1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của vi hồng

134 227 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ là tên riêng dùng để chiếu Vật trong tác phẩm của Vi Hồng .... Các cách dùng biểu thức tên riêng để chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng ....

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Douvay BOUDDAHAO

CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN VẬT

TRONG TÁC PHẨM CỦA VI HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệukhảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưatừng công bố ở bất kì công trình nào khác

Tác giả

Douvay BOUDDAHAO

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Đào Thị Vân, người

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đểtôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu Vì vậy,tôi xin chân thành cảm ơn đến những người thầy, người cô đã giảng dạy cácchuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ K24 (2016 - 2018) tại trường Đại học Sưphạm - Đại học Thái Nguyên

Xin chân thành cảm ơn trường Ban Giám hiệu, các thày cô giáo khoa Tiếng

Việt Trường Ngôn ngữ Đại học Quốc gia Lào

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ vàđộng viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2018

Tác giả

Douvay BOUDDAHAO

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn

7 Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Khái quát về chiếu vật 8

1.1.1 Khái niệm chiếu vật và phân loại nghĩa chiếu vật 8

1.1.2 Khái quát về phương thức chiếu vật (cách chiếu vật)

14 1.2 Lí thuyết ba bình diện của ngôn ngữ

21 1.2.1 Bình diện kết học

21 1.2.2 Bình diện nghĩa học

22 1.2.3 Bình diện dụng học

23 1.3 Giao tiếp và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp 24

1.3.1 Khái niệm giao tiếp 24

1.3.2 Các nhân tố giao tiếp 25

Trang 6

1.4 Lí thuyết về lịch sự 291.4.1 Định nghĩa lịch sự 291.4.2 Các lí thuyết về phép lịch sự 30

Trang 7

Chương 2 KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ CÁC CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN VẬT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG

34

2.1 Chiếu vật nhân vật bằng cách dùng các biểu thức tên riêng (gọi tắt là phương thức dùng tên riêng) 34

2.1.1 Nhận xét chung 34

2.1.2 Kết quả khảo sát 36

2.1.3 Đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ là tên riêng dùng để chiếu Vật trong tác phẩm của Vi Hồng 44

2.1.4 Các cách dùng biểu thức tên riêng để chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng 50

2.2 Chiếu vật nhân vật bằng cách dùng biểu thức miêu tả 52

2.2.1 Kết quả thống kê 52

2.2.2 Đặc điểm của các biểu thức miêu tả chiếu vật trong văn xuôi Vi Hồng

55 2.2.3 Một số cách xây dựng biểu thức miêu tả chiếu vật trong tác phẩm của Vi Hồng 59

2.3 Chiếu vật nhân vật bằng cách chỉ xuất trong văn Vi Hồng 63

2.3.1 Kết quả khảo sát 63

2.3.2 Đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ chỉ xuất dùng để chiếu Vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng 64

2.3.3 Một số cách chiếu vật bằng chỉ xuất trong tác phẩm của Vi Hồng 69

Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM CỦA VI HỒNG 74

3.1 Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách dùng tên riêng trong tác phẩm của Vi Hồng 74

3.1.1 Dùng tên riêng để chiếu vật giúp người đọc xác định được chính xác nhân vật trong tác phẩm mà nhà văn định nói đến 74

3.1.2 Tên riêng thể hiện giới tính của nhân vật 75

3.1.3 Tên riêng thể hiện nguồn gốc dân tộc của nhân vật và tính dân tộc cho tác phẩm 77

3.1.4 Tên riêng thể hiện thái độ của tác giả đối với nhân vật 78

Trang 8

3.2 Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách dùng biểu thức miêu tả trong

tác phẩm của Vi Hồng 81

3.2.1 Biểu thức miêu tả thể hiện được đặc điểm ngoại hình của nhân vật 81

3.2.2 Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được đặc điểm tính cách của nhân vật 85

3.2.3 Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được vị thế, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm học vị của nhân vật được qui chiếu 88

3.2.4 Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được thân phận của nhân vật 94

3.3 Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách chỉ xuất trong tác phẩm của Vi Hồng 94

3.3.1 Thể hiện được vai giao tiếp và vị thế của nhân vật trong tác phẩm 94

3.3.2 Thể hiện được nghề nghiệp, chức vụ, giới tính của nhân vật 95

3.3.3 Thể hiện được thái độ của tác giả hay của nhân vật đối với nhân vật 96

3.3.4 Góp phần đa dạng cách diễn đạt cho tác phẩm 97

3.3.5 Thể hiện giới tính của nhân vật 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 9

Bảng 2.4: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng để

qui chiếu nhân vật trong 4 tác phẩm của Vi Hồng (gồm tên

và tổhợp từ biểu thị tên riêng) 41Bảng 2.5: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Vào hang 41

Bảng 2.6: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Người trong ống 42

Bảng 2.7: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Tháng năm biết nói 43

Bảng 2.8: Bảng tổng kết số lượt dùng của các biểu thức tên riêng trong

tác phẩm Chồng thật vợ giả 44

Bảng 2.8: Bảng tổng kết các biểu thức tên riêng cấu tạo đơn âm hoặc đa

âm 45Bảng 2.9: Bảng tổng kết biểu thức tên riêng có cấu tạo là một tổ hợp từ 46

Bảng 2.10: Bảng thống kê các biểu thức miêu tả chiếu vật trong 4 tác

phẩm văn xuôi của Vi Hồng 53Bảng 2.11: Bảng tổng kết số lượt sử dụng biểu thức chiếu vật nhân vật

theo phương thức chỉ xuất trong văn xuôi Vi Hồng 64Bảng 2.12: Bảng tổng kết các biểu thức chiếu vật nhân vật theo phương

Trang 10

ivthức chỉ xuất có cấu tạo là từ trong 4 tác phẩm của Vi Hồng 65

Trang 11

Bảng 2.13: Bảng tổng kết các biểu thức chiếu vật nhân vật theo phương

thức chỉ xuất có cấu tạo là cụm từ trong 4 tác phẩm của Vi Hồng 66

Bảng 2.14: Bảng tổng kết các biểu thức chỉ xuất nhân vật trong văn Vi

Hồng được phân loại theo ngôi 67Bảng 2.15: Bảng tổng kết các biểu thức chiếu vật nhân vật mang ý nghĩa

định vị vai giao tiếp số ít hay số nhiều 68Bảng 2.16: Bảng tổng kết các cách chiếu vật theo phương thức chỉ xuất

trong tác phẩm của Vi Hồng 71

Trang 12

1.2 Vi Hồng là một nhà văn dân tộc được mệnh danh là “kiện tướng”của văn học thiểu số Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học do nhà nướctrao tặng Với sức sáng tạo của khối óc, sự chân thực của cảm xúc và bầu nhiệthuyết của con tim, Vi Hồng đã góp một tiếng nói chân thành, sâu sắc vào bảnđàn văn học viết về miền núi Các tác phẩm của ông được lấy từ chất liệu cuộcsống, thiên nhiên và con người núi rừng Việt Bắc, nơi mà nhà văn sinh ra, yêumến và vô cùng am hiểu.

