1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết vi hồng

131 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ nghiên cứu hình ảnh con người ở diện khái quát, toàn diện hơn, đặt hình ảnh con người trong tiểu thuyết của Vi Hồng trong thế đối sánh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



THIỀU THỊ PHƯƠNG NGA

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VI HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thái nguyên năm 2011

Trang 2

THIỀU THỊ PHƯƠNG NGA

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VI HỒNG

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học 1 : PGS TS Đào Thuỷ Nguyên Người hướng dẫn khoa học 2 :TS Cao Thị Hảo

Thái nguyên năm 2011

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục của đề tài 6

CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT VI HỒNG TRONG DÒNG CHẢY CỦAVĂN XUÔI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 7

1.1 Khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 7

1.2 Vài nét về nhà văn Vi Hồng 14

1.2.1 Quê hương, gia đình, bản thân 14

1.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng 19

1.2.3 Quan điểm sáng tác nghệ thuật của Vi Hồng 23

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG 31

2.1 Hiện thực cuộc sống miền núi 31

2.1.1 Những xung đột chủ yếu của xã hội miền núi trong tiểu thuyết Vi Hồng 31

2.1.2 Những phong tục tập quán của người miền núi Việt Bắc trong tiểu thuyết của Vi Hồng 48

2.1.3 Thiên nhiên miền núi trong tiểu thuyết Vi Hồng 58

2.2 Con người miền núi trong tiểu thuyết của Vi Hồng 66

2.2.1 Con người với số phận bi kịch 66

2.2.2 Con người lí tưởng – con người tận thiện 69

2.2.3 Con người xấu xa- con người tận ác 72

2.2.4 Con người bản năng 75

2.2.5 Con người tha hoá 77

Trang 4

3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và các yếu tố ngoài cốt truyện 80

3.1.1 Cốt truyện 80

3.1.2 Yếu tố ngoài cốt truyện 92

3.2 Nhân vật 96

3.2.1 Khắc hoạ nhân vật qua yếu tố ngoại hình 97

3.2.2 Khắc hoạ nhân vật qua tính cách, nội tâm 101

3.2.3 Khắc hoạ nhân vật qua hình ảnh thiên nhiên 107

3.3 Nghệ thuật ngôn từ 115

3.3.1 Hệ thống từ ngữ gắn với cuộc sống và con người miền núi 115

3.3.2 Ngôn từ giàu hình ảnh, giàu chất thơ 118

KẾT LUẬN 122

THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, mảng văn học các dân tộc thiểu số tuy chiếm một tỉ lệ khiêm tốn nhưng lại có một vị trí quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo phong phú của nền văn học Việt Nam hiện đại Vì vậy việc nghiên cứu mảng văn học miền núi là một việc làm cần thiết khi dựng lại bức tranh toàn cảnh văn hoá, văn học Việt Nam, nhất là trong thời kì hiện đại

1.2 Trong đội ngũ nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Vi Hồng là một cái tên được nhiều người biết đến Tác phẩm của ông không chỉ được khẳng định ở

trong nước mà giá trị của nó còn vượt ra ngoài biên giới quốc gia (tác phẩm Vãi

Đàng của Vi Hồng được dịch ra tiếng Nga in trong “Tuyển tập chọn lọc 6 nhà văn châu Á” được ấn hành tại Liên Xô cũ) Tính từ tác phẩm đầu tay năm 1959 đến lúc

nhà văn qua đời năm 1997, Vi Hồng đã sáng tác được một số lượng tác phẩm không nhỏ, ở nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, tiểu luận, phê bình, nghiên cứu văn học, kịch Trong đó, thể loại để lại dấu ấn sâu đậm nhất và cũng thể hiện rõ phong cách của Vi Hồng nhất là thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về thể loại tiểu thuyết trong sáng tác của Vi Hồng Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết của Vi Hồng là việc làm cần thiết có ý nghĩa thực tiễn và khoa học Công trình

sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho cán bộ và sinh viên khoa Ngữ văn nói riêng và cho những người yêu thích văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung

1.3 Là một sinh viên trưởng thành từ ngôi trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên – nơi nhà văn Vi Hồng công tác suốt một thời gian dài, việc thực hiện đề tài này đối với chúng tôi còn là sự tri ân của thế hệ học trò đối với một người thầy, một nhà văn tiêu biểu của quê hương mình

2 Lịch sử vấn đề

Năm 1980, cuốn tiểu thuyết đầu tay - Đất Bằng của Vi Hồng được ấn hành

Đây là một cái mốc quan trọng đánh dấu và khẳng định sự nghiệp văn chương của

Vi Hồng Đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay này, nhà văn Nguyên Ngọc đã có

nhận xét : “Tôi thấy cách viết của anh rất khác đối với cách viết của ta - hay ít ra là

của tôi - vẫn thường quen thuộc…Cách viết, bao gồm cách hình dung về nhân vật,

Trang 6

xây dựng nhân vật, dẫn dắt cốt truyện, lựa chọn tình tiết, tập trung chú ý tình tiết này hơn tình tiết kia… cho đến kết cấu, bố cục tả người, tả cảnh, tả tình, đặt câu

chọn từ…” [Báo Nhân dân ngày 19/4/1980] Có thể coi đây là ý kiến đáng chú ý

đầu tiên của một nhà văn có uy tín đánh giá về văn chương Vi Hồng Từ những nhận xét bước đầu của Nguyên Ngọc đến nay đã có một số bài viết về tiểu thuyết của Vi Hồng được đăng tải trên báo chí, kỉ yếu hội nghị khoa học và một số luận văn tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học đáng chú ý như:

1 Hoàng Văn Huyên (2003), Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng

4 Phạm Mạnh Hùng, Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Vi Hồng, tạp chí

Nghiên cứu Văn học số 2

5 Ngô Thu Thuỷ (2006), Giọng điệu trần thuật trong một số tiểu thuyết

của Vi Hồng, kỉ yếu HTKH khoa Ngữ văn trường ĐHSPTN

6 Lâm Tiến (2006), Cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng, tạp chí

Non nước Cao Bằng số 3

7 Phạm Mạnh Hùng (2006), Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi

Hồng, đề tài nghiên cứu KH cấp bộ

8 Vũ Tú Anh (2006), Tiểu thuyết Gã ngược đời của Vi Hồng, kỉ yếu HTKH

khoa Ngữ văn trường ĐHSPTN

9 Nguyễn Long (2006), Người trong ống của Vi Hồng, kỉ yếu HTKH khoa

Ngữ văn trường ĐHSPTN

10 Dương Thị Xuân (2007), Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi

Hồng, luận văn thạc sĩ

11 Nguyễn Thị Thu Hương (2008), Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết

của Vi Hồng, luận văn tốt nghiệp đại học

12 Phạm Duy Nghĩa (2009), Đặc điểm văn xuôi Vi Hồng, tạp chí Hội Nhà

văn Việt Nam

Trang 7

Những công trình nghiên cứu về nhà văn Vi Hồng kể trên đã chú ý và phát hiện được một số phương diện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn

Về nội dung:

Phương diện được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu nhất chính là hình ảnh con người miền núi trong tiểu thuyết của Vi Hồng Tuy nhiên các tác giả mới chủ yếu nghiên cứu phương diện này trong sự chi phối của tính dân tộc đến tính cách nhân vật Tác giả

Hoàng Văn Huyên trong Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng đã chỉ ra 3 đặc

điểm cơ bản của con người miền núi trong tiểu thuyết của Vi Hồng là: con người giàu sức sống, con người bộc trực thật thà và con người giàu khát vọng tình yêu, chung thuỷ

Phạm Mạnh Hùng trong công trình Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng

lại sử dụng tiêu chí thành phần trong xã hội để phân chia hình ảnh con người trong tiểu thuyết của Vi Hồng thành 2 loại: người trí thức và người lao động PGS Phạm Mạnh Hùng khi nghiên cứu về hình ảnh con người trí thức cũng đã chạm đến vấn đề đạo đức, lối sống của người cán bộ vùng cao trong giai đoạn cách mạng mới Qua đó tác giả nhận

định: “Sáng tạo nhân vật trí thức với sự đan xen giữa những con người thánh thiện và

những kẻ xấu xa bẩn thỉu, Vi Hồng thể hiện sự trân trọng, ngợi ca những người trí thức

có tài năng, nhân cách và sự căm phẫn, lên án những kẻ bất tài, bất nhân, bất nghĩa.”

[32 Tr 52] Tuy nhiên sự nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng còn chưa thật sâu sắc và khái quát bởi vấn đề này chỉ được ông đặt ra trong phạm vi rất hẹp (chủ yếu trong tác phẩm

Người trong ống và trong khuôn khổ hơn 1 trang của công trình nghiên cứu mà thôi)

Trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ nghiên cứu hình ảnh con người ở diện khái quát, toàn diện hơn, đặt hình ảnh con người trong tiểu thuyết của Vi Hồng trong thế đối sánh với hình ảnh con người trong tác phẩm của những nhà văn miền núi khác để chỉ ra nét riêng có, độc đáo của Vi Hồng mà không chỉ bó hẹp cái nhìn con người trong phạm vi tính dân tộc hay thành phần xã hội

Phương diện phong tục, tập quán và hình ảnh thiên nhiên trong tiểu thuyết của Vi Hồng cũng mới chỉ được nghiên cứu rải rác trong một vài công trình và bài viết chứ chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống Và nhất là các tác giả mới chỉ ra được đóng góp chứ chưa đề cập đến những hạn chế của các phương diện này trong tiểu thuyết của Vi Hồng Đó sẽ là phần mới và cũng là đóng góp chúng tôi trong công trình nghiên cứu này

Trang 8

Về nghệ thuật:

Hai phương diện được các tác giả đi trước chú ý nghiên cứu là ngôn ngữ và nghê thuật xây dựng nhân vật

Về phương diện ngôn ngữ: Các tác giả (nhất là tác giả Nguyễn Thu Hương trong

khóa luận tốt nghiệp đại học Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Vi Hồng) đã

nghiên cứu các phương thức tu từ và nghiên cứu trên 2 cấp độ của ngôn ngữ trong tác phẩm là từ ngữ và lời văn Từ đó chỉ ra một số đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Vi Hồng Có thể nói đây là phương diện nghệ thuật được nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nhất trong tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng Chính vì vậy trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ dành một dung lượng nhỏ viết về phương diện này trên cơ sở kế thừa và cố gắng phát hiện thêm một vài yếu tố mới khi đặt Vi Hồng trong thế đối sánh với ngôn ngữ tiểu thuyết của Triều Ân và Cao Duy Sơn

để làm rõ thêm đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết của Vi Hồng

Phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng đã được Phạm Mạnh Hùng chú ý đến Tuy nhiên tác giả chỉ nhấn mạnh tới những tới những thành công của Vi Hồng ở nghệ thuật miêu tả nhân vật qua ngoại hình và ngôn ngữ mà chưa khai thác những mặt hạn chế (dù không nhiều) về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng Các phương diện được tác giả công trình nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và khá sơ sài (nghiên cứu phương diện miêu tả ngoại hình, tác giả chỉ dừng lại ở chưa đầy một trang viết) Trong công trình của mình, chúng tôi không chỉ đi sâu nghiên cứu các phương diện ngoại hình, nội tâm

mà còn phát hiện ra một đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng nhân vật của Vi Hồng là miêu tả, khắc hoạ nhân vật qua hình ảnh thiên nhiên Đồng thời, bên cạnh việc khẳng định những nét độc đáo, đóng góp của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn xuôi miền núi nói chung và của thể loại tiểu thuyết nói riêng, chúng tôi cũng chỉ rõ những hạn chế trong cách xây dựng nhân vật của Vi Hồng

Nhà nghiên cứu Lâm Tiến đã chỉ ra một số nét riêng trong cách viết tiểu thuyết của Vi Hồng ở các phương diện: nhân vật, kết cấu [50] Nhưng nhìn chung đó mới chỉ là những nhận xét khái quát, chung chung mà chưa được phân tích làm rõ

