, ta thêm danh từ chung chỉ ba phạm trù trên đặt trước tên riêng, chẳng hạn:

+ Khách sạn Hương Giang;

+ Sông Hương Giang;

+ Cô hương Giang

Các từ ‘khách sạn’, ‘sông’, ‘cô’ là những danh từ chung Những danh từ chung này cũng giúp ta xác định được đối tượng được nói đến dưới cái tên

‘Hương Giang’ là đối tượng nào, tức đã loại được một đối tượng ra khỏi ba đối tượng khác phạm trù cùng được gọi bằng cái tên ‘Hương Giang’ đã nói

- Trong quá trình sử dụng, tên riêng có thể được dùng theo lối dịch chuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ và quan trọng là tên riêng được dùng để xưng hô, tức tên riêng là một trong những phương tiện ngôn ngữ dùng

để chiếu vật Luận văn này nghiên cứu tên riêng trong văn Vi Hồng ở chức năng thứ hai này - chức năng xưng hô

Trang 26

b) Phương thức dùng biểu thức miêu tả

Như mọi người đều biết, không phải mọi sự vật trong thế giới khách quan đều có tên riêng Bởi có những sự vật không được đặt tên hoặc không thể đặt tên

Có những sự vật, hiện tượng không đặt được tên như: gió, mưa, hoa quả trên cây, cây trong rừng, v.v (hoa quả trên cây hay cây trong rừng không đặt được tên vì chúng quá nhiều)

Có những sự vật có thể đặt tên được nhưng người ta lại không đặt tên cho

chúng, ví dụ: gà trong một đàn, bát trong một rổ, chó nuôi trong nhà, v.v

Trong giao tiếp, để giúp người nghe biết được mình định nói đến đối tượng,

sự vật nào trong cái tập hợp đối tượng không có tên riêng ấy, ta có thể dùng biện pháp miêu tả để tạo ra một biểu thức miêu tả chiếu vật

Ví dụ (5): (Nhà có nuôi ba con mèo khác màu lông), ta nói: Con mèo màu

đen vừa bắt được con chuột

“màu đen” là biểu thức miêu tả được đặt sau danh từ chung (mèo) đã đủ giúp người nghe biết được người nói định nói tới con mèo nào “Màu đen” là

một biểu thức miêu tả Biểu thức miêu tả này có khả năng loại được một con mèo

ra khỏi tập hợp ‘ba con mèo’, do đó nó giúp người nghe xác định được nghĩa

chiếu vật của mèo

Tóm lại, bản chất của miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung Nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật - nghĩa chiếu vật ra khỏi sự vật khác cùng loại với chúng Biểu thức miêu tả do đó bao giờ cũng có tên chung làm trung tâm Cái tên chung làm trung tâm này đóng vai trò như các từ chỉ phạm trù trong một biểu thức chiếu vật tên riêng

c) Phương thức chỉ xuất

- Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ [8, tr.72]

Ví dụ (6): Cái ghế này hỏng chân rồi

Từ ‘này’ đã tách được một ‘cái ghế’ ra khỏi tập hợp ‘ghế’ để ta có thể xác định được cái ghế hỏng chân đó là cái ghế nào

Trang 27

- Các từ chỉ xuất trong ngôn ngữ đều có tính chất chỉ hiệu Khác với các biểu thức miêu tả, các biểu thức chỉ xuất không thông qua chức năng miêu tả

mà thông qua chức năng định vị, có nghĩa là chiếu vật thông qua việc xác định

vị trí của vật được nói tới, phân biệt nó với các sự vật khác theo quan hệ không gian, thời gian và các quan hệ khác chứ không theo đặc điểm như ở các biểu thức miêu tả

Ví dụ (7):

So sánh hai cách dùng biểu thức chiếu vật trong hai phát ngôn đã dẫn trên:

a Cô mời bạn mặc áo len xanh phát biểu ý kiến! (Dùng biểu thức miêu tả)

b Cô mời bạn ngồi đầu bàn thứ hai, dãy giữa, phía bên phải cô phát biểu!