1.3 Nhân vật trong mỗi tác phẩm văn học chính là linh hồn, là tư tưởng,

là tình cảm mà người nghệ sĩ gửi gắm, kí thác Trong tác phẩm của Vi Hồng,thế giới nhân vật hiện lên sinh động, phong phú Mỗi cái tên đều chứa đựngmột ý nghĩa Phân tích, tìm hiểu tác phẩm văn chương nói chung, văn Vi Hồngnói riêng, ngoài việc quan tâm đến ngôn ngữ, thi pháp, kết cấu, giọng điệu,phong cách không thể không chú ý đến cách gọi tên nhân vật, miêu tả nhânvật bằng các phương tiện ngôn ngữ mà các nhà văn sử dụng

1.4 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chiếu vật và phương thứcchiếu vật nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về cách chiếu vật (phươngthức chiếu vật) nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng một cách công phu vàbài bản

Trang 13

Phương thức chiếu vật nhân vật là một lĩnh vực nghiên cứu rất thú vị, mở

ra nhiều bất ngờ, mới mẻ khi đi tìm hiểu ngôn ngữ Vi Hồng, vì chiếu vật được

Vi Hồng sử dụng rất linh hoạt và tài tình trong tác phẩm của mình Hiện tượng

này đã đem lại hiệu quả tu từ rõ rệt Chọn đề tài “Cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng” để nghiên cứu, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần

vào việc phân tích nhân vật trong tác phẩm văn chương nói chung, trong văn ViHồng nói riêng, từ đó hiểu sâu sắc tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật,

tư tưởng, tình cảm của nhà văn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về tình hình nghiên cứu chiếu vật và phương thức chiếu vật

Chiếu vật và phương thức chiếu vật được nghiên cứu từ lâu, song phảiđến những năm 1970 trở lại đây, vấn đề này mới thực sự được các nhà ngữdụng học quan tâm đặc biệt

Nói đến tình hình nghiên cứu về chiếu vật và phương thức chiếu vật củacác nhà ngôn ngữ học trong nước và ngoài nước, trước hết phải nói rằng rất ítcông trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Chỉ một số công trình khinghiên cứu về ngữ dụng học nói có sơ qua về hiện tượng ngữ dụng đang bàn.Nói về chiếu vật và phương thức chiếu vật, không thể không kể đến ba tác giảvới các công trình tiêu biểu sau đây:

(1) G Green (1989), Pragmatics and Natural language Understanding,

LEA London

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã bàn về khái niệm chiếu vật

và vai trò của chiếu vật trong việc hiểu nghĩa của một phát ngôn

Trước hết, tác giả đã nêu quan niệm về thuật ngữ chiếu vật Theo tác giả,

“Thuật ngữ chiếu vật (reference) được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó ngườinói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽgiúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào,quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [43, tr 37]

Trang 14

G Green cũng chỉ rõ vai trò của chiếu vật đối với việc hiểu nghĩa của một phát ngôn Tác giả đã chỉ rõ, các nhà logic học chú ý đến việc xác định tínhđúng

- sai của các mệnh đề logic được diễn đạt bằng ngôn ngữ Nhưng trong ngônngữ tự nhiên, có rất nhiều câu cụ thể mà các nhà logic không thể kết luận đượcnội dung của chúng đúng hay sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với

sự vật nào đang được nói tới trong hiện thực

(2) Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb

GD,

Trang 15

HN.

Tác giả không dùng khái niệm chiếu vật mà dùng thuật ngữ “qui chiếu”

để chỉ khái niệm này Theo tác giả, có hai loại qui chiếu là qui chiếu hướngngoại và qui chiếu hướng nội Qui chiếu hướng ngoại là qui chiếu dựa vào tìnhhuống, còn qui chiếu nội hướng là qui chiếu vào văn bản

Tác giả cho rằng, qui chiếu ngoại hướng là “sự thiết lập mối quan hệ trựctiếp giữa tên gọi vật với vật được gọi bằng cái tên đó, cũng tức là đưa tên gọivật về với vật được gọi tên ngoài ngôn ngữ” [DQB, tr 175] Qui chiếu nộihướng (hướng nội) là “Sự thiết lập mối quan hệ về mặt nghĩa giữa yếu tố ngônngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia cùng nằm trong một văn bản” Với cách hiểu

về qui chiếu như vậy, tác giả đã phát biểu về qui chiếu như sau: “Trong văn bảnnếu có từ ngữ khác trong văn bản đó chưa rõ nghĩa thì nó cần phải được làm rõbằng cách tìm ra từ ngữ khác trong văn bản đó chỉ rõ cái nghĩa ấy hoặc tìm racái việc ngoài văn bản cho biết nghĩa của từ ngữ chưa rõ nghĩa đó” [2, tr 182]

(3) Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb GD, HN

Từ góc độ nghĩa nghĩa, ngữ dụng, tác giả không dùng tên gọi sở chỉ màdùng thuật ngữ chiếu vật Tác giả quan niệm: “Thuật ngữ chiếu vật (referent)được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó mà người nói phát ra một biểu thức ngônngữ, với biểu thức này, người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ramột cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh tađịnh nói đến” [8, tr 61]

Trang 16

Tác giả ĐHC đã quan tâm tới sự tương tác giữa người nói và người nghe

trong giao tiếp ở góc độ hành vi chiếu vật Ông cho rằng, “Chiếu vật không

phải là hành vi đơn phương do người nói (viết) quiết định Nó đòi hỏi sự cộng tác của người tiếp nhận” [8, tr 69].

Ngoài việc nêu khái niệm về chiếu vật, tác giả còn nhấn mạnh đến vai tròcủa chiếu vật và các phương thức chiếu vật Theo tác giả, có ba phương thức

chiếu vật chủ yếu là: phương thức dùng tên riêng, phương thức dùng biểu thức

miêu tả và phương thức dùng chỉ xuất.

(4) Cao Xuân Hạo (2003), Câu trong tiếng Việt, quiển 1, Nxb Giáo dục

H Tác giả cho rằng, sở chỉ “là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định

gồm những đối tượng cụ thể” [18 tr.14]

Sở chỉ của từ chỉ được xác định khi nằm trong câu (phát ngôn), nói cáchkhác, trong câu nói các từ ngữ mới có sở chỉ Do đó, “Việc xác định sở chỉ của

từ ngữ không thuộc bình diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [18, tr 54]

2.2 Về tình hình nghiên cứu chiếu vật- chỉ xuất trong tác phẩm văn chương nói chung và trong văn Vi Hồng nói riêng

- Có thể nói, việc tìm hiểu cách chiếu vật - chỉ xuất trong tác phẩm vănhọc đã có nhưng chưa nhiều Cũng có một số công trình nghiên cứu vấn đề nàykhá công phu nhưng chưa thật khái quát Dưới đây là một số công trình nghiêncứu về chiếu vật - chỉ xuất trong tác phẩm văn chương:

+ Đỗ Xuân Quỳnh (2003), Sự chiếu vật và phương thức chiếu vật- khảo

sát qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP

HN;

+ Nguyễn Tú Quiên (2005), Các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ biểu

thị nhân vật trong Truyện Kiều, Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học, ĐHSP HN.

+ Nguyễn Tú Quiên (2011), Các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ biểuthị nhân vật trong văn học Việt Nam hiện đại, Luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học

Có thể nói, các công trình nghiên cứu vừa dẫn đã ít nhiều nói về vấn

Trang 17

đề chiếu vật, chỉ xuất, song hầu hết các công trình nghiên cứu này tập trung

Trang 18

bàn về các phương tiện ngôn ngữ dùng để chiếu vật - chỉ xuất chứ chưa bàn

kĩ về cách thức chiếu vật - chỉ xuất cũng như vai trò của từng phương thứcchiếu vật - chỉ xuất Thực hiện đề tài này, chúng tôi tiếp thu thành tựunghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời chúng tôi sẽ tập trung nghiêncứu cách thức chiếu vật, vấn đề mà trước đây các nhà nghiên cứu còn nóiđến một cách rất sơ lược

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách chiếu

vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng.

