1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc

131 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn yêu thích phong cách văn chương và cảm phục trước một tấm lòng giàu tâm huyết với văn chương, với cuộc đời của Nguyên Ngọc, chúng tôi muốn đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật trong s

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Minh dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của Tiến Sĩ : HOÀNG VĂN CẨN Tôi xin

đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu để luận văn thêm hoàn chỉnh

đại học, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, cùng các bạn bè đồng

TP HCM, Ngày 18 tháng 11 năm 2003 NGUY ỄN THỊ SÂM

Trang 5

3.2.1 Cách so sánh ví von giàu tính chất tượng hình, một đặc điểm nổi bật trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc:1 95

Trang 6

D ẪN NHẬP

1 Lý do ch ọn đề tài

Nền văn học mới Việt Nam 1945 - 1975 nảy sinh và phát triển trong một hoàn

cảnh lịch sử đặc biệt với nhiều biến cố lớn lao Sau Cách mạng tháng Tám là hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ bảo vệ độc

lập tự do và thống nhất đất nước Hoàn cảnh lịch sử đó đã góp phần tạo nên một đội ngũ nhà văn đông đảo có tài năng được đào luyện trong cách mạng và kháng chiến Bên cạnh những nhà văn lớp trước, đã xuất hiện hàng loạt nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, với phương châm: "sống rồi hãy viết" ( Nam Cao) Nhiều thế hệ

nhà văn nối tiếp nhau ra trận để ghi lại những thời khắc lịch sử trọng đại ấy Có người trước khi trở thành người chiến sĩ cách mạng họ đã là nhà văn Nhưng cũng có không

ít người cầm súng trước khi cầm bút, Nguyên Ngọc là một trong số nhà văn đó

Vị trí của Nguyên Ngọc được khẳng định và tên tuổi của ông trở nên quen thuộc

với người đọc bắt đầu từ cuốn tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên Tác phẩm đã

được ban giám khảo giải thưởng văn học 1954 - 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải nhất cùng với tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài Thời kỳ chống Mỹ, Nguyên

Ngọc với bút danh là Nguyễn Trung Thành cho ra đời khá nhiều tác phẩm như: Rừng

xà nu, Đường chúng ta đi, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất

Qu ảng phản ánh một số mặt chủ yếu của hiện thực cách mạng miền Nam, ở vùng

Tây Nguyên, vùng đất Quảng Điểm nổi bật trong sáng tác của ông lúc này là hình ảnh con người miền Nam nhiệt thành yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, những con người

vừa đánh giặc vừa tự nhận thức đã trưởng thành nhanh chóng trong chiến đấu và đang vươn tới một kích thước tương xứng với yêu cầu đánh Mỹ và thắng Mỹ ở miền Nam Chiến tranh đã qua đi gần ba mươi năm, được sống trong thời kỳ đất nước hòa bình độc lập thống nhất, chúng ta không được chứng kiến cái không khí hào hùng sôi

sục của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong những năm kháng chiến oanh liệt đó, không được chứng kiến những đau thương mất mát của dân tộc Nhưng qua tác phẩm

của các nhà văn thời kỳ này, đặc biệt là những tác phẩm của Nguyên Ngọc giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn những năm tháng đau thương nhưng anh dũng quật cường của

Trang 7

dân tộc, hiểu hơn về truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta

Nguyên Ngọc sáng tác qua hai thời kỳ khác nhau (chống Pháp và chống Mỹ), với

những thể loại khác nhau Nhưng những sáng tác của ông đã thể hiện thành công điển hình về người anh hùng thời đại Con người mang trong mình những phẩm chất cao quí và có những việc làm, những hành động rất dũng cảm, rất phi thường Họ kết tinh

những phẩm chất cao đẹp của nhân dân, của dân tộc, của cộng đồng Họ đại diện cho

cả một giai cấp, cả dân tộc xả thân vì nghĩa lớn, sẵn sàng quên mình vì tập thể, nén tình riêng vì sự nghiệp chung Họ là tấm gương sáng cho người người học tập và noi theo Vì vậy, tác phẩm của Nguyên Ngọc không những có tác dụng động viên cổ vũ, khích lệ tinh thần đấu tranh lúc bấy giờ mà cho đến hôm nay nó vẫn có tác dụng giáo

dục sâu sắc đối với người đọc

Trước đây, tác phẩm của Nguyên Ngọc được chọn giảng trong chương trình

giảng văn ở phổ thông bao gồm: ở chương trình Trung học cơ sở là những trích đoạn trong tác phẩm Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng, Đất nước đứng lên; còn chương trình Phổ thông trung học có tác phẩm: Đất nước đứng lên,

R ừng xà nu Nhiều tác phẩm của ông một thời đã chuyển tải đến biết bao thế hệ bạn

đọc lòng yêu nước, ý chí, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc Nhữhg năm gần đây, trước tình hình đổi mới của xã hội và văn học, một số tác phẩm của ông vẫn được tiếp tục giảng dạy và học tập

Vốn yêu thích phong cách văn chương và cảm phục trước một tấm lòng giàu tâm huyết với văn chương, với cuộc đời của Nguyên Ngọc, chúng tôi muốn đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật trong sáng tác của ông để có thể nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan những đóng góp quí giá của nhà văn cho nền văn học nước nhà Vì thế, chúng tôi chọn "Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc" làm đề tài nghiên

cứu

2 Gi ới hạn đề tài

2.1 Đối tượng khảo sát:

Trang 8

Lịch sử dân tộc ta phần lớn là lịch sử chiến tranh, do vậy văn học viết về chiến tranh cũng trở thành bộ phận có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc Đặc biệt văn học 1945 1975 chủ yếu viết về chiến tranh, là nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo

của Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị, hướng tới công nông binh, được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Với số lượng tác giả tham gia đông đảo,

số lượng tác phẩm dồi dào phong phú Những sáng tác của các nhà văn thời kỳ này

đều mang tính cổ vũ, động viên, tuyên truyền, hướng tới mục tiêu cao cả nhất: tất cả cho chi ến thắng

Tiêu biểu cho đề tài kháng chiến chống Pháp là những tác phẩm: Xung kích của

Nguyễn Đình Thi (1951 -1952), Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái

(1959), Trước giờ nổ súng của Lê Khâm (1960), Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai (1961), S ống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng (1961)

Tiêu biểu cho đề tài kháng chiến chống Mỹ là những tác phẩm: "Cửa sông" (1967), M ặt trận trên cao (1967) của Hồ Phương, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi

(1968) của Phan Tứ, Ở xã Trung Nghĩa (1968) của Nguyễn Thi, Đường trong mây,

Ra đảo (1970) của Nguyễn Khải, Vùng trời của Hữu Mai, Dòng sông phía trước

(1972) của Mai Ngữ, Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, Đám cháy trước mặt của Đỗ Chu, Thôn ven đường (1973) của Xuân Thiều

Trong đó, chúng ta không thể không kể đến nhà văn Nguyên Ngọc, người đã

từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ông cũng là người đã

để lại cho văn học thời kỳ này những tác phẩm văn học có giá trị, phản ánh hiện thực

cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc Tiểu thuyết viết trong thời kỳ chống Pháp: Đất nước đứng lên (1954 - 1955); thời kỳ chống Mỹ có: Rừng xà nu (1969), Đường chúng ta đi (1969), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969), Đất

Qu ảng (1971) giao thời giữa hai cuộc chiến, Nguyên Ngọc có viết về cuộc sống mới

xây dựng chủ nghĩa xã hội với các tập truyện: Mạch nước ngầm (1960), Rẻo cao

(1961), Sau năm 1975, Nguyên Ngọc viết một số tác phẩm hồi tưởng lại thời chiến

tranh như: Cát cháy (1998), Có một con đường mòn trên biển Đông (2001)

Nhìn chung, trong sáng tác của Nguyên Ngọc trước sau có sự thống nhất về phong cách nghệ thuật Vì thế, với nhiệm vụ đã đặt ra, luận văn khảo sát toàn bộ tác

Trang 9

phẩm của Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành ở các thể loại : tiểu thuyết, truyện

ngắn, tùy bút, ký Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ người viết ngoài những tác phẩm cần được khảo sát chỉ có thể ưu tiên đặc biệt cho những tác

phẩm tiêu biểu nhất ở từng thể loại:

- Đất nước đứng lên (tiểu thuyết) 1954 - 1955

- Mạch nước ngầm (truyện vừa) (1960)

- Rẻo cao (tập truyện ngắn) 1961

- Rừng xà nu (truyện ngắn) 1965

- Đường chúng ta đi (tùy bút) 1969

- Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (ký) 1969

- Đất Quảng (tiểu thuyết) 1971

2.2 N ội dung vấn đề:

Nói đến đặc điểm văn xuôi nghệ thuật là nói đến một vấn đề khá rộng và phức

tạp, thể hiện cụ thể và tinh tế ở cả nội dung và hình thức của tác phẩm Để hiểu thấu đáo, tường tận, cần phải có kiến thức sâu rộng về mọi mặt và phải có sự đầu tư lâu dài

về thời gian Trong điều kiện chủ quan còn nhiều hạn chế, song với lòng ham thích tìm

hiểu khoa học, chúng tôi cố gắng học hỏi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi trên cơ sở tiếp thu những vấn đề có liên quan ở các công trình nghiên cứu trước đây, vận dụng một số hiểu biết về phong cách học tiếng

Việt của Đinh Trọng Lạc, thi pháp học của M Bakhtin và vận dụng một số hiểu biết

về lý luận văn học cũng như văn học thời kỳ 1945 - 1975, đối chiếu so sánh với một số tác giả cùng thời để làm nổi bật đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc Với

sự nhạy cảm của người nghệ sĩ và nhận thức được sức mạnh của "cả dân tộc vươn

mình t ới ánh sáng", nhà văn đã phát hiện ra hình tượng nghệ thuật quan trọng bậc nhất

của thời văn học kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ là con người quần chúng Phát hiện nghệ thuật này không chỉ qui định đề tài, phương hướng sáng tác mà còn có thể xem là một hệ qui chiếu đã qui tụ và xác định các nguyên tắc của mọi sự tìm tòi, thể hiện nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Ngọc

Trang 10

3 L ịch sử vấn đề

Ngay lần đầu tiên ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tay Đất nước đứng lên,

Nguyên Ngọc đã được sự chú ý và nhiệt liệt hoan nghênh của bạn đọc không những ở

trong nước mà còn ở ngoài nước Qua nhiều lần in lại và dịch ra nhiều thứ tiếng Đất nước đứng lên vẫn chiếm được cảm tình sâu sắc của bạn đọc trên thế giới và được

đánh giá là một tác phẩm có giá trị Từ đó, Nguyên Ngọc đã được các nhà nghiên cứu phê bình chú ý Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, sáng tác của ông với bút danh Nguyễn Trung Thành đã thực sự thu hút đối với nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học như: Phong Lê, Phạm Văn Sĩ, Ngô Thảo, Nhị Ca, Chu Nga, Hà Minh Đức

gần đây, có bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Thế Khoa Để hình dung về tình hình nghiên cứu Nguyên Ngọc, chúng tôi điểm lại một vài xu hướng sau:

3.1 Nh ững bài viết bàn về con người và con đường sáng tác của Nguyên

Ng ọc

Xu hướng này tập trung các cây bút là bạn chiến đấu và bạn viết hoặc là những người cùng cơ quan công tác sau này với Nguyên Ngọc, tiêu biểu như: Phan Tứ, Phong Lê, Phạm Văn Sĩ, Ngô Thảo, Nhị Ca, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh Các tác giả đã tiếp cận Nguyên Ngọc bằng việc phân tích, miêu tả, tái hiện nhận định đánh giá một số tính cách đặc biệt, một số kỷ niệm về đời tư, quá trình sáng tác các tác phẩm, những ký ức về thời gian cầm súng, thời gian cầm bút Nhiều cây bút đã cung cấp những tư liệu đáng quí và cảm động về cuộc đời, sống và

viết của tác giả Nhìn chung các tác giả nghiên cứu đều đề cao năng lực sáng tạo của nhà văn, một con người luôn luôn có ý thức tìm tòi, khám phá hiện thực một cách tường tận và công phu

