1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi vi hồng

114 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 884,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở những nét đặc sắc của nghệ thuật xây dựng nhân vật thiếu nhi, luận văn đã có cái nhìn đúng đắn về sự phản ánh con người miền núi trong sáng tác của nhà văn, thấy được nét độc

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ HUYỀN TRANG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN XUÔI VI HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ HUYỀN TRANG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN XUÔI VI HỒNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Đào Thị Vân

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Nông Thị Huyền Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục i

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỪ VÀ CỤM TỪ 7

1.1.1 Khái quát về từ 7

1.1.2 Khái quát về cụm từ 11

1.2 KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP TU TỪ 14

1.2.1 Khái niệm tu từ 14

1.2.2 Phân loại biện pháp tu từ 14

1.3 SƠ LƯỢC VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ 18

1.3.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ 18

1.3.2 Phân loại các hành vi ngôn ngữ 18

1.4 KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH VĂN BẢN 23

1.4.1 Khái niệm phong cách văn bản 23

1.4.2 Các loại phong cách văn bản và sơ lược về phong cách khẩu ngữ 25

1.5 VI HỒNG VÀ TÁC PHẨM 28

1.5.1 Vài nét về tác giả Vi Hồng 28

1.5.2 Vài nét về văn xuôi Vi Hồng 30

1.7 TIỂU KẾT 31

Chương 2 MỘT SỐ LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI VI HỒNG 32

2.1 LỚP TỪ NGỮ CỦA TIẾNG DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 33

2.1.1 Nhận xét chung 33

Trang 5

2.1.2 Phân loại lớp từ ngữ tiếng Tày trong tác phẩm của Vi Hồng 35

2.2 LỚP TỪ KHẨU NGỮ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 57

2.2.1 Nhận xét chung 57

2.2.2 Phân loại và miêu tả lớp từ khẩu ngữ trong văn xuôi Vi Hồng 58

2.3 LỚP TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 64

2.3.1 Nhận xét chung 64

2.3.2 Phân loại lớp từ địa phương trong văn Vi Hồng 65

2.4 LỚP TỪ NGỮ RIÊNG CỦA VI HỒNG 66

2.4.1 Nhận xét chung 66

2.4.2 Phân loại và miêu tả lớp từ ngữ của riêng Vi Hồng 67

2.5 TIỂU KẾT 69

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 71

3.1 BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 71

3.1.1 Nhận xét chung 71

3.1.2 Nét riêng của phép so sánh trong sáng tác của Vi Hồng 72

3.2 BIỆN PHÁP NHÂN HOÁ TRONG VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG 85

3.2.1 Nhận xét chung 85

3.2.2 Miêu tả phép nhân hóa trong văn Vi Hồng 85

3.3 BIỆN PHÁP KHOA TRƯƠNG TRONG VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG 88

3.3.1 Nhận xét chung 88

3.3.2 Một số ví dụ về biện pháp khoa trương 88

3.4 CÁCH NÓI VÕNG VO TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 93

3.4.1 Khái niệm về cách nói vòng vo 93

3.4.2 Phân tích cách nói vòng vo trong văn Vi Hồng 93

3.5 TIỂU KẾT 102

PHẦN KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 106

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và là công cụ để tư duy C Mác đã

nói : “Ngôn ngữ ra đời do nhu cầu của con người cần phải nói với nhau một

cái gì đấy, trao đổi với nhau một cái gì đấy”; Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận

định : “Ngôn ngữ là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý giá của mỗi dân tộc”

Như vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu ngôn ngữ là một trong những cầu nối quan trọng để tiếp cận cội nguồn bản sắc văn hóa dân tộc

1.1 Đối với văn học nghệ thuật, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng

bậc nhất trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng, chủ đề của một tác phẩm Nói đến ngôn ngữ văn chương là nói đến chức năng thẩm mỹ, giá trị tạo hình, giá trị biểu trưng, biểu cảm to lớn Để có thể khắc hoạ chân thực, sinh động bức tranh cuộc đời, người nghệ sĩ, ngoài sự trải nghiệm sâu sắc, còn đòi hỏi khả năng huy động, khai thác tốt giá trị tiềm tàng của các phương tiện ngôn ngữ Một trong những nhà văn đã tận dụng triệt để vai trò của các phương tiện

ấy trong mảng đề tài viết về dân tộc miền núi của mình là Vi Hồng

1.2 Nhắc tới Vi Hồng là nhắc tới một “kiện tướng” của văn học thiểu số

Với sức sáng tạo của khối óc, sự chân thực của cảm xúc và bầu nhiều huyết của con tim, qua hệ thống các tác phẩm của mình, Vi Hồng đã góp một tiếng nói chân thành, sâu sắc vào bản đàn văn học viết về miền núi đa thanh, muôn giọng Các tác phẩm của ông được lấy chất liệu từ cuộc sống, thiên nhiên và con người núi rừng Việt Bắc, nơi nhà văn sinh ra, yêu mến và vô cùng am hiểu Có thể nói Vi Hồng đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành diện mạo chung của các dân tộc miền núi

1.3 Nghiên cứu về Vi Hồng cùng sự nghiệp của ông có nhiều công

trình khoa học Tuy nhiên, các công trình này mới dừng lại ở việc đánh giá chung hay đi vào một số khía cạnh của một số tác phẩm cụ thể Vấn đề ngôn

Trang 7

ngữ trong văn xuôi Vi Hồng chưa được các nhà Việt ngữ học quan tâm đúng mức Đặc biệt, việc tìm hiểu ngôn ngữ để từ đó thấy được tính dân tộc trong các tác phẩm của Vi Hồng thì rất hiếm nhà khoa học đề cập tới Đây là nội dung tương đối mới mẻ

Đi sâu vào các sáng tác của Vi Hồng, ta sẽ thấy ngôn ngữ được ông sử dụng rất đa dạng, phong phú, thể hiện được tư tưởng, tình cảm một cách hiệu quả Mỗi phương tiện ngôn ngữ đều được sử dụng với một mục đích nhất định và đem lại các giá trị khác nhau Vì vậy, tìm hiểu ngôn ngữ trong văn xuôi của Vi Hồng là việc làm có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn rất lớn

Nó không chỉ giúp chúng ta hiểu được phong cách nghệ thuật của nhà văn Vi Hồng mà qua đó, sẽ thấy được nét riêng của những con người dân tộc thiểu số

ở vùng núi phía Bắc Với ý nghĩa thiết thực ấy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề

tài “Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng” làm công trình nghiên cứu khoa

học với mong muốn tìm hiểu thêm một khía cạnh nữa trong văn xuôi của Vi Hồng

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu văn xuôi Vi Hồng có thể thấy các tác giả chủ yếu nghiên cứu trên hai góc độ là góc độ văn chương và góc độ ngôn ngữ

2.1 Từ góc độ văn chương

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các tác phẩm của nhà văn

Vi Hồng đã được quan tâm và chú trọng Một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã khai thác tác phẩm của Vi Hồng ở nhiều góc độ khác nhau

Trong khoá luận “ Tính dân tộc trong tiểu thuyết : Tháng năm biết nói;

Chồng thật vợ giả và Núi cỏ yêu thương của nhà văn Vi Hồng” (Khoá luận

tốt nghiệp, ĐHSP Thái Nguyên, 2004), Nông Thị Quỳnh Trâm đã làm sáng tỏ

và khẳng định những đặc sắc của tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng trên hai phương diện : nội dung (tìm hiểu tính dân tộc qua cảm hứng về thiên

Trang 8

nhiên, về phong tục tập quán, về nhân vật và cốt cách, tâm hồn nhân vật trong tác phẩm) và hình thức (biện pháp so sánh – liên tưởng, câu văn giàu hình ảnh, cách xây dựng kết cấu theo lối truyền thống…)

Cũng nghiên cứu về tính dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng, luận văn

thạc sĩ “ Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng” (Luận văn thạc sĩ, ĐHSP

Thái Nguyên, 2003) của tác giả Hoàng Văn Huyên được xem là công trình nghiên cứu công phu nhất về tiểu thuyết Vi Hồng từ trước đến nay Trong đó, luận văn chỉ ra cốt cách tâm hồn dân tộc miền núi Việt Bắc trong hệ thống nhân vật Vi Hồng, chỉ ra một số phương diện nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc như : lời văn giản dị, mộc mạc…