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

a) Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Chúng tôi giới hạn phạm vi ngữ liệu khảosát là 4 tác phẩm của Vi Hồng là:

- Vào hang, Nxb Thanh niên, 1990;

- Chồng thật vợ giả, Nxb Hội nhà văn Việt Nam, Năm 1993;

- Người trong ống, Nxb Hội nhà văn Việt Nam, 2007, tái bản lần 1;

- Tháng năm biết nói, Nxb Thanh niên, 2009, tái bản lần 1.

b) Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu đối tượng này, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu ba nội dung chính:

- Thứ nhất: Nghiên cứu đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ dùng đểchiếu vật nhân vật mà Vi Hồng sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật

- Thứ hai: Nghiên cứu cách dùng các biểu thức ngôn ngữ chiếu vật được

Vi Hồng sử dụng để chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của mình

- Thứ ba: Tìm hiểu vai trò của các biểu thức và phương thức chiếu vậtnhân vật nhân vật trong tác phẩm Vi Hồng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm 3 mục đích:

- Thứ nhất: Nghiên cứu các cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm ViHồng để góp phần làm rõ các cách chiếu vật nhân vật nói chung, cách chiếu vậtnhân vật được Vi Hồng sử dụng nói riêng

Trang 19

- Thứ hai: Khẳng định giá trị của chiếu vật trong việc hiểu nội dung tácphẩm và phong cách nghệ thuật của Vi Hồng.

- Thứ ba: Làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu thêm vềcách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm văn học và phân tích, giảng dạy tácphẩm văn học

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết làm căn cứ lí luận choviệc xử lí đề tài;

(2) Khảo sát, thống kê và phân loại các biểu thức ngôn ngữ và cácphương thức chiếu vật trong những tác phẩm của Vi Hồng đã được chọn làmnguồn ngữ liệu khảo sát

(3) Miêu tả, phân tích và tổng kết các cách chiếu vật trong tác phẩm của

Vi Hồng, từ đó chỉ ra được vai trò của các cách chiếu vật mà nhà văn đã dùng

để thấy được nét riêng của nhà văn trong việc lựa chọn ngôn từ

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp và thủpháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được

dùng để thống kê và phân loại các biểu thức ngôn ngữ và các cách chiếu vậtnhân vật trong các tác phẩm nói trên

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Những phương pháp nghiên cứu này

được dùng để phân tích, tổng hợp đặc điểm của các biểu thức chiếu vật và cáccách chiếu vật nhân vật đã được thống kê và phân loại nói trên

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp so sánh, đối chiếu được dùng

để so sánh những cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng, theo đóchỉ ra vai trò của từng cách chiếu vật - chỉ xuất mà nhà văn đã dùng

Trang 20

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về mặt lí luận: Đề tài góp phần chứng minh vai trò của lí thuyết

chiếu vật - chỉ xuất, đồng thời chỉ ra giá trị sử dụng của chúng trong tác phẩmvăn học cụ thể

6.2 Về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn hi vọng sẽ là tài

liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy ngữ văn trong xu thế đổi mới dạy họctheo hướng tích hợp hiện nay và sau này Luận văn cũng có thể làm tư liệu chonhững ai quan tâm tìm hiểu về tác phẩm của Vi Hồng nói riêng, tác phẩm vănhọc nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, tài liệu trích dẫn,

luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận

- Chương 2: Khảo sát và miêu tả các cách chiếu vật nhân vật trong một sốtác phẩm văn xuôi của Vi Hồng

- Chương 3: Vai trò của các cách chiếu vật nhân vật trong tác phẩm của

Vi Hồng

Trang 21

1.1 Khái quát về chiếu vật

1.1.1 Khái niệm chiếu vật và phân loại nghĩa chiếu vật

1.1.1.1 Khái niệm chiếu vật

a) Một số quan niệm về chiếu vật

Chiếu vật và phương thức chiếu vật đã được nhiều nhà nghiên cứu ngônngữ trực tiếp hay gián tiếp bàn đến và có những quan niệm riêng của mình.Trong

nước, không thể không kể đến ý kiến của hai nhà ngôn ngữ học có tên tuổi, đó làtác giả Cao Xuân Hạo và tác giả Đỗ Hữu Châu

a.1 Quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo

Với tên gọi “sở chỉ” (thay vì cho cách gọi “chiếu vật” như một số nhànghiên cứu khác), Cao Xuân Hạo đã nêu khái niệm “sở chỉ” như sau:

“Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đốitượng cụ thể” [18, tr 104]

Không chỉ đưa ra khác niệm về sở chỉ, tác giả còn cho rằng: muốn xácđịnh sở chỉ của câu phải hiểu sở chỉ của các thành phần tạo câu và những tìnhhuống nói ra câu đó Nói cách khác, tách ra khỏi câu, từ ngữ vẫn có nghĩanhưng chưa có sở chỉ Và việc xác định sở chỉ của một từ ngữ không thuộc bìnhdiện nghĩa học mà thuộc bình diện dụng pháp Nó là mối liên hệ giữa từ ngữ vàthế giới hiện thực [18, tr.104]

Như vậy, theo ý kiến của tác giả Cao Xuân Hạo thì để hiểu nghĩa sở chỉcủa từ ngữ cần phải gắn nó với thế giới hiện thực, với hoạt động giao tiếp Tácgiả còn chỉ rõ: Một danh từ riêng, một đại từ có thể được giảng nghĩa (“Nguyễn

Trang 22

Du là một nhà thơ lớn ”, “Tôi là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất ”) nhưng

thật ra như thế không phải là giảng nghĩa vì danh từ riêng và đại từ xác địnhkhông có nghĩa, chỉ có sở chỉ “Giảng nghĩa” các từ ấy thật ra chỉ là cố gắngxác định cái sở chỉ của chúng Đại từ không xác định cũng không có nghĩa, nóchỉ có một sở chỉ trống, khi dùng để hỏi tức là yêu cầu xác định cái sở chỉ trống

ấy, và khi dùng để “phiếm chỉ” thì thật ra nó không “phiếm” chút nào Tác giả

đã dẫn ra một số ví dụ để minh chứng cho quan điểm của mình như sau:

(1) Ai đi đâu đấy hỡi ai

Để ai gối chiếc đêm dài năm canh?

(2) Ở đâu và bao giờ, ai cũng cũng có thể đòi hỏi quiền được sống của mình Theo tác giả, trong câu (1), ai tất nhiên phải có sở chỉ rõ ràng lắm,

không

thể vu vơ trong câu trách móc đáng yêu ấy

Trong câu (2), các đại từ đâu, bao giờ, ai có nghĩa là “tất cả”: ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người đều “ có thể đòi quiền ”.

