1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong nhật ký nguyễn ngọc tấn

63 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 668,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... vấn đề lí luận nghệ thuật trần thuật đôi nét v Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn Chƣơng 2: Ngƣời trần thuật Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn Chƣơng 3: Ngôn ngữ giọng điệu trần thuật Nhật ký NguyễnNgọc Tấn NỘI DUNG... trang nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn Chọn nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn, mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu cách chuyên sâu thể loại nhật ký Lịch sử vấn đề Nghệ thuật trần thuật. .. Vài nét Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn 12 1.2.1 Hoàn cảnh đời trình lưu hành 12 1.2.2 Giá trị, ý nghĩa Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn 13 CHƢƠNG NGƢỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

NGUYỄN MINH HIỀN

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG

NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận Văn học

Người hướng dẫn khoa học ThS Hoàng Thị Duyên

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới ThS

HoàngThị Duyên – người đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong

quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa NgữVăn và đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lí luận văn học đã tận tụy tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Minh Hiền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS

HoàngThị Duyên Tôi xin cam đoan: Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm

tòi của riêng tôi Những gì đã được triển khai trong khóa luận không trùng khớp với bất cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó.Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Minh Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp luận văn 4

7 Cấu trúc luận văn 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN 5

1.1 Những vấn đề chung về nghệ thuật trần thuật 5

1.1.1 Khái niệm trần thuật 5

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của trần thuật 6

1.2 Vài nét về Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn 12

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và quá trình lưu hành 12

1.2.2 Giá trị, ý nghĩa của cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn 13

CHƯƠNG 2 NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN 14

2.1 Ngôi kể 14

2.2 Điểm nhìn trần thuật 19

2.2.1 Điểm nhìn của người trần thuật 19

2.2.2 Sự kết hợp đan xen điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian 27

2.2.3 Điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài 30

Trang 5

2.2.4 Điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm xúc 32

CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 35

3.1 Ngôn ngữ trần thuật 35

3.1.1 Ngôn ngữ quy ước, ẩn dụ 35

3.1.2 Ngôn ngữ hướng nội 37

3.1.3 Ngôn ngữ trữ tình 38

3.1.4 Ngôn ngữ ngắn gọn, giản dị, gần gũi tự nhiên 39

3.1.5 Ngôn ngữ tự do 40

3.1.6 Ngôn ngữ mang đặc trưng vùng miền 41

3.2 Giọng điệu trần thuật 43

3.2.1 Giọng điệu thống thiết, chân thành 43

3.2.2 Giọng hào hùng, đanh thép 46

3.2.3 Giọng lạc quan, tin tưởng 48

3.2.4 Giọng trữ tình sâu lắng 51

KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Nhật ký là một thể loại khá đặc biệt trong nền văn học Việt Nam So với nhiều thể loại văn học khác thì thể loại nhật ký xuất hiện khá muộn Hơn nữa, số lượng nhật ký hiện nay ở nước ta còn khá ít nên vẫn chưa có nhiều người biết đến Vì vậy, thể loại nhật ký trong nước ta hiện nay cần phải được quan tâm và làm phong phú hơn cho nền văn học của dân tộc

Trong những năm gần đây, nhật ký đã được sự quan tâm của dư luận

Và dường như có sự quan tâm hơn đối với những cuốn nhật ký về đề tài chiến tranh.Thể loại nhật ký được biết đến như một điển hình về sự mới mẻ.Ngay

sau khi ra mắt, cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn để lại nhiều ấn tượng sâu sắc

trong lòng bạn đọc và lúc này nhật ký đã nhận được sự quan tâm của giới

nghiên cứu Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn đã tạo nên những chấn động trong

lòngđộcgiả, gây xúc động mạnh mẽ và tạo ra một hiệu ứng xã hội lớn.Chính

vì thế mà thể loại văn học này đòi hỏi cần được quan tâm, nghiên cứu một cách nghiêm túc và thật toàn diện

Hơn nữa khi tiếp nhận cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn chúng ta sẽ

