Chương 3. VAI TRÒ CỦA CÁC CÁCH CHIẾU VẬT NHÂN VẬT
3.1. Vai trò của chiếu vật nhân vật bằng cách dùng tên riêng trong tác phẩm của Vi Hồng
3.2.3. Chiếu vật bằng biểu thức miêu tả thể hiện được vị thế, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm học vị của nhân vật được qui chiếu
Dưới ngòi bút của Vi Hồng, những biểu thức miêu tả chiếu vật nhân vật không chỉ giúp người đọc xác định được nhân vật được biểu thức qui chiếu là ai, họ là những con người có hình dáng bề ngoài ra sao, tâm tính thế nào mà nhiều biểu thức miêu tả chiếu vật ông dùng còn bộc lộ vị thế, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm học vị của nhân vật.
a) Biểu thức miêu tả bộc lộ vị thế nhân vật
Nói đến vị thế của nhân vật, người ta nghĩ đến vị thế gia đình hay vị thế xã hội của họ.
+ Biểu thức miêu tả thể hiện vị thế gia đình của nhân vật: Đó là những biểu thức miêu tả Vi Hồng dùng để qui chiếu nhân vật có quan hệ gia đình, như:
ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, con dâu, con rể,...
Ví dụ 7: a. Cô con dâu của bà đã 20 tuổi. Và đặc biệt cô ta rất chiều chuộng bà.... Bà sung sướng, cảm động khóc với cô con dâu. Bà cũng nói thẳng với cô con dâu tất cả nỗi sung sướng của mình về cô bằng những lời vừa là của một bà chủ, vừa là kẻ biết ơn. Cô con dâu cũng nhận lấy tấm lòng của bà mẹ chồng làm
chỗ vịn. [46, tr. 73]
b. Hoàng đi ngủ với anh Phàn, với bạn trong bản nhưng cũng chỉ được vài hôm. Bà mẹ Hoàng lại chống gậy đến từng nhà, bắt những chủ nhà ấy không
được cho Hoàng ngủ. [46, tr.74]
c. Mẹ Hoàng kiên quiết bắt Hoàng phải ngủ với vợ. Tuy Hoàng mới mười
hai tuổi chẵn... [46, tr. 74]
d. Thằng thứ nhất là con cả thì làm trên tỉnh, thằng thứ hai có cô vợ là con một ông to trên Bộ, thằng thứ tư làm giám đốc ở tỉnh nhà, thằng thứ năm
làm ăn kém hơn cả... [47, tr. 293]
Các biểu thức (Cô) con dâu, (bà) mẹ chồng, (bà) mẹ Hoàng, Mẹ Hoàng, vợ trong các ví dụ vừa dẫn thể hiện được vị thế gia đình của các nhân vật được qui chiếu bởi các biểu thức này. Đó là vị thế gia đình trong các mối quan hệ: mẹ chồng - nàng dâu, chồng - vợ, mẹ - con.
Con dâu ở đây là nhân vật Quế Thị tẹo, mẹ chồng ở đây là Bà mẹ của Hoàng. Biểu thức vợ nói trong ví dục 7c cũng chính là biểu thức Vi Hồng dùng để qui chiếu tới nhân vật Quế Thị Tẹo. Thị là vợ xét trong mối quan hệ với Hoàng (chồng). Trong ví dụ 7d, các biểu thức chỉ thứ tự những đứa con trai: thằng thứ nhất, thằng thứ hai... thể hiện rõ vị thế gia đình của các nhân vật này: họ là anh - em, có quan hệ thân tộc trên - dưới.
Những biểu thức miêu tả chiếu vật bằng các danh từ chỉ quan hệ thân tộc, như: “ông”, “bà”, “bố”, “mẹ”,“con”, “anh”, “chị”,... cũng được Vi Hồng sử dụng trong các tác phẩm là nguồn ngữ liệu thống kê. Đây là các biểu thức được cấu tạo bởi các danh từ thân tộc. Các danh từ này ngoài tác dụng chiếu vật còn có khả năng biểu đạt vị thế của nhân vật trong những hoàn cảnh sử dụng cụ thể.
Xin nói thêm, những biểu thức chiếu vật vừa liệt kê có thể được dùng trong hai phương thức chiếu vật nói trên, nhưng để phân biệt và phân loại chúng theo ba phương thức chiếu vật, chúng tôi xếp những từ chỉ quan hệ thân tộc vào phương thức chiếu vật bằng cách dùng biểu thức miêu tả khi chúng không dùng để xưng hô (những trường hợp danh từ thân tộc dùng để xưng hô chúng tôi xếp vào phương thức chỉ xuất, sẽ nói ở mục 3.3). Dưới đây là một số ví dụ biểu thức chiếu vật là danh từ chỉ quan hệ thân tộc thể hiện vị thế của nhân vật trong tác phẩm:
Ví dụ 8: a. Mẹ Tú kêu thê thảm suốt đêm, bố Tú ôm lấy mẹ Tú, nhưng mẹ
Tú vật vã. [47, tr.211]
b. Bố mẹ ông Phàn, bà vợ trẻ ông Phàn vừa như sợ hãi, vừa như mừng...