Trang 9

Ngoài những công trình trên, hầu hết các công trình khác đều chỉ nghiên cứu tiểu thuyết Vi Hồng trên phạm vi một phương diện, một tác phẩm cụ thể chứ chưa

có sự khai thác một cách toàn diện trên phạm vi thể loại Đặc biệt các phương diện như: xung đột chủ yếu của xã hội miền núi trong tiểu thuyết của Vi Hồng; cốt truyện và yếu tố ngoài cốt truyện; khắc hoạ nhân vật qua hình ảnh thiên nhiên chưa được nghiên cứu trong bất cứ công trình nào Chính vì vậy chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những phương diện ấy và đó sẽ là đóng góp của công trình nghiên cứu trong việc tìm hiểu tiểu thuyết của Vi Hồng

Điểm lại các công trình, bài báo nghiên cứu về văn chương Vi Hồng nói chung, tiểu thuyết của Vi Hồng nói riêng, chúng tôi nhận thấy: Đã có một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của nhà văn ở các phương diện nội dung và nghệ thuật Nhưng những công trình này thường chỉ dừng ở một số phương diện cụ thể hoặc một vài tác phẩm Chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu tiểu thuyết Vi Hồng một cách có hệ thống, ở diện rộng và khái quát Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên

cứu đặc điểm tiểu thuyết Vi Hồng được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết của Vi Hồng ở cả 2 phương diện nội dung và nghệ thuật, đề tài chỉ ra những đóng góp của Vi Hồng trong tiến trình vận động, phát triển của văn học dân tộc thiểu số, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của nhà văn ở thể loại tiểu thuyết Từ đó, khẳng định vị trí của Vi Hồng trong đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, trong đội ngũ các nhà văn hiện đại Việt Nam nói chung

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm tiểu thuyết của Vi Hồng ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật

- Phạm vi nghiên cứu: Vi Hồng sáng tác ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, kịch, truyện vừa, truyện ngắn… Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của nhà văn

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp:

Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại

Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp khái quát, tổng hợp

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Tiểu thuyết của Vi Hồng trong dòng chảy của văn xuôi các dân tộc

thiểu số Việt Nam hiện đại

Chương 2 Hiện thực cuộc sống và con người miền trong tiểu thuyết của Vi Hồng Chương 3 Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng

Trang 11

CHƯƠNG 1

TIỂU THUYẾT VI HỒNG TRONG DÒNG CHẢY CỦAVĂN XUÔI

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 Khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại còn rất trẻ, và văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam còn trẻ hơn nữa Nếu như trước năm 1945, các dân tộc thiểu số đã có thơ thì văn xuôi các dân tộc thiểu số chỉ được hình thành và phát triển

từ sau Cách mạng tháng Tám Văn xuôi chỉ xuất hiện khi văn học các dân tộc thiểu

số nói chung và các nhà văn dân tộc thiểu số nói riêng đã phát triển đến một trình

độ nhất định, ít nhiều đạt được độ chín trong nhận thức cũng như trong sáng tác Sự xuất hiện của văn xuôi các dân tộc thiểu số là sự xuất hiện tất yếu của một thể loại trong tiến trình phát triển của một nền văn học- văn học các dân tộc thiểu số Sự xuất hiện ấy là kết quả của 3 nguyên nhân chính (cả nguyên nhân khách quan và chủ quan)

Thắng lợi của cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ tháng Tám năm 1945 chính

là nguyên nhân khách quan đầu tiên Cách mạng đã đem lại cho các dân tộc cuộc sống tự do, dân chủ và bình đẳng, giúp cho các dân tộc thiểu số ý thức được mình là một dân tộc như những dân tộc khác Họ đã có một chỗ đứng để nhìn lại dân tộc mình và dân tộc khác, thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu của bản thân Từ đó họ có điều kiện phát triển không chỉ về mặt kinh tế, xã hội mà còn về cả văn hoá, văn học

Những tác phẩm văn xuôi của những nhà văn dân tộc Kinh, nhất là những tác

phẩm như Ở rừng của Nam Cao, Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, Đất nước đứng lên

của Nguyên Ngọc đã ảnh hưởng không nhỏ tới cảm hứng sáng tác văn xuôi của các tác giả dân tộc thiểu số Họ, những nhà văn dân tộc thiểu số giàu tâm huyết và tài năng ý thức được rằng đã đến lúc phải phản ánh cuộc sống, con người của dân tộc mình bằng các thể loại văn học khác chứ không phải chỉ phán ánh bằng thơ như trước đây nữa Nhưng muốn làm được điều đó, các nhà văn dân tộc thiểu số cần phải có một trình độ văn hoá, một sự hiểu biết về văn học nghệ thuật nhất định

Trang 12

Chính các lớp, các trại sáng tác, chính sự dìu dắt của thế hệ nhà văn người Kinh tài năng, tâm huyết là nguyên nhân thứ ba, có lẽ cũng là nguyên nhân quan trọng nhất cho sự ra đời của văn xuôi các dân tộc thiểu số

Trong các thể loại của văn xuôi thì truyện ngắn là thể loại đầu tiên xuất hiện trên tiến trình phát triển của văn học dân tộc thiểu số hiện đại Người ghi công đầu

trong lĩnh vực này là Nông Minh Châu với truyện ngắn Ché Mèn được đi họp in

năm 1958, tức là vào những năm mở đầu của công cuộc chống Mĩ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Tiếp đó vào những năm 50, 60 xuất hiện hàng

loạt những truyện ngắn Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Cuộn chỉ màu hột đỗ của Lâm Ngọc Thụ, Đêm giao thừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình, Mường Nà Pàng của Nông Viết Toại, Về nhiệm vụ của Huy Hùng, Nước suối tiên đào của Vi Hồng,

Ké Nàm của Hoàng Hạc, Hoa trong men của Vương Trung Bước sang thập kỉ 70,

80, truyện ngắn của văn học dân tộc thiểu số phát triển một cách mạnh mẽ với sự xuất hiện liên tiếp những tuyển tập truyện ngắn của nhiều tác giả hoặc của riêng

từng tác giả: Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc, Triều Ân (1969), Mây tan của nhiều tác giả (1973), Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại (1973), Tiếng chim

gõ của Nông Minh Châu (1979), Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (1979), Tiếng khèn A pá của Triều Ân (1980), Những bông ban tím của Sa Phong Ba (1981), Người tạc tượng nhà mồ của nhiều tác giả (1988), Đường qua đèo mây của Triều

Ân (1988), Đuông thang của Vi Hồng (1988), Xứ lạ mường trên của Hoàng Hạc (1989), Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành (1990)

Có thể nói sự xuất hiện của thể loại truyện ngắn trong văn xuôi các dân tộc thiểu

số đã đem đến một cách cảm nhận con người, cuộc sống vừa giống lại vừa khác với những tác phẩm của người miền xuôi viết về miền núi, góp phần làm cho hình tượng con người miền núi trở nên có xương thịt, có hồn hơn rất nhiều Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng, những non yếu ban đầu khó có thể tránh khỏi về mặt nghệ thuật, cũng như những hạn chế nhất định về mặt thể loại (dung lượng tác phẩm ngắn) đã làm giảm không ít tầm khái quát, diện phản ánh của tác phẩm Những hạn chế này dần dần

đã được khắc phục cùng với sự xuất hiện và phát triển của thể loại tiểu thuyết

Trang 13

So với truyện ngắn, tiểu thuyết ra đời muộn hơn 6 năm, và người mở đường cho sự phát triển của thể loại này cũng là nhà văn Nông Minh Châu với cuốn tiểu

thuyết Muối lên rừng sáng tác năm 1964 Khác với thể loại truyện ngắn ra đời và

phát triển một cách liên tục, tiểu thuyết có quá trình phát triển rất riêng Sau cuốn

Muối lên rừng, tiểu thuyết các dân tộc thiểu số dường như chững lại Quá trình

chững lại ấy kéo dài đến 14 năm Bởi Nông Minh Châu, từ 1964 đến 1979 (lúc nhà văn qua đời) không viết thêm cuốn tiểu thuyết nào khác và cũng không có thêm bất

cứ một cây bút tiểu thuyết dân tộc thiểu số nào xuất hiện trên văn đàn trong suốt khoảng thời gian hơn chục năm ấy Lí giải hiện tượng này chúng ta chỉ có thể dựa vào đặc trưng thể loại tiểu thuyết Đây là một thể loại “dài hơi” hơn truyện ngắn rất nhiều, tiểu thuyết đòi hỏi người viết phải có một sức viết “sung”, một vốn sống, vốn hiểu biết không nhỏ Và đây dường như là một đòi hỏi quá tầm với phần lớn nhà văn dân tộc thiểu số lúc bấy giờ, khi mà nền văn xuôi mới chỉ tồn tại, phát triển được 6 năm Cho nên trong suốt những năm 70, 80, văn học các dân tộc thiểu số chỉ dừng lại ở thể loại truyện ngắn Đồng thời, trong khoảng thời gian hơn chục năm ấy các nhà văn cũng tích luỹ những kĩ năng, kinh nghiệm, vốn hiểu biết để tạo nên bước phát triển mới cho thể loại tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi dân tộc thiểu số nói chung Tuy nhiên, quá trình tích luỹ ấy không hề dễ dàng, nó đòi hỏi không chỉ tâm huyết, lòng nhiệt tình mà còn là cả tài năng nữa Bởi vậy nên đến năm 1978,

tức là 14 năm sau, cuốn tiểu thuyết thứ 2 mới ra đời Đó là cuốn tiểu thuyết Hơ

Giang của Y Điêng (dân tộc Ê đê) Tiếp đó đến năm 1980 là Đất Bằng của Vi

Hồng Và trong suốt một chục năm sau đó cũng chỉ có tiểu thuyết của Vi Hồng mà

thôi Đó là Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang (1990), Lòng dạ đàn bà (1992)

Từ thập niên 90 đến nay, văn xuôi các dân tộc thiểu số xuất hiện một đội ngũ gồm những cây bút tiểu thuyết mới, trẻ tuổi, tài năng và tâm huyết Đó là Ma

Trường Nguyên với Mũi tên ám khói (1991) và Gió hoang (1992), Hoàng Thị Cành với Làm dâu (1992) và Cướp chồng (1992), Cao Duy Sơn với Người lang

thang (1992), La Quán Miên với tập truyện ngắn Hai người trở về bản (1996),

Trang 14

Hlinh Niê với tập truyện ngắn Con rắn màu xanh da trời (1997), tập kí Trăng Xí

Thoại (1999), Kim Nhất với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002),

Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003) và Niê Thanh Mai với Về bên kia

núi (2007)

Trước thập niên 80, văn xuôi các dân tộc thiểu số chủ yếu phản ánh cuộc kháng chiến chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, rất ít tác phẩm viết về thời kì kháng chiến chống Pháp Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính có lẽ là do hầu hết các tác phẩm văn xuôi đều ra đời trong thời

kì chống Mĩ và chủ nghĩa xã hội Các nhà văn thời kì này đều có ý thức lấy văn học phục vụ nhiệm vụ trước mắt Văn học luôn bám sát những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, đi sâu khai thác các đề tài: xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng công trình thuỷ điện, xây dựng quê hương mới, cuộc sống định canh, định cư, chống mê tín dị đoan, chống bảo thủ lạc hậu Văn học còn phản ánh nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, cưới xin, ma chay, săn bắn, lễ hội của các dân tộc Một mảng hiện thực nữa được tái hiện trong văn xuôi là cuộc sống của nhân dân miền núi trước Cách mạng tháng Tám Tác

phẩm tiêu biểu cho đề tài này là cuốn tiểu thuyết Muối lên rừng của Nông Minh Châu và Vãi Đàng của Vi Hồng Muối lên rừng - tác phẩm có ý nghĩa mở đường

cho thể loại tiểu thuyết của văn học thiểu số hiện đại, phản ánh hiện thực cuộc sống cay cực và nạn thiếu muối trầm trọng do chính sách hà khắc của thực dân Pháp ở miền núi Việt Bắc trước cách mạng Thông qua nhân vật trung tâm là Pảo, một thanh niên dân tộc Tày, tác giả kể lại quá trình giác ngộ cách mạng của người dân miền núi, đồng thời ca ngợi tình bạn, tình yêu chung thuỷ của họ Ngoài giá trị nội

dung thì đóng góp nổi bật nhất của Muối lên rừng chính là ở phương diện ngôn ngữ

và cách diễn đạt đầy màu sắc dân tộc Ngôn ngữ trong tác phẩm rất trong sáng, giàu hình ảnh với những hình thức ví von sinh động Tuy nhiên, là một cuốn tiểu thuyết đầu tay, tác phẩm không tránh khỏi những hạn chế như: tính điển hình của nhân vật chưa cao, tâm lí nhân vật còn sơ sài, đơn giản thậm chí là mờ nhạt và hầu như

không có Đến Vãi Đàng của Vi Hồng thì số phận của người dân miền núi được

Trang 15

khắc hoạ một cách rất rõ nét, sinh động Qua cuộc đời của Đàng, một cô gái Tày xinh đẹp và giàu nghị lực sống nhưng gặp không ít nỗi bất hạnh, đắng cay, lần đầu tiên số phận của người phụ nữ dân tộc trước Cách mạng tháng Tám đã đi vào văn học Việt Nam hiện đại

