1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của vũ bằng luận văn thạc sĩ ngữ văn

218 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng
Tác giả Võ Thị Vân
Người hướng dẫn GS.TS Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHVÕ THỊ VÂN CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA VŨ BẰNG CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 60.22.02.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THỊ VÂN

CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA VŨ BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THỊ VÂN

CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA VŨ BẰNG

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ THỊ KIM LIÊN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn với đề tài “Cách sử dụng thành ngữ trong

tác phẩm của Vũ Bằng”, bản thân tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS

Đỗ Thị Kim Liên- người đã trực tiếp tận tình giúp đỡ tôi trong việc cung cấp tài liệu và hướng dẫn phương pháp nghiên cứu luận văn được tốt Đồng thời qua đây, tôi xin tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ rất nhiều trong quá trình làm luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn của mình

Luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót,

vì vậy rất mong được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn!

Vinh, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Võ Thị Vân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Vũ Bằng (1913 – 1984) là một nhà văn xuất sắc, có những đóng góp cho văn học Việt Nam giai đoạn trước và sau 1975 Trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của mình, ông được các văn nghệ sĩ đương thời mến phục với một vốn kiến thức sâu rộng Ông hoạt động sôi nổi trên nhiều lĩnh vực: báo chí, dịch thuật, nghiên cứu văn chương, sáng tạo văn chương,… với nhiều thể loại: truyện, ký, tạp văn,… Ở lĩnh vực nào ông cũng để lại dấu ấn là một cây bút tràn đầy nhiệt huyết với nghề, với văn học, văn hóa dân tộc Có thể nói, qua những trang viết đầy sáng tạo của mình, Vũ Bằng đã thể hiện được quan niệm sống, quan điểm nghệ thuật đầy sáng tạo trong việc sử dụng ngôn từ, xây dựng nhân vật, tình huống, cốt truyện,… Bằng ngòi bút sắc bén và tinh tế,

Vũ Bằng đã bám sát đời sống, dùng lối viết gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, đặc biệt là sử dụng thành ngữ một cách khá nhuần nhuyễn, đặc sắc Điều này đã tạo được hiệu quả cao, gây được ấn tượng cảm xúc thẩm mĩ người đọc, góp phần làm cho tiếng Việt phong phú, giàu đẹp Chính vì vậy,

Vũ Bằng luôn là đối tượng được các nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm.

1.2 Trong văn bản nghệ thuật, nhiều nhà văn đã sử dụng thành công nhiều đơn vị ngôn ngữ, trong đó có thành ngữ trong tác phẩm của mình Qua các thành ngữ đó, chúng ta có thể nhận ra đặc điểm phong cách nhà văn trong việc thể hiện tính cách nhân vật, thể hiện hoàn cảnh, môi trường sống, nếp nghĩ, cách tư duy của nhân vật, và với vốn thành ngữ đó, chúng ta hiểu được tri thức, kinh nghiệm sống của nhà văn Các nhà văn mà tiêu biểu là Vũ Bằng

đã vận dụng rất linh hoạt, phong phú và đa dạng vốn thành ngữ vào trong sáng tạo nghệ thuật của mình nhằm thể hiện quan điểm sáng tác, quan niệm

về con người, triết lí nhân sinh, đồng thời thể hiện được dấu ấn cá nhân rất riêng của mình Việc đi sâu nghiên cứu cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng là một việc làm cần thiết, có giá trị bổ sung lí thuyết về

Trang 7

thành ngữ trong hành chức nói chung và giảng dạy phần thành ngữ trong nhà

trường nói riêng Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: Cách sử dụng thành

Trước hết, công trình của Nguyễn Văn Tu (1968), Từ vựng học tiếng

Việt hiện đại cho rằng: “Những thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó

đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không

có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do như từ nguyên học” [57, 147].

Mặt khác, ông cũng cho thấy thành ngữ trong tiếng Việt phần lớn là những câu rút gọn Thành ngữ có thể trùng với những tục ngữ hoặc chỉ là một

bộ phận của tục ngữ Căn cứ vào kết cấu ngữ pháp của chúng, ông chia làm hai loại: câu đơn giản và câu phức tạp [57, 151- 152].

Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ tiếng Việt đã đi sâu những

điểm nổi bật của thành ngữ: a) Về ý nghĩa: ý nghĩa của thành ngữ thường không thể giải thích được trên cơ sở những yếu tố tạo thành Thành ngữ luôn gắn liền với điều kiện lịch sử của một xã hội, một tập đoàn người nhất định.

Về hình thức, ông chia ra hai nhóm thành ngữ theo quan hệ cú pháp: quan hệ đối xứng và phi đối xứng Bên cạnh đó, tác giả đã có sự phân biệt khá rạch ròi

thành ngữ và tục ngữ: “Khác với tục ngữ có chức năng thông báo ấy, thành

ngữ chỉ là tên gọi của sự vật, trạng thái hay hành động, đúng hơn là tên gọi của những khái niệm này…”[45, 213].

Trang 8

Nguyễn Lực – Lương Văn Đang (1993), Thành ngữ tiếng Việt đã phân

biệt tục ngữ và thành ngữ rất rõ ràng, bên cạnh đó còn chỉ ra mối liên hệ giữa hai loại hình này chủ yếu là xét về mặt nghĩa, mặt nhận thức của con người.

Hai tác giả đã phân biệt: “Nội dung của thành ngữ là những khái niệm, nội

dung của tục ngữ là những phán đoán Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ là quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội, phản ánh lối sống của thời đại, lối nghĩ của nhân dân, lối nói của dân tộc Thành ngữ thuộc hiện tượng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chung của cộng đồng dân tộc Chính trong lối nghĩ, lối nói của nhân dân thường không thể nào tách rời hình thức biểu đạt của nó” [38, 21-22].

Tác giả Hoàng Văn Hành (2002) trong Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ đã

dành hẳn một chuyên luận bàn về đặc điểm cấu tạo-ngữ nghĩa của thành ngữ Tác giả không đi sâu nghiên cứu tục ngữ mà tục ngữ chỉ được so sánh với thành ngữ để làm nổi bật những nét đặc thù riêng của thành ngữ

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên (2006), Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn

ngữ nghĩa- ngữ dụng cũng đã phân biệt tục ngữ và thành ngữ dựa trên các

tiêu chí: hình thức, cấu trúc, chức năng, ý nghĩa, tác động một cách rất rõ ràng [37, 29 - 32]…

Đặc biệt, Hoàng Văn Hành (2010) trong cuốn Tuyển tập ngôn ngữ học ,

khi tìm hiểu về cấu tạo thành ngữ, ông chia thành ngữ làm hai loại: Thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hoá Sau đó, ông còn đưa ra những nhận định

về thành ngữ: “Một là, nếu thừa nhận rằng đặc trưng bản chất của thành ngữ

là những tổ hợp từ bền vững, có nghĩa bóng bẩy, thì sự phân loại và miêu tả thành ngữ dựa vào phương thức chuyển nghĩa của chúng là sự phân loại và miêu tả hợp lí Hai là, mọi sự khó khăn và phức tạp trong sự nhận diện các đơn vị được gọi là thành ngữ, có thể có là do tính chất trung gian hay tính chất chuyển tiếp của chúng Bởi lẽ thành ngữ là những đơn vị thuộc ngôn ngữ Không phải vô cớ mà các nhà ngôn ngữ học coi thành ngữ là những đơn vị từ vựng hoá tức là những đơn vị vốn là những tổ hợp từ tự do trong lời nói đã

Trang 9

được cố định hoá và đi vào vốn từ vựng như những đơn vị ổn định Và cũng không phải là không có lí khi các nhà nghiên cứu Văn học dân gian xếp thành ngữ vào cái vốn của vốn văn hoá dân gian, bên cạnh tục ngữ, ngạn ngữ và ca dao v.v…”[24, 440].

Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến các công trình, các bài báo khác như:

Nguyễn Văn Mệnh (1972), “Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, tạp chí Ngôn ngữ, số 3.

Cù Đình Tú (1973), “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ”, tạp chí Ngôn ngữ, số 1.

Phan Văn Quế (1995), “Góp phần tìm hiểu và sử dụng đúng thành ngữ

trong giao tiếp và trong văn chương”, Tạp chí Văn học, (7).

Hoàng Anh (2003), “Về cách sử dụng thành ngữ- tục ngữ trên báo chí”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 10.