Phan Tứ là người bạn cùng học, người chiến sĩ, là nhà văn cùng thời với Nguyên

Ngọc, trong bài "Nguyễn Trung Thành cuộc sống và tác phẩm" đã khẳng định:

"Nguy ễn Trung Thành là một trong những cây bút văn xuôi vững vàng nhất của miền Nam ta hi ện nay" [102; 106]; "anh tham gia cách mạng và cầm bút vì căm thù giặc, vì yêu nước, yêu lý tưởng, yêu văn học….những người viết văn miền Nam đang cố vươn

Trang 11

lên k ịp tầm lớn của dân tộc và thời đại Nguyễn Trung Thành là một trong những nhà văn tiêu biểu cho sức vươn lên ấy" [102; 107]

Với nhiều bài nghiên cứu về tác giả Nguyên Ngọc, trong bài "Nguyễn Trung Thành và những trang viết về miền Nam đất lửa", Phong Lê đưa ra một nhận xét rất

đáng quan tâm: "Mặc dù viết ít, mặc dù một số truyện, ký của anh mới chỉ là những

phác th ảo, có một vẻ gì đó chưa thật trọn vẹn Nhìn chung, toàn bộ sáng tác của Nguy ễn Trung Thành vẫn thể hiện rõ xu thế đi tới bao quát một bối cảnh rộng lớn của Tây Nguyên ho ặc của Đất Quảng suốt cả một quá trình, từ những ngày oi ngột trong

th ế kim kẹp đến cái hả hê của một cuộc đồng khởi, và cái thế vươn lên rộn ràng của

m ột "cuộc ra tận lớn lao" Có thể, bởi vì do người viết luôn có ý thức muốn nhìn và thể

hi ện cuộc sống trong dạng cô đúc nhất của nó" [40; 113]

Nguyễn Đăng Mạnh lại nhấn mạnh vị trí Nguyên Ngọc ở một khía cạnh khác, sự

am hiểu sâu sắc con người và thiên nhiên Tây Nguyên đã để lại dấu ấn phong cách sáng tác của mình Trong bài "Nguyên Ngọc, con người lãng mạn" ông cho rằng:

"Nguyên Ng ọc đích thực là một tri thức của núi rừng, là nhà văn hóa của Tây Nguyên,

là ngh ệ sĩ thực thụ của miền "Rẻo cao" đất nước"[56; 333]

Quả đúng như vậy, nói đến Nguyên Ngọc là người ta nghĩ đến nhà văn của Tây

Nguyên: "Ông nhìn Tây Nguyên v ới con mắt của một nhà thơ, tha thiết yêu thương và

g ắn bó xương thịt với cuộc sống, với con người và cảnh vật nơi đây Tình cảm của ông

v ới Tây Nguyên là tình cảm của một người đã sống nhiều năm trên đất này, sống với

t ất cả tâm hồn, tất cả trái tim mình " Hay : "Thiên nhiên và con người miền núi quả

có m ột sức hấp dẫn, một sức tác động trở lại đối với Nguyên Ngọc làm cho ngòi bút

c ủa anh trở nên phơi phới, thiết tha, lắng sâu " [45; 151]

Phan Huy Dũng trong bài : "Rừng xà nu - một truyện ngắn đậm chất sử thi về

thời đánh Mỹ" từng viết: "Mỗi nhà văn, dường như đều có một vùng quê sáng tác Đối

v ới Nguyên Ngọc, Tây Nguyên hùng vì núi non, Tây Nguyên bất khuất kiên cường với

nh ững con người bộc trực kiên trung, một lòng đi theo cách mạng chính là vùng đất

mà ông g ắn bó trăn trở trong sáng tác của mình ”[12; 197]

Trang 12

Đỗ Kim Hồi, Trần Đăng Suyền trong bài "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành

đã khẳng định: "Người viết hay nhất về Tây Nguyên cho tới hôm nay, và người mà -

cũng tính cho tới hôm nay - những sáng tác về Tây Nguyên đã làm nên phần hay nhất,

ph ần tiêu biểu nhất trong sự nghiệp văn chương của đời mình"[ 31; 304] Chính nhà

văn Nguyên Ngọc cũng bộc bạch chân thật tấm lòng mình: "Tây Nguyên đối với tôi là

m ột niềm tâm sự không bao giờ dứt "và ông cũng đã khẳng định: "Tây Nguyên đã tạo nên tôi, tâm h ồn, cuộc đời và rồi văn chương của tôi” [30; 171]

Trong cuốn "Văn học giải phóng miền Nam 54 -70", chương "Nguyễn Trung Thành" Phạm Văn Sĩ viết: "Tác phẩm của Nguyễn Trung Thành - một số truyện ngắn

và bút ký trong t ập "Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc" và tiểu thuyết "Đất

Qu ảng" (tập1) phản ánh một số mặt chủ yếu của hiện thực cách mạng miền Nam ở vùng r ừng núi Tây Nguyên và vùng đồng bằng Đất Quảng Nổi bật trong tác phẩm của anh là hình ảnh con người miền Nam nhiệt thành yêu nước và căm thù giặc sâu sắc

nh ững con người vừa đánh giặc vừa tự nhận thức đã trưởng thành nhanh chóng trong chi ến đấu và đang vươn tới một kích thước tương xứng với yêu cầu đánh Mỹ và thắng

M ỹ ở miền Nam"[89; 303]

Như vậy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Nguyên

Ngọc chính là ông luôn luôn bám vào hiện thực cuộc sống nói lên được lòng yêu nước,

sự tự nhận thức vươn lên tầm thời đại của con người Việt Nam trong kháng chiến

Trong bài "Bước đường Nguyên Ngọc", Phong Lê viết: "Bám sát cuộc sống, giữ được

cho mình nhi ệt tình cách mạng, đó là con đường đúng nhất cho nhà văn tìm đến một phong cách th ực sự của mình, cũng chính là con đường tốt nhất cho Nguyên Ngọc trở

l ại được tâm trạng bình tĩnh như những ngày đầu, như niềm mong muốn của chúng ta"[45;152], "Trong sáng tác Nguyên Ng ọc luôn luôn tỏ ra quan tâm đến việc tìm chọn cho mình nh ững chủ đề mới mẻ Những tìm tòi thường đem lại kết quả tốt đẹp khi anh

bi ết bám chặt vào hiện thực, hướng mạnh về phía cái mới của đời sống Bám vào đời

th ực, chủ đề của tác phẩm sẽ như những nhánh rễ khỏe, càng ăn sâu vào đất; hình

th ức tác phẩm sẽ đạt tới vẻ đẹp cao nhất là cái đẹp giản dị, chân chất như đời sống

th ực, không sa vào vẽ vời xa lạ "[45; 149]

Trang 13

Khi đánh giá về mặt mạnh của Nguyên Ngọc, Phong Lê viết: "Con người anh

luôn g ắn bó với cách mạng, cho nên con đường anh đi sẽ là con đường dẫn anh đến hàng đầu cuộc sống, dẫn anh đến hòa làm một, sống như một người trong cuộc với nhân dân, để từ đó nghe rõ được tất cả mọi tiếng động của cuộc đời, từ những rung chuy ển lớn lao của thời cuộc đến nhịp đập khẽ của mỗi con tim " [45; 154 -155]

Nguyên Ngọc, trong quá trình sáng tác luôn luôn ý thức được vai trò lớn lao của văn

học trong cuộc kháng chiến, nhà văn và cuộc sống: "Nguyên Ngọc đã từ đời sống cách

m ạng của dân tộc mà tìm hiểu người anh hùng và từ người anh hùng mà giúp ta hiểu dân t ộc và thời đại'" [45; 137]

Cùng chung ý kiến với Phạm Văn Sĩ, Nguyễn Đăng Mạnh trong bài: “Nguyên

Ngọc con người lãng mạn" đã viết: "Nếu nói Nguyễn Tuân suốt đời săn tìm cái đẹp, thì

cũng có thể nói, Nguyên Ngọc suốt đời săn tìm những tính cách anh hùng, những sự tích anh hùng Nhưng anh hùng của Nguyên Ngọc vẫn có nét riêng: dũng mãnh khác thường Những con người thép, thẳng băng nhọn hoắt như mũi chông, như ngọn dáo, như mầm xà nu đâm thẳng lên trời Nhưng lại có cái gì hoang dại, trái tim chất chứa căm thù ngùn ngụt, nhưng tâm hồn trong suốt và hết sức hồn nhiên như những con người ở thời thơ ấu xa xăm của nhân loại "[56; 333]

Nguyên Ngọc là một cây bút sống trong lòng thực tế và từ thực tế mà ra, thành công trong việc xây dựng điển hình con người mới và thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Bám sát cuộc sống, giữ được cho mình nhiệt tình cách mạng, đó là con đường đúng nhất cho nhà văn tìm đến một phong cách thực sự là của mình

Trần Đăng Khoa cũng nhấn mạnh một ưu thế của nhà văn Nguyên Ngọc trong sáng tác là viết về "người tốt, việc tốt", những con người có thật ngoài đời: "Truyện

c ủa Nguyên Ngọc hầu hết là thế Ông ca tụng chủ nghiã anh hùng cách mạng Bút pháp ông nh ất quán trước sau như một, không thay đổi, không quay quắt Trong khi

đó có rất nhiều cây bút chuyển hướng hoặc thay đổi theo cách tiếp cận hiện thực để thu hút s ự chú ý của bạn đọc Trước viết người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc

x ấu Nguyên Ngọc không thể, suốt đời dường như ông chỉ viết truyện người tốt việc tốt Ngay c ả khi dựng nhân vật tiểu thuyết, ông cũng dựa trên những con người có thật,

nh ững sự kiện có thật ở ngoài đời" [ 34;262]

Trang 14

Thật ra, trong ba mươi năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ hầu như các nhà

văn đều tập trung viết về "người tốt việc tốt", viết về người anh hùng, dũng sĩ lúc bấy

giờ, Nguyên Ngọc là một trong số nhà văn thể hiện thành công trong sáng tác của mình

Một đặc điểm đáng lưu ý trong con đường sáng tác của Nguyên Ngọc được Đỗ Kim Hồi chỉ ra; "Nguyên Ngọc là nhà văn ưa khái quát Từ cái nhỏ để suy ra cái lớn,

t ừ một trường hợp cá biệt mà ngẫm đến chân lý phổ quát bao trùm và tìm cách đem qui lu ật rất chung vận dụng vào những hiện tượng rất riêng - đấy là nếp tư duy nghệ thu ật đã trở thành quen thuộc của cây bút từng viết Đất nước đứng lên, Đường chúng

ta đi, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc" [30; 199]

Trong bài "Rừng xà nu - một hình ảnh rất đẹp của Tây Nguyên chiến đấu, Chu

Nga đã phát hiện nét riêng của nhà văn ở chỗ: "Sở trường của Nguyễn Trung Thành là

miêu t ả những nhân vật anh hùng với những nét khái quát, cô đọng hàm sức, tạo nên

nh ững hình khối lớn, những tính cách kiên cường, song anh cũng có tài chọn lọc

nh ững chi tiết nhỏ, những chi tiết giàu tính tạo hình và giàu chất thơ làm phong phú thêm tính cách nhân v ật" [60; 63] Nhà văn đứng ở góc độ cộng đồng, dân tộc để nhìn

con người Việt Nam trên bước đường chiến đấu Chính vì vậy, cảm hứng, giọng điệu mang đậm tính chất sử thi