Tác giả Vi Hà Nguyên thì tìm hiểu “ Hình tượng nhân vật thiếu nhi

trong truyện viết cho thiếu nhi của Vi Hồng” (Khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP

Thái Nguyên, 2004) Trên cơ sở những nét đặc sắc của nghệ thuật xây dựng nhân vật thiếu nhi, luận văn đã có cái nhìn đúng đắn về sự phản ánh con người miền núi trong sáng tác của nhà văn, thấy được nét độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả, đồng thời khẳng định thêm đóng góp của Vi Hồng trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam

Ngoài luận văn cử nhân và luận văn thạc sĩ đã nêu ở trên, TS Phạm Mạnh Hùng – Đại học Thái Nguyên có đề tài nghiên cứu một cách toàn diện

về nhà văn Vi Hồng đó là “ Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi

Hồng” (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2003) Trong khi nghiên cứu và tìm hiểu

văn xuôi Vi Hồng con nhiều hạn chế thì đề tài này có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp những cứ liệu về các tác phẩm của Vi Hồng

2.2 Từ góc độ ngôn ngữ

Trên phương diện ngôn ngữ có luận văn “ Bước đầu tìm hiểu lời thoại

trong văn xuôi Vi Hồng” (Luận văn thạc sĩ , ĐHSP Thái Nguyên, 2008) của

Hoàng Thị Quỳnh Ngân Với luận văn này tác giả đã từng bước cho chúng ta

Trang 9

thấy lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện cấu tạo ngữ pháp, phương diện dụng học và một số nét riêng của lời thoại trong các tác phẩm của ông Có thể nói công trình nghiên cứu này đã đóng góp thêm cho góc độ nghiên cứu về ngôn ngữ trong văn của Vi Hồng

Ngoài ra còn có một số đề tài và khoá luận của sinh viên như: “Giọng

điệu trần thuật trong văn xuôi Vi Hồng” (Đề tài nghiên cứu khoa học, ĐHSP

Thái Nguyên, 2005) của Ngô Thu Thủy, “Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết

“Người trong ống” của nhà văn Vi Hồng” (Khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP Thái

Nguyên, 2007) của Trần Thị Hồng Nhung nghiên cứu về các tác phẩm của nhà văn Vi Hồng từ các góc độ như giọng điệu trần thuật, cấu trúc ngữ pháp, cách

sử dụng từ ngữ…đều nhằm toát lên phong cách của nhà văn

Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã dẫn ở trên cho thấy việc nghiên cứu về Vi Hồng và các tác phẩm dưới nhiều góc độ đã thu hút được nhiều người tham gia Các đề tài về tính dân tộc trong văn xuôi Vi Hồng được công

bố hàng loạt, song về phương diện ngôn ngữ thể hiện nét riêng của tác giả mới chỉ được đề cập tới rời rạc, lẻ tẻ và dường như còn để ngỏ Chọn hướng nghiên cứu này, người viết hy vọng rằng công trình này sẽ góp phần để làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách của nhà văn Vi Hồng – một trong

số những nhà văn dân tộc thiểu số tiểu biểu cho bộ phận văn học dân tộc thiểu

số tiêu biểu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi

Vi Hồng

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu một số lớp từ ngữ và phương thức thể hiện đặc điểm văn xuôi Vi Hồng trên ngữ liệu khảo sát là 5 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của ông sau đây:

+ Phụ tình

Trang 10

+ Chồng thật vợ giả

+ Lòng dạ đàn bà

+ Tháng năm biết nói

+ Núi cỏ yêu thương

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng nhằm các mục

- Làm tư liệu cho những ai muốn tìm hiểu về ngôn ngữ trong văn xuôi

Vi Hồng nói riêng và trong văn xuôi về đề tài miền núi nói chung

Từ mục đích trên, luận văn xác định nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu một số vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ như: một số vấn đề lý thuyết về ngữ pháp tiếng Việt, về Ngữ dụng học, về tu từ học

- Khảo sát và phân loại các lớp từ ngữ mang đặc điểm phong cách nhà văn

- Khảo sát và phân loại một số phương thức sử dụng biện pháp tu từ và cách dùng ngôn ngữ trong hội thoại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê – phân loại: phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê phân loại các lớp từ ngữ và cách biện pháp tu từ sử dụng trong câu văn trong các tác phẩm văn xuôi của Vi Hồng

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Muốn chỉ ra được những dấu hiệu ngôn ngữ trong văn xuôi Vi Hồng phải đặt nó trong thế so sánh đối chiếu

Trang 11

Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những nét đặc trưng riêng của ngôn ngữ văn xuôi của Vi Hồng

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân tích các tín hiệu ngôn ngữ và dùng để tổng hợp các kết quả nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Khảo sát, thống kê các phương tiện và phương thức sử dụng ngôn ngữ trong văn xuôi Vi Hồng, luận văn đưa ra một góc nhìn mới trong nghiên cứu văn xuôi Vi Hồng Đó là nghiên cứu các phương thức và phương tiện ngôn ngữ trên phương diện hệ thống hóa Hướng nghiên cứu này góp phần quan trọng trong việc tiếp cận văn xuôi Vi Hồng trên bình diện ngôn ngữ học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài này nếu đạt được mục đích đề ra sẽ là tư liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu văn xuôi Vi Hồng nói chung, ngôn ngữ trong văn ông nói riêng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương 2: MỘT SỐ LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI VI HỒNG

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG

Trang 12

Từ trước tới nay, trong ngôn ngữ học, đã có tương đối nhiều định nghĩa

về từ Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt khác đều có mặt ưu điểm và mặt hạn chế bởi chúng không thể bao quát hết được tất cả các sự kiện được coi là

từ trong các ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy Vì sự phức tạp của việc định nghĩa từ mà không ít các nhà khoa học (kể cả F.de.Saussure,

S Bally, G Glison…) đã chối bỏ khái niệm từ Hoặc nếu thừa nhận họ cũng

tránh đưa ra một khái niệm chính thức

Các nhà ngôn ngữ học mong muốn đưa ra một định nghĩa chung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đến nay vẫn chưa đạt được và có lẽ sẽ không thể đạt được Chúng ta có thể đồng tình với quan điểm của L.Serba khi ông cho rằng từ trong ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau…, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không

nhiều các trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn : Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa

của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.[7,137] Quan niệm này có nhiều nét gần với quan niệm coi

từ là một hình thái tự do nhỏ nhất Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ

nhất có thể xuất hiện độc lập được Nhưng ngay cả những quan niệm như thế, thực sự cũng không phải là áp dụng được cho tất cả mọi ngôn ngữ và tất cả mọi kiểu từ

Trang 13

Về cấu tạo, từ được cấu tạo bởi các hình vị Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định Vậy hình vị là gì? Quan niệm thường thấy về hình vị được phát biểu như sau:

Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp

[7,139] Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình

Từ trong các ngôn ngữ được cấu tạo bằng một số phương thức khác nhau Hay nói khác đi, người ta có những cách khác nhau trong sử dụng các hình vị để tạo từ cụ thể như : Dùng một hình vị tạo thành một từ Phương thức này thực chất là người ta cấp cho một hình vị cái tư cách đầy đủ của một từ

Vì thế có thể gọi đây là phương thức từ hoá hình vị; Tổ hợp hai hay nhiều hình vị để tạo thành từ là một cách nữa trong việc sử dụng hình vị để tạo từ

Dựa vào những quan điểm cũng như những điều đã trình bày, nếu không đòi hỏi thật nghiêm ngặt thì có thể áp dụng cho tiếng Việt Từ trong

tiếng Việt được quan niệm như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết

cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu [7, 141]

Ví dụ: nhà, người, áo, cũng, nếu, sẽ, thì…

đường sắt, sân bay, dạ dày, đen sì…

Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ trong tiếng Việt là các tiếng , ngữ âm học thì gọi tiếng là âm tiết Mặc dù như đã trình bày ở trên, nguyên tắc phổ biến là

các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác

nhau có thể khác nhau Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình

vị trong các ngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết

(morphemsyllable) – âm tiết có giá trị hình thái học Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là âm tiết Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện

Trang 14

1.1.1.2 Phân loại từ theo từ loại

Căn cứ vào từ loại, có thể chia từ của ngôn ngữ nói chung thành nhiều kiểu nhó, ví dụ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, từ tình thái, v.v… Luận văn này quan tâm đến 3 từ loại, đó là: danh từ, động từ, tính từ

a) Danh từ

* Khái niệm: “ danh từ là từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật, đối tượng,

thường làm chủ ngữ trong câu “Người”, “nhà”, “tinh thần”, “Việt Nam” là

những danh từ” [34, 242]

* Phân loại:

Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại danh từ, nhìn chung thì danh từ

có có thể phân thành các loại như sau: danh từ riêng và danh từ chung; danh

từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp; danh từ đơn vị; danh từ đếm được và danh từ không đếm được… Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung làm rõ các vấn đề về danh từ riêng và danh từ chung

Thông thường, khi phân biệt danh từ riêng và danh từ chung chúng ta thường căn cứ vào cách gọi tên của chúng

- Danh từ riêng là “ tên gọi cụ thể của từng cá thể”, “Chúng là tên gọi của từng người, tên miền đất (địa danh), tên sách báo, tên thời đại…” [2, 475] Chúng không mang nghĩa

Ví dụ: Lan, Mai, Cúc; Va Đáo, Thế Ru, Linh Thang Nghít…

- Danh từ chung là “ tên gọi của từng lớp sự vật đồng chất về phương diện nào đó, đó là cách gọi khái quát cho nhiều vật cụ thể thuộc cùng một lớp đồng chất (danh từ chung chỉ vật đơn chất rất ít)” [2, 475]

Ví dụ: Nhà, ô tô, xe máy, quạt điện, máy tính…

b) Động từ

* Khái niệm: “động từ là từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay

quá trình, thường dùng làm vị ngữ trong câu “Chạy”, “ở”, “phát triển” đều

là động từ [34, 346]

Trang 15

* Phân loại:

Động từ tiếng Việt không biến hình, nên khả năng kết hợp của chúng rất phức tạp Và do đó, việc phân loại động từ cũng gặp rất nhiều khó khăn Tổng hợp từ nhiều cách phân loại thì động từ tạm được phân chia thành các nhóm sau:

- Động từ độc lập: là những động từ có ý nghĩa đầy đủ, có thể một mình đảm đương các chức vụ cú pháp trong cụm từ hoặc câu Động từ độc lập có thể phân thành cách nhóm nhỏ như: động từ biểu thị hành động / hoạt động

(ví dụ: đi, ăn, ngủ, chạy , nhảy…); động từ chỉ trạng thái (ví dụ: lo lắng, buồn

phiền…); động từ tư thế (ví dụ: ngồi, nằm…)

- Động từ không độc lập: là những động từ không biểu thị một nội dung

ý nghĩa hoàn chỉnh, do đó, về nguyên tắc chúng không thể đứng một mình để đảm nhận các chức vụ cú pháp trong cụm từ và trong câu mà phải có một từ khác đi theo sau để bổ sung ý nghĩa Nhóm động từ không độc lập bao gồm: động từ tình thái (có thể, không thể, chưa thể, trông, mong, cầu, ước…); động

từ chỉ sự tồn tại (còn, có, hết…); động từ quan hệ (là, làm…)

c) Tính từ

* Khái niệm: là từ chuyên biểu thị ý nghĩa tính chất, thuộc tính, thường

có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu “ Tốt”, “ xanh”, “ tích cực” là những

tính từ trong tiếng Việt [2, 1000]

* Phân loại:

Trong tiếng Việt có nhiều cách phân loại khác nhau, có thể phân loại tính từ thành các nhóm sau:

- Tính từ tự thân là những tính từ chỉ có chức năng biểu thị phẩm chất,

màu sắc, kích thước, hình dáng… của sự vật hay hiện tượng, ví dụ: tốt, xấu,

sạch, bẩn, đúng, sai, chăm chỉ…(tính từ chỉ tính chất); xanh, đỏ, tím, vàng…(tính từ chỉ màu sắc); cao, thấp, to, nhỏ, ngắn, dài…(tính từ chỉ kích

thước); ồn ào, trầm, bổng, vang…(tính từ chỉ âm thanh)…

Trang 16

- Tính từ không tự thân là những từ vốn không phải là tính từ mà là những từ thuộc nhóm từ loại khác nhƣ danh từ, động từ, nhƣng đƣợc sử dụng nhƣ là tính từ

Ví dụ: tính từ do danh từ chuyển loại: nhà quê (Cách sống nhà quê), công nhân (vải xanh công nhân), sắt đá (trái tim sắt đá); tính từ do động từ chuyển loại: chạy làng (thái độ chạy làng), đả kích (tranh đả kích), buông thả (lối sống buông thả)

1.1.2 Khái quát về cụm từ

1.1.2.1.Cụm từ và ngữ cố định

“Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)” [2, 6]

“ Ngữ cố định (cũng gọi là tổ hợp từ cố định) là những kiến trúc cho

Trang 17

buộc, thường không hiển hiện, nhiều khi phải phân tích kĩ mới nhận ra được Ngữ cố định có tính chất cố định cả ở phương diện ngữ nghĩa từ vựng lẫn phương diện quan hệ ngữ pháp

Ví dụ : (3) múa rìu qua mắt thợ

(4) ông chẳng bà chuộc

Trong tiếng Việt ngoài sự phân giới cụm từ với ngữ cố định, còn có vấn đề phân giới cụm từ với từ ghép nhất là từ ghép chính phụ Cụm từ và từ ghép thường có cách cấu tạo giống nhau, rất khó phân biệt

Ví dụ : (5) Chiếc áo dài của chị tôi treo trong tủ

(6) Chiếc áo dài của chị tôi, còn chiếc áo ngắn của tôi

Trong câu (5) áo dài là từ ghép, trong câu (6) ta có cụm từ Tuy có sự giống nhau bề ngoài như vậy, song ở đây chúng ta vẫn đối diện với hai thực thể khác nhau Từ ghép là đơn vị cho sẵn bất biến, còn tổ hợp từ tự do như đã biết, không có những tính chất ấy

1.1.2.2 Phân loại cụm từ

Cụm từ thường được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm Trong tiếng Việt, chúng ta có thể gặp những loại từ sau đây:

1 Cụm từ có danh từ làm thành tố chính , gọi là cụm danh từ

Ví dụ : mấy người này, hai người

Ví dụ : hơn ba mươi một chút, độ ba mươi, ba mươi hơn

5 Cụm từ có đại từ làm thành tố chính, gọi là cụm đại từ

Trang 18

Ví dụ : tất cả chúng tôi đây, hai chúng tôi

Trong số 5 loại cụm từ kể trên, cụm danh từ và cụm động từ và cụm tính từ là những cụm từ có cấu tạo đa dạng hơn hẳn hai loại cụm từ sau cùng

Vì vậy, thông thường người ta chỉ xét ba loại cụm từ này với tư cách là những hiện tượng tiêu biểu

Ví dụ: tất cả những cái con mèo đen ấy (tất cả, những, cái là phần phụ

trước; con mèo là danh từ trung tâm; đen, ấy là phần phụ sau)

b) Cụm động từ

Cụm động từ (còn gọi là động ngữ) là loại cụm chính phụ, trong đó thành tố trung tâm là động từ còn các thành tố phụ có chức năng bổ sung ý nghĩa về cách thức, mức độ, thời gian, địa điểm… cho động từ trung tâm đó

Giống như cụm danh từ, cụm động từ cũng gồm ba phần, được kết hợp

ổn định với nhau theo thứ tự: phần phụ trước, trung tâm, phần phụ sau Trung tâm của động ngữ có thể là một động từ nhưng cũng có thể là một vài động từ (kể cả động từ không độc lập)

Ví dụ: đi đá bóng (đi là động từ trung tâm; đá bóng là phần phụ sau)

c) Cụm tính từ

Cụm tính từ (còn gọi là tính ngữ) là loại cụm chính phụ có tính từ làm thành tố trung tâm và một hoặc một số thành tố phụ