Trong giai đoạn này, cuộc chiến đấu chống Mĩ cứu nước cũng là một chủ đề

được quan tâm khai thác với khá nhiều tác phẩm: Mẹ con chị Nải, Những cô gái

đảm đường cầu, Trận địa giữa ruộng bậc thang của Nông Minh Châu, Sông gọi

của Hoàng Hạc và đặc biệt là Hơ Giang của Y Điêng Hơ Giang là cuốn tiểu thuyết

đầu tiên trong sự nghiệp cầm bút của Y Điêng và là cuốn tiểu thuyết thứ hai của văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam Tác phẩm xoay quanh cuộc đời người con gái Êđê mang tên Hơ Giang, là câu chuyện của bà con buôn Chư Pông đoàn kết đứng lên phá ấp, giải phóng buôn làng Nhưng đấy không phải là câu chuyện của một làng, một vùng phía Tây Phú Khánh mà còn có sức khái quát cho cả Tây Nguyên đồng khởi, không chỉ tập trung khắc hoạ chân dung của một Hơ Giang kiên trinh

mà còn chỉ ra con đường đến với cách mạng của cả một thế hệ thanh niên như Hơ

Đông, Hơ Tang, Hơ Lam, Y Thao, Y Mao Hơ Giang của Y Điêng đã hoàn chỉnh

thêm gương mặt của người dân Tây Nguyên bất khuất, góp phần làm phong phú hơn diện mạo của văn xuôi các dân tộc thiểu số ở thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, trong cuốn tiểu thuyết này, Y Điêng cũng không tránh khỏi những hạn chế như cây bút tiểu thuyết đàn anh Ông vẫn sử dụng lối cấu trúc đơn giản theo mạch thời gian, không có sự xen cài, va chạm phức tạp của các cảnh ngộ, sự biểu hiện tâm lí còn đơn thuần, sơ lược

Bước sang thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90, với sự xuất hiện của cây bút tiểu thuyết rất “sung sức” Vi Hồng, đề tài được phản ánh trong văn xuôi nói chung và nhất là trong thể lọai tiểu thuyết nói riêng được mở rộng hơn rất nhiều Vi Hồng không chỉ làm phong phú thêm những vấn đề vốn quen thuộc của văn xuôi dân tộc thiểu số như vấn đề chống mê tín dị đoan, khẳng định cái lỗi thời, lạc hậu phải nhường chỗ cho cái tiên tiến, phơi bày những cái xấu xa cần được xoá bỏ trong

xã hội miền núi mà ông còn đưa vào những cuốn tiểu thuyết của mình những đề tài

Trang 16

hoàn toàn mới như: đề tài công nghiệp ( Thung lũng đá rơi), đề tài người trí thức dân tộc ở các trường đại học (Người trong ống, Gã ngược đời) Các tiểu thuyết

Người trong ống, Gã ngược đời, Vào hang, Chồng thật vợ giả đã đề cập đến

những vấn đề có tính thời sự như sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ của việc ngăn cấm làm giàu cá nhân và gióng hồi chuông cảnh báo về sự hoành hành của cái ác Những tiểu thuyết của Vi Hồng dù vẫn tồn tại không ít những hạn chế nhưng cũng đã đạt được một bước tiến khá dài so với hai cây bút tiểu thuyết trước đó là Nông Minh Châu và Y Điêng Vi Hồng đã phần nào khắc phục được

kiểu kết cấu đơn giản theo mạch thời gian ngay từ tác phẩm Vãi Đàng, ông cũng đã

chú ý hơn trong việc phân tích, thể hiện tâm lí của nhân vật, đặt nhân vật trong những mâu thuẫn xung đột gay gắt hơn, thiên nhiên trong tác phẩm của Vi Hồng cũng trở thành một đối tượng nghệ thuật có vẻ đẹp riêng của nó chứ không phải là thiên nhiên được miêu tả khá mờ nhạt trong sự hoà nhập chia sẻ với vui buồn của con người như trong tác phẩm của Nông Minh Châu Đặc biệt, qua các tiểu thuyết của mình Vi Hồng đã thể hiện một ngòi bút tài hoa, điêu luyện trong cách sử dụng ngôn từ

Những năm cuối thập niên 90 và thập niên đầu của thế kỉ XXI với sự xuất hiện của rất nhiều cây bút văn xuôi trẻ, tài năng, văn xuôi (nhất là tiểu thuyết) các dân tộc thiểu số ngày càng phát triển đạt đến trình độ hiện đại Không những đề tài được mở rộng mà những hạn chế trước đây của lớp nhà văn đi trước đều được lớp nhà văn trẻ chú ý khắc phục Sự thành công của văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam đã phần nào được ghi nhận và phản ánh thông qua rất nhiều giải thưởng trong nước và khu vực

mà lớp nhà văn trẻ đã đạt được Điều này được minh chứng bằng sự thành công đáng

trân trọng của nhà văn dân tộc Tày- Cao Duy Sơn Với một hành trình từ Người lang

thang (1992), Cực lạc (1995), Những chuyện ở thung lũng Cô Sầu (1996), Hoa mận

đỏ (1999), Những đám mây hình người (2002), Đàn trời (2006) đến Ngôi nhà xưa bên suối (tập truyện đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008, Giải thưởng

Văn học ASEAN năm 2009), Chòm ba nhà (2009) Cao Duy Sơn xứng đáng được coi

là gương mặt tiêu biểu nhất trong đội ngũ văn xuôi các dân tộc thiểu số

Trang 17

Nhận diện về văn học thiểu số Việt Nam hiện – đương đại, có thể chỉ ra ba đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất về khu vực sáng tác, chúng ta thấy rằng văn học thiểu số bắt đầu ở miền núi phía Bắc và ngày càng có sự mở rộng đội ngũ sáng tác ở các khu vực phía Nam (Tây Nguyên với các tác phẩm của Hlinh Niê, Kim Nhất và miền Trung với các tác phẩm của La Quán Miên, Kha Thị Thường) với sự tham gia sáng tác của rất nhiều dân tộc thiểu số như dân tộc Hoa, dân tộc Chăm, dân tộc Nùng, dân tộc Thái…Tuy nhiên, có thể nhận định rằng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển nhất ở miền núi phía Bắc, đặc biệt là ở vùng Việt Bắc – Cao Bằng với sự xuất hiện của những nhà văn có vai trò tiên phong, mở đường như Nông Minh Châu, Vi Hồng và cả những tên tuổi đỉnh cao như Cao Duy Sơn

Thứ hai về đề tài, chủ đề thì ngày càng có sự mở rộng Các nhà văn ngày càng đi sâu khám phá những vấn đề phức tạp của đời sống miền núi nhất là khai thác vấn đề số phận cá nhân Chính vì vậy, chất tiểu thuyết cũng như tinh thần nhân văn, nhân bản ngày càng trở nên đậm nét trong các sáng tác của văn học thiểu số

Thứ ba, chất lượng nghệ thuật ngày càng được nâng cao với sự xuất hiện ngày càng nhiều những tác phẩm có dấu hiệu mới trong cách nhìn và cách tư duy nghệ thuật, với cái nhìn sâu vào mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chú ý soi chiếu nhân vật ở góc độ đời tư, tính cách nhân vật khá rõ nét và dần có xu hướng đa diện phức tạp Ngôn ngữ cũng ngày càng đậm chất văn xuôi, tiểu thuyết

Qua việc tìm hiểu khái quát diện mạo văn xuôi dân tộc thiểu số hiện đại, chúng ta nhận thấy rằng văn xuôi dân tộc thiểu số dẫu còn tồn tại một số hạn chế về

cả nội dung và hình thức nhưng cũng không thể phủ nhận rằng bộ phận văn học này đang trên đà phát triển và ngày càng đạt đến trình độ hiện đại Văn xuôi các dân tộc thiểu số đã thực sự khẳng định được vị trí của mình và góp phần quan trọng vào việc tạo nên diện mạo phong phú của nền văn học Việt Nam trong thời kì hiện đại

Trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, nhất là ở thể loại tiểu thuyết, Nông Minh Châu, Vi Hồng và Cao Duy Sơn là ba cái tên giữ vai trò

Trang 18

quan trọng Nếu như Nông Minh Châu là người mở đường, người đặt viên gạch đầu

tiên xây dựng nền móng cho tiểu thuyết các dân tộc thiểu số với Muối lên rừng thì

Vi Hồng là người có công đầu trong việc khẳng định giá trị, vị trí của thể loại này

thuyết dân tộc thiểu số hội nhập cùng xu thế hiện đại của nền văn học nước nhà

1.2 Vài nét về nhà văn Vi Hồng

1.2.1 Quê hương, gia đình, bản thân

Vi Hồng (tên đầy đủ là Vi Văn Hồng) sinh ngày 13/7/1936 tại bản Phai Thin

xã Đức Long, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng trong một gia đình nông dân nghèo, dân tộc Tày

kỳ Thục Phán An Dương Vương thế kỉ II trước công nguyên Trải qua quá trình hình thành và phát triển, tỉnh Cao Bằng đã có một bề dày truyền thống lịch sử, văn hoá rất đáng tự hào và trân trọng Cao Bằng là một vùng văn hoá đa dạng, phong phú bởi sự giao hoà văn hoá của nhiều dân tộc anh em Các dân tộc tiêu biểu ở Cao Bằng bao gồm Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, Mông và dân tộc Hoa Trong đó dân tộc Tày chiếm ưu thế (khoảng 42%) Mỗi dân tộc đều có những di sản văn hoá truyền thống độc đáo của riêng mình Nét đặc sắc về văn hoá của người Tày được thể hiện trong làn điệu lượn, hát then, lượn slương, lượn cọi, lượn ngạn, múa slông, múa chẩu, cây đàn tính, phướng lị Những nét văn hoá đặc sắc của vùng đất Cao Bằng, đặc biệt là những nét văn hoá của dân tộc Tày dường như đã ăn sâu vào máu thịt của Vi Hồng, được nhà văn say mê từ ngày còn thơ bé Nó vừa là động lực, vừa là ngọn nguồn cảm hứng trong những sáng tác của Vi Hồng, góp phần làm nên tính dân tộc và một phong cách rất riêng trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn, nhất là trong thể loại tiểu thuyết

khánh vừa to vừa bùi, lê Đông Khê với vị ngọt thanh mát và đặc biệt là món bánh trứng kiến rất độc đáo Đây cũng là vùng đất của những thảo dược quý như chè

Trang 19

đắng, chè dây và mật ong thơm ngon thơm hương vị hoa rừng và đặc biệt rất giàu chất dinh dưỡng Những món ăn, những sản vật của vùng đất quê hương ấy sau này

đã xuất hiện không ít trong những trang văn của Vi Hồng và làm nên một nét cuốn hút rất riêng cho sáng tác của nhà văn Rõ ràng, chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của quê hương đến những sáng tác của Vi Hồng Điều này chỉ có thể được lí giải bằng tình yêu sâu đậm của nhà văn với quê hương, với dân tộc mình chứ không phải chỉ dựa vào hoàn cảnh sống giữa một vùng đất giàu truyền thống văn hoá Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, thế nhưng Vi Hồng lại là người rất hiếu học Con đường học tập của Vi Hồng là một con đường đầy chông gai gian khổ Có thể nói ông là một tấm gương về sự tự nỗ lực học tập vươn lên Năm lên bảy tuổi Vi Hồng đã học chữ Hán và chữ Quốc ngữ từ những người thân trong gia đình, đặc biệt là học cùng với người bác cả giỏi cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ Thương đứa cháu sớm mồ côi mẹ lại thông minh, hiếu học, người bác cả đã dành cho Vi Hồng nhiều sự quan tâm, chăm sóc Sau này, việc học hành của ông hầu hết đều được người bác cả lo liệu, giúp đỡ Do hoàn cảnh gia đình,Vi Hồng phải tự học đến năm 14 tuổi mới được thi vào lớp 3 của trường tiểu học và đến khi hoà bình lập lại, Vi Hồng cùng một số rất ít học sinh Cao Bằng vượt con đường hơn 200 cây số