Đánh giá về nhà văn Nguyên Ngọc và bước đường sáng tác của anh, Phong Lê nêu lên một nhận xét hết sức chân tình; "Con đường sáng tác mà Nguyên Ngọc đã đi

qua v ới những thành công và chưa thành công Nhưng Nguyên Ngọc còn trẻ và con đường đi của anh sau này còn dài Nhưng nó vẫn là một chặng đường nhiều ý nghĩa

Ch ỗ mạnh của anh không ai phủ nhận được đó là một cây bút trẻ sống trong lòng thực

t ế, từ thực tế mà ra con đường anh luôn gắn bó với cách mạng Dó đó tiếng nói của anh c ất lên không phải là tiếng nói xa lạ, đơn lẻ mà là tiếng nói lớn của nhân dân,

ti ếng nói lạc quan đằm thắm, hùng tráng, có sức dục giả con người vươn lên" [45;154

- 155]

3.2 Nh ững bài viết bàn về tác phẩm và đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác

c ủa Nguyên Ngọc:

Trang 15

Xu hướng này tập trung đông đảo các nhà nghiên cứu phê bình và giảng dạy văn

học , với các tác giả như: Phong Lê, Lê Trí Viễn, Trần Hữu Tá, Hà Minh Đức, Đỗ Kim

Hồi, Phan Huy Dũng, Trần Đăng Khoa Nhìn chung các tác giả đều đã phân tích, đánh giá những sáng tác của Nguyên Ngọc ở các phương diện: nội dung phản ánh hiện thực,

thế giới nhân vật, sức hấp dẫn của bút pháp, những nét tiêu biểu vét mặt nghệ thuật các bài viết hầu hết đều khẳng định sự đóng góp to lớn của tác phẩm Đất nước đứng lên, Rừng xà nu Người chiến sĩ anh hùng Núp, Tnú là tiêu điểm thu hút sự

quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, phê bình Phẩm chất anh hùng của nguyên

mẫu xã hội Từ một nhân vật có thật ngoài đời, qua tài năng và tâm huyết của Nguyên

Ngọc đã trở thành hình tượng nghệ thuật giàu giá trị thẩm mỹ

3.2.1 V ới tác phẩm Đất nước đứng lên, Nguyên Ngọc đã củng cố cho các nhà

văn lòng tin vào phương hướng xây dựng điển hình con người mới trên các nguyên

mẫu có thật ngoài đời

Đất nước đứng lên là một tác phẩm tiêu biểu trong sáng tác của Nguyên Ngọc

viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đã tập trung sự chú ý của giới nghiên cứu văn học Phong Lê, một nhà nghiên cứu sâu sắc về nền văn xuôi Việt Nam 1945 -

1975, trong các công trình nghiên cứu của mình, ông viết khá nhiều bài về nhà văn Nguyên Ngọc và tác phẩm Đất nước đứng lên đã từng nhận xét: "Đất nước đứng lên

là m ột tiểu thuyết vừa, cuốn sách đã đạt được một vẻ đẹp cân xứng hài hòa giữa nội dung và hình th ức Ở đây trang nào cũng đẹp, vẻ đẹp của con người đã truyền đến cho thiên nhiên và thiên nhiên góp ph ần tô điểm cho con người [45; 138]

Đồng thời, Hà Minh Đức cũng nhấn mạnh sự thành công lớn nhất của Nguyên

Ngọc qua tác phẩm Đất nước đứng lên chính là ở chỗ: "Nguyên Ngọc đã đưa vào một

nguyên m ẫu đẹp và khá hoàn chỉnh về người anh hùng đánh giặc bảo vệ quê hương Nguyên Ngọc đã làm được việc chuyển điển hình xã hội thành điển hình nghệ thu ật" [ 20; 165]

Khẳng định vị trí, giá trị trường tồn của tác phẩm, Lê Trí Viễn trong bài: "Theo anh Núp", trích tác phẩm Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc đã khẳng định: "Cho

đến nay, nó vẫn còn là bài học đích đáng và thấm thía về sự trung thành với đất nước,

Trang 16

v ới Tổ quốc, với nhân dân, và độc lập tự do với dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện tại "[105; 302]

Cùng với ý kiến của Lê Trí Viễn, Phong Lê trong bài: "Bước đường Nguyên

Ngọc" cũng nhận thấy ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng cho độc lập tự do của dân

tộc Đó là một nội dung thể hiện rất rõ trong sáng tác của Nguyên Ngọc: "Đất nước

đứng lên là thiên truyện có khả năng vượt được những thử thách của thời gian Tác

ph ẩm nêu lên được ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng cho độc lập tự do của nhân dân ta, đồng thời cũng cho ta hiểu cái gì đã tạo nên sức mạnh cho nhân dân ta chiến

th ắng bất cứ kẻ thù nào "[45;138]

Đỗ Quang Lưu chỉ một vài gợi ý nhỏ trong bài "Giới thiệu và phân tích" cũng

khẳng định: "Giá trị nổi bật của cuốn truyện này là ở chỗ nó đã biểu hiện được một

cách xu ất sắc hình tượng người anh hùng của thời đại cách mạng ngày nay, thời đại nhân dân ta đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc dưới ánh sáng của tư tưởng Mác Lê nin và theo đường lối của Đảng "[ 51; 185]

3.2.2 Cùng v ới tác phẩm Đất nước đứng lên, "Rừng xà nu - một truyện ngắn

Nguyên Ngọc lấy bút danh là Nguyễn Trung Thành, viết trong thời kỳ chống Mỹ cũng được giới nghiên cứu phê bình quan tâm, khám phá

Đỗ Kim Hồi trong bài : "Rừng xà nu - một con đường lý giải" đã nhận xét:

"R ừng xà nu với một nội dung tràn đầy chất sử thi bởi nó là tiếng nói của lịch sử và

th ời đại nó gắn liền với những sự vận động, những biến cố mang ý nghĩa trọng đại đối

v ới toàn dân Nội dung sử thi trên đã đòi hỏi cho mình một hình thức sử thi hoành tráng Hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ, cao cả của núi rừng và của con người Và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu khi vang động, khi tha thi ết, trang nghiêm "[ 30; 204]

Trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam khuynh hướng sáng tác mang đậm tính sử thi phải chăng là vấn đề đặt ra đối với người nghệ sĩ Với Nguyên Ngọc, những sáng tác của anh thường đậm đà tính chất sử thi, đề cập đến những vấn đề trọng đại

của dân tộc, của đất nước Cảm hứng sử thi thể hiện trong các tác phẩm thời kỳ chống

Trang 17

Pháp, chống Mỹ đã được nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu, phê bình văn học giới thiệu, phân tích, chứng minh

Nguyễn Đăng Mạnh, một người hiểu về Nguyên Ngọc khá tường tận, là người

rất tinh tường khi phát hiện và khẳng định nét độc đáo trong nguyên tắc thẩm mỹ của nhà văn Nguyên Ngọc Trong bài "Nguyên Ngọc - con người lãng mạn", ông đã viết:

"Cái t ạng của anh chuyên viết chuyện người anh hùng, với ngôn ngữ sử thi tráng lệ hào hùng và c ảm hứng lãng mạn sôi nổi "[56; 335] Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh chỉ

rõ cái nhất quán trong toàn bộ sáng tác của Nguyên Ngọc chính là phong cách sử thi - lãng mạn "cái đẹp trong cảm quan thẩm mỹ của anh là một nhu cầu tự thân, một sự

thôi thúc bên trong, thôi thúc c ủa máu", "đó không phải là chuyện văn chương mà còn

là chuy ện lẽ sống"[56; 333] Theo ông, có lẽ cái tạo nên nét riêng trong phong cách nhà

văn của Nguyên Ngọc chính là "sống trong không khí sử thi và mang hẳn trong máu

ch ất lãng mạn"[56; 337]

Phan Huy Dũng trong bài "Rừng xà nu, một truyện ngắn đậm chất sử thi về thời

đánh Mỹ" cũng cho rằng: "Rừng xà nu là trải nghiệm một đời văn, một đời chiến sĩ

được nhốt chặt trong khuôn khổ hẹp Niềm xúc động thiêng liêng về hình ảnh kỳ vĩ của

T ổ quốc giữa những ngày thử thách đã thôi thúc Nguyễn Trung Thành viết nên thiên truy ện này Đó là một tác phẩm rất cô đọng nhưng cũng hết sức bay bổng, gợi nên

nh ững cảm xúc vừa trầm lắng vừa say mê Một tác phẩm xuất sắc khá xứng với tầm

th ời đại đánh Mỹ oanh liệt hào hùng" [12;92]

3.2.3 Bên cạnh nhận xét chung về tác phẩm đã có rất nhiều ý kiến nhận xét về đặc điểm nghệ thuật của Nguyên Ngọc:

Nguyên Ngọc vào đời vốn không phải là một nhà văn, mà là một chiến sĩ Cùng

với hàng trăm thanh niên lúc bấy giờ, ông tham gia kháng chiến cứu nước Cuộc kháng chiến đã dẫn ông vào con đường cầm bút, những sáng tác của ông viết ra không phải

với ý định làm văn học mà nhằm để phục vụ một nhiệm vụ cụ thể nào đó của cách

mạng Tuy vậy, những tác phẩm của Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành đã có phần đóng góp rõ nét trong nền văn học Việt Nam hiện đại, bởi Nguyên Ngọc luôn luôn chú

ý đến sự sáng tạo, trau chuốt về mặt hình thức nghệ thuật

Trang 18

Ngô Thảo trong bài "Nhà văn Nguyên Ngọc" đã viết: "Có điều ngỡ như nghịch lý,

nhưng ai theo dõi bước đường sáng tác của Nguyên Ngọc đều nhận thấy một đặc điểm

là nhà văn mỗi sáng tác đều được viết với một ý định chính trị rất cụ thể, mỗi tác

ph ẩm đều muốn làm một vũ khí chiến đấu này lại là nhà văn rất chú ý đến hình

th ức "[95; 145]

Nói chung, tất cả những sáng tác của Nguyên Ngọc không ngoài nhằm mục đích:

"Anh mu ốn gửi đến bạn đọc thật nhiều suy nghĩ và rung cảm của anh qua những lời dễ

hi ểu nhất Anh muốn bạn đọc cùng anh khám phá thêm nữa về dân tộc, đất nước, về

cu ộc chiến đấu thần kỳ của chúng ta, về chiều sâu tâm hồn của mỗi người chống Mỹ

Vì th ế anh thường viết những bài tùy bút đậm đà chất thơ, khi trữ tình tha thiết, khi hào hùng s ảng khoái, khi cháy bỏng hận thù Qua những đoạn văn không dài lắm nhưng rất cô đúc, anh đã chọn cái phần tinh luyện nhất trong khối vốn sống giàu

m ạnh của mình, trao cho bạn đọc dùng ngay làm vũ khí đánh Mỹ "[45; 105]

Nguyễn Đăng Mạnh cũng nhận thấy rằng: "Văn của anh cuốn hút người ta không

ph ải chỉ bởi cách trần thuật bằng chính giọng điệu nhân vật của anh, với thứ ngôn

ng ữ hết sức hồn nhiên ngây thơ đầy những hình ảnh ví von rất ngộ nghĩnh, mà bằng

c ả tâm hồn rất Tây Nguyên, cũng rất Hà Giang, Mèo Vạc "[56; 303]

Đặc biệt Trần Đăng Khoa đã dành nhiều tâm huyết và trang viết về con người và văn chương của Nguyên Ngọc đã có những nhận định rất xác đáng, trong bài: "Nhà

văn Nguyên Ngọc", anh viết: "Văn của Nguyên Ngọc là thứ văn có hương, đọc cứ

bàng hoàng váng v ất mãi Không có thực tài không thể viết được" [ 34;257]