Trang 19

Nói chung, xét về cấu tạo, cụm tính từ khá giống với cụm động từ và

cũng gồm ba phần được sắp xếp theo thứ tự phần phụ trước, trung tâm, phần phụ sau Phần phụ trước thường là các phó từ giống như ở cụm động từ

Ví dụ : Anh ấy dũng cảm lắm (anh ấy là phần phụ trước; dũng cảm là

phần trung tâm, lắm là phần phụ sau)

Vậy, với những gì được trình bày ở trên chúng ta hoàn toàn có cơ sở lý luận về khái niệm cụm từ cũng như cấu tạo chung của cụm từ

1.2 KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP TU TỪ

1.2.1 Khái niệm tu từ

Biện pháp tu từ cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp mà biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ ngữ âm, biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp Ví dụ: điệp âm, điệp vần, điệp thanh, hài âm là những biện pháp tu từ ngữ âm; tương phản,

so sánh, ẩn dụ, nói lái, phản ngữ là những biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa; sóng đôi, câu hỏi tu từ là những biện pháp tu từ cú pháp

1.2.2 Phân loại biện pháp tu từ

1.2.2.1 Biện pháp so sánh

So sánh là một thao tác của tư duy Đó là thao tác đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác để nhìn thấy nét tương đồng và khác biệt giữa chúng Phép so sánh được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã

hội: Trong thơ ca, trong các ngành khoa học, trong sinh hoạt xã hội Từ

điển tiếng Việt giải thích “so sánh” theo cách hiểu phổ thông là “ nhìn vào

cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [33, 861]

Trên thực tế, ta thường gặp hai kiểu so sánh: so sánh luận lý và so

sánh tu từ

Trang 20

- So sánh luận lí:

So sánh luận lí là sự đối chiếu hai đối tượng cùng loại nhằm xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Đây là kết quả của tư duy khái niệm, tư duy khoa học theo những quy luật thông thường

Chức năng chủ yếu của so sánh logic là nhận thức Kiểu so sánh này là dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, giúp người nghe hiểu rõ nét, sâu sắc những phương diện nào đó của sự vật

Ví dụ:

- Tuyết cũng cao như Len

- Chân Thanh Hằng dài hơn chân Minh Thư

- Cân nặng của An bằng cân nặng của Bình

Mục đích của so sánh luận lý là xác lập giá trị một đại lượng, một tính chất, một đặc trưng bằng cách đối chiếu với một giá trị khác, mà chúng có thể lớn hơn, bằng hoặc kém

- So sánh tu từ :

So sánh tu từ là là phương thức so sánh phổ biến ở mọi ngôn ngữ Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, tác giả Cù Đình Tú

nêu khái niệm: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối

tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [39, 175]

Trong so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng khác loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng

Về mặt hình thức, so sánh tu từ khác với mọi cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng ở chỗ bao giờ cũng công khai phô bày hai vế:

- Vế được so sánh

- Vế so sánh

Trang 21

Mỗi vế có thể gồm một hoặc nhiều đối tượng Các đối tượng có thể là

sự vật, tính chất, hành động

1.2.2.2 Biện pháp nhân hoá

Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoạt động giữa người và đối tượng không phải là người

Ví dụ:

Những chị lúa phất phơ bím tóc Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng học

Đàn cò trắng Khiêng nắng qua sông

Trang 22

- Nội dung: Dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa đối tượng không phải là người và người

Chức năng: Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm Nhân hoá được dùng rộng rãi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chương Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm Ví dụ:

Gái chính chuyên lấy được chín chồng

Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,

Ai ngờ quang đứt lọ rơi

Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng

(Ca dao)

1.2.2.3 Biện pháp khoa trương

Khoa trương (hay còn gọi là ngoa dụ, phóng đại – Hyperbole) là biện pháp tu từ dùng sự cường điệu quy mô, tính chất, mức độ, của đối tượng được miêu tả so với cách biểu hiện bình thường nhằm mục đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối tượng được miêu tả

Ví dụ:

Nhác trông thấy bóng anh đây

Ăn chín lạng hạt ớt thấy ngọt ngay như đường

(Ca dao)

Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho

(Ca dao) Chức năng: khoa trương có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm Do

có tính biểu cảm cao nên biện pháp này ít được dùng trong các văn bản đòi

Trang 23

hỏi sự trung hoà về sắc thái biểu cảm như văn bản hành chính, văn bản khoa học… mà được dùng trong phong cách khẩu ngữ, văn chương

1.3 SƠ LƯỢC VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ

1.3.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp đặc biệt quan trọng của con người Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm gây ra hiệu quả, tác động nào đối với nhân vật giao tiếp đó chính là người nói đã dùng hành vi ngôn ngữ

Theo cách hiểu thư nhất, hành vi ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động ngôn ngữ, hành động phát ngôn) là một hành động đặc biệt của con người với

phương tiện là ngôn ngữ Theo cách hiểu thứ hai, hành vi ngôn ngữ là “một

đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu – ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm- âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó”[45, 107]

Khi người (người viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong một ngữ cảnh nhất định là người nói (người viết) đã thực hiện một hành

vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ có khả năng làm thay đổi trạng thái tâm lý hành động của người nói thậm chí cả người nghe Do vậy, hành vi ngôn ngữ

có vai trò rất lớn trong hoạt động giao tiếp của con người

1.3.2 Phân loại các hành vi ngôn ngữ

Có nhiều căn cứ để phân loại hành vi ngôn ngữ, theo đó, hành vi ngôn ngữ được chia thành nhiều nhóm khác nhau Searle đã chia hành vi ngôn ngữ thành 5 nhóm, dựa vào 12 tiêu chí Xin xem cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập hai: Ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu trang 125-126

Luận văn này không có nhiệm vụ đi nghiên cứu cũng như miêu tả các nhóm hành vi ngôn ngữ nên ở đây chúng tôi chỉ nêu khái niệm sơ lược về hai

hành vi ngôn ngữ được Vi Hồng sử dụng khá hiệu quả, đó là hành vi hỏi và hành vi rào đón

Trang 24

1.3.2.1 Hành vi ngôn ngữ “hỏi”

Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, hỏi là một hành vi ngôn ngữ phổ biến,

một hành vi ngôn ngữ tham gia thường xuyên vào các cấu trúc hội thoại Mặt khác, nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những sự chuyển hóa khác nhau mà câu hỏi có thể thực hiện nhiều chức năng giao tiếp, những hành vi tại lời rất đa dạng

Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ trong đó có chứa các biểu thức dùng để hỏi Hành vi hỏi thuộc loại hành vi ở lời theo phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin Trong hành vi hỏi có hành vi hỏi trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp

Ví dụ:

Hỏi là một hành vi ngôn ngữ trực tiếp khi nó yêu cầu người nghe một câu trả lời

Bây giờ mận mới hỏi đào:

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

“Mận” là người con trai, “đào” là người con gái, “vườn hồng” là tình cảm, hay trái tim của người con gái Chàng trai đã dùng hình thức hỏi trực tiếp để dò xét gia thế, tình cảm của người con gái Điều này được biểu hiện rõ qua câu trả lời của cô nàng

Mận hỏi thì đào xin thưa:

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Hành vi hỏi được dùng gián tiếp để thực hiện nhiều mục đích khác nhau như: hỏi để nhắc nhở, hỏi để trách móc, hỏi để khẳng định, hỏi để cầu khiến

Ví dụ:

Thuyền về có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

“Thuyền”, “bến” là hình ảnh ẩn dụ quen thuộc chỉ người con trai (hay người chồng) và người con gái (hay người vợ) Vì một lý do nào đó chàng và

Trang 25

nàng ly biệt Chàng như con thuyền trôi giạt, lênh đênh, còn nàng như bến đỗ, qua tháng năm không dịch chuyển Xa cách muôn trùng, người con gái không phút giây nguôi nhớ thương, mong đợi Nàng tự nhủ lòng mình son sắc thủy chung Tuy nhiên xa mặt cách lòng, biết chàng có còn nhớ đến ta!