đầy “gian nan, vất vả và cả nguy hiểm” xuống Thái Nguyên học tại trường phổ thông cấp III Lương Ngọc Quyến Hành trình trên con đường về với “Mẹ chữ

Lương Ngọc Quyến” được nhà văn tái hiện một cách chân thực và xúc động qua

truyện ký Đường về với Mẹ chữ sáng tác năm 1994

Sau khi tốt nghiệp cấp 3, Vi Hồng vào học Trường Đại học Sư phạm Năm

1960 ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên công tác tại Ty giáo dục Hà Giang (bây giờ là sở giáo dục Hà Giang) Sau đó Vi Hồng lại trở về làm cán bộ giảng dạy khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tháng 10/ 1966, trường Đại Học Sư phạm Việt Bắc được thành lập, Vi Hồng lên Thái Nguyên và trở thành một trong những giáo viên đầu tiên của khoa Ngữ văn- trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (nay là trường Đại học Sư phạm Thái

Trang 20

Nguyên) Từ năm 1966 đến khi nhà văn qua đời (1997), Vi Hồng là cán bộ giảng dạy và là chủ nhiệm bộ môn Văn học dân gian của khoa Ngữ Văn

Nhìn vào những gì Vi Hồng đã đạt được, là giảng viên một trường đại học, là chủ nhiệm một bộ môn, lại là một trong số không nhiều nhà văn dân tộc thiểu số đương thời có tên tuổi, không ít người cho rằng ông là một người may mắn Thế nhưng rất ít người biết rằng cuộc đời riêng của cố nhà văn phải chịu không ít bất hạnh, khổ đau Và những gì mà ông đạt được thực sự là những thành quả xứng đáng cho sự nỗ lực không mệt mỏi của nhà văn cho đến tận những năm tháng cuối của cuộc đời Ngay từ ngày thơ bé, Vi Hồng đã sớm phải gánh chịu nỗi đau tinh thần lớn lao, mẹ ông mất khi ông chỉ mới 7, 8 tuổi Cha ông sau này lấy 3 người vợ nhưng không có người vợ nào chăm sóc cho gia đình cả Hai người em của ông cũng lần lượt qua đời khi còn rất nhỏ Trở thành người con trai độc nhất, nên năm mười hai tuổi Vi Hồng đã bị người cha và họ hàng bắt phải lấy vợ để có người trông nom việc nhà và sớm có con nối dõi tông đường Từ đây một nỗi bất hạnh mới lại

đè xuống cuộc đời ông và sẽ bám theo, ám ảnh ông suốt cuộc đời Khi đi xem mặt,

người vợ mà ông sẽ cưới chừng mười lăm tuổi, “đẹp như tiên sa” Thế nhưng đó

chỉ là sự lừa đảo Người vợ thật mà Vi Hồng phải lấy lại là một người đàn bà hơn ông đến tám tuổi, xấu xí, dốt nát, học chữ quốc ngữ mười năm mà không hề biết

đọc, biết viết Đó là một sự thật “khắc nghiệt như đá” Đến khi trưởng thành, chàng

trai Vi Hồng hiểu được thế nào là tình yêu, là hạnh phúc lứa đôi thì sự thật kia lại

càng trở nên nghiệt ngã Với ông nhìn vào cuộc sống gia đình là cả “một bầu trời

buồn thảm, một biển cả khổ đau và một dòng sông nước mắt” Có lẽ Vi Hồng chỉ

thực sự biết đến niềm hạnh phúc của mái ấm gia đình khi ông đến với người vợ thứ hai, một người phụ nữ dịu dàng, nhân hậu kém ông gần 20 tuổi, người đã yêu đã gắn

bó và sẵn sàng nâng đỡ tâm hồn cho ông từ chính sự đồng cảm sâu sắc Người phụ nữ dịu dàng, giàu đức hi sinh ấy đã tự nguyện gánh trên đôi vai gày gò nhỏ bé cả một gánh nặng gia đình với cơm áo gạo tiền và người chồng- thầy giáo văn sĩ ốm yếu Bà đã thực

sự trở thành chỗ dựa cho Vi Hồng trong cuộc sống, nhất là trong mười năm cuối của cuộc đời khi mà nhà văn bị căn bệnh hiểm nghèo tâm phế mãn hành hạ khiến mọi sinh

Trang 21

hoạt cá nhân đều phải dựa vào bà Những năm tháng ấy bà còn sẵn sàng nghỉ việc ở nhà (bà là một giáo viên dạy Địa) để chăm sóc chồng và trở thành người “thư kí đắc lực”, hàng ngày cần mẫn gõ máy chữ giúp nhà văn ghi lại những sáng tác của mình Nếu như không có bà, chắc chắn chúng ta sẽ không có cơ hội tiếp cận với rất nhiều sáng tác của Vi Hồng, nhất là ở mảng tiểu thuyết Có lẽ với người vợ thứ hai của mình,

Vi Hồng sẽ là người hơn ai hết thấm thía câu nói rất nổi tiếng rằng: đằng sau sự thành công của mỗi người đàn ông đều có bóng dáng của một người phụ nữ Đối với riêng

ông, bà thực sự trở thành chiếc cầu “nối hai bến bờ của tâm hồn và sáng tạo” (Vi

Hồng), là động lực, là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo, người mà cho đến những năm

tháng cuối đời ông vẫn trân trọng gọi là “đuông thang”, là bông hoa út của đời ông

Không chỉ có những mất mát về tinh thần, Vi Hồng còn chịu không ít khó khăn

về vật chất Sau này, dù đã trở thành giảng viên đại học, lại là một nhà nghiên cứu, một

nhà văn, xong Vi Hồng vẫn phải sống rất chật vật Vợ cố nhà văn kể lại: “Lương của

thầy chỉ đủ sống một cách tằn tiện trong nửa tháng, còn lại thầy phải cố viết để kiếm thêm thu nhập Những lúc trong nhà không còn tiền để mua thức ăn thì thầy đi đánh

cá Thời bao cấp, dù cuộc sống khó khăn nhưng mặc cho người khác tranh giành, thầy không bao giờ màng tới, đợi đến lúc cuối cùng, còn cái gì thì thầy nhận cái đấy Nhiều lúc, có người thương còn phải đấu tranh để lấy phần cho thầy” Mặc dù gặp không ít

những khó khăn, bất hạnh nhưng cái đáng trân trọng của Vi Hồng là những khổ đau, những bất hạnh trong cuộc đời riêng lại được nhà văn biến thành động lực để sống và

nhất là để sáng tác Nhà văn tâm sự: “Với riêng tôi thì nỗi buồn là động lực chính thôi

thúc tôi sáng tác - lúc đầu cũng coi như đó là một việc làm mình có thể say mê, để có thể quên đi bầu trời buồn thảm trên đầu, có thể ẩn náu mỗi khi nỗi khổ trào dâng Tuy tôi chưa viết được bao nhiêu nhưng văn chương bao giờ cũng là một chiếc phao trong những năm tháng tôi ngoi ngóp giữa biển cả khổ đau của riêng mình.” Chính nghị lực

và nhất là cái cách mà nhà văn dùng để vượt qua nỗi đau đã làm nên một nét đẹp trong nhân cách của nhà văn miền núi Vi Hồng

Vi Hồng là một người luôn hết lòng tận tuỵ với công việc Dẫu ở cương vị nào, là một người thầy, một nhà văn hay một nhà nghiên cứu văn học dân gian, ông

Trang 22

cũng luôn dồn hết tâm sức của mình vào đấy Với cương vị của một giảng viên đại học, Vi Hồng đã làm tốt chức trách của một người thầy tận tuỵ, yêu nghề, hết lòng

vì học sinh, dẫu cho cuộc sống riêng của cố nhà văn không phải lúc nào cũng suôn

sẻ, thuận lợi Có lẽ cũng vì vậy mà người thầy Vi Hồng đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng các thế hệ sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Việt Bắc những năm 1966- 1997 Trong kí ức của họ sẽ còn lư giữ mãi hình ảnh một

người thầy “có dáng đi đạo mạo khác người: lưng thẳng, đầu hơi nghiêng, tay cắp

cặp da, bút máy giắt ngực” và “cho đến hàng chục năm sau này khi ra trường công tác, học trò vẫn nhớ nhất là những bài giảng về Foklre của thầy Vi Hồng” (nhà thơ

Dương Thuấn) Với cương vị là một nhà văn, Vi Hồng luôn miệt mài sáng tác, như một người nông dân cần mẫn trên thửa ruộng của mình Cho đến nay chưa có một nhà văn miền núi nào có thể vượt Vi Hồng về số lượng những đầu sách đã xuất bản

Là người con của dân tộc Tày, người con của núi rừng Việt Bắc, Vi Hồng đặc biệt say mê và có ý thức tìm hiểu những di sản văn hoá, văn học của quê hương mình Ngay từ những ngày còn thơ bé, khi mới năm tuổi, cậu bé Vi Hồng đã bộc lộ thiên hướng, niềm say mê đặc biệt này Vi Hồng theo ông nội lên núi chăn trâu chỉ với mục đích là được nghe kể chuyện cổ, vì ban đêm ông nội kể thì cậu hay ngủ khì Chiều chiều, trong khi trâu bò mải mê gặm cỏ, mặc cho các bạn bè cùng trang lứa khác chơi đủ trò, hò hét trên các sườn núi thì Vi Hồng lại trở thành thính giả tí hon duy nhất cùng với ông nội ngồi nghe các già bản, già mường kể chuyện “đời già, đời cũ kĩ” dưới gốc cây xoà ô lưng núi Đến năm lên 10, 11 tuổi, cậu bé Vi Hồng lại say sưa học các điệu lượn với bà nội và bà bá cả Bà nội và bá cả của Vi Hồng có cả một kho tàng dân ca Tày

Vi Hồng còn được bà nội dạy hát then- một thể loại dân ca Tày đặc sắc Đặc biệt người bá cả của Vi Hồng còn là người chuyên làm then, làm bụt Cho nên đối với hoạt động văn hoá tâm linh này của dân tộc mình, Vi Hồng đặc biệt hiểu rất rõ

và trong các trang tiểu thuyết của mình sau này, không ít lần nhà văn đã được dịp tái hiện lại một cách sinh động Năm 13, 14 tuổi, ông đã đọc và học được rất nhiều truyện thơ của dân tộc mình như Nam Kim- Thị Đan, Lương Quân – Bjoóc lạ, Kim Quế, Tần Chu Tình yêu đối với di sản văn hoá, văn học quê hương của cậu bé

Trang 23

Hồng cứ lớn dần theo năm tháng và trở thành một phần máu thịt, con người của nhà văn, trở thành nguồn nuôi dưỡng không bao giờ cạn trong sự nghiệp sáng tác của ông Dẫu cho sau này, vì điều kiện công tác, Vi Hồng ít có dịp trở về quê hương nhưng ông vẫn luôn hướng về vùng đất Cao Bằng và những di sản văn hoá của quê hương vẫn luôn sống trong kí ức, trong những trang văn của ông như là một cách giúp ông nguôi đi nỗi nhớ và cũng như là để nhà văn “trả nợ” cho những gì đã nuôi dưỡng tâm hồn ông từ thuở còn bé thơ

Qua tìm hiểu về cuộc đời của nhà văn Vi Hồng, ta có thể thấy rằng quê hương, gia đình là những nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp sáng tác của ông Thế nhưng cái làm nên con người Vi Hồng với một nhân cách đáng trân trọng, làm nên một phong cách rất riêng của một nhà văn miền núi lại chính là yếu

tố tự thân, là nghị lực và sự cố gắng không mệt mỏi của chính nhà văn trong suốt cuộc đời mình

1.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng

1.2.2.1 Khái niệm tiểu thuyết

“Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và

hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng.”