được khám phá những góc khuất chân thực về cuộc sống và ở tâm tư con người mà các thể loại khác không có được, ta cũng không dễ gì bắt gặp Vì thế cuốn nhật ký đã trở thành những kỷ vật vô giá không chỉ đối với đời sống tình cảm con người mà còn là những hiện vật vô giá đối với nhiều lĩnh vực

khác nữa.Trong trường hợp như thế cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn trở thành

chứngnhân đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đời con người và đối với mỗi lịch sử quốc gia Tâm hồn người viết, nhân cách người viết, những biến động về thời đại lịch sử được hiện lên rất rõ nét qua nhiều trang nhật ký của Nguyễn Ngọc Tấn

Trang 7

Chọn và nghiên cứu về Nghệ thuật trần thuật trong Nhật ký Nguyễn

Ngọc Tấn, chúng tôi rất mong muốn có thể góp phần vào việc tìm hiểu một

cách chuyên sâu hơn về thể loại nhật ký

2 Lịch sử vấn đề

Nghệ thuật trần thuật là một trong những vấn đề được giới nghiên cứu văn học quan tâm.Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm tự sự nhưng nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật trong nhật ký thì rất ít Bởi vì đặc trưng của thể loại nhật ký là những ghi chép mang tính chất riêng tư vì thế mà sự xuất hiện của chúng không nhiều và cũng chưa thu hút được sự quan tâm của độc giả cùng giới nghiên cứu

Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn từ khi ra đời đã gây ấn tượng mạnh mẽ tới

bạn đọc cũng như sự quan tâm của giới nghiên cứu Hàng loạt những bài viết, giới thiệu… xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông Có một số

các bài viết, giới thiệu về Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn Thông qua những bài

viết trên, chúng ta có một cái nhìn chân thực hơn về cuộc chiến vĩ đại mà thế

hệ cha anh đã đi qua, những khó khăn gian khổ và sự hy sinh vì lý tưởng của tuổi trẻ Tất cả những bài viết đó đã giới thiệu sơ lược về thể loại nhật ký tới bạn đọc

Hiện nay có rất ít bài nghiên cứu về nhật ký mang tính chuyên sâu:

Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh của Tôn Phương Lan đã ít

nhiều mang tới cho độc giả cái nhìn chân thực về hiện thực chiến tranh và sự

tàn khốc của nó Có một số bài nghiên cứu về nhật ký tiêu biểu là Nhật ký

Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này

vẫn chưa đi sâu vào đặc điểm nghệ thuật khu biệt của thể loại

Có thể nói, nghiên cứu về nhật ký bước đầu chỉ là giới thiệu sách chứ chưa có một công trình nào đi sâu vào đặc sắc nghệ thuật của thể loại văn học

Trang 8

này.Vì thế đề tài khóa luận này chúng tôi mong muốn hướng tới tìm hiểu đặc trưng cơ bản của thể loại nhật ký cụ thể là qua yếu tố nghệ thuậttrần thuật để làm rõ những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm nhật ký

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trong văn học thể loại nhật ký đã góp phần hoàn thành bức tranh hiện thực đời sống của con người Phản ánh thực tại cuộc sống trên nhiều bình diện, đa chiều, đa sắc, giúp cho độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về con người và xã

hội Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn nói đã mở ra thế giới tâm hồn sâu lắng của

cảm xúc và chất suy tư tình cảm của chủ thể sáng tạo khi đánh giá, nhận xét

về hiện thực cuộc sống dưới cái nhìn trực diện

Bên cạnh đó, chúng tôi mong muốn với những giá trị tinh thần sâu sắc

mà Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn mang đến sẽ nhắc nhở mọi thế hệ Việt Nam

nhất là thế hệ trẻ những ngày tháng hào hùng của dân tộc, về lý tưởng sống cao đẹp và tình yêu thương của những con người… Thông qua đề tài nghiên cứu giúp chúng ta nhận thức được và có cái nhìn chân thực hơn

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu cuốn Nhật ký

Nguyễn Ngọc Tấn trên phương diện nghệ thuật trần thuật

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn trên khảo sát Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn, ngoài ra còn tham

khảo cuốn nhật ký khác nhằm làm nổi bật lên ý nghĩa thể loại cũng như ý nghĩa xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi đưa ra các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp thống kê, so sánh