Tóm lại, cách hiểu về sở chỉ của tác giả Cao Xuân Hạo cho ta một cáchnhìn mới về việc xác định nghĩa của từ và các đơn vị ngôn ngữ khác khi chúng

đi vào hoạt động, đó là: khi hành chức, các từ, cụm từ hay câu, v.v mới cónghĩa sở chỉ Nói cách khác, nghĩa sở chỉ của từ, cụm từ hay câu, chỉ xác địnhđược khi đặt các biểu thức ngôn ngữ này trong ngữ cảnh

a.2 Quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu

Như đã nói ở phần Lịch sử vấn đề, tác giả ĐHC không dùng thuật ngữ sở

chỉ mà dùng thuật ngữ chiếu vật Tác giả quan niệm:

“Chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của các tín hiệu)trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnhgiao tiếp nhất định” [8, tr 231]

“Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người phát ramột biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp chongười nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệnào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [8, tr 61]

Trang 23

Tác giả còn chỉ rõ rằng: “Tự bản thân từ ngữ không chiếu vật Chỉ có conngười mới thực hiện hành vi chiếu vật Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa

ra sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ,bằng câu” [8, tr 62]

Theo tác giả, “có rất nhiều câu cụ thể mà nhà logic không thể kết luận nộidung của chúng đúng hay sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với sựvật nào đang được nói tới trong hiện thực” [8, tr 61] Tác giả đã dẫn một ví dụ

để chứng minh cho nhận định của mình là: Con mèo màu xanh [8, tr.61] và phân tích: mệnh đề vừa dẫn sẽ sai nếu từ mèo được qui chiếu tới một sinh vật

được gọi là mèo, một loài động vật biết ăn thịt, cá và mọi người thường nuôi

để nó bắt chuột, nhưng nó sẽ đúng nếu mèo được qui chiếu tới một loại đồ chơi.

Tác giả Đỗ Hữu Châu còn khẳng định: “giá trị đúng sai của một câu tùythuộc vào sự chiếu vật của các từ tạo nên câu và sự chiếu vật của cả câu ”

“Quan hệ chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của tín hiệu)trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một ngữ cảnhnhất định, nói cho đúng hơn là trong một thế giới khả hữu - hệ qui chiếu nhấtđịnh” [8, tr

61] Bởi thế, theo ông, để hiểu được nghĩa của phát ngôn, diễn ngôn, trước hếtphải xác định được nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vai trong diễn ngôn

đó “Xác định được nghĩa chiếu vật là xác định được, thứ nhất, thế giới khả hữu

- hệ qui chiếu của diễn ngôn và thứ hai, sự vật nào (hoạt động, tính chất, trạngthái nào, ) trong đó (thế giới khả hữu) được nói tới bằng biểu thức chiếu vậtcủa diễn ngôn đang xem xét” [8, tr 63]

Với cách hiểu về chiếu vật như vừa trình bày, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa

ra khái niệm nghĩa chiếu vật và biểu thức chiếu vật như sau: “ Nghĩa chiếu vật(nghĩa sở chỉ) là sự tương ứng giữa sự vật với một biểu thức chiếu vật” [tr.63].Còn “Biểu thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng đểchiếu vật” [8, tr.63]

Trang 24

Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng dẫn một ví dụ và phân tích để giúp người đọc

hiểu về hai khái niệm này là: Nam bạn tôi học rất giỏi [8, tr 63] Ông chỉ rõ: trong phát ngôn trên, Nam bạn tôi là một biểu thức chiếu vật và biểu thức chiếu vật này có cấu tạo là một cụm từ Biểu thức Nam bạn tôi có nghĩa chiếu vật là chỉ một người tên Nam trong thực tế đã được xác định là bạn tôi, để phân biệt với những người khác cũng tên là Nam nhưng không phải là bạn tôi.

So sánh phát ngôn đã dẫn của tác giả Đỗ Hữu Châu với phát ngôn: Nam

học rất giỏi thì biểu thức Nam chưa xác định được nghĩa chiếu vật, bởi ta chưa

biết Nam là chỉ ai trong số nhiều người có cái tên như vậy trong thực tế.

Nói tóm lại, tuy thuật ngữ khác nhau nhưng cách hiểu về chiếu vật (cách gọi của Đỗ Hữu Châu) và sở chỉ (cách gọi của Cao Xuân Hạo) đã dẫn trên có

phần đồng nhất

b) Quan niệm của luận văn về chiếu vật

Luận văn này theo tinh thần cơ bản của tác giả Đỗ Hữu Châu dùng kháiniệm chiếu vật và tạm đưa ra một định nghĩa như sau:

Chiếu vật là hành vi người nói dùng các phương tiện ngôn ngữ theo một cách thức nhất định để chỉ rõ sự vật, hành động, tính chất mà mình muốn đề cập Với cách thức này, người nói nghĩ rằng người nghe có thể qui chiếu, có thể suy ra hay nhận biết đúng sự vật, hành động, tính chất mà anh ta nói đến 1.1.1.2 Phân loại nghĩa chiếu vật

Nếu nghĩa chiếu vật là sự vật, có thể chia chúng thành 4 loại, là: (1)Nghĩa chiếu vật cá thể, (2) Nghĩa chiếu vật loại, (3) Nghĩa chiếu vật một số cáthể, (4) Nghĩa chiếu vật tập hợp

- Nghĩa chiếu vật cá thể: Khi từ, cụm từ hay câu (biểu thức chiếu vật)

ứng với một cá thể ta có nghĩa chiếu vật cá thể Ví dụ: Bạn Hương lớp tôi rất

xinh Biểu thức “Bạn Hương lớp tôi” có nghĩa chiếu vật cá thể Biểu thức chiếu

vật này dùng để qui chiếu tới một cá thể ‘Hương’- một người trong lớp ‘tôi’

chứ không phải người khác cũng có tên là ‘Hương’

Trang 25

- Nghĩa chiếu vật một số cá thể: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một

số cá thể, ta nói biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật một số các thể Ví dụ:

Những con vịt trắng đang bơi kia là của nhà tôi Giả định có rất nhiều vịt đang

bơi dưới hồ, và những con vịt đó có con màu khoang nâu đen, có con màu nâuxanh, lại có con màu trắng Khi nói “Những con vịt màu trắng ” là ta đã loạiđược một số con vịt ra khỏi tập hợp ‘vịt’ và biểu thức chiếu vật này qui chiếu tới

‘một số con vịt’ chứ không phải ‘một con vịt’ Biểu thức chiếu vật đó có nghĩa

chiếu vật một số cá thể.

- Nghĩa chiếu vật loại: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một loại sự

vật, ta có nghĩa chiếu vật loại Ví dụ: Nhà tôi nuôi rất nhiều vịt Biểu thức chiếu

vật “vịt” qui chiếu tới một loại động vật, đó là loài vịt chứ không phải là ngan,

gà hay ngỗng Biểu thức “vịt” có nghĩa chiếu vật loại.