[42 Tr 387]

1.2.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng

Có thể nói Vi Hồng bắt đầu sáng tác từ rất sớm, dẫu không phải là sáng tác một cách chuyên nghiệp Năm 13 tuổi Vi Hồng đã tập làm thơ và thường làm thơ tình yêu 7 chữ (phong slư) bằng tiếng Tày hộ cho những đàn anh đàn chị đến nhờ

Dù hầu hết những bài thơ ông làm đều không được đăng tải trên báo hay tạp chí nào, có chăng chỉ là trên tờ báo tường của học sinh nhưng Vi Hồng vẫn dồn hết tâm huyết của mình vào từng bài thơ Có những đêm nằm, ông nghĩ ra những câu hay, ý hay rồi vùng dậy thắp đèn lên ghi lại

Trang 24

Lớn hơn chút nữa, đến những năm đầu của thập kỉ năm mươi thế kỉ XX, Vi Hồng đã sáng tác một vài vở kịch thơ để đấu tranh với những hiện tượng xấu trong

xã hội như thói ích kỉ lười biếng trong lao động, thói hách dịch quan liêu của cán

bộ Đó là hai vở kịch: Tha vằn toóng táng (Mặt trời đâm cửa sổ) năm 1951 và Lục

slao thua khao (Con gái đầu bạc) năm 1952

Mặc dù rất tâm huyết với thơ và kịch song với cả hai thể loại này Vi Hồng đều không đạt được kết quả mong muốn, chỉ đến khi chuyển sang thể loại truyện ngắn ông mới đạt được những thành công nhất định Cái mốc đánh dấu sự thành

công trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng là truyện ngắn Ngôi sao đỏ trên đỉnh

Phja Hoàng (1959) Tác phẩm này được tặng Giải nhì của Tổng Hội sinh viên Việt

Nam Sau tác phẩm này, Vi Hồng tiếp tục sáng tác thêm một vài tập truyện ngắn, truyện vừa và cả truyện dài Trong thể loại này nhà văn còn đặc biệt dành nhiều ưu

ái cho các em nhỏ, không ít những tác phẩm được nhà văn viết riêng cho thiếu nhi

Vi Hồng còn viết nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, văn học dân gian của dân tộc Việt Bắc, và hàng chục bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí trung ương

và địa phương Tiêu biểu là các công trình: Khảm hải; sli lượn- dân ca trữ tình

Tày Nùng; Thầm thì dân ca nghi lễ Đặc biệt, công trình sli lượn- dân ca trữ tình Tày Nùng do NXB Văn Hoá phát hành năm 1979 được coi là công trình nghiên cứu

thơ ca Tày Nùng có giá trị nhất từ xưa đến nay Những công trình nghiên cứu khoa học của Vi Hồng đã phản ánh khá rõ tài năng, tâm huyết của tác giả đối với di sản văn hoá, văn học dân gian của dân tộc

Có thể thấy, Vi Hồng đến với văn chương từ rất sớm và bản thân nhà văn cũng đã thử qua không ít thể loại, từ thơ, kịch đến truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài và cả nghiên cứu phê bình, tiểu luận Bản thân Vi Hồng cũng đã bước đầu khẳng định được tên tuổi của mình với thể loại tryuện ngắn Thế nhưng Vi Hồng chỉ thực sự phát huy được hết tiềm năng, cá tính của mình, chỉ thực sự được chú ý và chiếm được cảm tình của độc giả khi ông đến với thể loại tiểu thuyết Ngay từ cuốn

tiểu thuyết đầu tay Đất bằng (1980), Vi Hồng đã tự khẳng định được mình với một

phong cách rất riêng, độc đáo Vi Hồng đến với tiểu thuyết muộn nhất trong các thể

Trang 25

loại mà ông từng thử sức trong sự nghiệp cầm bút của mình, muộn hơn 30 năm so với thể loại thơ, 29 năm so với thể loại kịch và 21 năm so với thể loại truyện ngắn Thế nhưng, đây lại là thể loại mà Vi Hồng sáng tác được nhiều tác phẩm nhất Với

17 năm (tính từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên 1980 đến năm nhà văn qua đời 1997), Vi Hồng viết được mười lăm cuốn tiểu thuyết Có những năm nhà văn còn cho ra đời vài ba tác phẩm Với số lượng mười lăm cuốn tiểu thuyết, Vi Hồng đã chứng tỏ với mọi người niềm đam mê, sự tận tuỵ và sức sáng tạo không mệt mỏi của một nhà văn giàu tâm huyết Và tính cho đến nay chưa có một nhà văn dân tộc thiểu số nào vượt được Vi Hồng về số lượng các cuốn tiểu thuyết

Vậy cơ duyên nào, con đường nào đã đưa Vi Hồng đến với thể loại tiểu thuyết và tại sao tiểu thuyết lại là thể loại giúp đưa Vi Hồng đạt đến đỉnh cao trong

sự nghiệp cầm bút của mình?

Như chính nhà văn đã từng tâm sự, nguyên nhân đầu tiên và có lẽ cũng là nguyên nhân quan trọng nhất đưa nhà văn đến với văn chương và nhất là đến với

thể loại tiểu thuyết chính là nỗi buồn, nỗi bất hạnh trong cuộc đời riêng : “Cái buồn

có sức mạnh cảm thông với văn chương hơn thì phải? Xúc cảm của văn chương cũng từ đâu đó dồn về theo mọi ngả buồn Với riêng tôi thì gần hai chục tiểu thuyết của tôi đều bắt đầu từ một nỗi buồn nào đó, một nỗi khổ đau nào đó Nỗi buồn là ngọn nguồn tạo nên những tiểu thuyết của tôi.”[12.tr7] Nhà văn dường như

muốn dùng văn chương để giãi bày tấm lòng mình, thể hiện tâm tư tình cảm của mình như là một cách giúp ông có thể tạm quên đi nỗi buồn Và thử hỏi liệu có còn thể loại nào lại có thể giúp người viết giãi bày tâm tư của mình tốt hơn được thể loại tiểu thuyết? Nếu như nguyên nhân đầu tiên, thứ nhất đưa Vi Hồng đến với văn chương và với tiểu thuyết là nỗi buồn thì niềm vui, những hạnh phúc ngọt ngào (dẫu không nhiều) của cuộc đời lại là nguyên nhân thứ hai Sau những năm tháng chiêm

nghiệm bằng chính cuộc đời mình, ông đã nhận ra rằng: “Tình yêu và hạnh phúc gia

đình chính là đôi cánh rất khoẻ cho tâm hồn nghệ sĩ.” Và: “Các bà vợ đáng yêu của các văn sĩ, thi sĩ đóng một vai trò rất quyết định trong việc bắc nối hai bến bờ của tâm hồn và sáng tạo Ít nhất cũng đúng với riêng tôi.” [12 Tr 8] Rõ ràng, Vi Hồng

Trang 26

đã “nuôi dưỡng” văn chương và nhất là những tác phẩm tiểu thuyết của mình bằng cảm xúc, ông cũng coi những trang tiểu thuyết là những “chiếc túi thần kì” chứa đựng cảm xúc Cho nên đọc tiểu thuyết của Vi Hồng không bao giờ độc giả thấy khô khan mà luôn cảm thấy cảm xúc, tình cảm của nhà văn đong đầy trong từng câu

những rung cảm chân thành nhất trong tâm hồn nên những tác phẩm của ông cũng rất dễ đi vào lòng độc giả Bởi đúng như ai đó đã từng nói: những gì xuất phát từ trái tim thì cũng đi đến trái tim

Vi Hồng am hiểu một cách tường tận những di sản văn hoá, văn học của dân tộc Tày Ông cũng yêu và gắn bó sâu nặng với thiên nhiên, cảnh vật, cuộc sống và con người của vùng đất Cao Bằng quê hương Vì vậy, Vi Hồng đặc biệt có ý thức đưa những hình ảnh của quê hương, dân tộc vào trong những sáng tác của mình, và chẳng có thể loại nào lại cho phép ông có thể thoả sức miêu tả, tái hiện một cách tỉ

mỉ hơn thể loại tiểu thuyết

Như vậy, việc Vi Hồng đến với tiểu thuyết và có thể đạt được thành công ở thể loại này là điều hoàn toàn có thể lí giải, nó bắt nguồn từ chính cá tính, phong cách sáng tạo riêng của nhà văn Tiểu thuyết đã trở thành thể loại mang đậm nét dấu

ấn phong cách sáng tác của Vi Hồng và cũng là thể loại đưa ông lên đỉnh cao trong

sự nghiệp cũng như khẳng định được vị trí của ông trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Những tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của Vi Hồng:

1 Đất bằng, NXB Tác phẩm mới, 1980

2 Núi cỏ yêu thương, NXB Thanh niên, 1984

3 Thung lũng đá rơi, NXB Văn hoá dân tộc, 1985

4 Vào hang NXB Thanh niên, 1990

5 Người trong ống, NXB Lao động,1990

6 Gã ngược đời, NXB Văn hoá dân tộc, 1990

7 Lòng dạ đàn bà, NXB Thanh niên, 1992

Trang 27

8 Dòng sông nước mắt, NXB Hội Văn học nghệ thuật Bắc Thái, 1993

9 Ái tình và kẻ hành khất, NXB Hội Văn học nghệ thuật Bắc Thái, 1993

10 Tháng năm biết nói, NXB Văn hoá dân tộc, 1993

11 Chồng thật vợ giả,NXB Thanh niên, 1994

12 Phụ tình, NXB Văn hoá dân tộc, 1994

13 Đi tìm giàu sang, NXB Văn hoá dân tộc, 1995

14 Đoạ đày, NXB Văn hoá dân tộc, 1997

15 Mùa hoa biooc loỏng, NXB Thanh niên, 2006

1.2.3 Quan điểm sáng tác nghệ thuật của Vi Hồng

quan và khách quan Và cũng như các nhà văn khác, ông có quan điểm sáng tác riêng của minh Quan điểm ấy chi phối tới toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng

từ nội dung đến hình thức, từ chủ đề, đề tài, tư tưởng đến kết cấu, bố cục, hệ thống hình tượng, các phương tiện nghệ thuật Có thể nhận thấy, quan điểm sáng tác của

Vi Hồng thể hiện qua những lời tâm sự của ông về nghề nghiệp trong các bài viết hoặc qua chính tác phẩm của nhà văn Quan điểm sáng tác của Vi Hồng được thể hiện ở một số vấn đề nổi bật như sau

12.3.1 Văn chương phải có nhiệm vụ đề cao, khẳng định cái thiện, cái đẹp, đấu tranh loại bỏ cái ác, cái xấu

sứ mệnh cao cả của người cầm bút: “Các trang viết của tôi là những lời tâm tình

cùng các dân tộc miền núi, trước hết với người Tày rằng: hãy yêu thương và biết yêu thương những cái đẹp, nhất là những con người cao đẹp, cao cả, đồng thời đem hết sức mình ra diệt trừ cái ác, kẻ ác Trừ khử kẻ phản bội trắng trợn, nguyền rủa những kẻ” béc kha cải”( đại nịnh hót) khinh bỉ lũ yếu hèn Tôi cũng cho rằng đây là

sứ mệnh cao cả và muôn đời, của mọi nhà văn trên thế giới” [45.Tr 23]

điểm truyền thống của cha ông ta xưa, quan điểm ấy đã xuất hiện từ rất lâu đời

Trang 28

trong các sáng tác dân gian Dẫu là một bài ca dao, một câu dân ca hay bất cứ một câu chuyện cổ tích nào cũng đều dạy cho chúng ta đấu tranh để loại bỏ cái xấu cái

ác, hướng tới cái thiện, cái đẹp, cái cao cả

Toát lên từ những trang viết của Vi Hồng là bức thông điệp đầy tính nhân văn: Hãy yêu thương và biết yêu thương những cái đẹp, nhất là những con người cao đẹp, cao cả Cảm hứng yêu thương trân trọng ngợi ca cái đẹp của thiên nhiên và con người là nguồn cảm hứng bất tận trong trái tim nhà văn Nhiều hình tượng nhân vật với những phẩm chất cao đẹp, có khi đến thánh thiện đã hiện lên trong các sáng tác của Vi Hồng; nhiều bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống con người mang

vẻ đẹp vĩnh hằng, vĩnh cửu và cả vẻ đẹp thường nhật cũng đã hiện lên dưới ngòi bút chứa chan yêu thương của người nghệ sĩ ngôn từ Vi Hồng Nhưng Vi Hồng không viết chỉ để yêu thương, ca ngợi, chủ nghĩa nhân đạo của Vi Hồng không phải là thứ nhân đạo mù sương, nhân đạo đến yếu hèn, thủ tiêu đấu tranh Trái lại, cũng như Đồ