Trang 9

Phương pháp hệ thống

6 Đóng góp luận văn

Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

chúng tôi mong muốn luận văn sẽ mang lại cái nhìn toàn diện về những đóng góp của cuốn sách này trên phương diện người trần thuật, điểm nhìn trần thuật,ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật cũng như ý nghĩa hiệu ứng đối với đời sống văn học Việt Nam

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương cụ thể là:

Chương 1: Những vấn đề lí luận về nghệ thuật trần thuật và đôi nét

vềNhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

Chương 2: Người trần thuật trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong Nhật ký

NguyễnNgọc Tấn

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT

VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN

1.1.Những vấn đề chung về nghệ thuật trần thuật

1.1.1.Khái niệm trần thuật

Trần thuật (narration) là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện, miêu tả nhân vật theo một thứ tự nhất định, theo một cách nhìn nào đó Trần thuật được sử dụng phổ biến trong các thể loại văn học song ở tác phẩm truyện trần thuật trở thành một tiêu điểm, một nguyên tắc chủ yếu để cấu tạo thế giới nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi đồng chủ biên thì trần thuật là “phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật,

sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cái nhìn của người trần thuật” [3; 364] Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Như vậy nghiên cứu nghệ thuật trần thuật giúp chúng ta có cơ sở khẳng định giá trị của tác phẩm đồng thời khẳng định tài năng và những đóng góp của nhà văn vào diễn trình tự sự của đời sống văn học

Trần thuật gắn với toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm, tác phẩm

dù kể theo trình tự nhân quả hay liên tưởng, nhanh hay chậm, kể ngắt quãng rồi

bổ sung thì trần thuật là cả một hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đưa hoạt động lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý định của tác giả (mối quan hệ giữa câu chuyện và cốt truyện) Ở đây có sự khác biệt về thời gian, sự tổ chức trật tự sự kiện và nhịp điệu của câu chuyện Khoảng cách góc độ của lời kể đối với cốt truyện tạo thành cái nhìn

Trang 11

Mối quan hệ giữa thái độ của người kể đối với các sự kiện được kể lại cũng như người nghe, người kể ở “trong truyện” hay “ngoài truyện” ở giữa người nghe gần hay cách xa họ tạo thành giọng điệu của trần thuật Bố cục của trần thuật hình thành với sự triển khai cái nhìn, đan cài, phối hợp, luân phiên các điểm nhìn.Có điểm nhìn ngoài, hoặc điểm nhìn xuyên qua nội tâm nhân vật.Có điểm nhìn nhân vật, sự kiện từ một nền văn hóa khác

Trần thuật đòi hỏi phải có người kể.Chủ thể của lời kể, khi trần thuật phải xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và nhân vật.Như vậy có hai nhân tố sẽ qui định trần thuật là người kể và ngôn từ.Các yếu tố của trần thuật đều thuộc về hai nhân tố cơ bản này

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của trần thuật

kể chuyện có thể kể theo nhiều ngôi khác nhau

Cái được gọi là ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức như trong các truyện dân gian hoặc là đã ý thức được nhưng cố giấu mình đi như trong các truyện hiện đại.Ngôi thứ nhất là hình thức lộ diện, ngôi thứ ba là ẩn mình đi.Sự phân biệt trên chỉ mang tính qui ước, cho dù mỗi

sự chọn lọc hình thức kể cũng có khả năng tạo ngôn ngữ nhất định cho trần thuật

Người kể chuyện ngôi thứ ba là hình thức trần thuật ngự trị trong văn học cổ trung đại.Hình thức kể này cho phép người kể có thể kể tất cả những gì

họ biết

Hình thức kể ngôi thứ nhất là một nhân vật trong truyện chứng kiến các

sự kiện đứng ra kể.Hình thức này xuất hiện ở Châu Âu từ đầu thế kỷ XIX

Trang 12

Người kể chuyện ngôi thứ hai cũng mang cái tôi của người kể song nó tạo được một không gian gián cách, một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra chứ không phải là một cái tôi tự kể như ngôi thứ nhất

1.1.2.2 Điểm nhìn trần thuật

Vấn đề điểm nhìn đã được nghiên cứu từ lâu từ đầu thế kỉ XIX với Anna Barbauld, cuối thế kỷ XIX với Henri James (1884), đầu thế kỷ XX với Friedman, Foster, Tomasevski, từ những năm 40 trở đi được nghiên cứu sâu hơn với Todorov, Genette, Lotman, Bakhtin…