[48, tr. 130]
Các biểu thức miêu tả in nghiêng trong ví dụ vừa dẫn nói lên các mối quan hệ thân tộc như: vợ - chồng (mẹ Tú và bố tú) bố mẹ - con (bố mẹ ông Phàn - ông Phàn).
+ Biểu thức miêu tả thể hiện vị thế xã hội của nhân vật: Các nhân vật tác phẩm văn chương nói chung, trong văn Vi Hồng nói riêng luôn nằm trong những mối quan hệ xã hội phức tạp, đa dạng. Đó là mối quan hệ thủ trưởng - nhân viên, giám đốc - nhân viên, thầy giáo - học sinh, bạn - bạn, chủ - khách,... Những mối quan hệ này thể hiện vị thế xã hội của các nhân vật trong tác phẩm.
Ví dụ 9: a. Ông trưởng trạm đang mơ màng tưởng Vàng Khao về nên vẫn cứ nhắm tịt mắt và vẫn tiếp tục nghe cái cái bản nhạc đồng vọng của quê hương...
Ông trưởng trạm thao thao dạy cho người khách lạ một bài đạo đức vỡ lòng.
[46, tr. 164]
b. Chuyện ông chủ tịch già phải đi tù làm cho cả mường dựa mắt, vểnh
tai kinh lạ. [46, tr. 264]
c. Một người quiền cao chức trọng (chỉ nhân vật Ba- tác giả luận văn chú thích) muốn trừng trị một đứa sinh viên năm thứ hai (chỉ Vương Mí Toàn - tác giả luận văn chú thích) thì khó gì! [47, tr. 220]
Tất cả những biểu thức miêu tả chiếu vật in nghiêng trong ví dụ 9 đều thể hiện được vị thế xã hội của nhân vật được chúng qui chiếu. Đó là những nhân vật có chức vụ, có quiền hành trong xã hội, như: ông trạm trưởng, ông chủ tịch.
Ông trạm trưởng được nói đến ở đây là nhân vật trong tác phẩm Chồng thật vợ giả không có tên tuổi cụ thể. Nhân vật không tên này không phải vì không có tên mà vì như Vi Hồng giải thích: “ông trạm trưởng tất nhiên là có tên tuổi, lí lịch rõ ràng nhưng thôi ta cứ gọi ông ta là ông trạm trưởng cho gọn” [46, tr.
160]. Đó cũng có thể chỉ là người khách lạ không mời mà đến. Nhân vật người khách lạ cũng không được chiếu vật bằng tên riêng mà người đọc chỉ biết lí lịch nhân vật này qua lời tự giới thiệu của anh ta với ông trạm trưởng: “Tôi là con trai người giàu nhất mường này,... là chồng chưa cưới của Thieo Si” [46, tr.
164]. Hai nhân vật: ông trạm trưởng và người khách lạ tuy người đọc không biết tên nhưng vị thế xã hội thì được tường minh: quan hệ chủ nhà và khách.
Tương tự, hai nhân vật được qui chiếu bởi hai biểu thức miêu tả: “một người quiền cao chức trọng” và “một đứa sinh viên năm thứ hai” có quan hệ vị thế cao - thấp (quan hệ thầy - trò).
b) Biểu thức miêu tả chiếu vật bộc lộ chức vụ, nghề nghiệp của nhân vật - Biểu thức miêu tả thể hiện chức vụ của nhân vật
Biểu thức miêu tả “ông trạm trưởng” vừa dẫn không chỉ nói lên vị thế của ông ta với “người khách lạ” qua mối quan hệ xã hội (quan hệ chủ nhà - khách) như vừa nói mà còn thể hiện được chức vụ của nhân vật: nhân vật này giữ chức vụ trạm trưởng (lâm nghiệp) (biểu thức ông trạm trưởng lâm nghiệp được nói ở trang sau của tác phẩm cho ta biết thêm về chức trạm trưởng của nhân vật này).
Ví dụ 10: a. Sáng hôm sau, đêm thứ nhất, lão Châu đoàn hỏi thằng con
rể... [48, tr. 151]
b. Ông đại đội trưởng bị gẫy một bên đùi sau khi được uống thuốc cầm
máu cũng đã thiêm thiếp. [48, tr. 264]
Lão Châu đoàn và ông đại đội trưởng là hai biểu thức miêu tả ngoài việc giúp người đọc xác định được nhân vật được qui chiếu còn giúp người đọc biết chức vụ của hai nhân vật này.
Dưới đây là một số chức vụ của nhân vật đã được Vi Hồng thể hiện qua các biểu thức miêu tả chiếu vật.
Cần phải nói ngay rằng, trong tác phẩm của Vi Hồng, có khá nhiều nhân vật với những chức vụ cụ thể được các biểu thức chiếu vật miêu tả thể hiện.