- Nghĩa chiếu vật tập hợp: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một số sựvật đồng chất, tức một số sự vật này là một nhóm đã được phân loại theo tiêu

chí giống nhau, ta nói biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật tập hợp Ví dụ: (Cô giáo nói) Tất cả các em nhóm học sinh giỏi văn sẽ học thêm vào buổi sáng; còn tất cả các em nhóm học sinh giỏi toán sẽ học thêm vào buổi chiều Các biểu

thức “nhóm học sinh giỏi văn”, “nhóm học sinh giỏi toán” được qui chiếu tớimột nhóm sinh viên có chung bản chất: ‘giỏi văn’ hay ‘giỏi toán’

1.1.1.3 Phân biệt nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật

- Nghĩa của từ ngữ được ghi trong từ điển là nghĩa biểu vật Đây là nhữngnghĩa chỉ phạm vi sự vật, hiện tượng mà cái từ ngữ đó có thể được dùng

- Trong ngôn bản thì nghĩa biểu vật trở thành nghĩa chiếu vật Ví dụ, một

từ như từ ‘ăn’ có nghĩa biểu vật là: đưa thức ăn vào miệng, nhai, nuốt xuống dạ

dày Nhưng khi chúng ta nói: con bò ăn cỏ, em bé ăn sữa, tôi ăn cơm thì ba từ

ăn ở ba câu có khác nhau (tức ba từ ăn có nghĩa chiếu vật khác nhau) vì cách ăncủa ba đối tượng trên có khác nhau

Trang 26

Cho nên cần phải chú ý đến sự chuyển hóa giữa nghĩa biểu vật và nghĩachiếu vật trong ngôn bản Nói đến ngôn bản là nói đến mặt dụng học, tức là nóiđến nghĩa chiếu vật Nhưng cơ sở để hiểu được nghĩa chiếu vật là nghĩa biểu vậtcủa từ Đây là nói đến việc sử dụng từ ngữ bình thường, còn trong văn họcnghĩa chiếu vật có thể có sự sáng tạo Ví dụ, trong truyện “Nửa đêm” của NamCao, nhân vật Trương Dự có nói một câu: “Ở đây có một con gà mái tơ rất đẹp,tôi muốn mua về để nuôi” Ngữ “Con gà mái tơ” không phải để chỉ một con gà

mà để chỉ người con gái Như vậy, nghĩa chiếu vật ở đây là ‘người con gái’

Phân tích nghĩa của các từ ngữ gọi nhân vật trong văn chương nói chung,trong văn Vi Hồng nói riêng là xác định nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiểuvật này

1.1.1.4 Phân biệt hiện tượng đồng nghĩa biểu vật và đồng nghĩa chiếu vật

Cần phân biệt hiện tượng đồng nghĩa biểu vật và đồng nghĩa chiếu vật

Có khi các từ ngữ đồng nghĩa biểu vật cũng đồng nghĩa chiếu vật (đồng sở chỉ)

Chẳng hạn, như từ phụ nữ và từ đàn bà trong ví dụ sau đây:

Ví dụ (1): Phụ nữ lại càng phải phấn đấu Đây là lúc đàn bà phải cố gắng

để không thua đàn ông

Song cũng có trường hợp các biểu thức ngôn ngữ đồng nghĩa chiếu vậtnhưng không đồng nghĩa biểu vật (tức từ ngữ đồng nghĩa văn cảnh, đồng nghĩatrong hoạt động chứ không đồng nghĩa ở dạng tĩnh tại) Xem lại cách gọi nhânvật chị Dậu của Ngô Tất Tố trong tác phẩm Tắt Đèn, tác giả đã gọi chị bằng

những cái tên, như: chị Dậu, chị ta, chị này, chị chàng con mọn Những biểu

thức ngôn ngữ này là đồng chiếu vật vì chúng cùng được dùng để chỉ một nhânvật song không ai gọi chúng là những từ ngữ đồng nghĩa biểu vật

Một ví dụ khác: Một người phụ nữ tạm kí hiệu là A, ta có nhiều biểu thứcngôn ngữ để chiếu chỉ A, chẳng hạn:

- Con của A gọi A là mẹ;

- Chồng của A gọi A là em;

Trang 27

- Mẹ của A gọi A là con;

- Chú của A gọi A là cháu;

- Con chị gái A gọi A bằng dì,

Các biểu thức: mẹ, em, con, cháu, dì nói trên không phải là những từ đồng

nghĩa nhưng là những từ đồng chiếu vật (đồng sở chỉ)

Vậy, đồng sở chỉ (hay đồng chiếu vật) được hiểu là các biểu thức ngônngữ khác nhau cùng được dùng để qui chiếu một đối tượng (đối tượng có thể là

sự vật, hành động hay tính chất)

1.1.2 Khái quát về phương thức chiếu vật (cách chiếu vật)

1.1.2.1 Khái niệm về phương thức chiếu vật

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Phương thức chiếu vật là cách thức mà conngười sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật Chúng là con đường mà ngườinghe tìm ra nghĩa chiếu vật từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc) được” [8,tr.64]

Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, phương thức chiếu vật là cách

thức

mà con người sử dụng phương tiện ngôn ngữ để thực hiện hành vi chiếu vật.

Ví dụ (2): Có một đối tượng (chẳng hạn có một sinh viên trong một lớp

học tên là Hồng), tạm kí hiệu là A Khi nói đến A, muốn người nghe/đọc hiểu

được A là ai, ta thường có ba cách dùng các biểu thức ngôn ngữ (khác nhau) để

qui chiếu A, cụ thể:

- Dùng tên riêng để qui chiếu A (nếu trong lớp chỉ có một sinh viên tên

Hồng): Cô mời bạn Hồng phát biểu ý kiến!

- Dùng một biểu thức miêu tả: Cô mời bạn mặc áo len xanh phát biểu

ý kiến!

Nếu trong lớp chỉ có một sinh viên mặc áo len xanh thì nói như vậy đã đủ

cho người nghe biết mình định nói đến ai Ở đây là người nghe hiểu cô nói đếnHồng

- Dùng cách chỉ xuất: Cô mời bạn ngồi đầu bàn thứ hai, dãy giữa, phía bên phải cô phát biểu!

Trang 28

Cách định vị không gian cho A cũng giúp người nghe xác định được A,loại được A ra khỏi tập hợp cùng phạm trù.

Xin xem thêm các cách chiếu vật này ở mục 1.1.2.2 dưới đây

1.1.2.2 Các phương thức chiếu vật

Tác giả Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra ba phương thức lớn để chiếu vật, đó là:dùng tên riêng, dùng biểu thức miêu tả và dùng cách chỉ xuất (Xem lại ví dụvừa dẫn)

a) Phương thức dùng tên riêng

- Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật Chức năng cơ bản của tênriêng là chỉ ra cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi bằng tênriêng đó Chẳng hạn, tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thểngười trong phạm trù người; tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ

ra cá thể sông, núi trong phạm trù vật thể tự nhiên

- Tên riêng không phải hoàn toàn không có nghĩa biểu niệm Giả định ởmột dân tộc nào đó, tên riêng của người khác hẳn với tên riêng của đất đai, núisông, khác hẳn với tên riêng của động vật (có người đặt tên cho chó, mèo ),v.v thì chỉ cần nghe tên riêng người nghe sẽ không rơi vào tình trạng mơ hồchiếu vật Lúc này phạm trù người, đất đai, sông núi mà tên riêng gợi ra (do sựkhác nhau trong cách đặt tên) là nét nghĩa biểu niệm của của tên riêng

- Tên riêng có thể trùng nhau Trùng tên riêng dù là của các đối tượngthuộc một phạm trù hay không cùng một phạm trù đều dẫn đến tình trạng mơ hồ

về chiếu vật Bởi vậy, để xác định được nghĩa chiếu vật của các tên riêng trùngnhau đó, ta có thể thêm danh từ chung đặt trước danh từ riêng, hoặc dùng địnhngữ hay tiểu danh vào sau tên riêng, tùy theo các đối tượng trùng tên nằm trongmột phạm trù hay khác phạm trù

Nếu các đối tượng trùng tên cùng nằm trong một phạm trù, ta thêm tiểudanh hay định ngữ hạn định vào sau tên riêng

Ví dụ (3): a Cô Hà khoa Vật lí vừa cưới chồng.

b Cô Hà Minh vừa cưới chồng.