Trong tài liệu, thuật ngữ điểm nhìn được định danh bằng nhiều từ khác nhau ví dụ như viewpoint, view, point of view… Cũng có những nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm điểm nhìn quá rộng, quá chung nên đề xuất khái niệm nhãn quan (vision), có người đề xuất khái niệm để quan sát ( post of observation), có người đề nghị dùng tiêu cự trần thuật (focusof narrative…)

Điểm nhìn trần thuật (Tiếng Nga: Khudojestvennaya tochka zreniya; Tiếng Anh: Point of view) là “vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả

sự vật sự vật trong tác phẩm Không thể không có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn” [3]

Theo PGS Nguyễn Thái Hòa “Điểm nhìn của lời nói giao tiếp là tọa độ của hai trục: lời nói hiển ngôn và hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý người nhận có thể tiếp nhận được” [5; 88] Còn “điểm nhìn nghệ thuật trong truyện

về cơ bản cũng là được suy ý từ văn bản và hành động kể (phát ngôn) cũng thể hiện ở nhiều thủ pháp khác nhau Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa người viết – văn bản – người nhận ở cả hai bậc hiển ngôn và hàm ngôn [5; 95-96]

Trang 13

Điểm nhìn có thể phân thành ba loại:

Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trữ tình và

của nhân vật trong tác phẩm tự sự.Trong tác phẩm mọi sự biểu hiện, miêu tả đều từ tác giả mà ra, song để tạo nên hình tượng nghệ thuật tác giả thường tạo

ra những kẻ môi giới đứng ra kể chuyện, quan sát, miêu tả Có thể đó là người trần thuật ngôi thứ ba ẩn mình và trần thuật theo ngôi thứ nhất lộ diện, đồng thời là nhân vật trong hồi ký, tùy bút, người trần thuật thường là tác giả hoặc gần với tác giả, thường trực tiếp xưng tôi

Trong tác phẩm thơ trữ tình có thể xưng tôi hoặc không So với nhân vật điểm nhìn tác giả thường là của người đứng ngoài vì tác giả thường có vấn

đề suy nghĩ riêng không trùng với nhân vật

Điểm nhìn nhân vật là điểm nhìn theo cá tính, địa vị tâm lý của nhân vật Điểm nhìn người trần thuật lại có thể tựa vào điểm nhìn của nhân vật để miêu tả thế giới theo cảm nhận chủ quan của nhân vật

Điểm nhìn không gian, thời gian.Ở đây là ví trí của chủ thể trong

không gian, thời gian thể hiện ở cách nhìn, khoảng cách nhìn ở đặc điểm của khách thể được nhìn

Khi điểm nhìn của người trần thuật trùng với điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn không gian, thời gian thể hiện qua các từ chỉ thị phương vị, thời gian

điểm như: Ở đây, kia, hôm nay, nay… Khi điểm nhìn trần thuật không trùng

với điểm nhìn nhân vật ta có các hình thức: Điểm nhìn ở tầm khái quát, tầm

xa, điểm nhìn của người trầnthuật vận động theo hướng của mình, khi lùi về quá khứ, khi ở phía này, khi ở phía kia trong các tuyến nhân vật, khi ở trên cao có thể thấy cảnh câm, chỉ thấy mà không nghe…

Điểm nhìn bên ngoài, bên trong

Điểm nhìn bên ngoài, bên trong của người của người trần thuật miêu tả

sự vật từ phía bên ngoài nhân vật(người quan sát có thể là người kể chuyện trực tiếp, có thể từ các nhân vật khác, có thể theo một mô thức sẵn có)

Trang 14

Điểm nhìn bên ngoài, bên trong biểu hiện bằng hình thức tự quan sát,

tự thú nhận của nhân vật, bằng hình thức người trần thuật tựa vào các giác quan, tâm hồn nhân vật để biểu hiện bằng cách cảm nhận về thế giới

Điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc

Đây là hệ thống quan điểm cảm nhận thế giới khác với điểm nhìn bên ngoài chỉ ghi nhận đặc điểm nhân vật, sự vật, điểm nhìn đánh giá xuất phát từ phía trung tâm giá trị, thường là nhân vật chính, người trần thuật Quan điểm đánh giá thể hiện ở thái độ của chủ thể lời nói đối với khách thể, bộc lộ qua các từ đánh giá, cách nhấn mạnh