Chiểu năm xưa, Vi Hồng có chung một trái tim “ bởi chưng hay ghét cũng là hay

thương” Ông càng ngợi ca, trân trọng cái đẹp, cái cao cả bao nhiêu thì lại càng căm

ghét cái xấu, cái ác bấy nhiêu Vi Hồng đã “đem hết sức mình ra diệt trừ cái ác, kẻ

ác, trừ khử những kẻ phản bội trăng trợn, nguyền rủa những kẻ “béc kha cải” (đại nịnh hót)”, khinh bỉ lũ hèn yếu” Với quan niệm ấy, Vi Hồng đã tái hiện một loạt

chân dung những kẻ xấu xa, bỉ ổi cả về nhân hình và nhân tính Nhà văn đã dồn hết

sự căm giận, khinh bỉ lên đầu ngọn bút để từ đó xây dựng chân dung một số nhân vật phản diện dẫu chưa đạt đến mức độ điển hình những cũng khiến cho người đọc không dễ gì quên được.Vi Hồng đã luồn lách lưỡi dao phê phán của mình vào tận ngóc ngách tâm hồn, tận tim đen của bọn người này để phơi bày tất cả sự đen tối và tội ác xấu xa của chúng Và cũng đúng như Vi Hồng quan niệm, yêu thương cái đẹp

và căm ghét cái ác, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và đấu tranh tiêu diệt cái ác

không chỉ là nghĩa vụ cao đẹp của bất cứ nhà văn nào, mà đây còn là “sứ mệnh cao

cả và muôn đời của mọi nhà văn trên thế giới”

1.2.3.2 Nhà văn phải biết đau nỗi đau của đồng loại và chỉ viết khi có sự thôi thúc của trái tim

của đồng loại, nhất là trước những khổ đau bất hạnh của con người Có lẽ những khổ

Trang 29

đau bất hạnh trong đời tư đă giúp cho Vi Hồng nhạy cảm hơn trước nỗi khổ đau, bất hạnh của con người Trong khổ đau của cá nhân mình Vi Hồng càng thấm thía đồng cảm với nỗi đau của bao kiếp người Có thể nói, ban đầu đến với văn chương, Vi Hồng chỉ muốn tìm ở đó sự cứu rỗi cho tâm hồn mình, để quên đi bầu trời buồn thảm

trong cuộc sống hôn nhân của chính mình Trong “Ngả văn chương”, Vi Hồng tự

bạch: “Tôi thấy chỉ còn văn chương là có thể làm cho tôi tạm quên đi bầu trời buồn

thảm kia Tôi quyết định trốn vào lâu đài văn chương ”, “Với riêng tôi thì nỗi buồn

là động lực chính thôi thúc tôi sáng tác- lúc đầu tôi cũng coi đó như là một việc làm mình có thể say mê, để có thể quên đi bầu trời buồn thảm trên đầu, có thể ẩn náu mỗi khi nỗi khổ trào dâng” [12 Tr 7] Nhà văn cũng nhận thấy: “Tuy tôi chưa viết được bao nhiêu nhưng văn chương bao giờ cũng là một chiếc phao trong những năm tháng tôi ngoi ngóp giữa biển cả khổ đau của riêng mình Văn chương với riêng tôi bao giờ cũng là một cánh quạt trong chuỗi dằng dặc những ngày tháng oi bức” [12 Tr 7]

Tuy đến với văn chương như là một cách làm dịu nỗi đau tâm hồn nhưng Vi Hồng lại

không coi văn chương là “một tháp ngà kiên cố” để trốn tránh cuộc đời, mà ngược

lại, với bản tính đôn hậu và trái tim giàu tình cảm, từ nỗi buồn đau của riêng mình, Vi Hồng lại càng mở rộng trái tim mình để mà cảm thông, đồng cảm và hoà cùng nhịp đập với nỗi đau của muôn trái tim đồng loại Có lẽ đó cũng chính là câu trả lời cho

điều mà nhà văn lúc sinh thời chưa lí giải được: “Riêng với tôi- tôi chưa thật hiểu tại

sao những khi tôi buồn nhất thì tôi lại thấy thương thật nhiều, yêu thật nhiều về những nỗi khổ đau của bạn bè, người quen và của con người nói chung Buồn cho mọi số kiếp bất hạnh, thế là tôi bắt tay vào viết tiểu thuyết”[12 Tr 7] Với cội nguồn

cảm hứng và quan niệm nhân văn ấy, Vi Hồng đã sáng tác một loạt tiểu thuyết nói về những kiếp người bất hạnh, kiếp sống khổ đau Trái tim của nhà văn đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với biết bao số phận cuộc đời, đặc biệt là số phận cuộc đời của những người phụ nữ

Một điều rất đáng lưu ý là: những tình cảm, cảm xúc, tình thương trong các sáng tác của Vi Hồng hoàn toàn không phải là những xúc cảm hời hợt, thoáng qua, lại càng không phải là thứ tình thương ban phát theo kiểu bề trên thương hại, mà đó

Trang 30

là những tình cảm chân thành, xuất phát từ chính trái tim nhạy cảm và tâm hồn rộng

mở của nhà văn Nhà văn đau nỗi đau của những kiếp người và cảm nhận nỗi đau

đó như chính bản thân mình là ngưòi trong cuộc Bởi thế, Vi Hồng đã từng tâm sự:

“Theo tôi không phải cái gì nghe thấy, nhìn thấy đều thành văn chương cả Mọi điều, mọi cái, mọi sự chỉ trở thành văn chương khi nó đã trở thành kỉ niệm của bạn, trở thành nỗi nhớ thương cuả bạn- ít nhất là của riêng bạn” [12 Tr 8] Và Vi Hồng

khẳng định: “Chúng ta có thể nói thêm với nhau là nếu chưa có nỗi đau thì cũng

không nên viết văn hoặc chưa nên viết văn” [12 Tr 8] Phạm vi nỗi đau mà nhà văn

đề cập đến, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chỉ nỗi đau của riêng mình mà nên hiểu nỗi đau ở đây còn là nỗi đau của nhân thế, nỗi đau của đồng loại,

là những trăn trở xót xa trước những khổ đau ngang trái của cuộc đời Và phải chăng trong những lời tâm sự này, cố nhà văn còn muốn nói tới quan niệm của mình về tính chân thực trong sáng tác văn chương Bởi vì khi Vi Hồng khẳng định như thế cũng có nghĩa là Vi Hồng khẳng định nhà văn chỉ nên viết những gì là chân thực, xuất phát từ những cảm xúc chân thành của bản thân mà thôi

Rõ ràng quan niệm sáng tác này của Vi Hồng không phải hoàn toàn là một

quan niệm mới mẻ, chính nhà văn cũng từng nói: “Tôi bắt chước cụ Đôxtôievxki nói

đó thôi” Bởi cụ Đôx có trả lời một người tập viết văn như thế này: “Anh hãy viết cái mà anh đau nhất” Và ngay cả nhà văn Nam Cao cũng từng thông qua nhân vật

Điền thể hiện quan niệm trên trong truyện ngắn Giăng sáng: “Chao ôi! Chao ôi!

Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền Điền chẳng cần đi đâu cả Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời.” Có thể hiểu đây chính là tuyên ngôn nghệ thuật, quan niệm sáng tác của Vi

Hồng, và dẫu cho đó không phải là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ thì nó vẫn rất đáng để cho chúng ta trân trọng, bởi trong suốt cả cuộc đời cầm bút Vi Hồng đã luôn dùng chính những sáng tác của mình để minh chứng cho quan niệm đó

Trang 31

1.2.3.3 Tác phẩm văn chương phải mang tính sáng tạo và phản ánh được tâm hồn dân tộc

Nếu như nhà văn Nam Cao đã từng quan niệm: “ Văn chương không cần đến

những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và

sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa) thì Vi Hồng cũng thể hiện một quan

niệm sáng tác tiến bộ không kém, nhà văn cho rằng: “Văn chương cũng không phải

là thứ đèm đẹp khéo tay để trang sức” Muốn có được sự sáng tạo trong văn

chương, nhà văn phải thực sự được tự do, tức là phải có trình độ, năng lực văn hoá

và tư duy phân tích hiện đại, không chỉ bằng lòng với kiểu tư duy trực giác truyền thống Thế nhưng tự do sáng tạo trong văn chương lại không có nghĩa là có thể viết bất cứ cái gì, phản ánh bất cứ điều gì một cách tuỳ tiện Bởi sự tự do sáng tạo của

nhà văn, cá tính, bản lĩnh của nhà văn, đúng như Lâm Tiên đã nhận định, “ Phải đặt

trong cá tính, bản lĩnh của dân tộc” Và riêng đối với một nhà văn dân tộc thiểu số

thì cái “bản lĩnh dân tộc” lại càng được chú ý hơn nữa Raxun Gamzatốp rất có lí

khi viết rằng: “Bút pháp của con, cách viết của con, tức là cá tính, bản lĩnh của con

phải đứng ở hàng thứ hai trong thơ Phải đặt lên hàng đầu cá tính bản lĩnh của dân tộc mình.Trước hết con phải là một người dân miền núi; một người Avar đã, rồi hãy

là Raxun Gamzatốp Con người trong thơ con nhiều chỗ không giống người miền núi chút nào Còn nếu những bài thơ của con xa lạ với đồng bào miền núi, với tính chất của họ thì cuối cùng cách viết của con chỉ là kiểu cách, những bài thơ sẽ biến thành nhữg trò chơi đẹp, cho dù có thể là lí thú Nếu không có quy luật chung hàng ngàn đời nay của nhân dân thì làm sao có những quy luật riêng của con được.” [46 Tr 98] Chính vì vậy, ngay khi khẳng định vai trò của sự sáng tạo, Vi

Hồng cũng đã đồng thời khẳng định một nguyên tắc của sáng tạo, một trong những

cái đích của sáng tạo văn chương là phản ánh được tâm hồn dân tộc: “Cái cốt lõi

của văn chương là phải phản ánh được tâm hồn Tày” [45 Tr21]

Là một người con ưu tú của dân tộc Tày, của núi rừng Việt Bắc lại mang trong mình niềm đam mê với truyền thống văn hóa văn học quê hương, cho nên

Trang 32

ngay từ những ngày đầu đến với văn chương, Vi Hồng đã xác định cho mình một

quan niệm sáng tác rất rõ ràng “là phải phản ánh được tâm hồn Tày” Các tác phẩm

của Vi Hồng mang đậm bản sắc dân tộc, dấu ấn và phong vị Tày Ngay từ cuốn tiểu

thuyết đầu tay Đất bằng, Vi Hồng đã đem trình với làng văn một bút pháp rất riêng,

rất độc đáo, khác lạ Cách viết ấy, dẫu chưa cần bàn tới cái được và cái chưa được thì cũng đã đủ để những văn sĩ đương thời- nhất là với những ai quan tâm tới mảng văn học các dân tộc thiểu số phải chú ý Vậy nên khi mới chỉ đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay ấy, Nguyên Ngọc, một nhà văn nổi tiếng đã từng có những tác phẩm

xuất sắc viết về đề tài miền núi (Đất nước đứng lên-1954; Rừng xà nu- 1965), đã

có nhận xét: “Khi suy nghĩ về sự phát triển của tiểu thuyết ta hiện nay, tôi nghĩ

không thể không tính đến những kinh nghiệm, những vấn đề do cách viết cuốn tiểu

thuyết Đất bằng của Vi Hồng… Tôi nói cách viết bởi tôi thấy hình như cách viết

của anh rất khác với cách viết của ta- hay ít ra là của tôi- vẫn thường quen thuộc Cách viết, bao gồm cách hình dung về nhân vật, xây dựng nhân vật, dẫn dắt cốt truyện, lựa chọn tình tiết, tập trung chú ý tình tiết này hơn tình tiết kia cho đến kết cấu, bố cục tả người, tả cảnh, tả tình, đặt câu chọn từ ” [Báo nhân dân, ngày