Trang 29

Trong ví dụ (a), người nói đã dùng định ngữ ‘vật lí’ vào sau tên riêng

‘Hà’ để phân biệt ‘Hà’ của khoa ‘Vật lí’ với những ‘Hà’ khác, chẳng hạn như

‘Hà khoa Văn’, ‘Hà khoa Sinh’, v.v Thêm định ngữ hạn định như vậy là mộtcách giúp ta xác định được nghĩa chiếu vật của các tên riêng ‘Hà’ trùng nhautrong cùng một phạm trù

Trong ví dụ (b), ‘Minh’ là tiểu danh được người nói thêm vào sau tênriêng trùng nhau ‘Hà’ để giúp người nghe xác định nghĩa chiếu vật của tên riêngnày Tiểu danh không có nghĩa là ‘tên nhỏ’ mà là một tên riêng khác, đượcdùng với chức năng không phải gọi tên mà là chức năng hạn định cho một tênriêng khác Việc dùng một tên riêng với chức năng để hạn định cho một tênriêng khác cũng có vại trò giúp ta xác định được nghĩa chiếu vật của những tênriêng trùng nhau Tiểu danh lúc này có vai trò như một định ngữ hạn định

Nếu các đối tượng trùng tên không cùng nằm trong một phạm trù, ta dùngdanh từ chung đặt trước danh từ riêng

Ví dụ (4) (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu): Có ba đối tượng thuộc ba phạm trù

khác nhau có cùng tên là Hương Giang, một đối tượng là khách sạn, một đối

tượng là sông và một đối tượng là người, muốn người nghe biết mình định nóitới ai, ta thêm danh từ chung chỉ ba phạm trù trên đặt trước tên riêng, chẳng hạn:

+ Khách sạn Hương Giang;

+ Sông Hương Giang;

+ Cô hương Giang

Các từ ‘khách sạn’, ‘sông’, ‘cô’ là những danh từ chung Những danh từchung này cũng giúp ta xác định được đối tượng được nói đến dưới cái tên

‘Hương Giang’ là đối tượng nào, tức đã loại được một đối tượng ra khỏi ba đốitượng khác phạm trù cùng được gọi bằng cái tên ‘Hương Giang’ đã nói

- Trong quá trình sử dụng, tên riêng có thể được dùng theo lối dịchchuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ và quan trọng là tênriêng được dùng để xưng hô, tức tên riêng là một trong những phương tiệnngôn ngữ dùng để chiếu vật Luận văn này nghiên cứu tên riêng trong văn ViHồng ở chức năng thứ hai này - chức năng xưng hô

Trang 30

b) Phương thức dùng biểu thức miêu tả

Như mọi người đều biết, không phải mọi sự vật trong thế giới kháchquan đều có tên riêng Bởi có những sự vật không được đặt tên hoặc khôngthể đặt tên

Có những sự vật, hiện tượng không đặt được tên như: gió, mưa, hoa quảtrên cây, cây trong rừng, v.v (hoa quả trên cây hay cây trong rừng không đặtđược tên vì chúng quá nhiều)

Có những sự vật có thể đặt tên được nhưng người ta lại không đặt tên cho

chúng, ví dụ: gà trong một đàn, bát trong một rổ, chó nuôi trong nhà, v.v

Trong giao tiếp, để giúp người nghe biết được mình định nói đến đốitượng, sự vật nào trong cái tập hợp đối tượng không có tên riêng ấy, ta có thểdùng biện pháp miêu tả để tạo ra một biểu thức miêu tả chiếu vật

Ví dụ (5): (Nhà có nuôi ba con mèo khác màu lông), ta nói: Con mèo màu đen vừa bắt được con chuột.

“màu đen” là biểu thức miêu tả được đặt sau danh từ chung (mèo) đã đủgiúp người nghe biết được người nói định nói tới con mèo nào “Màu đen” là

một biểu thức miêu tả Biểu thức miêu tả này có khả năng loại được một con

mèo ra khỏi tập hợp ‘ba con mèo’, do đó nó giúp người nghe xác định được

nghĩa chiếu vật của mèo

Tóm lại, bản chất của miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào mộttên chung Nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật - nghĩa chiếu vật ra khỏi sựvật khác cùng loại với chúng Biểu thức miêu tả do đó bao giờ cũng có tênchung làm trung tâm Cái tên chung làm trung tâm này đóng vai trò như các từchỉ phạm trù trong một biểu thức chiếu vật tên riêng

c) Phương thức chỉ xuất

- Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉtrỏ [8, tr.72]

Ví dụ (6): Cái ghế này hỏng chân rồi.

Từ ‘này’ đã tách được một ‘cái ghế’ ra khỏi tập hợp ‘ghế’ để ta có thể xácđịnh được cái ghế hỏng chân đó là cái ghế nào

Trang 31

- Các từ chỉ xuất trong ngôn ngữ đều có tính chất chỉ hiệu Khác với cácbiểu thức miêu tả, các biểu thức chỉ xuất không thông qua chức năng miêu tả

mà thông qua chức năng định vị, có nghĩa là chiếu vật thông qua việc xác định

vị trí của vật được nói tới, phân biệt nó với các sự vật khác theo quan hệ khônggian, thời gian và các quan hệ khác chứ không theo đặc điểm như ở các biểuthức miêu tả

Ví dụ (7):

So sánh hai cách dùng biểu thức chiếu vật trong hai phát ngôn đã dẫn

trên: a Cô mời bạn mặc áo len xanh phát biểu ý kiến! (Dùng biểu thức miêu tả) b Cô mời bạn ngồi đầu bàn thứ hai, dãy giữa, phía bên phải

cô phát biểu! (Dùng biểu thức chỉ xuất).

Trong ví dụ (a), người nói giúp người nghe nhận ra nghĩa chiếu vật của

‘bạn’ là nhờ biểu thức miêu tả “mặc áo len xanh”

Trong ví dụ (b), người nói giúp người nghe nhận ra nghĩa chiếu vật của

bạn cũng bởi đã dùng biểu thức chiếu vật chỉ xuất - định vị thời gian “ngồi đầu

bàn phía bên phải” Biểu thức chiếu vật này có chức năng định vị cho ‘bạn’,

nhờ đó mà ta biết bạn được qui chiếu đến ai.

- Ba phạm trù chỉ xuất trong ngôn ngữ là: (1) Phạm trù ngôi (xưng hô),(2)

Phạm trù chỉ xuất không gian, thời gian và (3) Phạm trù chỉ xuất trong diễn ngôn

Với nội dung nghiên cứu của đề tài, luận văn này chỉ nghiên cứu phạmtrù thứ nhất, phạm trù ngôi (tức phạm trù chỉ xuất xưng hô)

+ Phạm trù xưng hô, còn gọi là phạm trù ngôi bao gồm việc sử dụng cácphương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự qui chiếu, tức tự đưa mình (tự xưng)hay người tham gia giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn

Để xưng hô, các ngôn ngữ đều có hệ thống đại từ xưng hô Trong tiếngViệt có các đại từ xưng hô chuyên dụng tiêu biểu ở ba ngôi, như:

Ngôi 1: tôi, tớ, tao, chúng tôi, chúng tao, chúng tớ

Ngôi 2: mày, bay, chúng mày, chúng bay

Trang 32

Ngôi 3: nó, họ, chúng nó.