Phong Lê trong bài "Bước đường Nguyên Ngọc" không những chỉ ra những thành công trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống mà còn nhận ra ở Nguyên Ngọc

có những nét đặc sắc về nghệ thuật như : "Giọng điệu đằm thấm, sôi nổi, những cảm

xúc tinh t ế, ngọt ngào, cái nhìn lành mạnh khỏe khoắn, trong trẻo "[45; 257]

Trong bài "Suy nghĩ về truyện ngắn" (Nhân đọc một số truyện ngắn từ miền Nam

gửi ra), Nguyễn Văn Hạnh nhận xét: "Văn Nguyễn Trung Thành trong sáng, chắt lọc,

giàu nh ạc điệu, hình ảnh và rất nhiều tình "[26;15]

Trang 19

Xét về mặt bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc, Nguyễn Đức Đàn lại cho

rằng : "Nguyên Ngọc đã tạo nên được cái không khí mà nhiều nhà phê bình đã gọi rất

đúng là không khí anh hùng ca Dưới ngòi bút của anh, con người và cuộc sống ở

núi r ừng Tây Nguyên hiện lên hùng vĩ và tráng lệ lạ thường "[14; 188]

Nhà văn Phan Tứ cũng nhận thấy rằng: "Nguyễn Trung Thành khác Nguyễn Thi,

Nguy ễn Thi giọng điệu suồng sã Nguyễn Trung Thành " Đất Quảng" đã thủy chung

v ới giọng điệu anh hùng ca được khởi đầu bằng "Đất nước đứng lên", phát triển ở

"R ừng xà nu" và hoàn thiện ở "Đất Quảng" "[102; 64]

Sức mạnh ngòi bút Nguyễn Trung Thành có lẽ chính là ở chỗ ông đã nắm bắt được cái không khí của thời đại đưa vào tác phẩm để tạo nên phong cách riêng rất riêng trong lời văn nghệ thuật của mình: "Nguyên Ngọc làm cho ngòi bút của anh trở

nên phơi phới, tha thiết lắng sâu Giữa cái bát ngát đậm đà sắc màu quê hương là hình ảnh những con người với những khoảng tâm hồn hiện ra rất đẹp, rất say

ng ười"[45;152] Sức hấp dẫn thu hút người đọc đến với tác phẩm của anh chính là ở

chỗ: "Nguyễn Trung Thành đã biết tự khai thác tâm trạng bản thân để viết nhiều trang

th ật xúc động " [ 88; 313]

Phạm Văn Sĩ trong bài Nguyễn Trung Thành đã viết: "Ngòi bút của Nguyễn

Trung Thành rung lên m ột nhiệt tình đầy cảm thông, đầy sảng khoái khi thể hiện

nh ững nhân vật anh hùng đó, bởi vì tác giả cùng sống với họ, chính anh cũng là người trong cu ộc " [89; 68]

3.3 Nh ận định chung

3.3.1 Nguyên Ngọc ý thức sâu sắc rằng: hiện thực chiến tranh nhân dân chống

Mỹ cứu nước đang diễn ra trên miền Nam nước ta không kéo dài vĩnh viễn Nếu không lao vào cuộc chiến ngay bây giờ thì đến khi chấm dứt, người viết sẽ lấy gì để xây dựng những điển hình anh hùng thắng Mỹ với tính chân thực và tính cụ thể lịch sử

của nó Mặt khác hiện thực lớn lao màu mỡ của đất nước ta, cùng với nhu cầu công chúng bạn đọc đã thúc dục ông bước vào con đường sáng tác một cách nghiêm túc,

đúng hướng : "Tất cả những suy nghĩ và cảm xúc của anh xoáy sâu vào các vấn đề

sinh t ử"

Trang 20

3.3.2 Con đường sáng tác mà Nguyên Ngọc đã đi qua với "những thành công và

chưa thành công" (nhận xét của Phong Lê) nhưng hầu hết các sáng tác văn xuôi nghệ

thuật của Nguyên Ngọc đều bám sát hiện thực cuộc sống, phản ánh cuộc kháng chiến

chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta Xây dựng những hình tượng điển hình từ

những "nguyên mẫu" trong cuộc sống đấu tranh một mất một còn với kẻ thù để bảo vệ đất nước Nguyên Ngọc là một trong số những nhà văn đã đóng góp quan trọng cho

một giai đoạn văn học Bút pháp của ông là một bút pháp hiện thực sắc sảo vừa mang

âm hưởng anh hùng ca của thời đại, vừa đậm chất trữ tình

3.3.3 Bằng lý luận và bằng thực tiễn sáng tác, Nguyên Ngọc đã tích cực góp

phần khẳng định đường lối văn nghệ đúng đắn của Đảng hướng cảm hứng sáng tạo

của văn học nghệ thuật vào nhiệm vụ phản ánh chân thực và sinh động sự nghiệp cách

mạng của dân tộc Việt Nam hiện đại, đồng thời khẳng định sức sống mới của nền văn nghệ mới Với Nguyên Ngọc, mỗi tác phẩm là một công trình nhận thức, một phát

hiện về những vấn đề chủ yếu của cách mạng, vừa biểu hiện chân thực cuộc sống đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc Tuy nhiên, vẫn đảm bảo được tính nghệ thuật, vì thế mà

đã có những tác phẩm có giá trị lâu dài

3.3.4 Với vốn sống khá phong phú và sự gắn bó sâu sắc với chiến trường Tây Nguyên và dân tộc ít người, mảnh đất Tây Nguyên và con người Tây Nguyên đã xuất

hiện trong những sáng tác của Nguyên Ngọc với một tinh thần quật cường, thiết tha

với cách mạng, yêu nước, yêu tự do, chân thành đôn hậu Quán xuyến suốt một đời

cầm bút của ông như Trần Đăng Khoa đã từng nhận xét: "viết về người thật việc thật,

người tốt, việc tốt Nhân vật của ông đều bắt đầu từ những nguyên mẫu có thật trong

cu ộc sống chiến đấu của nhân dân mà ông từng tham dự"[ 34;256 ]

4.3.5 Nhìn lại toàn bộ các bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc của các tác giả Phan

Tứ, Phong Lê, Nguyễn Đức Đàn, Phạm Văn Sĩ, Chu Nga, Ngô Thảo, Phan Huy Dũng,

Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đăng Khoa Rải rác ở một số bài báo hoặc

và những bài gợi ý phân tích của một số tác giả khác, dù ở mức độ này hay mức độ khác, mỗi người đã thể hiện ý kiến đánh giá của mình về một mặt nào đó, chỉ ra một

số đóng góp của Nguyên Ngọc trên các phương diện: bút pháp, ngôn ngữ, giọng văn,

sức hấp dẫn của phong cách Cũng có những bài có cái nhìn tổng quan nhưng còn

Trang 21

mang tính khái quát, sơ lược Tuy nhiên, chúng tôi coi đây là những gợi ý quan trọng

có vai trò định hướng và soi sáng cho việc khảo sát đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc mà luận văn đã đề ra

Người viết luận văn nhận thấy chưa có một công trình hay một luận án nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, hoàn chỉnh về phong cách nghệ thuật của Nguyên

Ngọc Do đó, chúng tôi trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, học tập những người đi trước, tổng

hợp những tài liệu có liên quan đi vào tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống hơn đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

4 Đóng góp của luận văn

Đến với đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định sự tồn tại và giá trị nổi bật văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc Việc tìm hiểu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc cũng chính là người viết muốn tìm hiểu phong cách tác giả văn học hiện đại nói chung Bởi vì, chúng ta không thể hình dung rõ nét diện mạo của một giai đoạn văn học, một thời kỳ văn học nếu không bắt đầu từ việc nghiên cứu tư tưởng và phong cách tác giả tiêu biểu trong văn học giai đoạn, thời kỳ ấy Mặt khác việc nghiên cứu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc là nhằm phát hiện, đánh giá và khẳng định một phần tài năng và sự đóng góp của tác giả về mặt bút pháp nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, ngôn ngữ, giọng điệu trong lịch sử văn học nước nhà, đặc biệt là văn học 1945 - 1975 Mặt khác luận văn mong góp thêm một tiếng nói trực tiếp, đặt

vấn đề nhìn nhận toàn bộ sáng tác của Nguyên Ngọc ở cấp độ tổng quan tạo thuận lợi cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu về tác giả Nguyên Ngọc

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi dựa vào một số phương pháp quen thuộc thường được vận dụng trong nghiên cứu văn học như:

5.1 Chúng tôi dựa vào những luận điểm cơ bản trong hệ thống lý luận Mác xít: Quan điểm duy vật, quan điểm lịch sử và phương pháp biện chứng làm nền tảng lý

luận trong nhận thức và nghiên cứu

Trang 22

5.2 Tổng hợp và vận dụng những thành tựu của các khoa học liên ngành: Lý

luận văn học, lý thuyết tiếp nhận văn học, thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học vào thực tiễn nghiên cứu

5.3 Ngoài những quan điểm có tính chất phương pháp luận như trên, trong luận

án này chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể quen thuộc trong nghiên cứu văn

học:

- Khảo sát văn bản tác phẩm; đọc, tái hiện tác phẩm

- Đặt đối tượng nghiên cứu (văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc) trong hoàn cảnh

lịch sử cụ thể, lịch sử dân tộc và lịch sử văn học; trong các mối quan hệ cuộc sống - nhà văn - tác phẩm - người đọc để nhận thức nghiên cứu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hóa cũng được sử dụng rộng rãi trong luận văn ở nhiều cấp độ có tác dụng đem lại những nhận thức mới từ vấn đề nghiên cứu

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đối chiếu Nguyên Ngọc ở các giai đoạn sáng tác : chống Pháp, chống Mỹ; trước 1975 và sau 1975 Đồng thời chúng tôi còn đặt Nguyên Ngọc trong mối quan hệ với những tác giả, tác phẩm khác cùng

thời để qua đó làm nổi bật đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc cũng như

những đóng góp lớn lao của Nguyên Ngọc đối với văn học dân tộc

Tuy nhiên các phương pháp nghiên cứu đã nêu trên đây không phải được thực

hiện riêng rẽ, biệt lập mà phối hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết

vấn đề mà luận văn đề ra nhằm khắc họa nổi bật đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

6 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và thư mục tham khảo, cấu trúc luận văn gồm có

U

Chương 1U: CON ĐƯỜNG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC

1.1 Văn học Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1.2 Sáng tác của Nguyên Ngọc và dấu ấn thời đại

Trang 23

1.2.1 Vài nét về tác giả và sáng tác của Nguyên Ngọc

1.2.2 Khuynh hướng sử thi, điểm nổi bật nhất quán trong sáng tác của Nguyên

Ngọc

- Sáng tác của Nguyên Ngọc giai đoạn trước 1975

- Sáng tác của Nguyên Ngọc giai đoạn sau 1975

U

Chương 2U: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyên Ngọc

2.1.1 Giới thuyết về khái niệm "Quan niệm nghệ thuật về con người"

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 1945 - 1975

2.1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyên Ngọc 2.1.3.1 Con người mang lý tưởng cộng đồng

3.1.3.2 Con người anh hùng

2.2 Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong văn xuôi của Nguyên

Ngọc

2.2.1 Thời gian nghệ thuật

2.2.2 Không gian nghệ thuật

U

Chương 3U: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ

3.1 Giọng điệu anh hùng ca đậm chất trữ tình

3.2 Ngôn ngữ trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

3.2.1 Cách so sánh ví von giàu tính hình tượng, một đặc điểm nổi bật trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