Đó là chức “Viện trưởng”, chức “phó phòng”, hay chức “Hiệu trưởng”, “giám đốc”, v.v...
Ví dụ 11: a. Sau đó ông giám đốc cho nghỉ giải lao vài phút rồi cho thảo
luận bản báo cáo ngay. [44, tr. 138]
b. Được làm con nuôi ông trưởng ty, Ba cũng mừng...
[47, tr. 86]
Giám đốc là chức vụ của nhân vật Đoác trong tác phẩm Vào hang của Vi Hồng. Ông trưởng ty là chức vụ của một nhân vật trong tác phẩm Người trong ống của Vi Hồng.
Đôi khi chức vụ của nhân vật không được nói rõ một cách cụ thể, chính xác qua các biểu thức miêu tả mà chỉ thể hiện một cách rất chung chung, đủ cho người đọc biết nhân vật được nói đến là người có quiền, có chức, như: ông quan bộ, thủ trưởng, vị quiền cao chức trọng, người lãnh đạo chủ chốt, v.v...
Ví dụ 12: a. Ông quan Bộ ca ngợi công đức của Đoác, thành tích của Đoác và nhất là ca ngợi tính cứng rắn, kiên quiết trong lãnh đạo của Đoác.
[44, tr. 307]
b. Người ta thấy Đoác, hai quan bộ cùng vài người lãnh đạo chủ chốt trong liên hiệp ngồi trên bàn chủ tọa. [44, tr. 307]
c. Một vị quiền cao chức trọng đến đón Đoác và để thăm liên hiệp một
thể. [44, tr. 306]
Ông quan Bộ, người lãnh đạo chủ chốt, một vị quiền cao chức trọng là những biểu thức miêu tả cho thấy nhân vật được qui chiếu có giữ chức vụ, nhưng chức vụ gì thì không được tường minh.
- Biểu thức miêu tả thể hiện chức vụ của nhân vật
Ngoài việc dùng biểu thức miêu tả chiếu vật để thể hiện chức vụ của nhân vật được qui chiếu, cũng bằng các biểu thức miêu tả chiếu vật, Vi Hồng còn cho người đọc biết được nghề nghiệp của nhân vật. Họ là những người làm nghề dạy học (thầy giáo), nghề chữa bệnh (bác sĩ) hay bộ đội, nghề nông thậm chí là nghề thầy cúng (then),...
Ví dụ 13: a. Cháp Chá cho người đến đón Thieo Mây đến nhà chữa bệnh cho ông cụ. Người đón then bảo then (Thieo Mây) như thế.
[46, tr. 252]
b. Ông mo, bà then khấn khắp trời phật, niệm tung, bắt quiết liên hồi nhưng chẳng thấy người chết đuối nổi lên. [48, tr. 163]
Trong truyện, Thieo Mây làm nghề thầy cúng (người Tày gọi là then).
Biểu thức miêu tả “then” qui chiếu Thieo Mây cho người đọc biết nghề nghiệp của nhân vật này. Thieo Mây chỉ biết làm nghề thầy cúng, vậy mà nhân vật Cháp Chá lại cho người đến đón và yêu cầu cô phải chữa bệnh cho bố hắn. Phải chăng Cháp Chá cho người đến đón Thieo Mây là nhằm mục đích khác (?!).
Ví dụ 14: a. Những người làm ruộng, làm nương giỏi bấy nay bỗng như bừng tỉnh và ngơ ngác nhận lại mình: tại sao lại bị đói? Vì sao?...
[44, tr. 194]
b. Sau khi tắm táp qua loa, On vào nhà tiếp thầy giáo cũ.
[44, tr. 85]
c. Nhiều thầy giáo còn mặc áo bông nhưng Bùng thì mặc toàn len dạ.
[48, tr. 99]
Các biểu thức chiếu vật in nghiêng trong ví dụ vừa dẫn cho biết nghề nghiệp của nhân vật.
- Biểu thức miêu tả chiếu vật thể hiện được học hàm, học vị của nhân vật Cũng như vai trò thể hiện nghề nghiệp, chức vụ của nhân vật, nhiều biểu thức miêu tả chiếu vật được Vi Hồng sử dụng còn thể hiện được cả học hàm, học vị của nhân vật một cách rõ ràng. Dưới đây là một ví dụ tiêu biểu:
Ví dụ 15: a. Ông Giáo sư nhìn căn nhà ngói năm gian rộng thênh thang nhưng chỗ nào cũng mốc thếch. [44, tr.86]
b. Ông giáo sư tiến sĩ hỏi On sau nhiều lần động viên On ở lại trường làm
cán bộ giảng dạy. [44, tr. 101]
Các biểu thức miêu tả chiếu vật: ông Giáo sư, ông giáo sư tiến sĩ mà Vi Hồng dùng để qui chiếu nhân vật đã có vai trò thể hiện được học hàm, học vị của nhân vật bởi các biểu thức này đã chiếu chỉ.