19/4/1980] Cái khác trong cách viết của Vi Hồng chính là cái khác được tạo nên từ chính cốt cách của dân tộc Tày, bởi Vi Hồng quan sát, tư duy, nhìn nhận, đánh giá mọi việc theo cách mà những người dân Tày vẫn quan sát, nhìn nhận, đánh giá từ nghìn đời nay Tính dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng được thể hiện một cách đậm đặc Thời gian đầu, nhà văn còn sử dụng tiếng Tày để sáng tác, về sau khi đã

sử dụng tiếng Việt như một xu thế tất yếu của thời đại, người đọc vẫn nhận ra

những nét rất đặc trưng của một nhà văn dân tộc Lâm Tiến đã từng nói: “Bản sắc

dân tộc là sự thể hiện tâm hồn, tính cách dân tộc qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn, là sự thể hiện một cách đẹp đẽ, sáng tạo những truyền thống văn hoá của dân tộc trong điều kiện lịch sử nhất định.”[47.Tr 57] Cho nên đọc những

sáng tác của Vi Hồng, nhất là những cuốn tiểu thuyết, ta thấy Vi Hồng không chỉ đưa vào tác phẩm những hình ảnh của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc, những phong tục tập quán của người Tày, những vấn đề nổi cộm của cộng đồng dân tộc Việt Bắc

Trang 33

mà ông còn đưa vào những trang viết của mình cách diễn đạt, lối nói giàu hình ảnh,

ví von so sánh rất đậm phong vị Tày Lối nói ấy xuất hiện đậm đặc đến mức đã có một số ý kiến cho rằng Vi Hồng đã lạm dụng nó Nhà nghiên cứu Lâm Tiến nhận

định: “Người vận dụng văn hoá, văn học dân gian thành công phải kể đến Vi

Hồng… Vi Hồng là nhà văn rất có ý thức tự giác để thể hiện được bản sắc văn hoá dân tộc trong tác phẩm của mình Nhưng đôi khi ông dùng quá đậm, có khi lặp lại làm cho câu chuyện có phần đơn điệu.” và “Đối với Vi Hồng thì cái nguồn văn học dân gian luôn lôi kéo “tôi trở lại” để làm nên vẻ riêng trong sáng tác Nên tác phẩm của ông chính là sự kết hợp chất trữ tình đậm đà của dân ca Tày với huyền thoại bay bổng trong truyện cổ tích, thần thoại Ngôn ngữ thường ví von so sánh giàu hình ảnh Nhưng vì dùng quá nhiều lối ví von nên thường làm chậm lại hành động truyện, dòng truyện.” Thế nhưng Vi Hồng vẫn một mực khẳng định một suy

nghĩ rất riêng, một cách viết rất riêng: “Mình là người Tày, nếu mà viết giống người

Kinh thì đừng viết Văn chương cũng không phải là thứ đèm đẹp, khéo tay để trang sức Cái cốt lõi của văn chương là phải phản ánh được tâm hồn Tày.” [45 Tr 21]

Theo Vi Hồng, “ Một dân tộc dù nhỏ bé đến đâu, họ vẫn có một tâm hồn rất riêng

mà chỉ có những con đẻ rất thông minh và nhạy cảm của dân tộc mình mới có cơ may khám phá và phát hiện được Cái thế giới tâm hồn rất riêng, rất đặc trưng của mỗi dân tộc có thể coi như vùng phát sáng của tâm hồn dân tộc họ.”, ông cũng

khẳng định: “Chỉ có nhà văn dân tộc mới có cơ hội đột nhập vào vùng phát sáng

của dân tộc mình” [11.Tr 65] Quan niệm này của nhà văn là hoàn toàn đúng đắn,

bởi nếu không được tắm mình trong dòng chảy của truyền thống văn hoá dân tộc, không có được những kỉ niệm máu thịt thắm đượm tâm hồn dân tộc thì không thể

có tác phẩm mang bản sắc dân tộc đó Với ý nghĩa đó, nhà văn Gorki cũng nói:

“không ai biết rõ căn nhà hơn bốn bức tường của nó” Bởi vậy, một tác phẩm của

nhà văn người Kinh viết về đề tài miền núi có một khoảng cách rất lớn đối với một tác phẩm được chính nhà văn dân tộc thiểu số viết nên Thực tế này cũng từng được nhà văn Tô Hoài, một người đã có không ít tác phẩm khá thành công viết về đề tài miền núi, chỉ ra Ông cho rằng những tác phẩm của mình, hay của Nguyên Ngọc (

Trang 34

Đất nước đứng lên), của Mạc Phi (Rừng động), của Ma Văn Kháng ( Đồng bạc trắng hoa xoè), “mới chỉ là những tác phẩm phác thảo, chưa thể nên sơn dầu, sơn

mài được, mặc dù tôi tha thiết mong muốn”.[47 Tr 92]

Có thể nhận thấy rằng ít có một nhà văn dân tộc thiểu số nào lại có ý thức và đạt được không ít thành công trong việc đưa bản sắc dân tộc vào trong những sáng tác của mình như nhà văn Vi Hồng Đọc tác phẩm của Vi Hồng không ai không nhận ra đó là của người dân tộc thiểu số viết Tính dân tộc trong sáng tác của Vi Hồng được thể hiện một cách nhất quán và đậm nét từ nội dung đến hình thức, từ cảm hứng sáng tác, thế giới nhân vật đến ngôn ngữ và phương thức diễn đạt

Sinh thời Vi Hồng đã từng rất khiêm tốn tự nhận rằng: “Chúng tôi, những

người viết văn là người dân tộc thiểu số biết rằng mình còn phải học nhiều, phải học mãi như đàn ong mật luyện hương nhuỵ trăm hoa để thành mật Chúng tôi luyện mãi mà chưa thành mật bao nhiêu phải chăng vì chúng ta còn ít tài quá”

[12 Tr8] Thế nhưng với tất cả những gì ông đã làm được và đã thể hiện, Vi Hồng

có thể ngẩng cao đầu tự hào Bởi thứ mật mà ông luyện được, dẫu chưa phải là thứ mật ngọt ngào nhất nhưng thứ mật ấy lại mang một hương vị rất riêng, khiến cho những ai đã một lần nếm thử đều không thể dễ dàng quên lãng

Trang 35

CHƯƠNG 2

HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI

TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG

2.1 Hiện thực cuộc sống miền núi

2.1.1 Những xung đột chủ yếu của xã hội miền núi trong tiểu thuyết Vi Hồng

2.1.1.1 Xung đột dân tộc, giai cấp

Bắt đầu cầm bút sáng tác từ đầu những năm 80, lại chủ yếu xây dựng bối cảnh xã hội miền núi những năm trước 1975, cho nên việc xuất hiện kiểu xung đột giai cấp, dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng là một điều tất yếu Kiểu xung đột

dân tộc, giai cấp xuất hiện trong một số tác phẩm như Đất bằng, Thung lũng đá

rơi, Núi cỏ yêu thương, Đoạ đày và Dòng sông nước mắt Kiểu xung đột này

thường được nhà văn đề cập, phản ánh thông qua sự xuất hiện còn khá mờ nhạt của những ông quan Tây và quan ta Dẫu là quan ta hay quan Tây thì chúng đều mang cùng một bản chất tham lam, độc ác, hám lợi và dâm bôn, luôn tìm cách lợi dụng, bóc lột, hãm hại những người dân lương thiện, hiền lành thấp cổ bé họng Trong

Thung lũng đá rơi, kiểu xung đột này được phản ánh có phần đậm nét hơn cả so

với những cuốn tiểu thuyết khác của nhà văn Trong những trang đầu của tác phẩm, khi tái hiện lại hồi ức, quá khứ của ông già Đội, kiểu xung đột này được nhà văn

nhắc thoáng qua trong khoảng mươi dòng: “Khi mới thành cái đồn, chỉ có hai tiểu

đội lính An Nam Bọn Tây tưởng dân ở đây cũng như các vùng khác, không biết dân

ở đây cứng cổ Bọn Tây cướp mất ruộng để làm đồn, làm bãi tập Dân ức, ban đêm vác cái niềm cắt cỏ ngựa – cái cán là một cái sào bằng hóp già, dài có thể với tới ngọn tre để giựt cỏ ngựa – rình ngoài đồn Người ta thò cái niềm cắt cỏ ngựa cắt đầu Đầu thằng Tây lăn như quả bí đứt cuống.” [ 16 Tr16] Đặc biệt, xung đột này

được tập trung phản ánh qua nhân vật thằng quan Tây trẻ tuổi Ò Pông Ò Pông là một kẻ máu lạnh, độc ác Nhờ có bố của Lót, hắn mới tìm thấy mỏ quặng thiếc, thế nhưng, chẳng những Ò Pông không cho bố Lót đồng xăng căng nào mà còn bắt ông phải phạt tù ba tháng, làm mọi việc trong đồn, rồi đánh đập bố Lót khiến ông bị

Trang 36

chết Trước khi tháo chạy về nước, Ò Pông còn nhẫn tâm giết chết bốn mươi người

cu li hắn đã thuê đào chôn các hố quặng thiếc khổng lồ đem giấu để làm ma giữ của cho nó Ò Pông là một quan Tây nhưng hắn lại đặc biệt thích lối sống xa hoa, phú quý như kiểu vua chúa Vì vậy trong nhà của hắn chẳng những trang hoàng như

cung vua, phủ chúa, có kẻ hầu người hạ mà hắn còn có đến “một lũ vợ” mà hắn gọi

là các “ái phi” Không chỉ có thế, hắn còn bệnh hoạn đến mức hoạn ông già Đội khi

đó còn rất trẻ để biến ông thành quan hoạn “phục dịch các ái phi” của hắn

Hình ảnh những tên quan Tây xuất hiện trong sáng tác của Vi Hồng còn là những kẻ tham lam, bỉ ổi đứng đằng sau “sui nguyên giục bị”, kích động để gây lên mâu thuẫn, tranh chấp, chia rẽ giữa các dòng họ Điều này được phản ánh khá rõ

trong Đất bằng và Núi cỏ yêu thương Sự mâu thuẫn, tranh chấp giữa hai họ Sầm với họ Nông trong Đất bằng và họ Đàm với họ Hoàng trong Núi cỏ yêu thương

đều xuất phát một phần không nhỏ từ những ông quan Tây Đây là cái cách quan

Tây xử kiện về vụ tranh chấp nước ruộng giữa hai họ Sầm - Nông: “Quan Tây bảo

việc này không cần xét, bên nào mạnh thì bên ấy được Quan Tây còn nói thêm với quan châu: hai cái họ Nông họ Sầm ấy thương yêu nhau lắm, lại giàu có…chúng nó làm mắt tao mọc gai từ lâu” Sau đó quan Tây còn nhắn riêng với họ Nông rằng:

“họ Nông có võ nghệ cao, sao không đánh chết hết họ Sầm đi”, trong khi “ngài” cũng không quên nhắn kín với họ Sầm: “họ Sầm nhiều chữ, nhiều tiền, cứ đem theo

nhiều tiền kiện lấy hết ruộng đất của họ Sầm dễ như không” Còn lão quan Tây

trong Núi cỏ yêu thương lại xử vụ kiện giữa hai họ Đàm - Hoàng bằng một thứ

luật pháp của riêng hắn như thế này: “ Tao là người Tây đến đây cai trị chúng mày

Tao chưa kịp đặt quan An Nam thì nay tao xử thay Tao không biết trời đất Nặm Đáo là của ai Ai có nhiều vàng lót móng cho ngựa thì người ấy được.” Không chỉ

có quan Tây mới tham lam, độc ác mà không ít những ông quan ta cũng sẵn sàng vì lòng tham của mình mà làm không biết bao điều ác Lão quan phủ Xu Đai trong

Đọa đày là một minh chứng tiêu biểu Xu Đai không chỉ liên kết với tảo Pá Ngạn

trong các vụ vu khống bịa đặt cho người này người khác để chia nhau tiền thưởng

mà hắn còn muốn liên kết với cả lão Ca Đai để nấu cao hổ giả kiếm lời Đặc biệt,

Trang 37

qua một chi tiết dù là rất nhỏ nhưng Vi Hồng đã vạch trần, lột rõ bản chất tham lam đến tận cùng cùng lão quan phủ Xu Đai Đó là khi lão Xu Đai đề nghị với Ca Đai để

lão mua xương hổ, xương gấu nấu cao với cái lí do rất đạo đức rằng: “mày không

nên đi bẫy hổ, săn gấu đâu vất vả và nguy hiểm lắm Cứ để tao mua xương hổ, xương gấu…thế là đủ sung sướng rồi.” Thế nhưng cái lòng tốt, sự giả nhân giả

nghĩa ấy của lão lại có một nguyên do rất chính đáng là bộ xương hắn mua cho Ca Đai đắt gấp đôi hoặc ba lần những bộ xương Ca Đai tự mua Cái bản chất ăn bẩn, tham lam đến tận cùng của Xu Đai đã bị nhà văn vạch trần không khoan nhượng!