3.2.2 Ngôn ngữ tạo hình - tính cách, một đặc điểm trong nghệ thuật miêu tả nhân

vật của Nguyên Ngọc

Trang 24

3.2.3 Đặc điểm Tây Nguyên - miền Trung Trung bộ qua ngôn ngữ và cách diễn đạt trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

Trang 25

Chương 1: CON ĐƯỜNG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC

1.1 Văn học Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc ta Mở đầu cho kỷ nguyên độc lập tự do của dân tộc nhưng niềm vui đó chưa được bao lâu thì giặc Pháp trở lại đánh chiếm nước ta Đất nước một lần nữa đắm chìm trong khói lửa chiến tranh Đánh Pháp chưa xong giặc Mỹ tràn vào Cả nước vùng dậy đấu tranh Hơn bao giờ hết, cả dân tộc, đồng tâm hiệp lực, đặt lợi ích tập thể trên lợi ích cá nhân, quyết tâm giành chiến thắng bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc Văn học

Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 nảy nở và phát triển trong bối cảnh lịch sử ấy Nó được nuôi dưỡng, tiếp sức và gắn bó mật thiết với những bước đi của cách mạng, với vận

mệnh của dân tộc Văn học gắn liền với thời đại của mình, với đông đảo công chúng

của thời đại ấy, phục vụ chính trị, phục vụ công, nông binh

Văn học bắt nguồn từ cuộc sống cho nên nó phản ánh chân thực những gì xảy ra trong cuộc sống Nhà văn nổi tiếng Nga, M.X Gorki từng nói :"Nghệ sĩ là tiếng nói

c ủa thời đại"[22] Còn nhà thơ Tố Hữu trong bài "Cuộc sống cách mạng và văn học ngh ệ thuật" đã viết: "Thước đo giá trị của một nền văn học là nó phục vụ được bao nhiêu cho s ự nghiệp cách mạng"[ 32] Hoàn cảnh lịch sử dân tộc Việt Nam thời kỳ này

với những biến động lớn lao đã tác động sâu sắc đến văn học Văn học đã thực hiện

một quá trình tìm kiếm "những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người"

(Nguyễn Minh Châu), nói lên khát vọng của cả dân tộc chiến đấu cho chân lý "không

có gì quí hơn độc lập tự do" (Hồ Chí Minh) Văn học thời kỳ này đã đề cao nhiệm vụ

cổ vũ chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng và niềm tin vào thắng lợi, đề cao ý thức

cộng đồng và lý tưởng vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội Điều đó đã trở thành cảm

hứng bao trùm, thấm nhuần trong từng tác phẩm

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công và những năm đầu kháng chiến

chống Pháp, thế hệ cầm bút đã có ý thức tìm kiếm, đổi mới để khẳng định tiếng nói nghệ thuật của thời đại mình Hướng vào đời sống xã hội rộng lớn với những biến cố

trọng đại, văn học thời kỳ này đã ghi lại được những hình ảnh không thể phai mờ của

Trang 26

một thời kỳ lịch sử đầy gian lao thử thách, nhiều hy sinh nhưng cũng hết sức vẻ vang

của dân tộc ta

Hoàn cảnh lịch sử đó cũng góp phần tạo ra một đội ngũ nhà văn đông đảo nhiều

thế hệ và không hiếm tài năng được đào luyện trong cách mạng và trong kháng chiến, hình thành nên kiểu nhà văn chiến sĩ, đáp ứng những đòi hỏi của thời đại cách mạng

và chiến tranh Nguyễn Đình Thi trong bài "Nhận đường" từng viết "Chúng ta đã tìm

th ấy bao trùm trên chúng ta, bao trùm làng xóm, gia đình chúng ta một cái gì lớn lao chung ấy là dân tộc" Các nhà văn xung phong lên đường trực tiếp tham gia chiến đấu,

Nam Cao, Nguyên Hồng đi vào chiến dịch biên giới, Nguyễn Tuân, Trần Đăng hăng hái trên khắp các nẻo đường để kịp thời cho ra đời những trang viết nóng hổi hơi lửa

của chiến trường Nhiều nhà văn khác như : Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyên Ngọc, Lê Khâm sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao vất vả để được có mặt nơi chiến trường Với tinh thần "nhập cuộc" này, các nhà văn sáng tác ra hàng loạt tác phẩm, thuộc nhiều thể

loại khác nhau tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, tiêu biểu như: Trận phố Ràng , Một cuộc chu ẩn bị của Trần Đăng; Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng; Xung kích của

Nguyễn Đình Thi; Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc Tất cả đều nhằm phản ánh

kịp thời hiện thực vĩ đại của cuộc kháng chiến, cổ vũ động viên quần chúng

Trong những ngày chống Mỹ đầy ác liệt, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù hung ác và hùng mạnh nhất của thời đại đã khiến cả dân tộc phải thống nhất muôn người như một, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng chưa bao giờ cái khẩu hiệu

"T ổ quốc trên hết", lời thề "Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" lại thiêng liêng, nóng

bỏng và gắn với hành động yêu nước như lúc này Các thế hệ nhà văn họ đi tìm cảm

hứng của mình từ trong khói lửa chiến tranh, trong nhịp điệu khẩn trương trên những

công trường xây dựng Cái tôi nhỏ bé đã trở nên tầm thường bên cạnh cái hào hùng sôi động của cuộc chiến tranh mà cả dân tộc đang tiến hành Hàng loạt tác

phẩm mang cảm hứng sử thi và cảm hứng lãng mạn xuất hiện : Dấu chân người lính

của Nguyễn Minh Châu, Hòn Đất của Anh Đức, Rừng U Minh của Trần Hiếu Minh, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Gia đình má Bảy của Phan Tứ, Rừng xà nu, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng của Nguyễn Trung

Thành Tuy khác nhau về dung lượng, về phương thức thể hiện nhưng những sáng tác

Trang 27

của họ đều gặp nhau ở một điểm là hướng về phản ánh những sự kiện lịch sử, những con người kháng chiến, con người ưu tú, tiêu biểu cho phẩm chất cao cả của con người

Việt Nam Con người không chỉ sống với hiện tại và ước vọng về tương lai mà còn

sống với thời gian lịch sử, đồng nhất lịch sử và hiện tại: "Khi quá khứ, tương lai soi

mình trong hi ện tại" Cảm hứng sử thi đã hướng ngòi bút của nghệ sĩ vào việc khám

phá và ca ngợi những con người tiên tiến, con người anh hùng, những con người xả

thân vì nghĩa lớn, vì tập thể "mình vì mọi người, mọi người vì mình" Đó là những con

người như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

"Ôi t ổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

Ôi t ổ quốc nếu cần ta chết

Cho m ỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông"

(Sao chi ến thắng)

Với hai cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, văn học đã sáng tạo được những hình tượng cao đẹp về Tổ quốc và nhân dân, về các tầng lớp, thế hệ con người Việt Nam

vừa giàu phẩm chất truyền thống vừa thấm nhuần tinh thần của thời đại Văn học thời

kỳ này thực sự là một nhân chứng của một quá trình lịch sử hết sức hào hùng đó Nó

vừa kế thừa; vừa phát huy những nét cơ bản trong truyền thống của dân tộc là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân đạo; vừa phản ánh thực tế của dân tộc, lúc mà tình

cảm dân tộc, ý thức cộng đồng, tình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa đồng bào, đồng chí lại được thấm nhuần sâu rộng và biểu hiện một cách phong phú như vậy

1.2 Sáng tác c ủa Nguyên Ngọc và dấu ấn thời đại

1.2.1 Vài nét v ề tác giả và sáng tác của Nguyên Ngọc:

Nguyên Ngọc tên thật là Nguyễn Văn Báu, sinh ngày 5 tháng 9 năm 1932 Quê ở

xã Thăng Uyên, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Nguyên Ngọc còn có bút danh

là Nguyễn Trung Thành - dùng trong thời kỳ hoạt động chiến trường miền Nam,

những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước

Trang 28

Nguyên Ngọc sinh trưởng trong một gia đình công chức, cha là một viên chức bưu điện, mẹ là người buôn bán nhỏ Thuở thiếu niên, Nguyên Ngọc đang học dở dang Trung học thì kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, ông theo gia đình

tản cư ra vùng tự do, tiếp tục theo học trường Trung học kháng chiến Nguyên Ngọc

đã có thời gian sống và hoạt động ở Hội An, Đà Nẵng, Huế

Năm 1950, ông gia nhập quân đội và tốt nghiệp trường lục quân khu V Khoảng

thời gian 1951 - 1954, ông làm phóng viên báo Quân đội nhân dân liên khu V Thời gian này, Nguyên Ngọc chủ yếu hoạt động ở vùng đất Tây Nguyên, tập kết ra Bắc (1954) trong sư đoàn 324 và ông được điều về trại viết gương anh hùng của Tổng cục chính trị, ở đây ông đã viết cuốn tiểu thuyết Đất nước đứng lên Tác phẩm đã phản

ánh được chân thực, sinh động chân dung của một nhân vật anh hùng, sức mạnh kỳ

diệu của một phong trào cứu nước và vẻ đẹp của miền đất Tây Nguyên

Năm 1957, Tạp chí Văn nghệ Quân đội thành lập, Nguyên Ngọc là một thành viên ban biên tập đầu tiên, có khi giữ chức vụ thư ký tòa soạn Bám sát cuộc sống, giữ cho mình một nhiệt tình cách mạng, đó là con đường tồn tại của nhà văn, cùng với tất

cả những nhà văn trong thời kỳ này, Nguyên Ngọc tiếp tục hướng ngòi bút của mình

vào đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc với tác phẩm Mạch nước ngầm Rồi

truyện ngắn Rẻo cao ra đời đã khẳng định bước phát triển về kháng chiến và cách

mạng ở miền núi

Năm 1962, đất nước bước vào cuộc chiến mới, cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc Trong hoàn cảnh đó, Nguyên Ngọc là một trong những nhà văn quân đội đầu tiên trở lại chiến trường miền Nam, ông hoạt động cùng với quân dân liên khu V, chủ yếu ở vùng đất Tây Nguyên và Quảng Nam Lúc này ông là chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng khu V, lấy bút danh là Nguyễn Trung Thành Ông đảm

nhận nhiều chức vụ: Chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ, kiêm trưởng ban biên tập Tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung bộ, trưởng ban văn học thuộc Cục chính trị Quân khu Thời gian này ông đã ý thức được "cầm súng đánh giặc

đã rồi làm nhà văn sau" nhưng cuộc chiến diễn ra với bao sự kiện dồn dập buộc ông

không thể rời ngòi bút được Vừa chiến đấu, vừa viết văn, "tiếng nói bằng vũ khí và vũ

khí b ằng tiếng nói" [72] được ông vận dụng thật đúng lúc, đúng chỗ, hợp lý Những

Trang 29

tác phẩm ông viết trong thời gian này: truyện ngắn Rừng xà nu (1965), tùy bút Đường chúng ta đi (1969), tập truyện Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc,

(1969), Đất Quảng tập 1(1971)

Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất 1975, ông ra Hà Nội công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân đội rồi được bổ sung vào Ban Chấp hành Hội nhà văn (khóa 2), nhận nhiệm vụ Phó tổng thư ký, bí thư Đảng đoàn Hội nhà văn Rồi Ủy viên Ban chấp hành khóa 3 và khóa 4 Ngoài ra ông còn giữ chức Tổng biên tập tuần báo văn nghệ (1979 – 1986) Ông đã từng là đại biểu Quốc hội (khóa VI)

Trước một hiện thực mới, đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình Công

cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới tư duy trên các lĩnh vực đã tác động mạnh mẽ đến văn

học nghệ thuật Rất nhiều nhà văn đã chuyển hướng, họ quan tâm khai phá những hiện

thực mới, đó là số phận cá nhân, những vấn đề của đời sống, đời tư, đời thường của con người như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu Trong đó nhà văn Nguyên Ngọc