Cho đến nay, vấn đề nghiên cứu về cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn chương được rất nhiều người quan tâm, chú ý Tiêu biểu hơn cả là

các bài viết như: Nguyễn Thái Hoà, “tìm hiểu cách dùng thành ngữ, tục ngữ

trong các bài nói bài viết của Hồ Chủ Tịch”; Nguyễn Đức Dân, “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng”; Đặng Thanh Hoà, “Thành ngữ và tục ngữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương”;… Một số luận văn thạc sĩ cũng đã khai thác

đến vấn đề này: Lê Thị Tú Anh, “Cách sử dụng thành ngữ trong truyện Kiều

của Nguyễn Du”; Nguyễn Thị Thuý Hoà, “Cách sử dụng thành ngữ trong các bài nói bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh”…

Như vậy, có thể nhận thấy, những tác giả trên đã đi vào tìm hiểu sự hành chức của thành ngữ nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng

2.2 Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Vũ Bằng

Vũ Bằng được giới nghiên cứu phê bình tìm hiểu trên rất nhiều phương diện Đáng chú ý là các bài báo, các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Trang 10

Vũ Ngọc Phan (2008), trong Vũ Ngọc Phan tuyển tập (tập 2), đã nhận xét về nghiệp văn của Vũ Bằng “Tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần với tiểu

thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật, dù là họ ở vào hoàn cảnh nghèo khổ hay cảnh giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút

dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút; còn về hoàn cảnh, ông chỉ tả sơ sơ; ông chú trọng cả vào hành vi của các nhân vật, vì những hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết và gây nên những cảnh riêng biệt cho nhân vật…”[49,

243].

Trong số trước tác của Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai là tác phẩm tiêu biểu cho tâm tư và phong cách viết của ông Trong lời giới thiệu Thương nhớ

mười hai, Giáo sư Hoàng Như Mai đã khẳng định sức hấp dẫn của tác phẩm:

“Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn

bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương bên kia giới tuyến Chính tấm lòng ấy cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng từng trang” Đồng thời ông nhấn mạnh, tác phẩm này có ý nghĩa “như một nhịp cầu giao lưu văn hoá” vì nó đã giới thiệu “Những sản vật từng tháng ở miền Bắc nước ta” góp phần “làm cho bạn bè năm châu hiểu biết thêm một khía cạnh đặc sắc của nước mình” và “làm cho mỗi chúng ta có ý thức trân trọng hơn đối với những giá trị của văn chương” [VII, 6].

Khi nhận xét về lối văn phong Vũ Bằng, Nguyễn Vỹ cũng có cái

nhìn rất tinh tế: “Anh có lối tả chân thật đặc biệt và trào phúng chuyên môn,

có khi nhẹ nhàng, khả ái như Alphonse Daudet, có khi câu kì lí thú như Courteline Tôi không nói Vũ Bằng là một văn hào, nhưng chắc chắn anh là một nhà văn Việt Nam độc đáo trên lĩnh vực tả chân trào phúng, trước đây

và bây giờ” [61, 281]

Bên cạnh đó, chúng ta cũng còn phải kể đến một số Luận văn Thạc sĩ

về tác phẩm của Vũ Bằng như: Quan niệm của Vũ Bằng về tiểu thuyết (Đại học Vinh); Chế Thị Lê Mỹ (2004), Văn xuôi viết về ẩm thực qua sáng tác của

Trang 11

Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng (Đại học Vinh); Phạm Thị Kim Phương

(2008), Tìm hiểu truyện ngắn Vũ Bằng (Đại học Vinh); Lê Thị Hoài An (2009), Phong cách kí Vũ Bằng (Đại học Vinh); Phan Thị Quỳnh Trang (2009), Nghệ thuật trần thuật trong kí Vũ Bằng (Đại học Vinh); Nguyễn Thị Thư (2010), Nghệ thuật dựng chân dung văn học của Vũ Bằng và Tô Hoài (Đại học Vinh); Phạm Thị Dung (2011), Đặc điểm ngôn ngữ hồi ký Vũ Bằng

qua Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Đại học Vinh);… Nhìn chung,

những đề tài nghiên cứu trên đã đi vào tìm hiểu cảnh sắc, con người với những món ăn ẩm thực, nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc sắc truyện ngắn cũng như phong cách nhà văn một cách sâu sắc và toàn diện, khoa học

Về vấn đề sử dụng thành ngữ trong các tác phẩm của Vũ Bằng, chúng tôi thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống.

Từ thực tiễn trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Cách sử dụng

thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng”

Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi đi vào khảo sát thống kê và chỉ ra cách vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng Đồng thời, qua đề tài chúng tôi còn tìm hiểu những đóng góp quan trọng trong sáng tác của Vũ Bằng góp phần làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ tiếng Việt.

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm của Vũ Bằng gồm:

Trang 12

VI Vũ Bằng, (2006), Vũ Bằng toàn tập (tập 3), “Bát cơm” (1971), Nxb

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của đề tài này là:

- Thống kê số lượng thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm của nhà văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp:

Trang 13

5.1 Phương pháp thống kê – phân loại

Chúng tôi đã thống kê số lượng thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm được chọn làm tư liệu Từ đó, phân loại thành các tiểu loại khác nhau để sau đó đưa ra những nhận định phù hợp Đây là cơ sở để làm rõ các vấn đề trọng tâm.

5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Trên cơ sở kết quả thống kê phân loa ̣i, chúng tôi tiến hành phân tích cấu trúc và giá tri ̣ biểu đa ̣t của thành ngữ được sử du ̣ng trong từng ngữ cảnh khác nhau.

5.3 Phương pháp so sánh

Với phương pháp này, chúng tôi tiến hành so sánh số lượng thành ngữ được dùng so với tục ngữ trong tác phẩm của nhà văn, và so sánh thành ngữ trong lòng của nó khi đi vào khảo sát tác phẩm Vũ Bằng.

5.4 Phương pháp tổng hợp

Phương pháp này được tiến hành cuối mỗi phần, mỗi chương và phần kết luâ ̣n

6 Đóng góp mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào viê ̣c tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng, từ đó chỉ ra được du ̣ng ý nghê ̣ thuâ ̣t và hiê ̣u quả sử du ̣ng của mỗi nhà văn Đồng thời, qua đó cho ta thấy lối văn phong trong sáng ta ̣o nghê ̣ thuâ ̣t ở nhà văn.

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:

Chương 1 Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng xét về cấu tạo,

nguồn gốc và chức năng ngữ pháp

Chương 3 Thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng xét về ngữ nghĩa

Trang 14

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

nghĩa Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm” [14, 157]

Hồ Lê (1976) trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, cũng đưa ra quan niệm về thành ngữ: “Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm

nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó.” [33, 97]

Nguyễn Thiện Giáp (2008) trong Giáo trình ngôn ngữ học, đưa ra định nghĩa: “Thành ngữ (idiom) là những cụm từ trong cơ cấu cú pháp và ngữ

nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó.” [20, 209]

Nguyễn Văn Tu (1968) trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, cũng đưa

ra nhận xét: “Thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc

lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do như

từ nguyên học.” [57, 147]

Hay theo Hoàng Phê (2010), Từ điển tiếng Việt, cũng đưa ra khái niệm: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó

Trang 15

thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên.” [50, 1178]

Tác giả Hoàng Văn Hành (2010) trong Tuyển tập ngôn ngữ học, lại cho rằng: “Theo cách hiểu thông thường, thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố

định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được

sử dụng với những chức năng như từ.” [24, 429]

Tóm lại, mặc dù đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những cách nhìn khác nhau về thành ngữ, tuy vậy, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về

khái niệm thành ngữ như sau: Thành ngữ là cụm từ cố định, có kết cấu vững

chắc, có ý nghĩa hoàn chỉnh, bóng bẩy, được sử dụng tương đương như từ.

1.1.2 Đặc trưng thành ngữ

Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, thuộc cấp độ ngữ (cố định), có chức năng cấu tạo câu Xét về đặc trưng của thành ngữ, chúng ta thấy thành ngữ có bốn đặc trưng cơ bản: về kết cấu, về nghĩa, về sử dụng, đặc trưng về tính dân tộc.

1.1.2.1 Đặc trưng về kết cấu

Thành ngữ tiếng Việt phổ biến thuộc loại cụm từ cố định, có tính cố định cao, kết cấu vững chắc Sự vững chắc về kết cấu được thể hiện rõ ở các mặt như: số lượng tiếng ổn định, trật tự các vế cố định.

a Số lượng tiếng ổn định:

Như chúng ta đã biết, thành ngữ xét về số lượng có ít nhất là 2 tiếng (mát tay, vui tính, tay trắng,…) nhưng ý kiến chung cho rằng thành ngữ phải có từ 3 âm tiết trở lên (bé hạt tiêu: nghĩa là cảm giác bé, khôn…) loại

này chủ yếu là thành ngữ so sánh như: khoẻ như trâu, nhanh như chớp,

nóng như lửa, đẹp như tiên, trắng như tuyết…

Thành ngữ 4 âm tiết, (chân lấm tay bùn, màn trời chiếu đất, chết đi

sống lại,…) chiếm 70% thành ngữ tiếng Việt, âm tiết chẵn, chia làm hai vế

tạo nên sự cân đối hài hoà, làm kết cấu của thành ngữ bền chặt, nghĩa của

Trang 16

thành ngữ vì thế được nhấn mạnh Chính vì điều này, tính cân đối hài hoà giống như một đặc trưng của thành ngữ.