Trang 33

Ngoài ra, tiếng Việt còn dùng các phương tiện khác để xưng hô, như:

Tên riêng: Hoa, Thu, Tình, Hải,

Từ chỉ quan hệ thân tộc: ông, bà, bố, mẹ, anh, em, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ Danh từ thân tộc được chia thành ba nhóm: (1) Nhóm từ, như: u,

bầm, bủ,

tía, ba, má, bố, mẹ, (2) Nhóm từ, như: anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, ông,

bà, cụ, và (3) Nhóm từ, như: anh rể, chú họ, chị dâu, anh họ,

Từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp: giám đốc, hiệu trưởng, bác sĩ, cô giáo,

ông bá, cụ lí,

Từ ngữ chuyên dùng để xưng hô: ngài, trẫm, lão, thần, khanh, ngu đệ,

hiền đệ, bỉ nhân, tại hạ, tiên sinh, Những từ xưng hô nhóm này trước kia dùng

phổ biến nhưng nay hầu như chỉ dùng trong sách vở hay trong những hoàn cảnhđặc biệt

Từ ngữ dân dã khác (nay cũng ít dùng): anh cò, anh hĩm, chị đỏ,

- Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt có những từ kiêm ngôi và có

từ chuyên ngôi

+ Từ kiêm ngôi là những từ có khả năng dùng ở nhiều ngôi, tức lúc thìdùng để chỉ ngôi thứ nhất, lúc thì được dùng để chỉ ngôi thứ hai, và lúc thì dùngvới tư cách chỉ ngôi thứ ba, chẳng hạn như tên riêng ‘Hà’ dùng trong các trườnghợp dùng sau:

Ví dụ (8): a Hà ơi, chúng mình đi học đi (Hà, tên riêng dùng ở ngôi 2)

b Minh ơi, Hà đến nhà cậu được không? (Hà là người nói ra phát ngôn

này) (Hà, tên riêng dùng ở ngôi 1)

c Minh ơi, Thanh và Minh đến nhà Hà chơi đi (Hà được dùng ở ngôi

thứ

Trang 34

Tương tự, một số danh từ chỉ quan hệ thân tộc, như từ chú sau đây cũng

là từ kiêm ngôi

Ví dụ (9): a Lại đây chú cho cái kẹo (Chú dùng để chỉ ngôi 1).

b Chú cho cháu cái bút này nhé (Chú dùng để chỉ ngôi 2).

c Em và chị đến thăm chú đi (Chú dùng để chỉ ngôi 3).

Trang 35

+ Từ chuyên ngôi là từ chỉ được dùng cho một ngôi, ví dụ:

Các từ: tôi, tao, tớ, chúng tao, chúng tớ chuyên dùng ở ngôi thứ nhất.

Các từ: mày, chúng mày chuyên dùng ở ngôi thứ hai.

Các từ: nó, họ, chúng nó chuyên dùng ở ngôi 3.

Khảo sát các biểu thức chiếu vật nhân vật trong văn Vi Hồng thì thấy cóbiểu thức được dùng để qui chiếu một ngôi (từ chuyên ngôi) và cũng có biểuthức

được dùng để qui chiếu nhiều ngôi (từ kiêm ngôi)

- Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt có những từ dùng bao gộp cả

ngôi 1 và ngôi 2, như chúng ta, lại có những từ vừa dùng bao gộp, vừa dùng không bao gộp, như chúng mình Ví dụ (10) dưới đây là một ví dụ về các từ

xưng hô trong tiếng Việt dùng bao gộp hoặc vừa bao gộp, vừa không bao gộp:

Ví dụ (10): a Hà ơi, chúng ta cùng đi bộ đến nhà cô giáo nhé.

b Hà ơi, chúng mình đi học đi!

c Hà ơi, hôm qua chúng mình đến nhà bạn mà bạn không có nhà.

Trong ví dụ (a), chúng ta là từ dùng bao gộp, tức để chỉ cả ngôi 1 và ngôi

2 Trong ví dụ (b), chúng mình là từ cũng được dùng bao gộp để chỉ ngôi 1 và ngôi 2 Trong ví dụ (c), chúng mình được dùng không bao gộp Ở đây, từ này

được dùng chỉ ngôi thứ nhất, số nhiều

Nhìn chung, tên riêng và danh từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt đại

bộ phận là kiêm cả ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba

Thông thường, để giúp người nghe khỏi lẫn ngôi thứ hai và ngôi thứ ba,tiếng Việt thêm các từ chỉ xuất vào sau các từ chỉ quan hệ thân tộc ở nhóm thứ

hai, kiểu như: chị ấy, cô ấy, bác ấy, em ấy, v.v

- Hệ thống từ xưng hô có thể thay đổi theo lịch sử Ví dụ, trước kiatrong xã hội có vua tôi, người ta xưng hô tùy theo vị thế của người tham gia

giao tiếp, nếu người nói là vua thì dùng trẫm để chỉ ngôi 1, khanh để chỉ ngôi

2, v.v Hiện nay, những từ này hầu như không dùng để xưng hô trong giaotiếp thông thường

Trang 36

- Khi dùng từ xưng hô phải chú ý đến các nhân tố chi phối việc dùng từxưng hô trong giao tiếp, cụ thể:

+ Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp (thể hiện được vai nói và vai nghe);+ Xưng hô phải thể hiện được quan hệ quiền uy;

+ Xưng hô phải thể hiện quan hệ thân cận;

+ Xưng hô phải phù hợp với ngữ vực;

+ Xưng hô phải thích hợp với thoại trường;

+ Xưng hô phải thể hiện được thái độ, tình cảm của người nói đối vớingười nghe;

- Các phương tiện dùng để xưng hô cũng không phải là cố định trong mộtcuộc giao tiếp Bởi quan hệ liên cá nhân có thể biến đổi trong cuộc giao tiếp,cho nên khi mà từ xưng hô chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan hệ liên cá nhânthì tất yếu chúng phải biến đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp Vấn đề nàyxin xem [8, tr.80]

Vận dụng lí thuyết chiếu vật vừa trình bày và kết quả khảo sát đối tượngnghiên cứu, luận văn sẽ phân loại và miêu tả các cách dùng các biểu thức chiếuvật trong văn xuôi Vi Hồng

1.2 Lí thuyết ba bình diện của ngôn ngữ

Ngôn ngữ có bản chất tín hiệu Ba bình diện trong nghiên cứu ngôn ngữ

có cơ sở từ ba dạng quan hệ của tín hiệu: Kết học, nghĩa học và dụng học

Ở cấp độ từ, kết học nghiên cứu các cách cấu tạo từ, các qui tắc kết hợpcác thành tố cấu tạo từ Theo đó ta có các từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ,

v.v ( kết học ở cấp độ từ được ngữ pháp học là Từ pháp).

Trang 37

Ở cấp độ câu, kết học nghiên cứu các qui tắc, cách thức liên kết các từthành cụm từ và thành câu (theo các kiểu, như: câu đơn, câu ghép, v.v ) (kết

học ở cấp độ câu được ngữ pháp học gọi là Cú pháp).

Nghiên cứu đề tài Cách chiếu vật nhân vật trong văn xuôi Vi Hồng,

chúng tôi coi việc xem xét bình diện ngữ pháp, đặc biệt là xem xét đặc điểm từloại của các phương tiện ngôn ngữ dùng để chiếu vật nhân vật (các biểu thứcchiếu vật) làm cơ sở để xác định hai bình diện tiếp theo của các biểu thức chiếu

vật này là: nghĩa học và dụng học.