"công vi ệc sáng tác và công việc lãnh đạo đều là công tác cách mạng, một mục đích cao c ả phục vụ cách mạng và phải đều làm trọn cả hai" [35] Nguyên Ngọc cuộc đời

của một chiến sĩ cách mạng không bao giờ tách rời phần sáng tác Chính điều này đã

tạo nên cái nhất quán trong sáng tác của ông và những tác phẩm mới ra đời: Trở lại Mèo v ạc (1990), Cát cháy (1998) Tháng Ninh Nông (1999), Có một con đường mòn trên bi ển Đông (1998) Ngoài ra ông còn viết kịch bản phim: Đất nước đứng lên và Hòa bình; tham gia d ịch thuật một số tác phẩm như: Độ không của lối viết của

Roland Barthe, Văn học là gì? của Jean Paul Sartre; Tiểu luận: Nghệ thuật tiểu thuy ết và những di chức bị phản bội của Milan Kundera; viết lý luận phê bình văn

học

Nhìn lại cuộc đời nhà văn Nguyên Ngọc chúng ta thấy rằng "dù lúc ông đang

n ắm giữ một vài chức vụ hay khi đã về hưu, Nguyên Ngọc là người hiếu động Ông không bao gi ờ chịu ngồi không, chịu dừng lại Hạnh phức của ông là làm việc Có

th ể nói đúng hơn Nguyên Ngọc là con người của công lao, ông sáng tác văn học cũng say mê như lúc ông làm công tác "[18] Thành công đáng kể nhất của Nguyên Ngọc

chính là viết về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ mà nội dung đề cập đến

Trang 30

những vấn đề trọng đại của dân tộc, với những con người anh hùng và ngòi bút đậm

chất sử thi

Ngày 1 tháng 9 năm 2000, Nguyên Ngọc được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhì, vì những cống hiến to lớn trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Nhà nước ghi nhận về sự cống hiến to lớn của một đời cầm súng và cầm bút của nhà văn Nguyên Ngọc

1.2.2 Khuynh hướng sử thi, điểm nểi bật nhất quán trong sáng tác của Nguyên

Ng ọc

1.2.2.1 Văn học 1945 - 1975 là nền văn học "xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên

phong c ủa những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay"

(Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng lần thứ tư) Trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại suốt 30 năm, văn học đã phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân và chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện lịch sử Đảng có một vai trò

chủ đạo; vừa lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng, vừa lãnh đạo phong trào văn

hóa văn nghệ của dân tộc Cho nên văn học thời kỳ này chịu sự lãnh đạo của Đảng,

th ống nhất trên một lập trường nhất định, một hệ tư tưởng nhất định Vốn rất coi

trọng và đề cao sức mạnh của văn nghệ, Đảng đã đề ra đường lối văn nghệ lúc này là hướng tới đại chúng, phục vụ đại chúng, phục vụ nhiệm vụ chính tri Với yêu cầu này,

nền văn học thời kỳ 1945 - 1975 đã phản ánh một cách chân thực và hùng hồn cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ nhưng rất hào hùng của dân tộc ta Chưa bao giờ nền văn

học của chúng ta lại có một niềm hào hứng đi sâu vào mọi mặt của đời sống để khám phá ra những vẻ đẹp kỳ tích anh hùng đang nảy nở hàng ngày, hàng giờ đến như vậy Chưa bao giờ nhiệm vụ cách mạng giao cho nhà văn lại có ý nghiã cao cả và thiêng liêng đến như vậy Các nhà văn hầu như đều thấm nhuần vai trò trách nhiệm của mình

đối với yêu cầu lịch sử, của thời đại Họ phải trở thành người "viết sử" cho lớp lớp các

thế hệ anh hùng, cho hiện tại và cho cả mai sau để cổ động tinh thần chiến đấu của nhân dân ta Bằng giọng văn ca ngợi, các nhà văn đã phản ánh được thực tế cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, nêu cao phẩm chất cao đẹp, khí phách lẫm liệt vô song của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hầu hết họ đều hướng ngòi bút của mình vào

những nội dung mang tính sử thi Nguyên Ngọc là một trong những tác giả tiêu biểu

Trang 31

cho phong cách văn chương thời kỳ này; đó là sự kết hợp hài hòa giữa tính chất sử thi

và cảm hứng lãng mạn

1.2.2.2 Khái niệm sử thi cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau Có khi

nó được hiểu là một thể loại văn học xuất hiện từ thời cổ xưa Theo từ điển Tiếng Việt:

"S ử thi là tác phẩm thuộc loại văn học tự sự, miêu tả sự nghiệp cửa những người anh hùng và các s ự kiện anh hùng Tính chất sự kiện được phát triển toàn diện trong một giai đọan trọn vẹn nhất định của cuộc đời nhân vật, lịch sử xã hội" [85]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Sử thi còn được gọi là anh hùng ca, là thể loại

văn học tự sự dài (thường là thơ), xuất hiện sớm trong buổi bình minh của lịch sử kháng chi ến, là một câu chuyện kể lại có đầu đuôi với qui mô lớn" [25; 193]

Trong các quan niệm vừa nêu trên, khái niệm sử thi được hiểu như một thể loại thuộc phạm trù văn học cổ xưa, tiền tiểu thuyết Với tư cách là một thể loại, sử thi đã

một đi không trở lại nhưng một số đặc tính của nó vẫn được kế thừa trong văn học

hiện đại và giới nghiên cứu hiện nay sử dụng khái niệm sử thi với một hàm nghĩa khác Trong cuốn "Dần luận nghiên cứu văn học" của nhà nghiên cứu Xô Viết G.N.Pospelốp

đã cho rằng: sử thi nằm trong ý nghĩa của thể tài và văn học được chia làm bốn thể

tài: Th ần thoại, đời tư, thế sự, lịch sử dân tộc Trong văn học hiện đại, dấu ấn sử thi

còn được lưu lại ở thể tài lịch sử dân tộc Những tác phẩm mang tính sử thi thường được nảy nở và nuôi dưỡng bởi hiện thực hào hùng, giàu vẻ đẹp lý tưởng, mà nội dung

của nó là đề cập đến những sự kiện, biến cố lịch sử, mục đích phản ánh của tác phẩm

là lịch sử và các vấn đề liên quan đến cộng đồng Tác phẩm có tính sử thi thường tập trung miêu tả cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng quốc gia, hay quá trình hình thành dân tộc, là sự nhìn nhận con người theo chuẩn mực cao nhất của cộng đồng Tác phẩm mang tính sử thi còn khẳng định, ca ngợi chiến công của người anh hùng, đại diện ưu

tú của cộng đồng Những phương diện đời tư, đời thường không được chú ý nhắc tới

hoặc nếu có cũng chỉ để nhấn mạnh thêm trách nhiệm của con người đối với cộng

đồng Lời văn sử thi thường trang trọng, đẹp một cách tráng lệ và hào hùng, có

s ức thuyết phục đối với người đọc

1.2.2.3 Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng tám đến 1945 là nền văn học mang tính thần sử thi vì nó chủ yếu hướng tới việc phản ánh các biến cố lịch sử liên

Trang 32

quan tới số phận cộng đồng như hai cuộc chiến tranh vệ quốc và các phong trào vận động cách mạng Nền văn học này là sản phẩm của thời đại, nó tự phân biệt mình với văn học các giai đoạn khác

Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, độc lập tự do lại phải trả bằng máu xương nhiều như hai cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua Nhưng nó cũng là những năm tháng hào hùng nhất của lịch sử 4000 năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Cả nước cùng hành quân ra trận, mỗi tên đất, tên làng đều in dấu chiến công Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đó, văn học chúng ta có những đặc điểm riêng nổi bật nhất là

khuynh hướng sử thi Đường lối văn nghệ của Đảng ta luôn luôn hướng sáng tạo văn

học nghệ thuật vào nhiệm vụ phản ánh chân thực và sinh động sự nhiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam Chính từ định hướng đó sinh ra nhu cầu tất yếu và ngày một bức thiết phải xây dựng những bức tranh nghệ thuật lớn, tương xứng với tầm vóc của dân

tộc trong kỷ nguyên mới Sau kháng chiến chống Pháp, Đảng kêu gọi văn học nước ta

phản ánh trung thực và giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn phức tạp, những vấn đề

lớn đang đặt ra trong xã hội ta ngày nay, những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh của

Tổ quốc, của nhân dân Từ đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng nhấn

mạnh nhiệm vụ "đẩy mạnh sáng tác văn học nghệ thuật, phấn đấu để sớm có những

tác ph ẩm, có tầm vóc lớn, có trình độ khái quát cao về chiến công và kỳ tích của con người Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc"[36] Đảng cũng nhấn

mạnh sự cần thiết phải xây dựng những tác phẩm "nêu rõ những thành tích kháng

chi ến kiến quốc vĩ đại của ta"[36] ghi lại những trang sử oanh liệt, bao quát diễn tả lại

những giai đoạn lớn của cuộc kháng chiến Do đó văn học nước ta thời kỳ này cảm

hứng sử thi đã trở thành một cảm hứng chủ đạo Các nhà văn lúc này, bám vào hiện

thực, hướng về cái mới mẻ của đời sống để khám phá, phản ánh và ca ngợi vẻ đẹp của

chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu cũng như trong lao động của nhân dân

ta Từ đó khắc họa được hình tượng những con người vì sự nghiệp, vì tập thể, những con người xả thân vì nghĩa lớn, biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của cộng đồng lên trên quyền lợi hạnh phúc cá nhân Nguyên Ngọc là một trong những nhà văn thể hiện thành công nhiệm vụ, yêu cầu của Đảng, của Cách mạng trên lĩnh vực văn học

Sáng tác c ủa Nguyên Ngọc giai đoạn trước 1975

Trang 33

Nguyên Ngọc là một trong những tác giả ý thức rất rõ vai trò sứ mệnh của nhà văn - người chiến sĩ Ông đã dùng văn chương của mình làm vũ khí chiến đấu Với

tấm lòng yêu nước thiết tha, ông đã từng lặn lội khắp các chiến trường để chiến đấu và tích lũy tư liệu, thai nghén tác phẩm Với ông, sáng tác văn học chính là công việc

phục vụ nhạy bén nhu cầu kháng chiến Do đó, ngay từ khi mới bắt đầu sáng tác, ông

đã bám sát các vấn đề lớn, nóng bỏng của cách mạng, của sự nghiệp chiến đấu bảo vệ

và xây dựng đất nước Cái hồn trong các trang viết của ông là thuộc về đời sống cách

mạng Những tác phẩm của ông tràn đầy nhiệt huyết, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách

mạng tiêu biểu là tác phẩm Đất nước đứng lên

Tác phẩm Đất nước đứng lên ra đời đã khẳng định một bước tiến quan trọng

trong văn xuôi Việt Nam hiện đại trên phương hướng mà đường lối văn nghệ của Đảng vạch ra Đồng thời, nó cũng góp phần khẳng định vị trí, tên tuổi nhà văn trong lòng bạn đọc Tác phẩm được Nguyên Ngọc sáng tác và ra mắt bạn đọc sau ngày hòa bình lập lại tháng 12 / 1955 nhưng nó lại được thai nghén từ những năm cuối giai đọan

chống Pháp Vốn là người hoạt động nhiều năm ở chiến trường Tây Nguyên, ông đã

từng cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia sinh hoạt với đồng bào Tây Nguyên, Nguyên