Thành ngữ có 5 âm tiết: loại này có số lượng rất ít: Bán trời không văn tự,

vải thưa che mắt thánh, chạy trời không khỏi nắng, đũa mốc chòi mâm son,…

Loại 6 âm tiết có số lượng lớn thứ hai sau 4 âm tiết: đâm bị thóc, chọc

bị gạo; ông nói gà, bà nói vịt; trống đánh xuôi, kèn thổi ngược;…

Loại 7, 8 âm tiết số lượng cũng ít: lừ đừ như ông từ vào đền, lanh chanh

như hành không muối, đám lang bò sang đám bí,…

b Trật tự các vế của các tiếng trong thành ngữ ổn định, ít thay đổi Thành ngữ 4, 6 âm tiết có thể đổi trật tự nhưng người ta thường không đổi vì đã được sử dụng thành thói quen.

Chẳng hạn: chân lấm tay bùn -> chân bùn tay lấm

thượng cẳng chân hạ cẳng tay -> thượng cẳng tay hạ cẳng chân

Như vậy, đây không phải là biểu hiện của tính không ổn định trong kết cấu mà chỉ là hiện tượng dị bản vì thành ngữ là sản phẩm của truyền miệng.

c Sự có mặt của từng yếu tố trong thành ngữ là ổn định.

Chẳng hạn, ăn trên ngồi trốc: ở trong câu thành ngữ này “trốc” vẫn

được giữ nguyên dù người miền Bắc và người miền Nam trong đời sống

không nói: “trốc” (đầu) Như vậy, sự tác động của yếu tố nào trong thành ngữ không tác động đến nghĩa của thành ngữ Ví dụ, vắt cối chày ra nước, hay, vắt

cổ chày ra nước thì đều cùng chỉ sự keo kiệt.

1.1.2.2 Đặc trưng về nghĩa

Đặc trưng nổi bật của thành ngữ là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa của nó Nghĩa của thành ngữ hoàn chỉnh vì nó biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng nói về các thuộc tính, quá trình, hay sự vật Hay nói cách khác, thành ngữ là những đơn vị có nghĩa biểu trưng (tức đưa A mà không nói A) theo tính chất hàm ẩn Nghĩa biểu trưng này được biểu hiện ở hai phương diện: nghĩa biểu trưng và ở bình diện bậc.

Trang 17

Trước hết, nghĩa biểu trưng là trên cơ sở sự liên tưởng của từng dân tộc, gắn với đặc trưng văn hoá nhằm đảm bảo tính lôgic khách quan, phù hợp với tâm lí dân tộc.

Bên cạnh đó, xét ở bình diện bậc: bậc 1: tiếp xúc hình ảnh (nghĩa đen):

chẳng hạn như: ngứa mồm ngứa miệng → nghĩa đen nhằm chỉ “có cảm giác muốn

gãi ở mồm ở miệng”.

Thượng cẳng chân hạ cẳng tay → Chỉ hành động “đưa (hay giơ) cẳng chân

lên, hạ cẳng chân xuống”.

bậc 2: tiếp nhận (đây là nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng được toát ra từ

chỉnh thể) Chẳng hạn như: thành ngữ ngứa mồm ngứa miệng còn được hiểu

theo nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng: “Thích nói choa vào việc của người khác mặc dù không có liên quan gì đến mình.”

Hay, thành ngữ thượng cẳng chân hạ cẳng tay cũng mang theo tầng

nghĩa 2 (nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng): “Đánh túi bụi, tàn ác, đấm đá không tiếc tay”.

Như vậy, thành ngữ là loại đơn vị từ vựng có lượng nghĩa đôi “Hai

nghĩa ấy gần như song song tồn tại: Nghĩa đen là cơ sở, là gốc; nghĩa bóng, hay nghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình thành nhờ quá trình biểu trưng hoá” [24, 431].

Chẳng hạn: lên voi xuống chó → dùng “voi”, “chó” để nói địa vị con người “voi” là biểu trưng cho địa vị cao sang, “chó” biểu trưng cho địa vị

thấp hèn Đây là hai hình ảnh biểu trưng, phù hợp với tâm lí người Việt Nam

(voi gắn liền với chiến tướng nên được coi là cao sang, chó là ở trong nhà là

con vật tầm thường nên coi là thấp hèn).

Hay, thành ngữ ngang như cua nhằm chỉ tính chất ương ngạnh Hình

ảnh này có tính lôgic vì để biểu thị tính chất ương ngạnh phải tìm được hình

ảnh của một con vật như con cua – bò ngang.

Trang 18

Hay, thành ngữ con rồng cháu Tiên nhằm gợi lòng tự tôn tự hào;

rồng, tiên chỉ sự cao sang (gắn liền với truyền thống quan niệm nòi giống dân tộc Việt).

Ngoài ra, xét về nội dung ý nghĩa, chúng ta thấy rằng thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ, nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có tính nghệ thuật Chẳng hạn trong các trường hợp sau:

“rộng” ≈ cò bay thẳng cánh (nhằm nhấn mạnh thêm mức độ của từ là

Ví dụ: - Mày là loại người sống buông thả (không giữ gìn trong quan

hệ) thì buông thả là từ Nhưng nếu nói: đồ mèo mả gà đồng thì “mèo mả gà

đồng” là thành ngữ.

Tóm lại, Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa định danh, nhưng là loại đơn vị định danh bậc hai, nên nghĩa của nó có tính bóng bẩy Nghĩa này nó được biểu hiện dưới nhiều phương tiện khác nhau như: ẩn dụ, hoán

Trang 19

hợp các ngữ tự do hoặc quán ngữ mà nó được tạo thành trên cơ sở khái quát

và tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các thành tố (tầng nghĩa thứ hai) Chính

do đặc điểm này, nên việc thành ngữ khi đi vào sử dụng có sự thay đổi một vài yếu tố hoặc thêm, lược, đảo trật tự của các vế trong kết cấu của chúng, phần đa, cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa mà ngược lại, nhờ vào sự biển đổi linh hoạt của thành ngữ đã tạo nên cho thành ngữ có nhiều biến thể, rất uyển chuyển và sử dụng sinh động, phong phú hơn Mặt khác, thành ngữ không chỉ tạo cảm giác cho người tiếp nhận không bị gò bó, nhàm chán mà ngược lại, tạo sức lôi cuốn, hấp dẫn Đồng thời, nhằm nhấn mạnh ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải một cách ngắn gọn, súc tích với lượng nội dung thông tin rất hiệu quả.

Bên cạnh đó, về mặt ngữ pháp: chúng ta thấy, từ đảm nhiệm chức năng nào trong câu thì thành ngữ cũng có khả năng đảm nhiệm chức năng ở những

vị trí đó Chẳng hạn:

(1) Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao Vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn

đảo mười mấy năm trường, gian nan cực khổ Nhưng lòng son dạ sắt, yêu

nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết.

[47, 117]

(2) Thấy cái thế mạnh bạt sơn cử đỉnh của Nhật lúc bấy giờ, ai cũng

tưởng họ sẽ ở lì cố hỉ mà nước mình sẽ là một “cái mặt trời nhỏ” trong lá cờ

vĩ đại của “đại cường Phù Tang”, nhưng lại lầm phen nữa [VIII, 389]

1.1.2.4 Đặc trưng về tính dân tộc

Như chúng ta đã biết, thành ngữ mang tính dân tộc vì những lí do sau: Trước hết, thành ngữ thể hiện cách nói điển hình, đặc trưng của người Việt :

nói so sánh ví von, ẩn dụ, khoa trương,… Chẳng hạn như: mèo mả gà đồng,

múa rìu qua mắt thợ, ếch ngồi đáy giếng (ẩn dụ) áo chiếc quần manh, chân lấm tay bùn, một nắng hai sương,… (hoán dụ); ướt như chuột lột, đẹp như tiên, nhanh như chớp (ví von, so sánh) Chính đặc điểm này đã tạo cho thành

Trang 20

ngữ giàu hình ảnh, bóng bẩy mang giá trị biểu trưng cao trong lời văn nghệ thuật nhằm góp phần thể hiện nội dung, tư tưởng tác phẩm mà nhà văn, nhà thơ muốn gửi gắm Bên cạnh đó, thành ngữ còn nhằm phản ánh những suy nghĩ, phong tục tập quán gắn với từng dân tộc.

Chẳng hạn, người Việt Nam nói : đắt như tôm tươi nhằm chỉ sự đắt đỏ Còn người Anh thì nói: đắt như bánh nóng (Expensive like hot cakes ); tai

vách mạch rừng (người Việt), còn người Anh thì nói: tường vách có tai (walls have ears); mất bò mới lo làm chuồng (người Việt) ngược lại người Anh lại

nói: mất ngựa rồi mới khoá cửa chuồng thì quá muộn (It is too late to lock the

stable when the have is stolen); của rẻ là của ôi (người Việt) thì người Anh lại

nói: rẻ nhất lại là đắt nhất (Cheapest is dearest)…

Hay: rẻ như bèo (người Kinh) còn rẻ như đất (người Tày).

Tóm lại, thành ngữ tiếng Việt rất linh hoạt và uyển chuyển trong sử dụng, đặc biệt là trong sáng tạo văn chương nghệ thuật nhằm tạo ra giá trị biểu cảm cao Chính nhờ điều này, mà không ít nhà văn, nhà thơ đã vận dụng thành công và xây dựng cho mình phong cách riêng độc đáo nhờ sử dụng các thành ngữ Vì vậy, thành ngữ có những đặc trưng cơ bản về kết cấu, nghĩa, sử dụng, và tính dân tộc,… đã góp phần làm phong phú và đa dạng cho vốn ngôn ngữ Việt.