1.2.2 Bình diện nghĩa học

Theo Đỗ Hữu Châu, Nghĩa học là quan hệ giữa tín hiệu với vật được qui

chiếu trong thông điệp Đây là lĩnh vực của chức năng miêu tả, thông tin sự vật

Ví dụ, chúng ta có hai phát ngôn: (1) Minh bị ốm, (2) Minh lại bị ốm Ở (1) và (2) đều chung một thông tin miêu tả: Minh bị ốm Nghĩa học chỉ quan tâm đến

thông tin miêu tả này

Ngữ nghĩa học của ngôn ngữ bao gồm “tất cả những tinh thần mà một

đơn

vị ngôn ngữ có thể gợi ra ở người sử dụng” [8, tr 47]

Như vậy, ngữ nghĩa học được hiểu rộng hơn nghĩa học của tín hiệu học,

vì nó bao gồm cả những nội dung miêu tả (nghĩa học) và những nội dung liên

cá nhân (dụng học)

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cách chiếu vật nhân vậttrong văn Vi Hồng, do đó, nội dung cốt yếu khi xem các phương tiện ngôn ngữchiếu vật nhân vật trên bình diện nghĩa học, trước hết chúng tôi sẽ tìm hiểunghĩa của chúng trong trạng thái tĩnh để làm cơ sở cho bước tiếp theo là tìmhiểu, phân tích dụng ý của tác giả khi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đó.Không phải ngẫu nhiên mà Vi Hồng đặt tên cho những nhân vật phản diện là

“Cẩu Tệnh”(con ễnh ương) hay “Cháp Chá” (con nhái bén), “Cháp Nhính” (con

chão chuộc), “Tạp Tạng” (bát nháo), Oác (gần âm với khoác lác, hàm ý người

có tính xấu - tính khoác lác) và cũng chẳng phải tự nhiên mà nhà văn Vi Hồnglại cho những

Trang 38

nhân vật đáng yêu, có tư cách tốt mang những cái tên mĩ miều: “Thieo Mây”(sợi chỉ thêu nhiều màu sắc), “loan Phượng” (loài chim đẹp, có sức mạnh),

“ngọc” (một loại đá quí), Lanh (một loài cây có vỏ dùng làm nguyên liệu dệtvải hay giấy), v.v

Xem xét ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh tức là nghiên cứu ngôn ngữ trong hệthống, theo đó ta có các bộ môn ngôn ngữ học truyền thống như: Ngữ âm- âm

vị học, Từ vựng - ngữ nghĩa học, Ngữ pháp học

Xem xét ngôn ngữ ở trạng thái động là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng

(ta có bộ môn học với đối tượng nghiên cứu này là Ngữ dụng học)

Có thể hình dung mối quan hệ của Ngữ dụng học với các bộ môn ngônngữ học truyền thống như sau:

Bảng 1.1: Bảng miêu tả mối quan hệ giữa các bộ môn ngôn ngữ học

Các bộ môn ngôn ngữ học truyền thống

Ngữ dụng học

Ngữ âm-Âm vị học Từ vựng

-Ngữ nghĩa học Ngữ pháp họcNghiên cứu hệ thống ngôn ngữ NC ngôn ngữ

trong sử dụng

Trang 39

(Dẫn theo [7, Tr 496-497])

Trang 40

Với quan điểm trên, khi xem xét các đơn vị ngôn ngữ trên bình diện dụnghọc chúng không thể tách rời khỏi các nhân tố giao tiếp.Vận dụng những trithức về dụng học, luận văn coi việc tìm hiểu cách chiếu vật nhân vật (cách gọitên nhân vật) mà Vi Hồng sử dụng trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp

là rất quan trọng Bởi điều đó phản ánh đúng bản chất của Ngữ dụng học, bộmôn nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng

1.3 Giao tiếp và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp

1.3.1 Khái niệm giao tiếp

Có nhiều định nghĩa về giao tiếp nhưng có thể hiểu giao tiếp qua hai địnhnghĩa sau đây:

(1) Quan niệm của tác giả Lê A và tác giả Đình Cao [6, tr 125]

Hai tác giả này cho rằng: Giao tiếp là một cuộc tiếp xúc giữa người pháttin và người nhận tin thông qua một hệ thống tín hiệu nhất định Thông qua hệthống tín hiệu này, các nhân vật giao tiếp trao đổi cho nhau những tâm tư tìnhcảm, những tin tức về hiện thực khách quan hay những sự kiện xảy ra cho chínhngười nói hoặc người nghe

(2) Quan niệm của tác giả Mai Ngọc Chừ và tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa

[9, tr.480]

Các tác giả này định nghĩa giao tiếp như sau:

“Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhómngười) với con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin, đồngthời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp vớinhau” [9, tr 480]

Như vậy, dù cách định nghĩa có khác nhau, nhưng hai định nghĩa về giaotiếp vừa dẫn đều chung nhau ở ba điểm cơ bản:

Thứ nhất, giao tiếp trước hết là một hoạt động xã hội, phải có sự tham gia

của ít nhất từ hai người trở lên

Thứ hai, giao tiếp đòi hỏi phải có các nhân tố tham gia và chi phối hoạt

động đó

Thứ ba, giao tiếp phải có mục đích nhất định.

Ngày đăng: 07/03/2019, 11:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học QGHN
Năm: 2003
2. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb GD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb GD HN
Năm: 1998
3. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb GD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb GD HN
Năm: 2008
4. Diệp Quang Ban (2011), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb GD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb GD HN
Năm: 2011
5. Lê Biên (1995), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐHQG HN - Trường ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN - Trường ĐHSP
Năm: 1995
6. Đình Cao, Lê A (1989), Làm văn, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Đình Cao, Lê A
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1989
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb GD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD HN
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb GD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD HN
Năm: 2007
9. Mai Ngọc Chừ (chủ biên) - Nguyễn Thị Ngân Hoa - Đỗ Việt Hùng - Bùi Minh Toán (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên) - Nguyễn Thị Ngân Hoa - Đỗ Việt Hùng - Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
10. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (chủ biên) (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Hoàng Cao Cương, Cơ sở kết nối lời tiếng Việt, Ngôn ngữ 8/2007. tr. 1-13& Ngôn ngữ 9/2007. tr. 31 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở kết nối lời tiếng Việt
12. Thành Duy (1982), Về tính dân tộc trong văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính dân tộc trong văn học
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1982
13. G. Brown & G. Yule (2002), Phân tích diễn ngôn, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: G. Brown & G. Yule
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2002
14. Nguyễn Thiện Giáp (1989), Ngôn ngữ văn hóa và văn chương, Khoa học xã hội, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ văn hóa và văn chương
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1989
15. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Cơ sở Ngôn ngữ học, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2008
17. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 1997
18. Cao Xuân Hạo (2003), Câu trong tiếng Việt, quiển 1, Nxb Giáo dục. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu trong tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục. H
Năm: 2003
19. Quan Hi Hoa (2008), Cách đặt tên cho con, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách đặt tên cho con
Tác giả: Quan Hi Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
20. Phạm Mạnh Hùng (2003), Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng, Đề Tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn ViHồng
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2003
21. Hoàng Văn Huyên (2003), Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng (Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng
Tác giả: Hoàng Văn Huyên
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w