Ngọc rất am hiểu những phong tục tập quán, cũng như đời sống tâm hồn con người Tây Nguyên Sau khi tập kết ra Bắc và được triệu tập về dự trại viết truyện anh hùng Nguyên Ngọc đã chọn viết về người chiến sĩ du kích Tây Nguyên, con người mà ông

đã từng thân quen trong những năm hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên vừa được tuyên dương anh hùng Đó là anh hùng Đinh Núp Trong vòng ba tháng, với một niềm say mê và bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, cùng với sự am hiểu về Tây Nguyên cũng như

sự hiểu biết về anh hùng Núp, Nguyên Ngọc đã viết đi viết lại bốn lần Đến cuối năm

1955 mới hoàn thành, với tên gọi hết sức khái quát Đất nước đứng lên Là một tác

phẩm được trao tặng giải thưởng, giải nhất viết về miền núi cùng với Truyện Tây Bắc

của Tô Hoài

Đất nước đứng lên là bản anh hùng ca bất hủ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng

của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp Với tinh thần ý chí quyết chiến, quyết thắng, với lòng yêu chuộng tự do, độc lập, nhân dân Tây Nguyên

Trang 34

dưới sự lãnh đạo của Núp, của Đảng, họ đã đứng lên đánh bại kẻ thù lớn hơn nhiều lần

về kinh tế, quân sự

Bản chất của bọn đế quốc là đi đến đâu, chúng dựa vào thế lực hùng mạnh, về vũ khí tối tân, hiện đại của mình để uy hiếp tinh thần nhân dân Người dân Tây Nguyên

lúc đầu họ rất sợ Pháp vì họ cho rằng: Pháp là "giáng", là "người nhà trời" nó có

những cái mà họ không thể có, bắn nó, nó không chảy máu, không chết, "Pháp có xe,

có máy bay, có súng l ớn, súng nhỏ", "trên trời nó cũng đi được, dưới nước nó cũng đi được bắn trúng nó, nó không chảy máu (73;26) Do đó mà các làng ở Tây Nguyên

đều phải qui phục và đi xâu cho Pháp, dân làng Rông Hoa cũng sợ, chạy lên núi Chỉ riêng Núp không chạy, anh "đi An Khê coi Pháp và dừng ná bắn thử pháp để xem nó

có ch ảy máu không [73;28] và rồi anh đã chứng minh được: "Té ra nó cũng chảy máu”

[73;28] Niềm vui của Núp làm được điều tưởng như không thể Núp đã bày tỏ niềm

vui sướng đó với mẹ, với mọi người: "mẹ ạ, lũ làng ạ, tôi bắn chảy máu một thằng

Pháp r ồi, Pháp không phải ông trời Pháp cũng đánh được"[13; 31] Thế là từ đó, làng

Kông Hoa quyết tâm đi theo Núp đứng lên chống Pháp "khi trước chưa biết, bây giờ

bi ết rồi, biết Bok Hồ ở Hà Nội chỉ huy hết, biết không phải làng Kông Hoa đánh Pháp

m ột mình, biết làm cán bộ đi nói lũ làng nghe theo rồi làng Kông Hoa phải đánh Pháp, đánh được Pháp"[73; 44]

Pháp đánh An Khê, chiếm các làng Đê Pô, Đê Mô, Đê Ta, Ba Lang, Kông Mi Kông Giang, Kông Ma tât cả đều qui phục, chịu đi xâu hết, chỉ riêng làng Kông Hoa

là không chịu đi, quyết tâm đánh Pháp Trước sức mạnh hùng hậu với vũ khí hiện đại

của kẻ thù, làng Rông Hoa cũng nhiều lần phải dời vào rừng sâu để tìm kế sách chống Pháp lâu dài Họ nghĩ Pháp sống một cuộc sống sung sướng quen rồi, không chịu được

khổ Cho nên họ sẽ đánh được chúng bằng chiến lược lâu dài Họ động viên nhau làm nương rẫy để có cái ăn, sáng chế vũ khí: hầm chông, giáo mác, cung tên, bẫy đá để đánh giặc Trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy, thực dân Pháp để hòng khuất phục được ý chí, tinh thần chiến đấu của người dân Tây Nguyên chúng đã cấm không bán

muối, tịch thu tất cả các dụng cụ bằng sắt thép như: dao, rìu, rựa, kim may, dồn người dân Kông Hoa vào tình cảnh đói rét, rách rưới Nhưng Núp cùng với nhân dân Kông Hoa đã tìm mọi cách vượt qua, kiên trì chiến đâu chống Pháp để giành lại độc lập tự

Trang 35

do cho đất nước mình Thực dân Pháp biết người dân Kông Hoa rất quí muối: "trên

r ừng cái gì cũng có vị ngọt, đắng cay, chua chát không thiếu, chỉ thiếu chất mặn của

mu ối " và trong suy nghĩ của họ là: "Trên đời này cái gì cũng để giành được: Trâu,

bò, l ợn, gà, cây cối, ngay cả con người cũng để giành được, chỉ có muối là không để giành được "(Nguyên Ngọc) Người Tây Nguyên, họ rất quí muối Dường như hiểu

được tầm quan trọng của muối đối với người dân Tây Nguyên, do đó, Pháp cấm vận chuyển, bán muối cho dân làng Kông Hoa, rồi chúng dùng muối để mua chuộc nhân

dân Tây Nguyên Người dân Kông Hoa rơi vào tình cảnh đói muối "Hàng tháng nay,

dân làng Kông Hoa ph ải ăn tro tranh thay muối", " nước da người nào cũng tái mét,

b ủng dẹt, má con gái không còn màu đỏ" Trước tình cảnh đó, Núp đã động viên dân

làng: " Ăn tro tranh khổ lắm Tôi cũng biết khổ nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi Còn ăn muối Pháp khổ đời mình, đời con mình khổ nữa, đời cháu mình khổ

n ữa "[73; 54] Nhận thức được điều đó, Núp cùng với bà con không chịu bó tay:

"Anh Núp th ấy người Kông Hoa ăn tro tranh lâu quá, người cứ teo lại Anh đi mãi trong núi tìm th ử có thứ gì ăn khá hơn không ( ) sau càng anh tìm được trái lô pang,

ăn hơi mặn, chan chát, đỡ hơn tro tranh nhiều [73;71]

Người dân Kông Hoa còn phải chịu đựng cái rét buốt thấu xương vì quần áo rách

tả tơi Con gái thương con trai, con trai thương con gái không giám gặp nhau, sợ cái

khố, cái váy rách, mắc cỡ lắm Nhưng không có cây kim, biết lấy gì để vá Trước kia, cây kim phải xuống tận dưới kinh mới mua được, bây giờ thực dân Pháp đã ngăn cấm

không đi được nữa, không tìm đâu ra: "Trời cứ mưa, cứ gió Cái lạnh ở đâu đến làm

tím c ả mặt mày Con nít có khi lạnh quá thở không nổi, phải đốt lửa lên hơ Núp thấy thương quá"[73;61] Không bó tay chấp nhận và cuối cùng thì Núp cũng làm được

một cây kim giúp đỡ bà con: "Cây kim của Núp chuyền tay tất cả phụ nữ trong làng

M ấy ngày sau, con gái thương con trai, con trai thương con gái lại đi đào củ mài, bẻ rau chung v ới nhau, không sợ mắc cỡ nữa Con nít có áo vá lành để mặc, cái môi tím bây gi ờ đỏ"[73;62] Cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ, bên cạnh phải chống lại mọi âm

mưu thâm độc của kẻ thù, nhân dân Kông Hoa còn phải chống chọi với nạn đói: "Đói

ngày càng tăng Cả ngày không còn ai trong làng Ba bốn người, từng tốp đi lang thang trong r ừng, tìm củ mài, tìm rau, tìm lá cây ăn Mấy năm trước, đói còn chịu

Trang 36

được Năm nay không có muối, rau ăn nuốt cũng không được Củ mài ở gần đào hết

r ồi Rau gần cũng bẻ hết rồi, phải ăn lá cây, phải đi vô trong rừng sâu, ăn cả tre lồ ô non"[73;60] N ạn đói hoành hành, ngày càng trở nên nặng nề hơn: "Tháng giêng, đói

càng n ặng, con người ta chỉ còn hai mắt, phải leo lên núi cao lắm mới còn củ mài, măng le, lá cây ăn được Người mạnh đi được xa, người yếu nằm chờ chết"[13;62]

Trước tình thế đó, Núp đã nghĩ ra một cách bày cho dân làng "Phải làm rẫy gấp đôi,

m ỗi nhà trước kia làm một rẫy, bây giờ làm hai rẫy, người đồng chí phải làm ba

r ẫy"[73; 61] Khó khăn chồng chất khó khăn, hết nạn này đến nạn khác, nhưng dưới

sự chỉ huy của Núp, dân làng Kông Hoa không nản chí, họ động viên nhau tìm mọi cách khắc phục nạn đói, vừa đánh giặc

Người Tây Nguyên từ bao đời nay, họ làm rẫy tháng ba, tháng tư Làm như vậy

lúa thường bị hư hại vì cơn mưa tháng tư Nhưng họ không làm sớm vì "giàng" không

cho, giàng phạt, Núp nghĩ: "Đói nữa, đói nữa thì làm sao đánh được Pháp"[73;68] thế

là anh nảy ra quyết định táo bạo phải làm rẫy sớm, từ tháng giêng Chính quyết tâm đánh Pháp đã giúp Núp cùng bà con vượt qua những điều mê tín, những hủ tục và

giành được thắng lợi "Nhưng Núp, Ghíp, Liêu không ai chết cả Năm đó, cuối tháng

ba tr ời tệ qua, đổ mưa to lắm, cả làng phải bỏ rẫy gần hết, chỉ còn rẫy của Núp và ghíp làm lúa s ớm gặp mưa tốt lắm, thu được hơn năm trăm gùi lúa Bữa cơm, bữa cháo, c ả làng ăn chung với núp và Ghíp qua những ngày đói"[73,69] Năm sau, Núp

lại làm rẫy sớm, cả làng ai nấy đều theo Núp làm rẫy tháng giêng và không còn cái đói

Đất nước đứng lên quả là bài ca của những con người chiến thắng Đọc tác

phẩm, chúng ta như được sống lại quá khứ oai hùng nhưng đầy thử thách của nhân dân Tây Nguyên, chúng ta thông cảm với họ, khâm phục ở họ ý chí vượt qua mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh giặc đến cùng để giành lại cuộc sống Qua tác phẩm, nhà văn

đã củng cố niềm tin vào chính nghĩa, vào khối đoàn kết toàn dân, vào ý chí con người

Đồng thời, khẳng định một chân lý lớn của cách mạng là: Một dân tộc dù nhỏ bé

nhưng yêu nước, yêu tự do, khi có đường lối đúng đắn có thể đánh thắng được mọi kẻ thù"[73;16] Đất nước đứng lên là hiện thực vĩ đại nhất của thời đại cách mạng vô sản

và phong trào chống đế quốc Tác phẩm đã giúp bạn bè trên thế giới hiểu rõ hơn về

Trang 37

cuộc kháng chiến của nhân dân ta Tại La Habana, năm 1962, trong lần gặp gỡ đoàn

đại biểu nhân dân Việt Nam, đồng chí Phi đen Caxtro đã nói: "Tác phẩm Đất nước

đứng lên của các anh đã làm cho tôi tin hơn ở núi rừng chúng tôi và tin hơn ở sức mình Nh ững con người đã anh dũng chiến đấu chống thực dân Pháp như thế thì giờ đây, họ còn dám đánh Mỹ đến nhường nào" [ 73;162]