1.2 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ và thành ngữ trong văn bản

nghệ thuật

1.2.1 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Thành ngữ và tục ngữ được sử dụng khá phong phú trong đời sống hàng ngày của nhân dân Đây cũng là đối tượng nghiên cứu của hai lĩnh vực khoa học Nếu như thành ngữ là đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học nói chung, của bộ môn từ vựng- ngữ nghĩa học nói riêng; thì tục ngữ lại

là đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian Thế nhưng hiểu đúng nghĩa một câu thành ngữ, một câu tục ngữ, trong một số trường hợp, cũng không đơn giản

Trang 21

Từ trước đến nay các nhà nghiên cứu cố gắng đưa ra tiêu chí phân biệt thành ngữ và tục ngữ, tiêu biểu là các công trình:

Tác giả Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn sử yếu (in lần hai tại

Hà Nội, 1951) : “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc

khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để

ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [21,

15] Nhưng tác giả đã đưa ra nhận xét như vậy chưa thật rõ, nếu như vậy, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ.

Tác giả Cù Đình Tú, (1973) trong Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ

với tục ngữ, có nhận xét: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở

sự khác nhau về chức năng, thành ngữ là những đơn vị định danh, về mặt này thành ngữ tương đương như từ, còn tục ngữ thì cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo” [58, 40]

Đến Vũ Ngọc Phan (1978) trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, cũng đã phân biệt: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một

nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn.

Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh; Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh.

Về cấp độ, thành ngữ ngang hàng với từ, thành ngữ là anh, từ đơn độc lập là

em, vì thành ngữ qua thời gian, đã được tập hợp một cách gắn bó thành cụm.”

[48, 37]

Hoàng Văn Hành cũng đã đưa ra sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ dựa trên các tiêu chí về hình thái cấu trúc, về chức năng biểu hiện nghĩa định danh, về chức năng biểu hiện hình thái nhận thức, về đặc trưng ngữ nghĩa.

Ngoài ra, trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa - ngữ dụng,

tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng đưa ra các tiêu chí phân loại thành ngữ và tục ngữ: cấu tạo, ngữ nghĩa, chức năng, đích tác động.

Trang 22

Như vậy, vấn đề phân biệt thành ngữ và tục ngữ đã được các nhà nghiên cứu đưa ra dưới nhiều cách nhìn khác nhau Thậm chí hiện nay, vấn đề này chưa thật triệt để và đang thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu.

Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, chúng ta có thể dựa vào các tiêu chí cụ thể để thấy được sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ:

a Về số lượng âm tiết

Thành ngữ có cả 3 âm tiết, nhưng thường chủ yếu có cấu tạo 4 âm tiết.

Trong 478 thành ngữ (cuốn Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ) mà giáo sư Hoàng

Văn Hành đã đi sâu phân tích thì có 243 thành ngữ 4 âm tiết, chiếm 43,7%.

Còn trong 9000 tục ngữ (cuốn Tục ngữ chọn lọc của Vương Trung Hiếu) thì

tục ngữ lại có cấu tạo thường từ 6 âm tiết trở lên Tục ngữ cũng có cấu tạo 4

âm tiết nhưng chúng lại khác thành ngữ về tính mục đích.

b Về cấu tạo

Thành ngữ có cấu tạo là một cụm từ cố định, một khái niệm, giữa các thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau (hay ta còn gọi là quan hệ từ pháp) nó làm một thành phần tạo nên câu Chẳng hạn:

(3) Ngồi chán ông chồng phải xin ở nhà: bà vợ mắc phải “bệnh ô tô” không đi không được, đành là phải đi một mình, vặn, vặn, “tung tẩy” khắp

hang cùng ngõ hẻm [II, 34]

(4) Đó chỉ là tại ông hàng xóm đêm khuya tắt đèn tối lửa, ông ấy vào

lầm giường đó thôi [II, 60]

Trái lại, tục ngữ là một câu, một phán đoán lại có cấu tạo tương đối ổn định, quan hệ giữa các thành tố trong tục ngữ là quan hệ tự do, quan hệ cú

pháp Chẳng hạn: có công mài sắt, có ngày nên kim; nhất nước, nhì phân, tam

cần, tứ giống; được mùa cau, đau mùa lúa

c Về chức năng

Vì thành ngữ chưa thành câu chỉ là một cụm từ (cụm từ cố định), một khái niệm, chỉ là một thành phần của câu nên người ta thường làm thành phần cấu tạo câu Chính vì điều này mà thành ngữ có chức năng cấu tạo câu.

Trang 23

Ngược lại, tục ngữ là câu độc lập, một phán đoán, thực hiện chức năng thông báo nên chúng có chức năng cấu tạo đoạn văn Chẳng hạn:

(5) Ông bà ta xưa có câu: Thật thà bằng ba khôn khéo Sinh ra làm phận

gái ai cũng phải lấy chồng Nay ông bà được kết thân với nhà Hoàng thân quyền thế nghiêng lệch thiên hạ, còn hưởng nhiều phúc lộc về sau [26, 122] → đây là một đoạn văn.

d Về ngữ nghĩa

Thành ngữ là một hình ảnh sinh động, biểu cảm, giàu tính hình tượng Không những thế, thành ngữ thường dùng trong nghệ thuật tu từ ẩn dụ hay

nghệ thuật tu từ hoán dụ Chẳng hạn, chân cứng đá mềm (tu từ hoán dụ), kiến

bò miệng chén (tu từ ẩn dụ), Vì vậy, nghĩa của thành ngữ là nghĩa biểu

trưng, khái quát, cô đọng và tính hình tượng bóng bẩy Chính nghĩa bóng, nghĩa hình tượng này có quan hệ mật thiết với nhau trong thành ngữ nhằm toát lên từ toàn tổ hợp chứ không phải là nghĩa của mỗi thành tố Điều này tạo cho thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nội dung thường dùng xen vào trong lời nói.

(6) Mày xem hai cậu mày đấy Có nhục nhã tổ tiên không? Thật là bôi

tro, trát trấu vào mặt ông bà, cha mẹ [I, 51]→ Thành ngữ bôi tro trát trấu

trong câu văn trên đã đem lại giá trị nghệ thuật cao, vừa ngắn gọn súc tích qua

đó ta thấy được hành động của nhân vật đã làm nhục, làm mất thanh danh, thể diện của gia đình chỉ vì những việc làm xấu xa của mình.

Còn tục ngữ diễn đạt một ý trọn vẹn, là một phán đoán Nghĩa của tục ngữ thường nêu lên để đúc rút kinh nghiệm của con người trong lao động, sản xuất, trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên và xã hội Tục ngữ thường là những câu nói có vần điệu, phản ánh những vấn đề cụ thể, những bài học về quan niệm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.

Ví dụ: (7) Câu tục ngữ chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ bay cao thì nắng,

bay vừa thì râm nhằm đúc rút kinh nghiệm của cha ông ta về dự báo thời tiết.

Trang 24

Như vậy, trên đây là bốn tiêu chí được đưa ra để nhằm phân biệt thành ngữ và tục ngữ Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số trường hợp chưa phân định rạch ròi thành ngữ và tục ngữ.

1.2.2 Thành ngữ trong văn bản nghệ thuật

Khi nghiên cứu ngôn ngữ, nhà nghiên cứu thường bắt đầu từ từ vựng (lexique) Từ vựng là bộ phận nhạy cảm nhất, năng động nhất trong các biến đổi ngôn ngữ Từ vựng phản ánh những biến đổi của thực tại trong mối tương quan với ngôn ngữ Khi nói tới những quy luật phát triển và biến đổi của ngôn ngữ văn học, không thể không quan tâm đến các biến đổi về mặt từ vựng Một trong những bộ phận từ vựng vô cùng quan trọng trong tiếng Việt là nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ, đặc biệt là sử dụng nó trong văn bản nghệ thuật.

Nguồn gốc hình thành của thành ngữ bắt nguồn từ chất liệu của văn học

dân gian “Nghệ thuật ngôn từ của văn học dân gian bao giờ cũng đi tiên

phong cho ngôn ngữ văn học”[17, 802] Đó là thứ ngôn ngữ lấy chất liệu từ

ngôn ngữ thường ngày của ngôn ngữ dân tộc, gần nhất với lời ăn tiếng nói hàng ngày của cộng đồng; được tinh luyện qua tay những “thợ kim hoàn vô danh”; được sàng lọc, chắt chiu qua công chúng từ đời này qua đời khác, có thể loại đa dạng về ngôn từ Bên cạnh đó, cùng với ca dao, tục ngữ,… thành ngữ là một trong những sản phẩm có cương vị rất quan trọng, đây là bằng chứng rất tự nhiên của ngôn ngữ văn học Nó không chỉ có ý nghĩa về phong tục học, văn hoá học,… mà còn là bằng chứng rất quý giá của nghệ thuật văn chương, nghệ thuật ngôn từ (ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, so sánh,…) đã gây nên sức hấp dẫn của văn chương nghệ thuật nhằm tạo ra tính hàm súc, cô đúc, biểu cảm cao cho lời văn Chính điều này, không ít nhà văn, nhà thơ khi đi vào sáng tạo nên tác phẩm văn chương của mình đã vận dụng rất phong phú

và đa dạng thành ngữ trong ca dao, thơ,… đặc biệt, trong văn chương hành chức.