Khác với các nhân vật đại diện cho tầng lớp quan lại trong các cuốn tiểu

thuyết khác của Vi Hồng, quan tuần phủ Trần Hồi trong Dòng sông nước mắt lại

được nhà văn tập trung bút lực lột tả bản chất dâm bôn đáng khinh bỉ Ngoại hình của nhân vật này với cái bụng như bà chửa đến tháng đẻ làm chúng ta nhớ đến nhân

vật Đoác trong Vào hang, một kẻ cũng dâm chẳng thua gì “ngài” quan tuần phủ

đây Trần Hồi không chỉ lợi dụng việc hắn là người duy nhất bán thuốc kí ninh giúp

cắt cơn sốt rét để ép Thu Khoan cho hắn “ xâu hoa xiên nụ ỡm ờ nguyệt nọ hoa

kia”, mà hắn còn nhận Lệ Hà làm con nuôi để dễ bề đi lại với cô bồ trẻ, qua mắt

được thiên hạ và nhất là qua mắt được bà vợ hay ghen của hắn Thậm chí sau khi cùng cô “con gái” của mình lập mưu cướp đoạt phần lớn tài sản của Kin Xa, hắn và

cô con gái nuôi của mình còn điềm nhiên giở trò bỉ ổi ngay trên giường cuả vợ chồng Kin Xa, dẫu cả hai con người sa đoạ đó đều biết Kin Xa đang đứng ngoài và điên cuồng tìm cách phá cửa phòng để vào trong Có thể thấy rằng những nhân vật đại diện cho tầng lớp quan lại trong sáng tác của Vi Hồng đã phần nào phản ánh được bản chất tiêu biểu của tầng lớp này trong hiện thực cuộc sống Đó là sự tham lam, độc ác, dâm bôn, bỉ ối Và hầu hết trong các tác phẩm của mình, người dân miền núi, những nạn nhân của chúng đều nhận thức rất rõ bản chất của chúng và coi chúng là kẻ thù, như lời ông tổ họ Đàm trước khi chết căn dặn lại con cháu của

mình: “Họ Hoàng không phải kẻ thù chính của ta Chúng nó chỉ là đồ tham ăn bụng

hẹp, lấy đuôi hổ kê đít ngồi, lấy hơi gấu bắt nạt kẻ yếu, kẻ thù của ta là con hổ mũi nhọn, mắt mưng mủ (mắt xanh màu mủ) kia” [15 Tr 17] Cùng với những tên quan

Trang 38

ta và quan Tây là những tên tay sai phong kiến, bọn chúng tiếp tay làm hại biết bao

dân lành, nhất là những người hoạt động cách mạng Châu Đoàn Pàng trong Tháng

năm biết nói là một tên tay sai tham lam, tàn bạo Trước cách mạng, hắn đã giết

biết bao người đi làm cách mạng trong đó có cả bố và ông của Hoàng Vì lòng tham

mà hắn “giết người để lấy vàng bạc hoặc để báo lên quan Tây lĩnh thưởng” Thậm chí vì lòng ghen ghét ích kỉ, hắn còn muốn giết Hoàng chỉ với lí do rất vô lí: “Người

ta nói rằng Hoàng là con nhà của giống chim công, chim cúc Nghĩa là vừa đẹp người đến mức tuấn tú lại tài giỏi hơn đời Nếu để Hoàng sống thì họ trở nên dốt nát, đần ngu…Cứ để chim cúc xoè lông múa vũ điệu thiên sơn thì những con cuốc, con cút còn có ai nhìn, ai đoái nghiêng con mắt” [23 Tr 47] Thật đáng sợ khi

những kẻ như vậy với sự che giấu tài tình mà chúng vẫn sống đàng hoàng giữa bản mường và làm hại biết bao người dân lương thiện

Vi Hồng chúng tôi nhận thấy: do cả lí do khách quan và chủ quan mà tất cả các cuốn tiểu thuyết của Vi Hồng đều được sáng tác sau năm 1975 và do cá tính sáng tạo của nhà văn cũng như việc thiếu đi những hiểu biết thực tiễn về vấn đề này mà kiểu xung đột dân tộc, giai cấp còn xuất hiện với tần số thấp và rất mờ nhạt Kiểu xung đột này dường như cũng chưa được nhà văn đẩy lên đến mức gay gắt, quyết liệt để đấu tranh loại trừ nhau Ngay cả ở cuốn mà kiểu xung đột dân tộc, giai cấp được phản ánh đậm

nét hơn cả là Thung lũng đá rơi, chúng ta cũng nhận ra rằng sự xuất hiện của nó vẫn

còn rất mờ nhạt, chưa được tác giả khai thác một cách triệt để, cho nên mâu thuẫn chưa được đẩy lên cao đến mức đỉnh điểm, gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết như trong những sáng tác thuộc thể loại tiểu thuyết của hai nhà văn dân tộc thiểu số đi

trước là Nông Minh Châu và Y Điêng Hay như trong Đoạ đày, xung đột giai cấp,

dân tộc cũng được nhà văn đề cập đến Thế nhưng bản chất của những tên quan Tây

và quan ta lại chỉ được nhà văn phản ánh khá mờ nhạt, nếu không muốn nói chúng còn hiện lên rất nhân nghĩa, đạo đức, tốt đẹp Chẩu mường Đào Tha Đát bị tảo Pá Ngạn và tên tua khỏi La Đăm Đông lập mưu hãm hại bằng một mớ truyền đơn viết

bằng thứ chữ “Cuốn dây sắn, xoắn dây thừng” (chữ quốc ngữ) đến mức bị tù đày,

Trang 39

mất hết gia sản Thế nhưng những ngày bị ở tù, Tha Đát đã “rất may mắn” gặp được những vị quan “nhân nghĩa”, cho nên các vị quan ấy đều thấy ông là người hiền lành nên không ai nỡ khép ông tội chết mà chỉ giam ông một thời gian rồi tha cho ông về nhà Không chỉ có vậy, trước khi thả Tha Đát, ông quan đứng đầu phủ Nặm Khao còn

vừa đe nẹt vừa cảnh cáo Pá Ngạn, Đăm Đông rằng: “Nay Tha Đát về quê, hai ông

không được ức hiếp Hai ông có phận sự phải theo dõi mọi hành động, việc làm có tính chất phản động là liên hệ ngang dọc với giặc Nhưng phải là những việc làm cụ thể nhận tiền Tuyệt đối cấm chỉ không được lên đây mách lẻo nhà Tha Đát buôn lậu thuốc phiện hay nấu rượu lậu hay là có sách báo khuyến khích dân chúng làm loạn”

[27.Tr 202] Có thể thấy đây cũng là một hạn chế trong tiểu thuyết của Vi Hồng

2.1.1.2 Xung đột thế sự, đời tư

Đây là kiểu xung đột chủ yếu trong tiểu thuyết của Vi Hồng Sự xuất hiện và chiếm ưu thế của kiểu xung đột này là một minh chứng cho sự hiện đại trong tiểu thuyết của Vi Hồng nói riêng và trong văn xuôi miền núi nói chung Khi tìm hiểu cách thức tổ chức xung đột thế sự đời tư trong tiểu thuyết của Vi Hồng, chúng tôi nhận thấy Vi Hồng thường tổ chức xung đột theo nguyên tắc chia đôi, phân cực các mặt đối lập trên cơ sở của logic hình thức như thiện với ác, chính với tà, xấu với tốt, trung với nịnh, khôn ngoan với ngu đần…Cho nên, kiểu xung đột thế sự đời tư cơ bản nhất trong tiểu thuyết của Vi Hồng là mâu thuẫn, xung đột đạo đức: giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xấu Kiểu xung đột này xuất hiện trong tất cả các tiểu thuyết của nhà văn với các mức độ đậm, nhạt khác nhau Có những tác phẩm, xung đột đạo đức xuất hiện một cách rõ nét, được nhà văn tập trung xoáy sâu phản ánh và trở thành xung đột chính, chủ yếu, thậm chí là duy nhất của tác phẩm Trong những trường hợp này, xung đột giữa cái thiện với cái ác, giữa cái tốt với cái xấu thường diễn ra một cách gay gắt, quyết lịêt đến mức loại trừ nhau Xung đột trong

các cuốn Vào hang, Người trong ống, Đọa đày là những minh chứng tiêu biểu cho kiểu xung đột này Trong Vào hang, xung đột giữa cái thiện với cái ác, giữa cái tốt

và cái xấu được đặt ra một cách rõ nét qua xung đột gay gắt, quyết liệt giữa những con người tốt bụng, nhân hậu, cao cả, hết lòng lo cho bản mường như lão Tạp Tạng,

Trang 40

ông Nhân, ông Nghiệp và lớp thanh niên trẻ tuổi có học thức, một lòng lo cho sự phát triển của quê hương như On, Lạ, Lạng… với những kẻ tham lam, độc ác, ngu dốt, dâm bôn như Đoác, Tiếm, Lanh… Có thể nói cùng với sự phát triển của cốt truyện thì xung đột của tác phẩm càng trở nên gay gắt, quyết liệt Xung đột trong tác phẩm mới đầu chỉ diễn ra một cách âm thầm, lặng lẽ, khi những người tốt như ông Nghiệp, vốn là đồng đội của hắn, chỉ dám dõi theo chân cái ác và tội lỗi của nó; như lão Tạp Tạng chỉ thể hiện thái độ của mình qua những câu chuyện lão kể để mua vui cho mọi người; như Nọi, Thảnh và Lạ phải giả chết để tránh sự nguy hiểm

Để rồi khi kết thúc tác phẩm, cuộc đấu tranh ấy diễn ra một cách quyết lịêt và trực diện, khi mọi người dám đứng lên tố cáo mọi tội ác của Đoác với cấp trên, với Bộ

Trong Lòng dạ đàn bà, xung đột đạo đức giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt

và cái xấu lại diễn ra trong phạm vi một gia đình chứ không phải ở phạm vi xã hội

rộng lớn như trong Vào hang nữa Đó là sự xung đột giữa những người nhân nghĩa,

giàu lòng thương người như Thu Lả, bà mẹ của Nghít với thằng con nuôi vô ơn bạc nghĩa Ngô Khang Sa và cô con dâu thứ hai tráo trở Mã Thả An Chắc chắn là người nhân hậu như bà mẹ Nghít không thể ngờ được rằng khi bà rủ lòng thương cứu một

“thằng bé ghẻ lở, gầy gò, sốt rét nằm trong một cái hang đá”, bỏ không ít tiền của

chữa bệnh cho nó, nuôi dạy nó trở thành người thì cũng là lúc bà mang tai hoạ về cho gia đình của mình Để rồi hơn mười năm sau, cái thằng con nuôi trời đánh ấy đã nhẫn tâm đánh thuốc độc giết anh nuôi của mình để cướp gia sản, cướp vợ của anh, rồi đuổi cả bà mẹ nuôi và hai đứa cháu còn thơ dại ra khỏi nhà một cách không thương tiếc Ngay cả Thu Lả, cô cũng không thể nghĩ được rằng cái ngày cô bỏ ra bốn chỉ

vàng chuộc Mã Thả An, nhận nó làm em nuôi, chăm sóc nó, giúp nó từ “một đứa trẻ

từ cõi tăm tối nhem nhuốc trở lại làm một con người vừa xinh đẹp vừa tốt đẹp”, cũng

là ngày cái gia đình hạnh phúc của cô có nguy cơ bị đổ vỡ, khi mà đứa em gái tráo trở

ấy đã tự nguyện, chủ động hiến dâng cho anh rể, cho chồng nàng để rồi nàng phải gửi mình cho hà bá thuồng luồng của dòng sông Nước Trong…

Khác với Vào hang và Lòng dạ đàn bà, mâu thuẫn giữa thiện - ác trong

Người trong ống lại diễn ra giữa những con người là trí thức của vùng cao Họ là

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w