Thuyền về có nhớ bến chăng?

Câu thơ nghe như một lời thở than ai oán Bằng cách dùng hành vi ngôn

ngữ gián tiếp qua biểu thức câu hỏi, cô gái đã khéo léo nhắc nhở chàng trai hãy giữ trọn lời nguyền đồng thời tác động đến tâm lý, tình cảm của người ra đi

Khi người ta muốn nói điều mà người ta tin rằng người nghe đã biết hoặc không cần phải nói ra, thì sự cẩn trọng đòi hỏi người ta phải dùng hành vi rào đón Trong tiếng Việt, thường gặp các cách diễn đạt rào đón trong trường

hợp này là: chắc chắn không nói thì anh cũng biết, không biết có nên nói hay

không, nói thì cũng bằng thừa (mà tôi cứ phải nói), để khỏi dài dòng,… Những

rào đón loại này cho thấy rằng người nói hiểu điều người đó nói ra là thừa và muốn báo rằng người đó có ý thức được phương châm về lượng

Trang 26

Khi người ta định nói điều mà người ta không tin chắc vào tính chân thực của nó thì người nói cẩn trọng thường dùng cách rào đón để diễn đạt sự không tin chắc đó Trong tiếng Việt những rào đón kiểu này thường gặp là:

theo chỗ tôi biết, theo thiển ý của tôi, thiết tưởng, tôi cho là, nếu tôi không nhầm, nghe người ta nói, nghe đâu, người ta đồn là, hình như là… Đây là

cách diễn đạt cho thấy người nói nắm được phương châm về chất

Khi người nói muốn đưa ra một đề tài khác với để tài đang bàn thì

những lời rào đón cẩn trọng thường được dùng trong tiếng Việt là: tiện thể tôi

xin hỏi, không biết có nên bàn đến việc này không, nói nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng mà… Những lời rào đón như trên cho biết người nói hiểu rõ về phương

châm quan hệ (chỉ nói những điều dính líu đến đề tài đang bàn)

Khi không thể diễn đạt được rõ ràng, người cẩn trọng thường thông báo

về cái thực trạng đó bằng những lời rào đón mà trong tiếng Việt chúng thường

được diễn đạt như sau: tôi không nhớ rõ lắm, tôi không biết nói thế nào cho

dễ hiểu, tôi nói hơi dài dòng một chút Đó là những rào đón liên quan đến

phương châm cách thức

Như đã thấy, sử dụng hành vi rào đón là tôn trọng quá trình trao đổi, tôn trọng quy tắc hội thoại Tuy nhiên tồn tại những trường hợp không tuân theo một phương châm nào đó vẫn là điều được coi là bình thường

1.3.2.3 Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt với hình thức diễn đạt có thể chia làm hai loại là hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp Hai loại hành vi này được phân biệt với nhau ở điểm cơ bản nhất là đích ở lời mà chúng hướng đến

a) Hành vi ngôn ngữ trực tiếp

Hành vi ở lời là những hành vi ngôn ngữ được người nói thực hiện ngay khi nói năng Những hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng với điều

Trang 27

kiện sử dụng, đúng với đích ở lời của chúng được gọi là hành vi ngôn ngữ

trực tiếp Tác giả Đỗ Hữu Châu gọi hành vi ngôn ngữ trực tiếp là “hành vi

ngôn ngữ chân thực”[6, 145]

Ví dụ phát ngôn “ Bạn cho mình mượn cái bút này nhé ” là phát ngôn thể hiện hành vi ngôn ngữ đề nghị Phát ngôn “ngày mai tôi sẽ đến” là phát ngôn thể hiện hành vi ngôn ngữ hứa hẹn Hành vi đề nghị và hứa hẹn là hành

vi ngôn ngữ trực tiếp

Trong cuộc sống hành vi ngôn ngữ trực tiếp luôn luôn được sử dụng rộng rãi bởi nghĩa tường minh và chân thực của nó

b) Hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp được sử dụng với bề mặt là hành vi ngôn ngữ này nhưng lại nhằm đạt tới đích ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ một hành vi được sử dụng gián tiếp là một

hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác”.[6, 146]

Ví dụ:

A: Cho tớ vay ít tiền nhé!

B: Mình vừa nộp quỹ hết rồi

Trong ví dụ này sp1 (vai nói) đề nghị sp2 (vai nghe) cho vay tiền

nhưng sp2 không trả lời là có hay không mà đưa ra một lời thông báo là tớ

vừa nộp quỹ hết tiền rồi với ý gián tiếp từ chối lời đề nghị của sp1, sp2 đã sử

dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp và sp1 sẽ suy ra được đích ngôn mà sp2 muốn diễn đạt thông qua ngữ cảnh

Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau Muốn nhận biết được hành vi ngôn ngữ gián tiếp trước hết phải nhận biết được hành vi ngôn ngữ trực tiếp Hành vi ngôn ngữ gián tiếp chính là kết quả suy ý từ hành vi ngôn ngữ trực tiếp mà sp1 phát ngôn

Trang 28

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp được nhật biết qua các dấu hiệu sau:

- Dấu hiệu thứ nhất là ngữ cảnh

Ngữ cảnh là một dấu hiệu quan trọng để nhận ra hành vi ngôn ngữ gián tiếp Tùy vào ngữ cảnh khác nhau mà người nghe phát hiện được ra người nói đang dùng hành vi ngôn ngữ gián tiếp nào

Ví dụ phát ngôn Tôi bận quá sẽ được hiểu theo các nghĩa khác nhau

tùy thuộc vào vai giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp Nếu trong hoàn cảnh hai người bạn đang trò chuyện với nhau về công việc thì phát ngôn trên chỉ thông

thường là hành vi thông báo về tình trạng công việc Nếu trong hoàn cảnh một người bạn rủ đi chơi thì phát ngôn trên là hành vi từ chối

- Dấu hiệu thứ hai là các biểu thức ngữ vi đặc thù

Như đã biết hành vi ngôn ngữ luôn có một (hay một số) biểu thức ngữ

vi đặc thù Trong biểu thức ngữ vi, quan hệ giữa các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề về mặt ngữ nghĩa giữa các nhân tố ngữ cảnh, đặc biệt là những người giao tiếp đóng vai trò là phương tiện giao tiếp chỉ dẫn ở lời cho các biểu thức ngữ vi đó Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi trực tiếp càng gắn bó với các nhân tố ngữ cảnh bao nhiêu thì càng có khả năng thực hiện hành vi ngôn ngữ gián tiếp bấy nhiêu

Ví dụ trong tiếng Việt, các biểu thức ngữ vi hỏi để thực hiện hành vi gián tiếp chào khá phổ biến, như phát ngôn “Bác đi đâu đấy ạ? Phát ngôn này có hình thức diễn đạt là biểu thức ngữ vi hỏi nhưng đích lại là chào

Những biểu thức ngữ vi đặc thù là dấu hiệu để nhận ra các hành vi ngôn ngữ gián tiếp rất hiệu quả

1.4 KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH VĂN BẢN

1.4.1 Khái niệm phong cách văn bản

Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật,

là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có

Trang 29

phong cách hiểu theo đúng nghĩa của từ này Chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phong cách riêng độc đáo Cái nét riêng ấy thể hiện

ở tác phẩm và được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn làm ta có thể nhận ra sự khác nhau Chẳng hạn, giữa Nguyễn Công Hoan và Nguyên Hồng, Xuân Diệu và Chế Lan Viên v.v Trong chỉnh thể “nhà văn” (hiểu theo nghĩa là các sáng tác của một nhà văn), cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy

Ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần khác như tâm lí, khí chất , cá tính đều có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và của thời đại

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tạo Cho nên để đánh giá một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo hay không chúng ta không thể xem xét khả năng và hiệu lực qua việc sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

Sự khác nhau giữa ngôn ngữ văn chương với ngôn ngữ thuộc các phong cách khác không chỉ ở chức năng thẩm mĩ, không chỉ ở việc sử dụng tổng hợp toàn bộ các phương tiện biểu hiện của ngôn ngữ mà còn ở chỗ ngôn ngữ văn chương ấy phải mang dấu ấn phong cách tác giả

Ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ nhà văn nói riêng phải vừa giống mọi người, vừa khác mọi người Có giống mọi người, có thuận theo chuẩn mực thì mọi người mới hiểu, có khác mọi người tức có lối nói riêng thì mới thành ra văn để người ta thích đọc Sự giống ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều kiện bắt buộc Sự khác ngôn ngữ mọi người là dấu hiệu để xác định phong cách tác giả ? Sự khác biệt này phải như thế nào, nói khác đi là cái dấu hiệu này phải như thế nào thì lúc đó mới tạo thành phong cách tác giả Trong ngôn ngữ văn chương ta vẫn thấy có hiện tượng chỉ có tác giả mà không có phong cách tác giả Nhà văn Nga T.Sêkhov nói rất có lí rằng nếu

Trang 30

tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là

nhà văn cả Cái mà T.Sêkhov gọi là “lối nói riêng” chính là phong cách tác

giả Vậy để xác định phong cách tác giả chúng ta phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản sau đây:

- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả

- Sự đi chệch chuẩn mực của tác giả

Mỗi nhà văn thường có những sở trường ngôn ngữ Cái sở trường ngôn ngữ này khi thành thục tới mức mọi người phải thán phục và không ai theo được thì thành biệt tài ngôn ngữ

Tóm lại, phong cách tác giả thể hiện trước hết ở khuynh hướng ưa thích

và sở trường sử dụng phương tiện ngôn ngữ

Dấu hiệu thứ hai để xác định phong cách tác giả là sự chệch chuẩn mực Trong sự đối chiếu với chuẩn mực thì sáng tạo ngôn ngữ có nghĩa là tạo ra những cái đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ Chệch chuẩn mực- chứ

không phải chống chuẩn mực- cũng là một cái “lỗi”, nhưng cái “lỗi muốn

có” hoặc cái “lỗi nên có” ở các nhà văn có thể tạo nên phong cách tác giả

Đã là nhà văn đích thực, không ai không đi chệch chuẩn mực, không ai không ít nhiều nuôi dưỡng ý định chệch chuẩn mực

Đọc văn xuôi Vi Hồng, chúng ta bị hấp dẫn bởi nhiều lí do Trong đó, điều thật sự làm ta ấn tượng nhiều nhất chính là cách sử dụng ngôn ngữ Chính vì điều này đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện một số nét phong cách của nhà văn tài năng này

1.4.2 Các loại phong cách văn bản và sơ lược về phong cách khẩu ngữ

1.4.2.1 Các loại phong cách văn bản

Có rất nhiều các loại phong cách văn bản, phong cách văn bản ở đây chính là phong cách viết Bản thân tên gọi này đã ngụ ý rằng ở đây gồm những từ ngữ chỉ chủ yếu dùng trong sách vở, báo chí Người ta cũng thường

Trang 31

hiểu đằng sau tên gọi này còn có một ẩn ý khác: đó là lớp từ ngữ có được sự chọn lọc, được trau dồi, được “văn hoá” và gắn bó với chuẩn tắc nghiêm ngặt

Lớp từ ngữ thuộc phong cách văn bản bao gồm chủ yếu những từ ngữ thường xuyên được dùng gắn liền với nội dung của một số phong cách chức năng cụ thể như:

Phong cách khoa học: gắn bó với các thuật ngữ khoa học, các từ ngữ

chuyên môn hoá: đạo hàm, ẩn số, quỹ tích, âm vị, hình vị, từ pháp, ngữ

pháp, âm tố, phụ tố,

Phong cách hành chính công vụ: chủ yếu gồm các từ ngữ thường dùng

trong những văn bản pháp lí, ngoại giao, hành chính: công văn, công hàm,

công ước, hoà ước, tạm ước, hiệu lực, biên bản, sao lục, tố tụng, chiểu theo, đơn phương,

Phong cách chính luận báo chí: gồm những từ ngữ thường dùng trong các văn bản chính luận, bày tỏ thái độ, quan điểm: cộng sản, vô sản, tư sản,

đế quốc, thực dân, suy thoái, vũ trang, xâm lược, chiến tranh, cánh tả, cánh hữu, cấp trên,

Phong cách văn học (nghệ thuật): có thể tổng hoà các phong cách khác

bằng những thủ pháp riêng của từng thể loại và từng truyền thống văn học của mỗi dân tộc, mỗi giai đoạn

Vậy, phong cách văn bản có rất nhiều loại và mỗi loại được sử dụng trong một lĩnh vực riêng

1.4.2.2 Sơ lược về phong cách khẩu ngữ

Khẩu ngữ là một khái niệm chỉ một phong cách chức năng hiện thực của ngôn ngữ Phong cách khẩu ngữ còn gọi là phong cách ngôn ngữ nói hàng ngày hay phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày Ở bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại phong cách khẩu ngữ, bởi đây là một trong hai dạng tồn tại cơ bản (nói và viết) của ngôn ngữ loài người Tuy nhiên, sự tồn tại ấy không

Trang 32

giống nhau ở mỗi ngôn ngữ Phong cách khẩu ngữ tồn tại trong tiếng Việt với

tư cách là một kiểu giao tiếp mang tính phổ thông nhất Nó được hình thành

từ tập quán nói, thói quen ngôn ngữ của cộng đồng chủ yếu qua con đường tiếp xúc tự nhiên giữa mọi người trong mối quan hệ với gia đình, với cộng đồng chứ không thông qua sách vở

Có thể hiểu một cách đơn giản, “Phong cách khẩu ngữ tự nhiên là phong

cách giao tiếp phổ thông nhất, quan trọng nhất đối với đời sống con người, được dùng cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng xã hội” [19, 74]

Phong cách khẩu ngữ tự nhiên tồn tại trong mỗi ngôn ngữ không giống nhau là do văn hoá của mỗi dân tộc có sự khác biệt Thậm chí, trong cùng một ngôn ngữ, cùng một quốc gia dân tộc mỗi vùng địa phương khác nhau thì khẩu ngữ cũng không hoàn toàn như nhau Bên cạnh đó, khẩu ngữ còn giàu sắc thái biểu cảm Nghĩa là, trong khẩu ngữ luôn có yếu tố tình cảm, cảm xúc chen vào Trong giao tiếp, người nói luôn chú ý lựa chọn các phương tiện biểu cảm bởi họ muốn bày tỏ đầy đủ và trung thực cảm xúc, đánh giá của mình về hiện tượng đang được đề cập Vì thế, trong phong cách khẩu ngữ, các phương tiện tình thái biểu cảm được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là các ngữ khí

từ và cảm thán từ như: à, ư, nhé, ơi

Để tìm hiểu sâu hơn về khẩu ngữ, ta cũng nên nhắc tới lời nói với một

khái niệm liên quan là ngôn điệu “Có thể hình dung lời nói liên tục như là kết

quả của hai quá trình ngược nhau: quá trình làm nổi bật (prominence) và quá trình hoà kết (mergence) Nếu nhìn một cách biệt lập, cực đoan của quá trình làm nổi bật sẽ dẫn đến sự biểu hiện của các nét khu biệt ở từng thời điểm của các ngữ lưu ” [9, 65]

Đó là bản chất sâu hơn của lời nói trong sinh hoạt hàng ngày (khẩu ngữ) Nếu căn cứ vào đó thì lời nói là sự kết hợp những âm thanh có sẵn để tạo ra phát ngôn Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng mỗi người lại có lời nói