Trang 25

Trước hết, thành ngữ được sử dụng tương đương như từ, có thể thay thế

từ và kết hợp với từ để tạo câu Mỗi thành ngữ là một bức tranh nho nhỏ về các sự vật, sự việc, hình tượng cụ thể, riêng lẻ được nâng lên thành cái phổ biến, khái quát, trừu tượng Chính vì điều này, thành ngữ được vận dụng rất phù hợp với đặc trưng của văn chương nghệ thuật, đặc biệt trong ngôn ngữ thơ ca, nhằm tạo tính hàm súc cô đọng, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu và có tính nghệ thuật cao nhằm truyền tải thông điệp, nội dung tư tưởng mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc.

Chẳng hạn:

(8) “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu”

[60, 447]

(9) “Trăng thanh gió mát là tương thức

Nước biếc non xanh ấy cố tri”

[31, 165]

(10) “Non xanh nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt chè xanh mặc sức say”

[44, 51]

Bên cạnh đó, thành ngữ được vận dụng rất sáng tạo mang dấu ấn riêng của nhà văn, nhà thơ tạo nên cho câu văn vừa bình dị, vừa đậm đà, sắc sảo, có

thể gợi được nhiều ấn tượng Chẳng hạn, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ở

cuối cảnh báo ân báo oán, tác giả vừa gợi vừa tả cảnh pháp trường vừa chỉ rõ quy luật ác giả ác báo ở đời Hàng loạt thành ngữ được sử dụng đầy ấn tượng:

(11) … “Lệnh quân truyền xuống nội đao, Thề sao thì lại cứ sao gia hình.

Máu rơi thịt nát tan tành,

Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời.

Cho hay muôn sự tại trời,

Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta.

Trang 26

Mấy người bạc ác tinh ma,

Mình làm mình chịu kêu mà ai thương!

Ba quân đông mặt pháp trường,

Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”…

Qua đoạn thơ trên, ta thấy Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo các thành ngữ dân gian với các thành ngữ Hán Việt một cách hài hoà.

Đặc biệt, cấu trúc thành ngữ tuy có tính cố định, nhưng qua sự sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ sử dụng trong văn bản nghệ thuật không ít thành ngữ vẫn có thể có những biến đổi nhất định như các yếu tố có thể được thêm bớt, thay thế hay đảo trật tự cú pháp, thậm chí chỉ xuất hiện ở dạng những hình

ảnh… Chẳng hạn, thành ngữ sông cạn đá mòn:

(12) “Dù cho sông cạn đá mòn,

Còn non còn nước vẫn còn thề xưa”

[13, 114]

(13) “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có

thế mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” [46, 97]

Như vậy, qua hai ví dụ, ta thấy nếu như nhà thơ Tản Đà sử dụng thành

ngữ ở nguyên dạng sông cạn đá mòn thì Hồ Chí Minh lại sáng tạo nó bằng cách thêm một số yếu tố “có thể” và thay “đá” bằng “núi” để phù hợp với văn

cảnh và phù hợp với dụng ý của Người.

Ngoài ra, trong tiếng Việt, thành ngữ có một khối lượng rất lớn, phong phú và đa dạng Cùng với sự phát triển và biến đổi của từ vựng, thành ngữ cũng không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, ngoài những thành ngữ được đúc kết và lưu truyền lâu nay trong nhân dân, vốn thành ngữ ấy còn được bổ sung thêm những thành ngữ mới Đó là do nhu cầu diễn đạt của nhân dân Do thành ngữ là những cụm từ cố định rất giàu hình ảnh, bóng bẩy, có vần về nhịp điệu, điệp và đối… đã tạo nên vốn thành ngữ ngày càng được bồi đắp thêm Các thành ngữ mới này có thể ra đời từ nhiều nguồn gốc khác nhau: từ

Trang 27

trong lời ăn tiếng nói của nhân dân, trích ra từ câu nói của lãnh tụ, sự sáng tạo của nhà văn, nhà báo,…

Tóm lại, trong văn chương nghệ thuật, thành ngữ có một vai trò quan trọng giúp cho lời văn cô đọng, súc tích hơn, mang tính biểu cảm cao hơn,… Chính vì vậy, không ít nhà văn, nhà thơ đã thành công và xây dựng cho mình một phong cách riêng độc đáo nhờ sử dụng linh hoạt và uyển chuyển thành ngữ vào trong tác phẩm nghệ thuật của mình

1.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học của Vũ Bằng

1.3.1 Về cuộc đời

Vũ Bằng không những là một “nhà báo kiệt hiệt” (Tô Hoài) mà còn là nhà văn lớn với nhiều đóng góp có giá trị vào nền Văn học Việt Nam hiện đại Với hơn 50 năm cầm bút, trải qua bao biến động và thăng trầm của cuộc đời, thế nhưng ông vẫn âm thầm viết lặng lẽ, cần mẫn và say mê Chính nghị lực ấy và lòng đam mê cùng tài năng sáng tạo ấy, Vũ Bằng đã để lại cho đời thành công trên nhiều lĩnh vực (văn chương, báo chí, khảo cứu, dịch thuật,

…).

Vũ Bằng (1913 – 1984) tên thật là Vũ Đăng Bằng Ngoài ra ông còn các bút danh khác: Tiêu Liêu, Vịt Con, Thiên Thư, Vạn Lý Trình, Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm,… Ông sinh ra tại Hà Nội và lớn lên trong một gia đình Nho học, quê gốc ở đất Ngọc Cục, huyện Lương Ngọc, nay là Bình Giang, tỉnh Hải Dương Từ nhỏ, theo học trường Trung học Anbe Xarô (Albert Sarraut) cho đến hết ban Tú tài Bắt đầu say mê làm báo, viết văn từ đầu những năm

1930, khi còn là học sinh trung học Cuối năm 1946 ông cùng gia đình tản cư

ra vùng kháng chiến Cuối 1948 Vũ Bằng trở về Hà Nội, bắt đầu tham gia hoạt động trong mạng lưới tình báo cách mạng Từ năm 1930 – 1954, ông

từng là phóng viên, biên tập và thư ký toà soạn nhiều báo ở Hà Nội: Đông

Tây, Trung Bắc tân văn, Công dân, Việt nữ, Vịt đực, Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền bá, Phổ thông, Ích hữu, Trung Bắc chủ nhật,…

Trang 28

Về tình duyên, năm 1935, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Quỳ, người Thuận Thành, Bắc Ninh Bà Quỳ lớn hơn ông 7 tuổi và đã có một đời chồng nhưng vợ chồng bất hòa nên khi gặp Vũ Bằng, bà ly dị để lập lại cuộc tình Hai người có được người con trai là Vũ Hoàng Tuấn

Sau 1954, ông vào Sài Gòn tiếp tục tham gia hoạt động tình báo đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 Trong thời gian này, ông vẫn tham gia cộng tác

viết bài hoặc làm thư ký toà soạn cho nhiều tờ báo ở miền Nam như Hoà

bình, Dân chúng, Đồng Nai, Sài Gòn Mai, Tiếng Dân, Vịt vịt, Tin điện, Sao trắng, Thế giới,…

Một thời gian dài, Vũ Bằng và gia đình ông âm thầm chịu tiếng là nhà văn “dinh tê, về thành”, nhà văn “quay lưng lại với kháng chiến”, là “di cư vào Nam theo giặc” Có lẽ vì thế mà trong sách giáo khoa phổ thông cũng như ở bậc đại học, người ta không giảng dạy về Vũ Bằng Mặc dù vào những năm 1932–1945, Vũ Bằng đã nâng đỡ, hướng nghiệp, dìu dắt rất nhiều nhà văn trẻ, sau này trở thành những nhà văn tên tuổi lẫy lừng; và những người

am hiểu Vũ Bằng từ khi ông vào Nam khi nhà văn Triệu Xuân đã gặp khẳng định: “Vũ Bằng là một con người chân chính, một nhà văn yêu nước có tấm lòng son sắt với Hà Nội.”

Vũ Bằng mất tại thành phố Hồ Chí Minh Ông được truy tặng Huân chương của Nhà nước (2000 – 2001).

1.3.2 Về sự nghiệp sáng tác văn học

Hoạt động trước tác của Vũ Bằng liên tục và kéo dài hơn 50 năm gắn liền với hoàn cảnh cá nhân đặc biệt Đó là ông đã trải qua một quãng đời với nhiều sự thay đổi và biến cố gắn liền với những biến động của nước nhà: trước năm 1945 ông ở Hà Nội, 1947 ở vùng tản cư, từ cuối 1948 đến 1954 trở

về nội thành Hà Nội tạm chiếm; từ 1954 vào sinh sống và hoạt động ở Sài Gòn cho đến lúc từ giã cõi đời.