(Dùng biểu thức chỉ xuất)

Trong ví dụ (a), người nói giúp người nghe nhận ra nghĩa chiếu vật của

‘bạn’ là nhờ biểu thức miêu tả “mặc áo len xanh”

Trong ví dụ (b), người nói giúp người nghe nhận ra nghĩa chiếu vật của

bạn cũng bởi đã dùng biểu thức chiếu vật chỉ xuất - định vị thời gian “ngồi đầu

bàn phía bên phải” Biểu thức chiếu vật này có chức năng định vị cho ‘bạn’,

nhờ đó mà ta biết bạn được qui chiếu đến ai

- Ba phạm trù chỉ xuất trong ngôn ngữ là: (1) Phạm trù ngôi (xưng hô), (2) Phạm trù chỉ xuất không gian, thời gian và (3) Phạm trù chỉ xuất trong diễn ngôn

Với nội dung nghiên cứu của đề tài, luận văn này chỉ nghiên cứu phạm trù thứ nhất, phạm trù ngôi (tức phạm trù chỉ xuất xưng hô)

+ Phạm trù xưng hô, còn gọi là phạm trù ngôi bao gồm việc sử dụng các phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự qui chiếu, tức tự đưa mình (tự xưng) hay người tham gia giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn

Để xưng hô, các ngôn ngữ đều có hệ thống đại từ xưng hô Trong tiếng Việt có các đại từ xưng hô chuyên dụng tiêu biểu ở ba ngôi, như:

Ngôi 1: tôi, tớ, tao, chúng tôi, chúng tao, chúng tớ

Ngôi 2: mày, bay, chúng mày, chúng bay

Ngôi 3: nó, họ, chúng nó

Trang 28

Ngoài ra, tiếng Việt còn dùng các phương tiện khác để xưng hô, như:

Tên riêng: Hoa, Thu, Tình, Hải,

Từ chỉ quan hệ thân tộc: ông, bà, bố, mẹ, anh, em, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ Danh từ thân tộc được chia thành ba nhóm: (1) Nhóm từ, như: u, bầm, bủ,

tía, ba, má, bố, mẹ, (2) Nhóm từ, như: anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, ông,

bà, cụ, và (3) Nhóm từ, như: anh rể, chú họ, chị dâu, anh họ,

Từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp: giám đốc, hiệu trưởng, bác sĩ, cô giáo, ông

bá, cụ lí,

Từ ngữ chuyên dùng để xưng hô: ngài, trẫm, lão, thần, khanh, ngu đệ,

hiền đệ, bỉ nhân, tại hạ, tiên sinh, Những từ xưng hô nhóm này trước kia dùng

phổ biến nhưng nay hầu như chỉ dùng trong sách vở hay trong những hoàn cảnh đặc biệt

Từ ngữ dân dã khác (nay cũng ít dùng): anh cò, anh hĩm, chị đỏ,

- Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt có những từ kiêm ngôi và có

từ chuyên ngôi

+ Từ kiêm ngôi là những từ có khả năng dùng ở nhiều ngôi, tức lúc thì dùng để chỉ ngôi thứ nhất, lúc thì được dùng để chỉ ngôi thứ hai, và lúc thì dùng với tư cách chỉ ngôi thứ ba, chẳng hạn như tên riêng ‘Hà’ dùng trong các trường hợp dùng sau:

Ví dụ (8): a Hà ơi, chúng mình đi học đi (Hà, tên riêng dùng ở ngôi 2)

b Minh ơi, Hà đến nhà cậu được không? (Hà là người nói ra phát ngôn

này) (Hà, tên riêng dùng ở ngôi 1)

c Minh ơi, Thanh và Minh đến nhà Hà chơi đi (Hà được dùng ở ngôi thứ

3)

Tương tự, một số danh từ chỉ quan hệ thân tộc, như từ chú sau đây cũng

là từ kiêm ngôi

Ví dụ (9): a Lại đây chú cho cái kẹo (Chú dùng để chỉ ngôi 1)

b Chú cho cháu cái bút này nhé (Chú dùng để chỉ ngôi 2)

c Em và chị đến thăm chú đi (Chú dùng để chỉ ngôi 3)