Bám sát cuộc sống, giữ cho mình một niềm tin và tinh thần cách mạng, đó là con

đường đúng đắn nhất của các nhà văn thời kỳ này Sau tác phẩm Đất nưổc đứng lên,

Nguyên Ngọc vẫn tiếp tục sáng tác, thời gian này, ngòi bút của ông hướng về đề tài xây dựng đất nước, về hình tượng người anh hùng trong lao động, pha lẫn trong chiến đấu lại được tái hiện một cách rõ nét trong sáng tác của Nguyên Ngọc Tác phẩm

M ạch nước ngầm ra đời năm 1960, tác giả kể về không khí lao động của những con

người ở một công trường xây dựng trạm bơm Những con người lao động ở đây, có người là những người lính đã trãi qua chiến trường (Quả, Thuyết), có người là học sinh

mới ra trường (Mỹ), họ đang đứng trước một thử thách lớn trong cuộc sống xây dựng đất nước: xây dựng một trạm bơm nhưng trạm bơm đó đang bị lưu sa và mạch nước

ngầm uy hiếp trầm trọng Đòi hỏi mỗi người không được hoang mang, nản chí, phải nêu cao ý thức trách nhiệm, phải có quyết tâm cao, đồng thời cần phải có cả những

hành động dũng cảm thì mới chiến thắng được "mạch nước ngầm" trong lòng đất và

trong lòng người Tác phẩm không viết về đề tài chiến đấu mà đi vào khám phá cuộc

sống ở một lĩnh vực mới, cuộc sống lao động xây dựng đất nước nhưng mạch văn vẫn

nằm trong tinh thần của sử thi

Tập truyện ngắn Rẻo cao ra đời (1961), một tập sách mỏng, với sáu truyện ngắn

mà truyện nào cũng hay Cho đến bây giờ, tập truyện vẫn có sức thu hút người đọc bởi cái giọng điệu đằm thắm, sôi nổi, những cảm xúc tinh tế, ngọt ngào, cái nhìn lành

mạnh khỏe khoắn, trong trẻo Qua tập truyện này một lần nữa, tác giả cho ta thấy thiên nhiên và con người miền núi quả có một vẻ hấp dẫn, một sức tác động trở lại đối với Nguyên Ngọc, làm cho ngòi bút của ông trở nên phơi phới, tha thiết lắng sâu Giữa cái bát ngát, đậm đà của sắc màu đất trời quê hương là hình ảnh những con người với khoảng tâm hồn hiện ra rất đẹp, rất say người Đặc sắc nhất trong tập truyện là truyện

ngắn Rẻo cao, truyện kể về một ông già người Mèo tên là Cắm Ông bỏ nhà đi hoạt

Trang 38

động cách mạng, suốt cả cuộc đời gắn bó, say mê việc nước đến quên cả hạnh phúc riêng tư Khi tuổi đã già không còn đủ sức đi làm cách mạng nữa thì ông về quê làm cách mạng ở quê nhà với công việc là chuyển thư từ, báo Đảng xuống các bản làng Trong sâu thẳm tâm hồn mình, ông Cắm đã ý thức được việc mình làm và con đường

ông đã chọn, nguyện suốt đời phấn đấu cho cách mạng: "cách mạng chưa xong, không

ai ch ịu về đâu! Các đồng chí phê bình, phê bình thì phê bình Cắm cũng đi cách mạng cho đến cùng kia [76; 19] Sự tận tụy gắn bó một lòng với công việc cách mạng của

ông không chỉ đơn thuần là tinh thần trách nhiệm của người công dân đối với Tổ quốc mình, mà còn bằng cả tình yêu, lòng say mê của một tâm hồn khao khát muốn cống

hiến cho cách mạng Ông Cắm là một điển hình về người anh hùng của cộng đồng các dân tộc trên núi cao trong việc xây dựng đất nước

Truyện ngắn Dũng cảm với tiêu đề vừa ngắn gọn nhưng cũng rất khái quát, nhà

văn Nguyên Ngọc đưa đến cho người đọc một nhận thức mới về con đường cống hiến cho cách mạng Đó là niềm khát vọng, lòng dũng cảm vượt qua mọi gian nan, thử thách đem ánh sáng văn hóa đến những vùng rừng núi hẻo lánh Câu chuyện kể về cô giáo Tuyết, người Hà Nội đã bỏ thủ đô, bỏ cả người yêu xung phong lên miền rừng núi

dạy học Cô hết lòng thương yêu các em, cô nguyện sẽ gắn bó lâu dài với các em, cô không thể bỏ các em mà về xuôi được Đó là một lối sống dũng cảm, một sự lựa chọn dũng cảm Cô giáo Tuyết, đã biết hy sinh tình cảm riêng tư cá nhân để phục vụ nhiệm

vụ cách mạng "đâu cần, thanh niên có, đâu khó có thanh niên" Cô đã để lại một ấn

tượng đẹp trong lòng người đọc về tình cảm gắn bó giữa miền xuôi và miền ngược,

giữa cô giáo và trẻ thơ, giữa hiện tại và tương lai Nguyên Ngọc, con người luôn gắn

bó với cách mạng, cho nên con đường ông đi sẽ là con đường dẫn ông đến những điểm nóng của cuộc sống, sống như một người trong cuộc với nhân dân, để từ đó lắng nghe được tất cả mọi tiếng động của cuộc đời, từ những rung chuyển lớn lao của thời cuộc, đến những nhịp đập khẽ của mỗi con tim Trong nguồn sống đó tiếng nói của ông cất lên không phải là tiếng nói xa lạ, đơn lẻ, mà là tiếng nói của nhân dân, tiếng nói lạc quan, đằm thắm, hùng tráng, có sức giục giã con người vươn lên

Tác phẩm sử thi thường khai thác những đề tài chung của tập thể, của dân tộc,

cộng đồng và thiên về khẳng định, ca ngợi, với giọng điệu hào hùng Chất sử thi không

Trang 39

đối lập với hiện thực mà có khả năng hòa hợp gắn bó với hiện thực Ở nơi nào cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt thì ở đó trên những trang viết lại đậm đà chất sử thi Sau đồng

khởi, đầu năm 1962 ngoài lực lượng cán bộ, bộ đội tập kết trở về miền Nam, còn có các văn nghệ sĩ cũng tham gia vào cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, giải phóng

miền Nam Nguyên Ngọc là một trong những thành viên trong đội quân văn nghệ đầu tiên được điều động trở lại chiến trường vừa tham gia chiến đấu, vừa viết văn với bút danh là Nguyễn Trung Thành Gắn bó với cách mạng, đấu tranh vì sự nghiệp cách

mạng, đó là con đường mà ông đã chọn Đó cũng là con đường mà cả dân tộc ta hơn mây chục năm qua đã trải qua Từ trong máu và nước mắt, từ trong nước sôi lửa bỏng

mà cả dân tộc đã trưởng thành Đường chúng ta đi là cuốn tùy bút nổi tiếng của

Nguyễn Trang Thành, ông đã nói lên nhận thức của mình về cuộc kháng chiến chống

đế quốc Mỹ, của nhân dân miền Nam và nói lên tình cảm tha thiết của ông đối với

cuộc kháng chiến: "Từ xưa đến nay, bao giờ cũng vậy, con người tự nhận thức ra mình

trong quá trình chi ến đấu với kẻ thù và với thiên nhiên" [68] Hôm nay đây trong

những ngày dân tộc ta đang phải đương đầu với một kẻ thù vô cùng tàn bạo và có tiềm

lực hơn ta gấp bội, điều đó đòi hỏi chúng ta phải nổ lực hơn, có ý thức rõ ràng hơn trong chiến đấu và nhận thức Nhận thức về kẻ thù, về tâm địa độc ác của chúng và điều quan trong hơn là nhận thức về ta, về sức mạnh căm thù của nhân dân, về lịch sử anh hùng của dân tộc ta, về những khả năng, những giá trị nội tại của bản thân ta

"Chúng nó có vũ khí Mỹ Trả lời chúng, ta có tiếng nói của vũ khí và vũ khí của tiếng nói Mi ệng súng và miệng người, ta đều phun cái chết vào mặt quân thù"[68] Đường

chúng ta đi mà nhà văn muốn nói lên ở đây là một con đường cụ thể, con đường ra trận, nhưng con đường này lại hòa vào con đường của cả dân tộc hơn mấy chục năm qua và

đang tiếp tục đi tới Con đường đầy gian lao thử thách nhưng rất đổi tự hào "Cho tôi

được sống trong những ngày hôm nay của dân tộc ta Tôi thiết tha yêu cái ngày hôm nay c ủa đất nước, tôi thiết tha yêu đội ngũ trừng điệp của chúng ta đang tiến lên trong

cu ộc hành quân cả nước sôi sục và chiến thắng này" [66; 39]

Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở vào giai đoan gay

gắt, khốc liệt nhất, Nguyễn Trung Thành đã ra mắt bạn đọc truyện ngắn nổi tiếng

Rừng xà nu Đây là một tác phẩm hay, nói về "những ngày sôi sục, nghiêm trang,

Trang 40

nghiêm tr ọng, lo lắng, quyết liệt, hào hứng, hào hùng Dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán m ất còn trực tiếp với đế quốc Mỹ" [72;53] Tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng sử

thi trong sáng tác của Nguyễn Trung Thành Cái tạo nên thành công cho tác phẩm là nhà văn đã kết hợp được cảm hứng sử thi với bút pháp sử thi điêu luyện khái quát tầm vóc lịch sử của một giai đoạn cách mạng ở một vùng đất đậm đà sắc thái Tây Nguyên Tác phẩm đã đề cập đến một vấn đề trọng đại của lịch sử dân tộc, cuộc chiến đấu

chống Mỹ cứu nước đang diễn ra gay go và quyết liệt ở Tây Nguyên nói riêng và cả dân tộc nói chung Trong hoàn cảnh đó, chúng ta đứng trước một sự lựa chọn nghiệt ngã: Hoặc phải cầm vũ khí hoặc cúi đầu làm nô lệ Một đất nước 4000 năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước chưa bao giờ chịu khuất phục kẻ thù, ''chúng ta thà hy

sinh t ất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" (Hồ

Chí Minh), hay như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khẳng định:

"Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất "

(" Đất nước" của Nguyễn Đình Thi)

Lịch sử của dân làng Xô Man qua lời kể của cụ Mết trong tác phẩm Rừng xà nu

là một chuỗi dài của những đau thương: quần chúng bị giặc giết vì nuôi cán bộ Anh Xút bị treo cổ trên cây vả đầu làng, bà Nhan bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng Tấm lưng Tnú khi còn bé đã ngang dọc vết dao chém, máu chảy ra rồi đặc quện lại tím như

nhựa xà nu Người cán bộ Đảng, anh Quyết đã hy sinh, Mai cùng con, đứa con trai chưa đầy tháng tuổi đã phải chết dưới làn roi tàn bạo của kẻ thù, và ngay chính cả Tnú cũng bị chúng đốt cụt cả mười đầu ngón tay Với âm mưu hủy diệt mầm sống trên

mảnh đất Tây Nguyên bằng mọi thủ đoạn tàn ác Nhưng lịch sử Xô Man cũng là lịch

sử của sự sống không thể nào dập tắt, của một tư thế sống không biết đến sự cúi đầu

Kế tiếp truyền thống cha ông ta, dân làng Xô Man dũng cảm, vùng lên khẳng định quyền tự vệ chính đáng của mình: "Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo

mác"[76;159] Dưới sự chỉ huy của cụ Mết, nguời dân Xô Man đã tự mình sáng chế ra

vũ khí : Giáo mác, vụ, rựa, tên ná, chông tre, nhất quyết một lòng "Chém, chém hết!"

kẻ thù xâm lược Thanh niên không thể đi nuôi cán bộ thì đã có ông bà già Ông bà già không thể đi được thì thiếu nhi tiếp tục Anh Quyết hy sinh nhưng Tnú có thể thay anh,

Ngày đăng: 02/01/2021, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w