Điểm nhìn trần thuật gắn bó chặt chẽ với ngôi kể nhưng rộng hơn ngôi

kể, ngược lại mỗi ngôi kể ít nhất tạo ra một điểm nhìn, song một điểm nhìn thì hoàn toàn có thể không có ý nghĩa như một ngôi kể

Điểm nhìn trần thuật là một phạm trù của thi pháp học lịch sử.Khái niệm giúp người ta giải phẫu cấu trúc nội tại của tác phẩm, phân tích cách cảm thụ, miêu tả và thái độ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm

1.1.2.3 Ngôn ngữ trần thuật

Văn học là nghệ thuật ngôn từ nhưng không chỉ là ngôn từ Ngôn từ văn học

là ngôn từ được lựa chọn, được tổ chức thành văn bản cố định, sao cho nói một lần có thể giao tiếp mãi mãi

M Bakhtin cũng cho rằng thật ngây thơ nếu cho rằng: nghệ sỹ chỉ cần một ngôn ngữ như là ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ của nhà ngôn ngữ Thực ra nghệ

sĩ ra công ngôn ngữ, nhưng không như ngôn ngữ, bởi vì anh ta khắc phục ngôn ngữ như là ngôn ngữ để biến nó thành phương tiện biểu hiện nghệ thuật [1; 167]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được

dùng trong văn học” Vì vậy văn học mới được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ

Trang 15

M Gorki khẳng định: “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” và một nhà văn đích thực phải tự ý thức về mình như nhà ngôn ngữ vì ngôn ngữ

là “yếu tố đầu tiên qui định cung cách ứng xử” [3; 35] Đối với văn chương, ngôn ngữ không chỉ là cái vỏ tư duy mà còn là tài năng, cá tính và quan điểm của nghệ thuật Do đó, giọng điệu tác phẩm trước hết là giọng điệu ngôn ngữ Khi nói tới ngôn ngữ trần thuật chúng ta có thể hình dung ra ngay các yếu tố đó là ngôn ngữ của người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nước đôi Trong đó, ngôn ngữ người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật giữ vai trò quyết định tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa ngôn ngữ người trần thuật: “phần lời

văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ” [3; 212]

Ngôn ngữ người trần thuật là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả” [3; 212]

Như vậy, ngôn ngữ trần thuật vừa mang tính cảm xúc, tính cá thể hóa

do đặc trưng của ngôn ngữ người kể chuyện (người trần thuật) và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học qui định Ở tác phẩm tự sự, ngôn ngữ người trần thuật giữ vai trò quan trọng nhất Khi ngôn ngữ đa thanh thì lời văn trần thuật sẽ đa giọng, điều này sẽ làm nên tính đối thoại của tác phẩm tự sự

1.1.2.4 Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường đạo đức của nhà văn đối với các hiện tượng được miêu tả trong lời văn qui định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm… Chẳng hạn, trong thơ tình yêu của Thế

Lữ, theo Hoài Thanh, có giọng điệu “lẳng lơ mà xa vời và thiếu tình ấm áp”

Trang 16

thể hiện ở cách gọi thiếu nữ là cô em, do chưa đủ thân mật để gọi bằng em, giọng điệu ngọt ngào êm ái trong Hồn bướm mơ tiêncủa Khái Hưng, giọng điệu suồng sã, đay nghiến trong Chí Phèo của Nam Cao, giọng điệu mỉa mai, châm biếm trong Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc

Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo thành phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc

Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học Khác với

“giọng” (voice) thường được nhìn từ góc độ vật lý (cường độ, trường độ, cách phối âm, âm lượng), “giọng điệu” (tone) là phạm trù được xét từ góc độ tâm lý, biểu hiện các thái độ (vui, buồn, giận…) Giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả

Không nên đồng nhất giọng điệu nghệ thuật vói giọng điệu của tác giả vốn có ngoài đời Cũng không nên lẫn lộn giọng điệu với ngữ điệu, là phương diện biểu hiện của lời nói, biểu hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp điệu…