Trang 29

+ Từ chuyên ngôi là từ chỉ được dùng cho một ngôi, ví dụ:

Các từ: tôi, tao, tớ, chúng tao, chúng tớ chuyên dùng ở ngôi thứ nhất

Các từ: mày, chúng mày chuyên dùng ở ngôi thứ hai

Các từ: nó, họ, chúng nó chuyên dùng ở ngôi 3

Khảo sát các biểu thức chiếu vật nhân vật trong văn Vi Hồng thì thấy có biểu thức được dùng để qui chiếu một ngôi (từ chuyên ngôi) và cũng có biểu thức được dùng để qui chiếu nhiều ngôi (từ kiêm ngôi)

- Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt có những từ dùng bao gộp cả

ngôi 1 và ngôi 2, như chúng ta, lại có những từ vừa dùng bao gộp, vừa dùng không bao gộp, như chúng mình Ví dụ (10) dưới đây là một ví dụ về các từ xưng

hô trong tiếng Việt dùng bao gộp hoặc vừa bao gộp, vừa không bao gộp:

Ví dụ (10): a Hà ơi, chúng ta cùng đi bộ đến nhà cô giáo nhé

b Hà ơi, chúng mình đi học đi!

c Hà ơi, hôm qua chúng mình đến nhà bạn mà bạn không có nhà

Trong ví dụ (a), chúng ta là từ dùng bao gộp, tức để chỉ cả ngôi 1 và ngôi

2 Trong ví dụ (b), chúng mình là từ cũng được dùng bao gộp để chỉ ngôi 1 và ngôi 2 Trong ví dụ (c), chúng mình được dùng không bao gộp Ở đây, từ này

được dùng chỉ ngôi thứ nhất, số nhiều

Nhìn chung, tên riêng và danh từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt đại

bộ phận là kiêm cả ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba

Thông thường, để giúp người nghe khỏi lẫn ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, tiếng Việt thêm các từ chỉ xuất vào sau các từ chỉ quan hệ thân tộc ở nhóm thứ

hai, kiểu như: chị ấy, cô ấy, bác ấy, em ấy, v.v

- Hệ thống từ xưng hô có thể thay đổi theo lịch sử Ví dụ, trước kia trong

xã hội có vua tôi, người ta xưng hô tùy theo vị thế của người tham gia giao

tiếp, nếu người nói là vua thì dùng trẫm để chỉ ngôi 1, khanh để chỉ ngôi 2,

v.v Hiện nay, những từ này hầu như không dùng để xưng hô trong giao tiếp thông thường

Trang 30

- Khi dùng từ xưng hô phải chú ý đến các nhân tố chi phối việc dùng từ xưng hô trong giao tiếp, cụ thể:

+ Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp (thể hiện được vai nói và vai nghe); + Xưng hô phải thể hiện được quan hệ quiền uy;

+ Xưng hô phải thể hiện quan hệ thân cận;

+ Xưng hô phải phù hợp với ngữ vực;

+ Xưng hô phải thích hợp với thoại trường;

+ Xưng hô phải thể hiện được thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe;

- Các phương tiện dùng để xưng hô cũng không phải là cố định trong một cuộc giao tiếp Bởi quan hệ liên cá nhân có thể biến đổi trong cuộc giao tiếp, cho nên khi mà từ xưng hô chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan hệ liên cá nhân thì tất yếu chúng phải biến đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp Vấn đề này xin xem [8, tr.80]

Vận dụng lí thuyết chiếu vật vừa trình bày và kết quả khảo sát đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ phân loại và miêu tả các cách dùng các biểu thức chiếu vật trong văn xuôi Vi Hồng

1.2 Lí thuyết ba bình diện của ngôn ngữ

Ngôn ngữ có bản chất tín hiệu Ba bình diện trong nghiên cứu ngôn ngữ

có cơ sở từ ba dạng quan hệ của tín hiệu: Kết học, nghĩa học và dụng học

Ở cấp độ từ, kết học nghiên cứu các cách cấu tạo từ, các qui tắc kết hợp các thành tố cấu tạo từ Theo đó ta có các từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ,

v.v ( kết học ở cấp độ từ được ngữ pháp học là Từ pháp)