Trang 33

khác nhau, thể hiện những đặc trưng khác nhau Ngữ âm học gọi đó là các biến thể của một cái chung là bất biến thể Mỗi người sử dụng những từ ngữ khác nhau để thể hiện mục đích nói năng của mình là do họ có điều kiện sinh

tồn, học vấn, văn hoá, giới tính khác nhau “Về bản chất hệ thống âm thanh

của từng người có những khác biệt nhất định tạo nên những biến thể cá nhân trong lời nói Ngoài ra, mỗi âm vị xuất hiện trong lời nói cụ thể chúng có những chu cảnh khác nhau Những đặc điểm về chu cảnh của những yếu tố lân cận tác động vào thể chất âm vị làm chúng bị biến dạng, sai lệch so với hình dung “ban đầu” của chúng ta về hệ thống này” [8, 7] Tất cả những điều

này để khẳng định rằng: Lời nói trong sinh hoạt hàng ngày (khẩu ngữ) mang nặng bản chất cá nhân Nó được xử lí bởi chủ quan cá nhân và bị chi phối rất mạnh của tình cảm, cảm xúc Khẩu ngữ tự nhiên trong thực tế sử dụng rất đa dạng, phong phú Nó có khả năng làm tiềm tàng cho phong cách nghệ thuật vì bản thân nó là một chất liệu sinh động giúp cho các nghệ sĩ xây dựng tác phẩm Khẩu ngữ tự nhiên là hiện thực trực tiếp, là đối tượng phản ánh của văn học nghệ thuật Đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên thường được chuyển sang phong cách văn học nghệ thuật một cách dễ dàng Tuy nhiên, khi vào tác phẩm văn học, các đối thoại của khẩu ngữ tự nhiên phải được sáng tạo lại, chau chuốt lại cho phù hợp với phong cách nghệ thuật

1.5 VI HỒNG VÀ TÁC PHẨM

1.5.1 Vài nét về tác giả Vi Hồng

Nhà văn Vi Hồng (1936 – 1997) bút danh là Hà Thuý Slao, sinh ngày

13 – 7 – 1936 tại bản Phan Thin, xã Đức Long, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng Ông là người dân tộc Tày – một dân tộc thiểu số có nền văn hoá phát triển lâu đời Giống như bao con em dân tộc khác, nhà văn đến với tri thức bằng những khởi đầu không dễ dàng Nhưng với ý chí và quyết tâm hết mình,

Vi Hồng đã thâu lượm được một “ vốn liếng” tri thức, năm 1960 tốt nghiệp

Trang 34

khoa Ngữ văn Đại học Sư Phạm Hà Nội Từ năm 1966 đến cuối đời Vi Hồng

là cán bộ giảng dạy – Chủ nhiệm bộ môn Văn học Dân gian khoa Ngữ văn Đại học sư phạm Việt Bắc (nay là Đại học sư phạm Thái Nguyên) vừa nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số, vừa viết nhiều tác phẩm về đề tài miền núi

Những người gần gũi với nhà văn miêu tả về ông như sau: “ dáng đi

đạo mạo khác người, lưng thẳng, đầu hơi nghiêng thỉnh thoảng mới thấy nở một nụ cười rất ngụ ý, ai cũng không thể đoán được ông đang vui hay đang buồn” [41, 20] Trong con mắt của nhà thơ Tày Y Phương, Vi Hồng cũng “ giản dị thuần phác hệt một lão nông dân ở bản Đặc biệt, ông có đôi mắt rực sáng và ấm nóng Đôi mắt biết cười nhưng hầu như rất ít cười Giọng trầm, trìu mến, chân tình, ấm áp ” Vi Hồng là nhà văn là nhà văn có sức sống dẻo

dai, khả năng lao động và sáng tạo miệt mài Cuộc đời đã đặt ra cho ông nhiều thử thách như: cuộc sống miền núi vất vả, thiên nhiên khắc nghiệt, lại

mồ côi mẹ từ lúc 7 tuổi, sau này trưởng thành thì xã hội bao cấp khó khăn, đời sống giáo viên thiếu thốn Nhưng đây cũng là những phép thử để phát lộ khả năng chịu đựng và vươn lên: Vi Hồng sớm tự lập, sớm thành thạo việc nương rẫy, biết đan lưới bắt cá cải thiện đời sống

Con đường văn chương mà Vi Hồng một đời theo đuổi cũng có nhiều

trở ngại : “ Người dân tộc thiểu số viết văn bằng tiếng phổ thông thì bao giờ

cũng nên coi họ dùng một thứ “ ngoại ngữ” để viết văn Họ khổ sở cực nhọc trong khi vận dụng kho ngôn ngữ tiếng Việt để bộc lộ mọi ý đồ trong tác phẩm” [22, 64] Bên cạnh trở lực về ngôn từ là trở ngại về bệnh tật Những

năm cuối đời, khi tài năng vào lúc nở rộ nhất, nhà văn lại phải chống chọi với căn bệnh tâm phế mãn hiểm nghèo Thế nhưng 20 đầu sách xuất bản trong bốn năm mắc bệnh nặng (1990 – 1994) chính là minh chứng cho một nguồn sáng tạo không bao giờ vơi cạn

Trang 35

Ở Vi Hồng có sự hội tụ phẩm chất của rất nhiều con người khác nhau: nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà văn Với tư cách là một nhà giáo, Vi Hồng là người tận tâm với học sinh và tâm huyết với bài giảng Vi Hồng – nhà nghiên cứu lại là người có ý thức tìm hiểu và lưu giữ những giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc Vi Hồng – nhà văn là người miệt mài, cần cù sáng tạo như con ong “ luyện hương nhụy trăm hoa để thành mật” (chữ dùng của nhà văn) Cả cuộc đời Vi Hồng say mê cống hiến cho sự nghiệp trồng người và cho văn học nghệ thuật, những thành tựu ông đạt được là rất đáng kể

1.5.2 Vài nét về văn xuôi Vi Hồng

Tác phẩm đầu tiên đưa Vi Hồng đến với độc giả là truyện ngắn “ Ngôi sao đỏ trên đỉnh Phja Hoàng” được Tổng hội sinh viên trao giải nhì Sau đó, bút danh Vi Hồng trở nên quen thuộc với rất nhiều các truyện ngắn, công trình nghiên cứu văn học dân gian như truyện ngắn “ Cây su su nọng ỷ” (1962), “ Nước suối đào tiên” (1963), “ Cọn nước Eng Nhàn” (1971)

Năm 1980, cuốn tiểu thuyết đầu tay của Vi Hồng mang tên “ Đất Bằng”

ra đời và được đánh giá cao Từ năm 1985 trở đi, với nghị lực lao động phi thường, Vi Hồng đã cho ra đời một loạt tiểu thuyết mang đậm bản sắc dân tộc như các tiểu thuyết: “ Núi cỏ yêu thương” (NXB Thanh niên - 1984), “ Thung lũng đá rơi” (NXB Văn hoá -1985), “ Người trong ống” (NXB Lao động - 1990), “ Lòng dạ đàn bà” (NXB Thanh niên - 1992), “ Tháng năm biết nói” (NXB Dân tộc - 1993), “ Chồng thật vợ giả” (NXB Thanh niên - 1994),

“ Đi tìm giàu sang” (NXB Văn hoá dân tộc - 1995)

Văn Vi Hồng vừa mang đậm phong vị thơ ca dân gian Tày Nùng vừa đậm chất trí tuệ bác học Đọc tác phẩm của ông, ta thấy hồn cốt văn chương ông thật gần gũi, thân thuộc, bình dị như bữa cơm tẻ miền núi, như bát canh thịt gà nấu gừng rượu, như bánh cuốn nóng, như mùi măng xào với lá mác mật Hội thoại giữa các nhân vật trong văn xuôi Vi Hồng cũng mang đậm

Trang 36

nét lối nói của dân tộc vùng Việt Bắc Ngôn ngữ trong văn của ông đã thực sự gây được hiệu quả thẩm mỹ to lớn đối với người đọc

Nhìn lại sự nghiệp văn chương của Vi Hồng, chúng ta càng trân trọng khát vọng sáng tạo luôn cháy bỏng trong ông cũng như sự công phu lao động

chữ nghĩa của ông Đúng như những người quý trọng ông đã nhận xét: “ Đi

tìm mẹ chữ ở tuổi thiếu niên, anh là người sáng tạo một khối chữ khổng lồ ở tuổi 60 trước lúc qua đời”

1.7 TIỂU KẾT

Chương này đã trình bày khái quát những vấn đề lý thuyết cơ bản làm

cơ sở lý luận cho luận văn Đó là lý thuyết về từ, cụm từ, câu,lý thuyết về một

số biện pháp tu từ tiếng Việt, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết về hội thoại, lý thuyết về phong cách học Bên cạnh đó luận văn cũng trình bày một

vài nét về tác giả Vi Hồng cũng như sự nghiệp sáng tác của ông Tất cả các vấn đề lý thuyết trên đây đều là cơ sở lý luận cho chúng tôi tiến hành những vấn đề nghiên cứu trong luận văn