Trang 29

Trong cuộc đời hơn 50 năm cầm bút ấy, Vũ Bằng đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn, trên nhiều lĩnh vực: báo chí, biên khảo, dịch thuật, sáng tác, lí luận – phê bình văn học,…

Năm 1931, ông khởi sự sáng tác tập văn trào phúng Lọ Văn Sinh hoạt trong văn giới và báo giới, bản tính phóng túng, thích ăn chơi, thuốc phiện

"Tôi hút Tôi uống rượu và tôi chơi bợm" (Bốn mươi năm nói láo) nhưng vài

năm sau ông tự chủ được bản thân nên ly dị được với "nàng tiên nâu"; ông

viết tác phẩm Cai, hồi ký ghi lại quãng đời của ông từ con nghiện, dụ dỗ tình

nhân trở thành con nghiện cho đến khi tan vỡ cuộc tình, vào bệnh viện mới dứt bỏ.

Ở lĩnh vực báo chí, có thể khẳng định Vũ Bằng thuộc thế hệ những người đầu tiên tạo dựng nền móng cho nền báo chí Việt Nam Nửa thế kỉ cầm bút là nửa thế kỉ ông gắn bó với nghề báo Từ những ngày đầu chạm ngõ làng báo cho đến khi đầu có hai thứ tóc, ông đã có niềm say mê mãnh liệt với nghề báo Chính điều này đã được ông thể hiện ngay trong tác phẩm của mình:

“Người mẹ nào sanh ra con lại không muốn cho con sau này ăn nên làm ra, có

vai có vế, nhưng Mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với Mẹ: nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo!” [IV, 385] Niềm đam mê và chính tài năng

cùng kiến thức sâu, rộng đã khiến nghề báo không phụ ông Trước cách mạng

tháng tám, Vũ Bằng đã là cây bút chủ lực của nhiều tờ báo như An Nam tạp

chí, Đông Tây, Rạng Đông, Trung Bắc Tân văn, Tiểu thuyết Thứ Bảy… Sau

cách mạng, ông tiếp tục làm báo và là nhà báo kì cựu của các toà soạn như

Dân Chúng, Tiếng Dân, SaiGon Mai, Báo Mới, Thế Giới, Công Chúng,… Báo

chí không chỉ là một nghề để kiếm sống mà còn là cái nghiệp của Vũ Bằng Ông đã gắn bó với nghề báo gần nửa thế kỉ, múa bút tung hoành trong Nam ngoài Bắc và đã trải qua biết bao vinh quang cũng như thăng trầm của nghề Tuy nhiên, dù có lúc mệt mỏi, chán nản nhưng tình yêu với báo không bao giờ lụi tắt trong ông Đó cũng chính là nghị lực đáng khâm phục ở một nhà văn, nhà báo này.

Trang 30

Ở lĩnh vực phê bình văn học, Vũ Bằng đã có dịp đem vốn kiến văn rộng rãi, chắc chắn của mình góp phần nào vào đó Ông đã để lại những khảo luận, phê bình có giá trị như công trình lí luận khảo về tiểu thuyết Công trình này được in từng kì trên báo của Nhà xuất bản Phạm Văn Tươi năm 1955, về sau được Vương Trí Nhàn tập hợp lại trong cuốn sách cùng tên của Nhà xuất bản Hội nhà văn vào năm 1996 Năm 2006, Triệu Xuân sưu tập và giới thiệu

ở phần biên khảo in trong Vũ Bằng toàn tập, tập 4 Ở công trình này, Vũ Bằng

đi vào khảo cứu một số vấn đề cơ bản của thể loại tiểu thuyết Ông đưa ra những quan điểm nhìn nhận, nhận xét, đánh giá một cách khái quát rõ ràng và khoa học, cách chuyển tải vấn đề dễ hiểu, ông đã đưa ra một quan điểm đúng

đắn về cái nhìn tiểu thuyết: “Tôi không hiểu ý kiến của các nhà tiểu thuyết

nước mình về âm tiết ra sao; riêng tôi nghĩ rằng một nhà tiểu thuyết mà văn không có âm điệu, âm tiết thì không thể nào là một nhà tiểu thuyết hay Một nhà tiểu thuyết hay là thế nào? Đó là một người hiểu biết ít nhiều lẽ bí mật ở đời, nhưng còn là một người, để diễn đạt những điều mình biết, đã tự nhiên tạo

ra được một thứ âm tiết đánh dấu riêng cho mình và cũng là một dấu hiệu kín đáo của cái tài mình nữa” [III, 91]

Một thành công nữa của Vũ Bằng ở lĩnh vực này là khả năng dựng chân dung văn học Những bài viết của ông về đồng nghiệp cũng là các tác giả nổi tiếng trong giới văn chương như Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Tô Hoài,… thật đặc sắc Bằng sự phác hoạ của nhà

văn, những gương mặt ấy hiện lên “hồn hậu, vừa giàu chi tiết vừa mang

những nét hóm hỉnh riêng của Vũ Bằng” [6, 7] Chính qua đây, người đọc còn

lĩnh hội được những nhận định tương đối sắc sảo, những cảm xúc thành thực

mà theo Vương Trí Nhàn nhận xét: “Bạn đọc say mê tìm hiểu đời sống văn

chương còn có thể hình dung ra con người nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỉ

XX với bao ước mơ cháy bỏng, thói quen lao động say mê, và cả những cái tài cái tật riêng của họ, những dị mọ tầm thường, những kiểu cách ngông nghênh

Trang 31

mà hình như mọi người bình thường đều có nhưng ở những nhà văn đôi khi chúng được đưa lên đến mức quái đản đầy ấn tượng.” [6, 8]

Ngoài ra, Vũ bằng còn có đóng góp rất lớn cho nền văn chương nước nhà Ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn ở nhiều thể loại gồm kí

và tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp văn,…:

Tiểu thuyết: Một mình trong đêm tối (1937), Truyện hai người (1940),

Tội ác và hối hận (1940), Bèo nước (1944),…

Hồi kí: Cai (1944), Thương nhớ mười hai (1972),…

Bút kí: Miếng ngon Hà Nội (1960), Bốn mươi năm nói láo (1969),… Phóng sự: Hà Nội trong cơn lốc (1953- 1954),…

Truyện ngắn: Để cho chàng khỏi khổ (tập truyện ngắn, 1941), Ba truyện

mổ bụng (tập truyện, 1941), Mê chữ (tập truyện ngắn, 1970), Bát cơm (tập

1.4 Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu những giới thuyết liên quan đến đề tài để từ đó làm cơ sở cho việc khảo sát thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng Đó là những vấn đề như: khái quát về thành ngữ, phân biệt thành ngữ với tục ngữ và thành ngữ trong văn bản nghệ thuật, Vũ Bằng - cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học.

Về khái quát thành ngữ, chúng tôi đi vào tìm hiểu hai khía cạnh cơ bản: khái niệm thành ngữ, đặc trưng thành ngữ Thành ngữ có 4 đặc trưng cơ bản:

Trang 32

có kết cấu vững chắc và cố định, có tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng tương đương từ trong câu, mang tính dân tộc khá đặc sắc

Qua đây, chúng tôi cũng đưa ra những tiêu chí phân biệt sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ: về số lượng âm tiết, về cấu tạo, về chức năng, về ngữ nghĩa.

Về thành ngữ trong văn bản nghệ thuật, qua cách nhìn nhận và phân tích chúng tôi thấy thành ngữ đóng một vai trò rất quan trọng trong văn bản nghệ thuật tạo nên lối văn vừa ngắn gọn, súc tích, mang tính biểu cảm cao mà sức truyền tải nội dung thông tin rất đắt.

Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học của Vũ Bằng, chúng tôi đi vào tìm hiểu những biến cố trong cuộc đời ông cũng như những đóng góp trong sự nghiệp văn chương của ông cho nền văn học nước nhà Đồng thời, chúng tôi được dịp tiếp cận với một lối viết rất riêng và độc đáo của ông Đặc biệt, trong việc sử dụng thành ngữ một cách có hiệu quả trong sáng tạo văn chương của ông đã góp phần tạo nên một phong cách cá tính riêng, độc đáo.