Trang 31

Ở cấp độ câu, kết học nghiên cứu các qui tắc, cách thức liên kết các từ thành cụm từ và thành câu (theo các kiểu, như: câu đơn, câu ghép, v.v ) (kết học

ở cấp độ câu được ngữ pháp học gọi là Cú pháp)

Nghiên cứu đề tài Cách chiếu vật nhân vật trong văn xuôi Vi Hồng, chúng

tôi coi việc xem xét bình diện ngữ pháp, đặc biệt là xem xét đặc điểm từ loại của các phương tiện ngôn ngữ dùng để chiếu vật nhân vật (các biểu thức chiếu vật) làm cơ sở để xác định hai bình diện tiếp theo của các biểu thức chiếu vật này là:

nghĩa học và dụng học

1.2.2 Bình diện nghĩa học

Theo Đỗ Hữu Châu, Nghĩa học là quan hệ giữa tín hiệu với vật được qui

chiếu trong thông điệp Đây là lĩnh vực của chức năng miêu tả, thông tin sự vật

Ví dụ, chúng ta có hai phát ngôn: (1) Minh bị ốm, (2) Minh lại bị ốm Ở (1) và (2) đều chung một thông tin miêu tả: Minh bị ốm Nghĩa học chỉ quan tâm đến

thông tin miêu tả này

Ngữ nghĩa học của ngôn ngữ bao gồm “tất cả những tinh thần mà một đơn

vị ngôn ngữ có thể gợi ra ở người sử dụng” [8, tr 47]

Như vậy, ngữ nghĩa học được hiểu rộng hơn nghĩa học của tín hiệu học,

vì nó bao gồm cả những nội dung miêu tả (nghĩa học) và những nội dung liên cá nhân (dụng học)

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cách chiếu vật nhân vật trong văn Vi Hồng, do đó, nội dung cốt yếu khi xem các phương tiện ngôn ngữ chiếu vật nhân vật trên bình diện nghĩa học, trước hết chúng tôi sẽ tìm hiểu nghĩa của chúng trong trạng thái tĩnh để làm cơ sở cho bước tiếp theo là tìm hiểu, phân tích dụng ý của tác giả khi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đó Không phải ngẫu nhiên mà Vi Hồng đặt tên cho những nhân vật phản diện là “Cẩu Tệnh”(con ễnh ương) hay “Cháp Chá” (con nhái bén), “Cháp Nhính” (con chão chuộc),

“Tạp Tạng” (bát nháo), Oác (gần âm với khoác lác, hàm ý người có tính xấu -

tính khoác lác) và cũng chẳng phải tự nhiên mà nhà văn Vi Hồng lại cho những

Trang 32

nhân vật đáng yêu, có tư cách tốt mang những cái tên mĩ miều: “Thieo Mây” (sợi chỉ thêu nhiều màu sắc), “loan Phượng” (loài chim đẹp, có sức mạnh), “ngọc” (một loại đá quí), Lanh (một loài cây có vỏ dùng làm nguyên liệu dệt vải hay giấy), v.v

Xem xét ngôn ngữ ở trạng thái động là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (ta có bộ môn học với đối tượng nghiên cứu này là Ngữ dụng học)

Có thể hình dung mối quan hệ của Ngữ dụng học với các bộ môn ngôn ngữ học truyền thống như sau:

Bảng 1.1: Bảng miêu tả mối quan hệ giữa các bộ môn ngôn ngữ học

Các bộ môn ngôn ngữ học truyền thống

Trang 33

Với quan điểm trên, khi xem xét các đơn vị ngôn ngữ trên bình diện dụng học chúng không thể tách rời khỏi các nhân tố giao tiếp.Vận dụng những tri thức

về dụng học, luận văn coi việc tìm hiểu cách chiếu vật nhân vật (cách gọi tên nhân vật) mà Vi Hồng sử dụng trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp là rất quan trọng Bởi điều đó phản ánh đúng bản chất của Ngữ dụng học, bộ môn nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng

1.3 Giao tiếp và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp

1.3.1 Khái niệm giao tiếp

Có nhiều định nghĩa về giao tiếp nhưng có thể hiểu giao tiếp qua hai định nghĩa sau đây:

(1) Quan niệm của tác giả Lê A và tác giả Đình Cao [6, tr 125]

Hai tác giả này cho rằng: Giao tiếp là một cuộc tiếp xúc giữa người phát tin và người nhận tin thông qua một hệ thống tín hiệu nhất định Thông qua hệ thống tín hiệu này, các nhân vật giao tiếp trao đổi cho nhau những tâm tư tình cảm, những tin tức về hiện thực khách quan hay những sự kiện xảy ra cho chính người nói hoặc người nghe

(2) Quan niệm của tác giả Mai Ngọc Chừ và tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa [9, tr.480]

Các tác giả này định nghĩa giao tiếp như sau:

“Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhóm người) với con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin, đồng thời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp với nhau” [9, tr 480]

Như vậy, dù cách định nghĩa có khác nhau, nhưng hai định nghĩa về giao tiếp vừa dẫn đều chung nhau ở ba điểm cơ bản:

Thứ nhất, giao tiếp trước hết là một hoạt động xã hội, phải có sự tham gia

của ít nhất từ hai người trở lên

Thứ hai, giao tiếp đòi hỏi phải có các nhân tố tham gia và chi phối hoạt

động đó

Thứ ba, giao tiếp phải có mục đích nhất định

Trang 34

1.3.2 Các nhân tố giao tiếp

Nói đến giao tiếp không thể không nói đến các nhân tố giao tiếp Có 5

nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp (gọi tắt là các nhân tố GT), là: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, phương tiện giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp Luận văn chỉ bàn đến hai nhân tố giao tiếp quan trọng liên quan đến vấn đề lựa chọn phương tiện xưng hô (chọn biểu thức chiếu vật nhân vật) của các nhân vật giao tiếp, đó là: nhân vật giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp

1.3.2.1 Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp được hiểu là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói, các diễn ngôn nhờ đó mà tác động qua lại Nhân vật giao tiếp là những người tương tác bằng ngôn ngữ, đó

là những người sinh lời hay tiếp lời, có người gọi là người phát hay người nhận Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân

a) Vai giao tiếp

Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có sự phân vai, đó là vai nói và vai nghe Vai nói là vai phát ra diễn ngôn, vai nghe là vai tiếp nhận diễn ngôn Trong cuộc giao tiếp bằng lời, vai nói và vai nghe thường xuyên luân chuyển (trong hội thoại, đây là qui tắc luân phiên lượt lời, tức là lượt lời của vai nói và vai nghe luân phiên theo mô hình: ababab (a nói rồi đến b rồi lại đến a )

Thực ra, vai nói và vai nghe không hề đơn giản Điều này đã được Đỗ Hữu Châu dẫn ra một ví dụ để chứng minh sự không đơn giản như vừa nói:

(Hồng nói với Thủy): Thủy về nói với Hà là thầy giáo bảo sang mai đến

gặp thầy có việc

Phát ngôn này liên quan đến 4 người: Hồng, Thủy, Hà, thầy giáo Hồng là người nói trực tiếp, Thủy là người nghe trực tiếp nhưng người nói đích thực phải là thầy giáo và người nghe đích thực phải là Hà Tác giả Đỗ Hữu Châu gọi Hồng là thuyết ngôn, Thủy là tiếp ngôn, thầy giáo là chủ ngôn và Hà là đích ngôn