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM

VĂN XUÔI VI HỒNG

Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được tất cả các nhu cầu của con người Sở dĩ ngôn ngữ trở thành một công cụ giao tiếp vạn năng của con người một phần vì nó hành trình cùng con người, từ lúc con người xuất hiện

cho đến tận ngày nay Chính vì vậy, trong sáng tác văn chương ngôn ngữ là

phương tiện cơ bản và quan trọng nhất để thể hiện đặc điểm của tác phẩm Nhà văn Vi Hồng đã sử dụng tương đối hiệu quả các phương tiện ngôn ngữ trong các sáng tác của mình

Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong văn xuôi Vi Hồng không thể không tìm hiểu các phương tiện ngôn từ mà ông đã dùng Có thể nói, làm nên phong cách riêng, trong đó có màu sắc dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng một phần là bởi hệ thống từ ngữ được ông lựa chọn

Không kể những lớp từ ngữ tiếng Việt giàu hình ảnh như các nhà văn khác thường dùng, trong văn Vi Hồng còn có khá nhiều từ ngữ của tiếng dân tộc, từ địa phương và lớp từ khẩu ngữ tiếng Việt,…

Ngoài những lớp từ vừa nói được nhà văn Vi Hồng sử dụng khá nhuần nhuyễn, về cấu trúc ngữ pháp, ông còn dùng nhiều cách kết hợp từ ngữ theo lối nói riêng của người Tày

Chương này chỉ tập trung nghiên cứu bốn lớp từ ngữ góp phần làm nên đặc điểm của văn Vi Hồng, đó là:

1) Lớp từ ngữ của tiếng dân tộc;

2) Lớp từ khẩu ngữ tiếng Việt;

3) Lớp từ địa phương tiếng Việt;

4) Lớp từ ngữ riêng của Vi Hồng;

Trang 38

2.1 LỚP TỪ NGỮ CỦA TIẾNG DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 2.1.1 Nhận xét chung

Tiếng dân tộc là tiếng của một dân tộc nào đó Luận văn này hiểu khái niệm tiếng dân tộc theo nghĩa hẹp: khái niệm tiếng dân tộc ở đây dùng để chỉ ngôn ngữ của một dân tộc nhỏ (dân tộc thiểu số) trong đại dân tộc Việt Nam như ngôn ngữ của dân tộc Tày (tạm gọi tắt là tiếng Tày), ngôn ngữ của dân tộc Mông (gọi tắt là tiếng Mèo), v.v…

Tiếng dân tộc chủ yếu được dùng trong phạm vi một dân tộc Từ ngữ của tiếng dân tộc là từ ngữ của một ngôn ngữ dân tộc thiểu số nào đó Ngoài chức năng định danh, từ của tiếng dân tộc có chức năng biểu cảm

Nhà văn Vi Hồng là người luôn có ý thức với cái hồn của dân tộc mình Ông là một trong số những nhà văn đã sử dụng vốn từ ngữ tiếng Tày một cách hiệu quả trong các sáng tác để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo của vùng quê mình Tác giả đã đưa vào trong các tác phẩm của mình hệ thống từ ngữ tiếng Tày một cách tự nhiên, sinh động

- Về số lượng và tần số sử dụng:

Văn xuôi Vi Hồng sử dụng hệ thống từ, ngữ của ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là lớp từ ngữ tiếng Tày một cách rộng rãi (cũng chỉ thấy tiếng Tày được dùng trong tác phẩm của Vi Hồng) Theo tư liệu điều tra của chúng tôi, số lượng từ ngữ tiếng dân tộc mà ông sử dụng khá lớn Kết quả khảo sát của chúng tôi bước đầu thu được là 122 từ, ngữ với tần số xuất hiện là 1530 lượt

Số lượng từ, ngữ và tần số sử dụng này đã góp phần không nhỏ tạo nên phong cách ngôn ngữ mang đậm nét riêng của văn Vi Hồng - một nhà văn người dân tộc thiểu số đã từng nhận khá nhiều giải thưởng

- Về chức năng:

Lớp từ ngữ này được tác giả giả sử dụng để gọi tên nhân vật trong tác phẩm, gọi tên các sản vật ở địa phương, các địa danh cũng như miêu tả phong tục tập quán của người dân miền núi phía Bắc mà tiêu biểu là quê hương Việt Bắc

Trang 39

- Về từ loại:

Khi đọc tác phẩm của Vi Hồng nhiều độc giả sẽ cảm thấy hấp dẫn bởi một phần những từ ngữ tiếng dân tộc Tày mà tác giả sử dụng Số liệu dưới

đây có được bằng việc khảo sát 5 tác phẩm văn xuôi đó là “Chồng thật vợ

giả”, “Phụ tình”, “Lòng dạ đàn bà”, Núi cỏ yêu thương” và “ Tháng năm biết nói” Có thể nói rằng, đây là những tác phẩm ghi đậm dấu ấn bản sắc dân

tộc trong các sáng tác của ông, như đã nói ở trên một phần là bởi hệ thống từ ngữ của tiếng Tày mà tác giả đã dùng

Dưới đây là kết quả khảo sát số lượng từ ngữ tiếng Tày được dùng trong 5 tác phẩm chúng tôi đã chọn làm nguồn ngữ liệu thống kê vừa nói trên

Bảng 1: Bảng tổng kết số liệu từ ngữ tiếng Tày dùng trong một số tác phẩm

Trang 40

2.1.2 Phân loại lớp từ ngữ tiếng Tày trong tác phẩm của Vi Hồng

Có thể phân loại lớp từ ngữ tiếng Tày được nhà văn Vi Hồng sử dụng

từ nhiều góc độ nhưng luận văn này chỉ dựa vào 2 tiêu chí, đó là dựa vào chức năng và ngữ pháp

2.1.2.1 Phân loại theo chức năng

Có thể thấy, điểm nổi bật trong các sáng tác của Vi Hồng là ở khả năng sử dụng đan xen các từ ngữ tiếng dân tộc tạo nên ấn tượng đặc biệt với độc giả Với việc sử dụng hiệu quả lớp từ ngữ tiếng Tày, tác phẩm của ông làm cho người đọc cảm nhận được cuộc sống hơi thở của đồng bào dân tộc ở Việt Bắc

Từ ngữ tiếng Tày được nhà văn Vi Hồng sử dụng chủ yếu để gọi tên nhân vật trong tác phẩm, hành động của người, tính chất của sự vật; tên địa danh; tên các sản vật ở địa phương; đồ dùng trong gia đình hay nói về các phong tục của người Tày, v.v…

Có thể nói, với 122 từ ngữ tiếng Tày và 1530 lượt xuất hiện, chúng đã làm cho từng trang viết của Vi Hồng hiện lên rõ nét những địa danh, nhân vật, các sản vật, đồ dùng… và phong tục của người Tày

Chức năng định danh là chức năng cơ bản của các từ ngữ tiếng dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng Dưới đây là một số loại đối tượng có tên gọi bằng tiếng Tày được Vi Hồng dùng khá thường xuyên trong 5 tác phẩm đã dẫn

- Từ ngữ tiếng Tày dùng để gọi tên nhân vật trong tác phẩm:

Trong số 122 từ ngữ tiếng Tày được dùng trong 5 tác phẩm nói trên, có

47 từ ngữ được dùng để gọi tên nhân vật trong tác phẩm Với cách đặt tên

như: Tốc Thiêng, Thể Soai, Va Đáo, Lai Cảng, Cảo Mẳng, Hoong Vằn, Thieo

Si, Rằng Xao… người đọc cảm nhận tác phẩm của Vi Hồng đậm chất Tày ở

miền núi đông Bắc Xin dẫn một vài ví dụ:

Ví dụ (1): Rằng Xao bỗng thấy thương bố, anh nhỏ nhẻ, nhẹ nhàng thanh minh với ông bố già mong ông vui lòng mà tĩnh dưỡng thuốc thang

[50,85]

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w