Trang 33

Chương 2 THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA VŨ BẰNG XÉT VỀ CẤU

TẠO, NGUỒN GỐC VÀ CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP

2.1 Thống kê định lượng và tần số sử dụng thành ngữ trong tác phẩm Vũ Bằng

Trong đề tài tìm hiểu về cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng, chúng tôi chỉ tìm hiểu qua một số tác phẩm ký, hồi ký, phóng sự, truyện

ngắn, tiểu thuyết và biên khảo như: Cai, Hà Nội trong cơn lốc, Khảo về tiểu

thuyết, Bốn mươi năm nói láo, Mê chữ, Bát cơm, Thương nhớ mười hai, Bóng

ma nhà mệ Hoát Qua khảo sát trên những tư liệu cụ thể (gồm 8 tác phẩm),

chúng tôi đã thống kê được số lượng và tần số xuất hiện thành ngữ nguyên dạng và biến thế như sau:

Bảng 1: Bảng thống kê số lượng và tần số thành ngữ nguyên dạng và

biến thể được sử dụng trong tác phẩm của Vũ Bằng

Việt

Hán-Thuần Việt

Việt

46,35%

92/141 ~ 16,06%

256/285 ~ 32,46%

37/45~ 5,13% Trong tổng số 1572 trang, thì có 682 thành ngữ với tần số là 878 lượt

sử dụng Tần số thành ngữ nguyên dạng thuần Việt là 297 thành ngữ với

407 lượt sử dụng, chiếm 46,35% và 92 thành ngữ Hán-Việt với 141 lượt sử dụng, chiếm 16,06%; thành ngữ biến thể thuần Việt có 256 thành ngữ với

285 lượt sử dụng, chiếm 32,46% và thành ngữ biến dạng Hán- Việt là 37 với 45 lượt sử dụng, chiếm 5,13% Con số này nói lên Vũ Bằng đã sử dụng thành ngữ với tần số rất lớn, và đã cải biến chúng với số lượng gần tương đương, chiếm 37,59%

Trang 34

Tuy nhiên, khi đi vào từng tác phẩm cụ thể thì số lượng thành ngữ có sự chênh lệch rất rõ từ 682 thành ngữ tăng lên 808 thành ngữ và tần số sử dụng không có sự thay đổi vẫn là 878 lượt sử dụng Điều này cũng dễ hiểu vì do sự lặp lại của một số thành ngữ xuất hiện trong từng tác phẩm là giống nhau về hình thức cho dù đặt ở những ngữ cảnh khác thì thành ngữ lặp lại đó không

thay đổi về nghĩa Chẳng hạn như: thành ngữ ăn nên làm ra xuất hiện trong 3 tác phẩm như Bốn mươi năm nói láo (1), Thương nhớ mười hai (1), Bóng ma

nhà mệ Hoát (1); thành ngữ ban ngày ban mặt xuất hiện trong Cai (1), Bóng

ma nhà mệ Hoát (2); cải lão hoàn đồng xuất hiện trong Hà Nội trong cơn lốc

(4), Biên khảo về tiểu thuyết (1);… Còn rất nhiều thành ngữ khác nữa, điều

này lí giải tại sao có sự chênh lệch giữa tổng số thành ngữ được sử dụng trong

1572 trang văn bản của Vũ Bằng Đồng thời, khi đi vào từng tác phẩm có sự chênh lệch như vậy, tỷ lệ chênh lệch giữa 682/808 là 0,84 Điều này được cụ thể trong từng tác phẩm được thống kê ở bảng số liệu dưới đây.

Sau đây là bảng thống kê cụ thể số lượng và tần số thành ngữ cụ thể trong từng tác phẩm (xem bảng 2)

Bảng 2: Bảng thống kê số lượng và tần số thành ngữ được sử dụng

2 Hà Nội trong cơn lốc

3 Khảo về tiểu thuyết

4 Bốn mươi năm nói láo

17,88% 17,54% 2,51% 25,40% 6,26% 4,44% 18,57% 7,40%

Bên cạnh đó, trung bình thành ngữ xuất hiện trong từng tác phẩm cũng

Trang 35

Bảng 3: Bảng thống kê số trang văn bản và trung bình tần số thành ngữ

xuất hiện trong tác phẩm của Vũ Bằng

trang

Số lượng thành ngữ /tần số

Trung bình tần số thành ngữ/ trang văn

bản

1 Cai

2 Hà Nội trong cơn lốc

3 Khảo về tiểu thuyết

4 Bốn mươi năm nói láo

140/157 141/154 22/22 201/223 54/55 39/39 147/163 64/65

1,68 1,69 5,73 1,48 1,35 1,80 1,87 2,23

Nhận xét:

Nhìn vào bảng thống kê, chúng ta thấy Vũ Bằng đã sử dụng thành ngữ rất phong phú và đa dạng trong tác phẩm của mình Trung bình cứ 1,79 trang xuất hiện 1 thành ngữ Chính sự sử dụng số lượng và tần số xuất hiện thành ngữ trong các ngữ cảnh khác nhau cao như vậy đã tạo cho văn bản mang tính thẩm mỹ, có giá trị biểu đạt cao, đem lại hiệu quả rất đắt trong sáng tạo văn chương Tuy nhiên, có sự chênh lệch ít hoặc nhiều tần số thành ngữ mà nhà văn đưa vào trong từng tác phẩm của mình Điều này, trong một mức độ, bị

chi phối bởi thể loại Ví dụ, cuốn Khảo về tiểu thuyết là một tác phẩm biên

khảo nên số lượng thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm này có phần ít hơn so

với các sáng tác truyện và ký cũng như phóng sự: Cai, Bốn mươi năm nói láo,

Bóng ma nhà mệ Hoát,…

Trong 1572 trang văn bản được tập hợp từ các tác phẩm tiêu biểu của

Vũ Bằng, chúng tôi đã thống kê được 682 thành ngữ với 878 lượt sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau Đây là một số lượng thành ngữ xuất hiện cao

và có sự vận dụng sáng tạo, nên đã đem lại vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng Nhà văn Vũ Bằng đã sử dụng

Trang 36

548 lượt sử dụng chiếm 62,41%; biến dạng: 293 thành ngữ với 330 lượt sử dụng chiếm 37,59%) Như vậy, tuy sử dụng thành ngữ, nhưng ông cũng đã cố gắng đổi mới, kể cả đổi mới trong việc vận dụng thành ngữ Đây cũng là tình hình chung của các nhà văn trong sáng tạo của mình Điều đáng chú ý là có sự chênh lệch khá lớn giữa thành ngữ Hán-Việt và thuần Việt cả ở nguyên dạng

và biến thể (Hán-Việt: 129 thành ngữ với 186 lượt sử dụng chiếm 21,19% so với thuần Việt: 553 thành ngữ với 692 lượt sử dụng chiếm 78,81%, tỉ lệ sai lệch ở đây là 0,3%) Trong đó, thành ngữ so sánh là 64 thành ngữ với 83 lượt

sử dụng chiếm 9,45%; thành ngữ ẩn dụ hoá là 325 thành ngữ với 465 lượt sử dụng chiếm 52,96% (Đối xứng: 255 thành ngữ với 372 lượt sử dụng chiếm 42,37%; phi đối xứng: 70 thành ngữ với 93 lượt sử dụng chiếm 10,59%).

Điều đáng nói ở đây là Vũ Bằng cũng sử dụng cả tục ngữ thì tục ngữ chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ so với thành ngữ Ông chỉ sử dụng 85 tục ngữ, chiếm 9,58% với 93 lượt sử dụng (tổng số thành ngữ là 682, chiếm 90,42% với 878 lượt) Thành ngữ được Vũ Bằng sử dụng chủ yếu mang nghĩa biểu trưng rất rõ, còn tục ngữ đi vào tác phẩm lại mang tính triết lý, giáo huấn, đề cập đến những kinh nghiệm, khuyên răn con người thiên về đạo đức Chính điều này mà chúng tôi đi vào tìm hiểu thành ngữ.

Mặt khác, chúng tôi nhận thấy, trong sáng tác của Vũ Bằng, thành ngữ

dù thuần Việt hay Hán-Việt, dù nguyên dạng hay biến thể thì chúng đều gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Trong đó, có nhiều thành ngữ

được lặp đi lặp lại nhiều lần ở những ngữ cảnh khác nhau như: đẹp như tiên (5 lần), nói bóng nói gió (5 lần), cải lão hoàn đồng (5 lần), liệt giường liệt chiếu (4 lần), thập tử nhất sinh (4 lần), nhức như búa bổ (3 lần), mang tai mang tiếng (4 lần), bất khả xâm phạm (3 lần) nhằm nhấn mạnh, ám ảnh trong lòng

người đọc về hiện tượng, vấn đề gì đó đem lại hiệu quả cao trong văn phong

Vũ Bằng.

Tóm lại, thành ngữ nguyên dạng được Vũ Bằng sử dụng chiếm tỉ lệ lớn trong sáng tác của mình Tuy vậy, ông cũng có sự sáng tạo một cách linh hoạt

Trang 37

để tạo ra những biến thể thành ngữ, đưa đến những giá trị biểu đạt, hiệu quả phản ánh cao hơn cho tác phẩm văn chương.

2.2 Thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng xét về nguồn gốc và cấu tạo

2.2.1 Thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng xét về nguồn gốc

Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của một ngôn ngữ Qua thành ngữ chúng ta hiểu được tư duy, nhận thức, lối nói ví von trăm hình nhiều vẻ của nhân dân Với điều đó, Vũ Bằng đã khai thác và sử dụng một cách sáng tạo vốn thành ngữ của tiếng Việt, chính điều này đã tạo nên cho sáng tác của ông trở nên sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc Phần lớn, tác phẩm chính của ông thường là ký và hồi ký, phóng sự Đây là những tác phẩm đi vào hồi ức, suy tư về sự trải nghiệm của cuộc đời ông Bên cạnh việc sử dụng thành ngữ thuần Việt chiếm tỉ lệ cao, ông còn sử dụng cả thành ngữ Hán- Việt một cách đắc lực, mang tính trừu tượng và màu sắc trang trọng.