Trang 35

Như vậy, khi nói đến vai giao tiếp, cần phân biệt các khái niệm: chủ ngôn, thuyết ngôn, tiếp ngôn, đích ngôn Chủ ngôn và thuyết ngôn, tiếp ngôn và đích ngôn có khi trùng nhau và có khi không trùng nhau

b) Quan hệ liên cá nhân

Nói đến quan hệ liên cá nhân là nói đến mối quan hệ vị thế xã hội và quan

hệ thân cận Quan hệ vị thế xã hội và quan hệ thân cận có thể biểu diễn bằng trục tung và trục hoành: Trục tung biểu diễn quan hệ vị thế, trục hoành biểu diễn quan

hệ thân cận

- Quan hệ vị thế xã hội - trục quiền uy: Quan hệ vị thế xã hội là quan hệ

trên - dưới (cao - thấp) hay bình đẳng (ngang nhau) Ví dụ, quan hệ giữa: cha -

con, thủ trưởng - nhân viên, là quan hệ cao - thấp, quan hệ giữa bạn - bạn, vợ

- chồng là quan hệ bình đẳng

Quan hệ xã hội được qui định bởi tuổi tác, chức vụ, quan hệ thân tộc, giàu

- nghèo, v.v Tuy nhiên, vị thế xã hội của nhân vật giao tiếp nhìn từ góc độ gia đình hay trong xã hội là không hoàn toàn đồng nhất Điều này thể hiện ở chỗ, có những trường hợp xét trong hoàn cảnh này thì các nhân vật giao tiếp ở vị trí xã hội này nhưng sang hoàn cảnh khác vị thế xã hội của các nhân vật giao tiếp có thể thay đổi Chẳng hạn, ở gia đình thì chú ở vị thế cao, cháu ở vị thế thấp, nhưng trong quan hệ công tác thì cháu có thể ở vị thế xã hội cao hơn chú (cháu là giám đốc, chú làm nhân viên cùng trong một cơ quan)

Tùy theo quan niệm văn hóa của từng xã hội trong từng gia đoạn lịch sử

mà địa vị xã hội cũng khác nhau Ví dụ, trước năm 1945 ở Việt Nam cư dân thành thị thường được xem là có địa vị xã hội cao hơn cư dân ở nông thôn, và người hàng văn được xem là có địa vị cao hơn người hàng võ Còn hiện nay, tuổi tác có thể lấn át các giá trị khác, điều đó được coi là ứng xử có văn hóa

Trong quan hệ gia đình, quan hệ trên dưới của mỗi cá nhân cũng được xác định rất rõ Mối quan hệ này được thể hiện qua lớp từ xưng hô như: ông/bà - cháu, bố/mẹ - con, anh/chị - em, cô/dì/chú/bác - cháu, v.v

Trang 36

- Quan hệ thân cận (mức độ thân cận) - trục khoảng cách: Nói đến mức độ thân cận là nói đến quan hệ thân - sơ giữa các nhân vật giao tiếp Trục này có hai cực: thân tình và xa lạ với những mức độ khác nhau Trong đó mức độ thân cận

có thể tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những người giao tiếp nhưng không nên đồng nhất vị thế xã hội và mức độ thân cận Chẳng hạn không nên nghĩ rằng người ở vị thế bình đẳng nhau thì thân cận hơn những người có vị thế cao thấp khác nhau Ví dụ (dẫn theo Đỗ Hữu Châu), cùng là sinh viên mới nhập trường nhưng một người là sinh viên khoa Văn, một người là sinh viên khoa Toán, mức độ thân cận có thể thấp, mặc dù thế lực - tức vị thế xã hội là bình đẳng, song cũng có những ông giám đốc lại rất thân với cô thư kí, mặc dù vị thế

xã hội của họ là vị thế cao - thấp

Cần lưu ý rằng, mức độ thân cận và vị thế xã hội trong một cuộc giao tiếp

có thể giữ nguyên nhưng cũng có thể thay đổi Chẳng hạn, vị thế cha - con, thủ trưởng - nhân viên là quan hệ không thay đổi, nhưng cũng có những trường hợp quan hệ thân cận và vị thế xã hội thay đổi Điều này có thể được chứng minh bằng thực tế qua cách xưng hô của các nhân vật giao tiếp trong một cuộc thoại: đầu cuộc thoại, hai nhân vật xưng hô với nhau là chị - em (quan hệ bình thường), đến giữa cuộc thoại lại xưng hô với nhau là cô - tôi (quan hệ thân cận bị rạn nứt), cuối cuộc thoại thì xưng hô với nhau là tao - mày (quan hệ phá vỡ hoàn toàn)

- Ngoài quan hệ vị thế xã hội và quan hệ thân cận, có thể kể đến quan hệ

vị thế giao tiếp Nói đến vị thế giao tiếp là nói đến quiền điều khiển một cuộc

giao tiếp, tức là quiền chủ động hay bị động trong giao tiếp Nói chung, người ở

vị thế xã hội cao thì thường ở vị thế giao tiếp mạnh Tuy nhiên, không nên đồng nhất vị thế xã hội với vị thế giao tiếp, chẳng hạn:

+ Giám đốc (vị thế xã hội cao) lại bị một nhân viên (vị thế xã hội thấp) điều khiển cuộc giao tiếp

+ Một ông Bộ trưởng (vị thế xã hội cao) khi đi khám bệnh lại chịu sự điều khiển của một bác sĩ (vị thế xã hội thấp)

Trang 37

Ngay cả những nhân vật giao tiếp có quan hệ bình đẳng thì trong một cuộc giao tiếp vẫn có thể có người ở thế chủ động và có người ở thế bị động

Vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận của các nhân vật giao tiếp nói chung sẽ chi phối rất mạnh đến vấn đề lựa chọn phương tiện xưng hô của họ Nói cách khác, xưng hô của các nhân vật giao tiếp trong văn chương hay trong giao tiếp đời thường sẽ chịu sự chi phối của vị thế xã hội, vị thế giao tiếp

là một chiến lược thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

Vận dụng lí thuyết về quan hệ vị thế và quan hệ thân cận của các nhân vật giao tiếp, chúng tôi sẽ phân tích sự chi phối của chúng đối với việc sử dụng các biểu thức chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng Khi phân tích vai trò của các biểu thức chiếu vật nhân vật trong văn xuôi của Vi Hồng, chúng tôi không thể không quan tâm đến vấn đề vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và mức độ thân cận của các nhân vật giao tiếp

1.3.2.2 Hoàn cảnh giao tiếp

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, hoàn cảnh giao tiếp được tách ra thành hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp

- Hoàn cảnh giao tiếp rộng là những hiểu biết về điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế, v.v của một dân tộc, một đất nước trong đó cuộc giao tiếp đang diễn ra Nói cách khác, “Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời gian và không gian trong đó diễn ra cuộc giao tiếp” [7, tr 23]

Trang 38

Hoàn cảnh giao tiếp rộng cũng chi phối đến hoạt động giao tiếp Điều này thể hiện ở việc lựa chọn đề tài, lựa chọn nội dung giao tiếp, lựa chọn từ ngữ (trong đó có vấn đề lựa chọn từ ngữ xưng hô), v.v của các nhân vật giao tiếp Chẳng hạn, một bài giảng về chính trị cho sinh viên trong điều kiện kinh tế, chính trị ở Việt Nam hiện nay ta phải nói cái gì, nói thế nào? Tất cả đều phải lựa chọn trước khi nói

- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp (thoại trường) được hiểu là không gian, thời gian cụ thể trong đó cuộc giao tiếp được diễn ra Đó là không gian, thời gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi người ta phải xử sự, nói năng theo những cách thức cũng chung cho nhiều lần xuất hiện (ví dụ như hoàn cảnh hẹp là không gian trong một trường học, chùa chiền, nhà thờ, v.v

Hoàn cảnh giao tiếp hẹp cũng quiết định ngôn bản về nội dung và hình thức Ví dụ, nói chuyện với nhau ở trong lớp học sẽ khác với nói chuyện với nhau ở giờ nghỉ Xưng hô với nhau trong cuộc họp sẽ khác với trong kí tức xá

Ở kí tức xá, hai sinh viên thân nhau có thể xưng hô với nhau bằng những từ ngữ xuồng xã, thân mật, kiểu như: tao - mày, người ta - mình, Nhưng trong cuộc họp thì không thể xưng hô như vậy