Trước hết, về thành ngữ Hán-Việt, đây là loại thành ngữ chúng ta vay mượn với những đặc tính trừu tượng, hàm súc và mang màu sắc trang trọng,

cổ kính góp phần tạo nên lời văn trở nên nghiêm túc, giàu tính thuyết phục hơn Điều đặc biệt là nhà văn Vũ Bằng đã sử dụng thành ngữ Hán- Việt rất dễ hiểu, đi vào lời văn mình rất hấp dẫn và đa dạng Ở trong tác phẩm của Vũ Bằng, chúng tôi thống kê được 129 thành ngữ với 186 lượt sử dụng chiếm 21,19% tổng số thành ngữ được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau Những thành ngữ Hán-Việt trên được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau:

Thứ nhất, những thành ngữ được sử dụng nguyên dạng, đây là thành

ngữ gốc Hán: bách chiến bách thắng, bán âm bán dương, bán tín bán nghi, bất

Trang 38

→ Nghĩa thành ngữ này nói lên một cách sống cố định, không thay đổi trong cách cư xử của nhân vật Đái Đức Tuấn đối với bạn bè, người thân của mình Qua đó, nhà văn đã cho ta thấy về một con người có phẩm chất tốt, đáng kính trọng.

(15) Có một chữ mà cụ Tú Nguyễn Đỗ Mục bảo tôi, nhưng đến bây giờ

tôi vẫn bán tín bán nghi, không biết sai hay đúng [IV, 74]

Thứ hai, tác giả đã sử dụng thành ngữ dịch nghĩa từ thành ngữ gốc Hán,

chẳng hạn, thành ngữ một chữ đáng giá ngàn vàng được dịch từ thành ngữ Hán nhất tự thiên kim, còn thành ngữ miệng ăn núi lở được dịch từ thành ngữ Hán toạ thực sơn băng, thành ngữ chân trời góc biển được dịch từ thành ngữ Hán thiên nhai hải giác Và Vũ Bằng sử dụng cả hai hình thức này trong văn

cảnh của mình.

(16) Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải

là vì đấy là mùa xanh lên hy vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại [VII, 17]

(17) Mà vợ con ở thiên nhai hải giác cũng không biết, cứ tưởng là

chồng, là cha mình vẫn sống hiển hách, nhất hô bách nạp, làm ông làm cha thiên hạ…[VIII, 501]

Thứ ba, trong tác phẩm của ông còn tồn tại hình thức dịch một bộ phận

ra tiếng Việt, giữ nguyên bộ phận còn lại và cấu trúc thành ngữ gốc Chẳng

hạn, thành ngữ lấy độc trị độc được dịch từ thành ngữ Hán dĩ độc chế độc, dĩ

độc trị độc

(18) Đó tiếc như cái thuyết lấy độc trị độc của nhà bác học [I, 198]

Có thể nói, nhờ tính tổng thể về nghĩa mà khi chúng ta thay đổi một vài yếu tố Hán bằng yếu tố thuần Việt như thành ngữ trên, nó không làm giảm đi

ý nghĩa của toàn thành ngữ mà ngược lại tạo nên sự linh hoạt trong việc sử dụng ở từng ngữ cảnh khác nhau.

Trang 39

Thứ tư, trong tác phẩm của Vũ Bằng còn có những thành ngữ Hán- Việt được sử dụng ở hình thức thay đổi trật tự các yếu tố trong thành ngữ Chẳng

hạn: cứu nhân độ thế → cứu thế độ nhân

(19) Về đây, ông cứu thế độ nhân cho lũ trẻ có hai năm mà chính thức

tậu cái nhà triệu rưỡi đồng, còn bí mật thì không biết bao nhiêu thứ nữa [II, 211]

Bên cạnh thành ngữ Hán- Việt thì một bộ phận rất lớn thành ngữ thuần Việt được sử dụng rất phong phú và đa dạng Trong tổng số 682 thành ngữ thì thành ngữ thuần Việt có 553 thành ngữ với 692 lượt sử dụng, chiếm 78,81% Đây là lượng thành ngữ chiếm tỉ lệ cao, điều này xuất phát từ việc người Việt muốn truyền tải tới người tiếp nhận một cách ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu những thông tin đạt hiệu quả cao Đặc biệt, đây là thành ngữ gắn với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân nên rất gần gũi, giản dị có thể tác động đến tình cảm và nhận thức của độc giả nhân dân nhanh nhất, có hiệu quả nhất Ở dạng này, nhà văn chủ yếu sử dụng lại là những thành ngữ vừa giản dị, vừa giàu hình ảnh và có sức gợi tả, vốn thích hợp với phong cách nghệ thuật.

“Đây là loại định danh hoá các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định, có

tính ổn định về thành phần, chặt chẽ về cấu trúc, chỉnh thể về ngữ nghĩa” [23,

34] Chẳng hạn như, lặn ngòi ngoi nước, lời ong tiếng ve, đầu voi đuôi chuột,

làm mưa làm gió, thắt lưng buộc bụng, một nắng hai sương,…

(20) Ông ngoại tôi, không hút thuốc được nữa, cứ lịm dần; lúc chết, có

người trông thấy một con quỷ đầu bù tóc rối cầm xích đứng ở trên đầu

giường [I, 83]

(21) Chứng cớ là đến đệ ngũ trường Anbert Sarraut, về toán, tôi ngu

như con bò, đến đệ tứ, đệ tam thì dốt đặc cán thuổng [IV, 18]

(22) Nơi đây xa chốn phồn hoa cát bụi, mà tuổi con là tuổi thanh xuân,

con phải lặn ngòi ngoi nước đến chốn này, ắt hẳn là có điều gì oan khổ lắm,

muốn tìm phương giải thoát [V, 9]

Trang 40

Ngoài ra, trong sáng tác của Vũ Bằng, chúng ta cũng bắt gặp một số thành ngữ mang tính khẩu ngữ được ông sử dụng nhằm làm cho câu văn trở nên sinh động hơn, mang lại hiệu quả cho câu văn.

(23) Kết quả học trò Tây vẫn sống nhăn mà chỉ có bọn chúng tôi “chết

đầu nước” [IV, 22]

Hai thành ngữ trái nghĩa nhau được sử dụng một cách sinh động (sống

nhăn/ chết đầu nước)

(24) Có ra những cuốn sách đứng đắn, hơi cao, mà trình độ người đọc không hiểu tới, hay có hiểu tới mà ít người mua quá, lỗ vốn để cho nhà xuất

bản chết nhăn răng thì cũng vẫn là quá tội… [II, 246]

(25) Anh ta tính thực, nói toạc móng heo như thế với ông bác sĩ [II, 178]

Có thể nói, các thành ngữ được nhà văn sử dụng một cách linh hoạt đã thể hiện được tính chân thực trong lời nhân vật.

Đặc biệt, dạng thành ngữ thuần Việt đã được Vũ Bằng vận dụng rất sáng tạo và linh hoạt tạo ra những tổ hợp mang tính thành ngữ rất cao, đưa vào câu văn làm toát lên mục đích nhấn mạnh của ông rất lớn Ví dụ như:

banh da xẻ thịt, chia cành xẻ lá, chia cây rẽ lá, chìm sông lạc suối, …

(26) Tôi coi căn buồng của tôi với những đồ vật ấy như những vật bất khả xâm phạm, những động vật có linh hồn mà lúc đêm thanh cảnh vắng có

thể quây quần lại để chia vui sẻ buồn cùng tôi [I, 135]

(27) Đó là một linh hồn mồ côi? Một hồn oan của kẻ chìm sông lạc

suối? Hay là một con ma? [V, 6]

Tóm lại, thành ngữ được sử dụng rất phong phú và đa dạng cả ở Việt và thuần Việt dưới nhiều hình thức khác nhau Qua đó, chúng ta thấy được tài năng sáng tạo độc đáo và mang phong cách riêng của nhà văn.

Hán-2.2.2 Thành ngữ trong tác phẩm của Vũ Bằng xét về cấu tạo

Như chúng ta biết rằng, thành ngữ tiếng Việt được sử dụng rất phong phú và đa dạng trong tác phẩm nghệ thuật đã đem lại hiệu quả rất cao về mặt phương diện ngôn từ vừa ngắn gọn, súc tích và truyền tải tới người tiếp nhận

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Bảng thống kê số lượng và tần số thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm của Vũ Bằng - Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của vũ bằng luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 2 Bảng thống kê số lượng và tần số thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm của Vũ Bằng (Trang 34)
Bảng 3: Bảng thống kê số trang văn bản và trung bình tần số thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm của Vũ Bằng - Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của vũ bằng luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 3 Bảng thống kê số trang văn bản và trung bình tần số thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm của Vũ Bằng (Trang 35)
Hình dung cảnh ấm no. - Cách sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của vũ bằng luận văn thạc sĩ ngữ văn
Hình dung cảnh ấm no (Trang 189)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w