Hoàn cảnh giao tiếp hẹp có thể thay đổi trong một hoạt động giao tiếp Sự thay đổi của cuộc giao tiếp tạo nên ngữ huống giao tiếp Và điều này sẽ chi phối đến việc sử dụng từ ngữ xưng hô của các nhân vật giao tiếp

Trang 39

- Lịch sự là “những chiến lược nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên

cá nhân”

- “Phép lịch sự được xem như là một (hay một loạt chiến lược) được người dùng để hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa”

- “Có thể định nghĩa lịch sự như là một phương thức giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn ”

- “Phép lịch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham gia mà chúng ta

có thể gọi là ta và người”

Tác giả Đỗ Hữu Châu đã nhất trí với quan điểm của C.K Oreccchioni khi bàn về lịch sự, đó là:

“ lịch sự liên quan đến tất cả các phương diện của diễn ngôn:

1 Bị chi phối bởi các qui tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen)

2 Xuất hiện trong địa hạt liên cá nhân

3 Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải tỏa những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở thành càng dễ chịu với người kia thì càng tốt” [Dẫn theo 8, tr.256]

Chúng tôi cũng theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu hiểu về lịch sự như vừa dẫn

1.4.2 Các lí thuyết về phép lịch sự

Nói đến lí thuyết về lịch sự, không thể không nhắc đến lí thuyết của hai nhóm tác giả: (1) Lí thuyết của R Lakoff và G N Leech, (2) lí thuyết của Brown và Levinson Tinh thần cơ bản của các lí thuyết này, xin xem [8, tr.257

- 282]

Trang 40

1.4.2.1 Lí thuyết của R Lakoff và G N Leech

Các tác giả này đã đưa ra ba loại qui tắc lịch sự:

- Qui tắc thứ nhất, qui tắc không được áp đặt: Áp đặt có nghĩa với người

khác có nghĩa là làm cho người khác không thể hành động theo ý muốn của họ Trái ngược với áp đặt là không áp đặt Không áp đặt có nghĩa là không ngăn cản người khác hành động theo ý muốn của họ [8, tr 258]

Theo qui tắc này, trong giao tiếp, người nói sẽ tránh, làm dịu bớt, hoặc xin phép, xin lỗi người nghe khi buộc người nghe làm điều gì đó mà họ không muốn

Trong hội thoại, qui tắc này buộc chúng ta đặc biệt phải tránh những lời nói tục tằn, những tiếng lóng, thổ ngữ, v.v

- Qui tắc thứ hai, qui tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn: Dành cho

sự lựa chọn ở đây được hiểu là bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến hay lời thỉnh cầu của mình có thể không được biết đến mà không bị phản bác hay từ chối [8, tr 259]

Ví dụ: Hôm nay bạn có rỗi không? (Hàm ẩn: Bạn giúp mình làm một việc gì đó

(nếu không bận))

- Qui tắc thứ ba, qui tắc khuyến khích tình cảm bạn bè: Theo qui tắc này,

“Đã là bạn bè với nhau thì không có gì phải giấu giếm nhau cả”, “không phải uốn lưỡi ” Qui tắc này thích hợp với những bạn bè gần gũi hoặc thực sự thân mật với nhau Ngay cả những người yêu nhau cũng phải đối xử với nhau theo những chuẩn mực lịch sự nào đó

G N Leech đưa ra sáu phương châm lịch sự lớn, đó là phương châm khéo léo, phương châm rộng rãi, phương châm tán thưởng, phương châm khiêm tốn, phương châm tán đồng và phương châm thiện cảm (Nội dung của các phương châm này xin xem 8, tr.261-262)

1.4.2.2 Lí thuyết của Brown và Levinson

Brown và Levinson xây dựng lí thuyết của mình trên khái niệm thể diện (face) Thể diện, theo hai tác giả gồm hai phương diện: thể diện âm tính và thể diện dương tính [dẫn theo 8, tr 264-265]

Ngày đăng: 26/03/2021, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w