Giọng điệu luôn mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống được miêu tả

Cơ sở của giọng điệu:

Cơ sở chủ quan của giọng điệu xuất phát từ cảm hứng chủ đạo của nhà văn: Lòng yêu say lý thuyết lí tưởng, yêu cái đẹp, niềm vui, nỗi đau, lòng căm giận…Nếu nhiều nhà văn có cảm hứng chính luận, phê phán, bất mãn với thực tại thì anh ta sẽ có giọng điệu lên án, tố cáo, lúc đó anh ta sẽ sử dụng các biện pháp mỉa mai, châm biếm, nhại…Vị thế của nhà văn tự coi mình là ai (khách bộ hành, nhà tiên tri, truyền đạo, quan tòa, người tố cáo)

Cơ sở khách quan của giọng điệu:

Xuất phát từ chính đặc tính thẩm mỹ cụ thể của đối tượng miêu tả Truyện đau thương đòi hỏi giọng buồn, ngậm ngùi, truyện hài hước cần giọng đùa cợt, giễu nhại, miêu tả người anh hùng cần có giọng thành kính, ngợi ca

Trang 17

1.2 Vài nét về Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và quá trình lưu hành

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi) xuất thân trong một gia đình nghèo, cha làm hương sư, mẹ buôn bán vặt Tuy hoàn cảnh khó khăn, nhưng anh vẫn ham học Năm lên 10 tuổi, anh mồ côi cha phải sống nhờ vào anh em,

họ hàng Đầu năm 1945, ông theo người thân vào Sài Gòn kiếm sống

Cách mạng tháng tám nổ ra, anh tham gia cách mạng tại Sài Gòn Trong kháng chiến chống Pháp, anh làm công tác tuyên huấn, đội trưởng văn nghệ quân khu miền Đông Nam Bộ Đầu năm 1955, anh tập kết ra Bắc, làm Đội trưởng Đội văn nghệ công sư đoàn 330 Đến đầu năm 1956, anh chuyển

về Tạp chí Văn nghệ quân đội Năm 1962, anh trở lại chiến trường Miền

Nam, tham gia kháng chiến chống Mỹ trong lực lượng Văn nghệ giải phóng

Trong di sản văn chương của Nguyễn Ngọc Tấn có để lại cuốn nhật ký được viết trong khoảng 1953-1955, chủ yếu là ghi lại những sự kiện trong đời

sống riêng tư của ông đó là Nhật ký NguyễnNgọc Tấn Cuốn nhật ký ra đời

gắn với thời kỳ đẹp nhất và cũng bi tráng nhất trong cuộc đời Nguyễn Ngọc Tấn khi gặp chị Bình Trang ở bưng biền Nam bộ, họ yêu nhau, cưới nhau, khi anh tiếp tục đi đánh những trận đánh cuối cùng của cuộc kháng chiến, khi chị Bình Trang hoài thai đứa con đầu lòng, khi họ sống những ngày gian nan mà sôi nổi và tràn trề hạnh phúc…mà không hay biết một cơn lũ lớn dữ dội của lịch sử đang từ từ ập đến, đổ trùm lên số phận của họ, đánh tan tác cuộc đời

và hạnh phúc của họ

Nguyễn Ngọc Tấn đã ngã xuống trong một trận đánh anh hùng ở cửa Sài Gòn đợt II tổng tấn công Mậu Thân, tháng 5 năm 1968 Ba mươi lăm năm

đã đi qua đến đầu năm 1997 cuốn Nhật ký Nguyễn NgọcTấn đã được công bố

với bạn đọc và ngày càng được nhiều độc giả đón nhận Đó là một di vật thiêng liêng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn Song ở đây còn là một trang đẹp

Trang 18

đẽ và bi tráng của lịch sử đất nước và dân tộc, in dấu lên cuộc đời và số phận những con người cụ thể, riêng biệt

1.2.2 Giá trị, ý nghĩa của cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

Nguyễn Ngọc Tấn đã viết lên những dòng nhật ký chân thật nhấtcủangười thanh niên Việt Nam trên đường ra trận Đó là những người tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, chắc chắn trong

số họ không một ai nghĩ rằng có một ngày nào đó những trang nhật ký được

in ra và đi vào đời sống Tiêu biểu là cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn -

Nguyễn Thi (1953-1955), cuốn nhật ký đã cho chúng ta hiểu hơn cuộc sống, con người của một thời, thời mà “Tất cả cho tiền tuyến”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Đã gần nửa thế kỷ, kể từ ngày những dòng nhật ký này được viết ra cho đếnnay có lẽ như chưa từng có nửa thế kỷ nào lại có nhiều những biến động đến thế trong đời sống của dân tộc Nhưng có lẽ có một điều không biến đổi:

Đó là khát vọng da diết của con người về sự tốt đẹp và tình yêu Cho nên trong những trang nhật ký chân thật, chân thật nhiều lúc đến ngây thơ này, có một cái

gì đó là Vĩnh Cửu, mãi mãi cho mỗi chúng ta, hôm nay và cả ngày mai

Trang 19

CHƯƠNG 2 NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝNGUYỄN NGỌC TẤN

Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấnđã mang lại một sức hút mạnh mẽ tới độc giả

và những người nghiên cứu nó Với nét đặc trưng độc đáo về người trần thuật

đã tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn độc giả theo dõi từng trang nhật ký để tự mình chiêm nghiệm, khám phá và hiểu hơn về những con người đã hi sinh xương

máu để giànhlại độc lập dân tộc Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn mang những đặc

điểm của nghệ thuậttrần thuật.Người trần thuật là một yếu tố không thể thiếu trong loại hình tự sự và có vai trò rất quan trọng.Người trần thuật chính là do nhà văn sáng tạo ra để thực hiện hành vi kể, xây dựng tác phẩm nghệ thuật thể hiện tư tưởng, quan điểm, thái độ của mình đối với thế giới và con người Và người trần thuật giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc.Việc xây dựng người trần thuật cũng xuất hiện với nhiều dạng khác nhau

Có khi xuất hiện theo chiều hướng ngoại tức là đứng bên ngoài câu chuyện để thuật lại câu chuyện có khi người trần thuật xuất hiện theo chiều hướng nội tức là thâm nhập vào nội tâm nhân vật Tất cả những điều đó chính là phương

tiện để tạo nên Nghệ thuật trần thuật trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

2.1 Ngôi kể

Nói đến thể loại nhật ký chủ yếu sử dụng hình thức ngôi kể thứ nhất xưng

„tôi”; “mình”; “chúng tôi”.Hình tượng cái “tôi”trong nhật ký không có gì có thể phủ nhận được yếu tố tâm tình, trò chuyện là yếu tố quan trọng nhất trong nhật ký.Hơn nữa, đó lại là những lời tâm sự trò chuyện của người viết với chính bản thân họ nên việc ai là đối tượng trực tiếp trong nhật ký không phải

là vấn đề đáng quan tâm Vì vậy sức hút của cuốn nhật ký này phụ thuộc vào cái “tôi” với nhiều cảm xúc sâu sắc trước những sự việc diễn ra trong đời sống thường ngày và tất nhiên điều đó phụ thuộc vào đạo đức và yếu tố thẩm

Trang 20

mỹ của chính người viết nhật ký Bởi vậy, giá trị của nhật ký gắn bó chặt chẽ với đời sống nội tâm của người viết góp phần tạo nên chiều sâu nhân văn cho tác phẩm Cái “tôi” trong nhật ký không ghi chép hoặc phản ánh một cách thụ động về hiện thực cuộc sống và con người mà phải tái tạo biểu đạt một cách chủ động, sáng tạo trước những hình thức đó Cái “tôi” không chỉ đảm bảo tính xác thực của đối tượng miêu tả mà còn phải bằng tiếng nói của cảm xúc làm cho thế giới hình tượng nghệ thuật càng thêm phong phú và đa dạng.Sự tinh nhạy của người viết trong việc lựa chọn chi tiết, sự việc, hiện tượng để đưa vào nhật ký sẽ quyết định thêm nhiều giá trị cho nhật ký

Theo Từ điển thuật ngữ văn học : “Nhật ký là hình thức tự sự ở ngôi

thứ nhất được thể hiện dưới sự ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hoặc nhân vật chính là người tham gia hay chứng kiến, khác với hồi ký, nhật ký chỉ ghi lại những sự kiện, những cảm nghĩ “ vừa mới xảy ra chưa lâu” [3; 237]

Trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn nhân vật trung tâm là tác giả nhật ký

gắn với ngôi kể thứ nhất Mọi việc ghi chép đều được săm soi qua lăng kính chủ quan của người anh hùng Nguyễn Ngọc Tấn “Mình ra trình bày tin tức và ngâm bài thơ “Chuyền tay” giúp vui một phần cho anh em, cũng thấy vui vui trong lòng Mình mới học được lối vừa đọc thơ vừa có đôi chút điệu bộ – Ráng phát huy lên” [15;12] Hay “Sáng nay mình xuống 55 nơi tập trung anh hùng và tinh túy chiến đấu của tiểu đoàn” [15;14] Mỗi tác giả lại có một cái nhìn, một suy nghĩ khác nhau Nhật ký của Nguyễn Văn Thân, Phạm Phòng Ngự, Trần Danh Hải thì tập trung chủ yếu vào các sự kiện sự việc xảy ra trong chiến tranh như đó là các hành động trong công tác của mình, là việc hành quân, là những trận đánh cúng với việc gặp phải những tổn thất và sự hy

sinh mất mát to lớn Còn cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn thì ngược lại đó là

bên cạnh những sự việc xảy ra trong trận chiến nơi xảy ra mưa bom bão táp

Trang 21

còn là những vấn đề về đời sống riêng tư với những cảm xúc, những tâm sự thầm kín riêng tư của chính người viết nhật ký

Trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn chúng tôi thấy được lời kể của tác giả

luôn ở ngôi thứ nhất, thường xuyên xuất hiện dưới các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít; tôi.Nhiều khi đại từ nhân xưng không xuất hiện nhưng dáng dấp của người viết, của chủ thể vẫn hiện diện rõ qua sự việc, qua suy nghĩ đang diễn ra trong nhật ký Người viết dù không xưng danh nhưng ta vẫn cảm nhận được vị trí trung tâm của họ qua sự việc, qua suy nghĩ của họ: “Thế là

em của anh đi rồi… Tim anh se lại, người nao nao như trong mộng – Anh bàng hoàng tới 60 giây, trố mắt, há miệng ra nhìn đồng chí X… loan tin cho anh hay: “Cô Bá qua đây đấy, dặn tôi xe anh có về thì ra cho hay dùm coi chừng tạc đạn, cô ấy đi công tác hồi 2 giờ rồi” Đi rồi à… Anh lặng người không nói, tê tái trong người anh” [15;74]

Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấngắn với những sự việc xảy ra mà cụ thể là

hiện thực đau thương của đất nước, trong bom đạn, cuộc sống của con người thì khổ cực và lầm than, cơ cực Tất cả đều được tác giả ghi chép lại rất cụ thể, tỉ mỉ và chi tiết qua sự chứng kiến tận mắt và thậm chí còn trực tiếp tham gia và gánh chịu nó.Những gì đã xảy ra đều có liên quan trực tiếp đến cuộc sống thật của tác giả Trong không khí của chiến tranh cuộc sống chung của

cả dân tộc trong cơn thử lửa đó lại là một việc lớn lao của cả cộng đồng, dân tộc Và người lính – Nguyễn Ngọc Tấn không nằm ngoài quy luật đó đã ghi lại chính xác hiện thực cụ thể trong đời sống chiến tranh và tình cảm trong cuốn nhật ký của mình Song sức hấp dẫn là đã tái hiện lại được không khí hào hùng của dân tộc, của cả một thời đại lịch sử Qua những trang nhật ký chân thành ấy người đọc như cảm nhận được về lịch sử hào hùng của dân tộc, hiểu được những giá trị mà con người làm nên trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử với những gian khổ, thử thách và cay đắng Và để có được chiến

Trang 22

thắng vinh quang ấy họ đã phải chiến đấu anh dũng, đoàn kết cùng nhau vượt

qua mọi gian lao, khổ cực thậm chí cả sự hy sinh Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn

đã mang đến cái nhìn toàn diện hơn, đúng đắn hơn về chiến tranh và đời sống riêng tư với một cái nhìn hoàn toàn khác

Tuy nhiên, khi tái hiện đời sống Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn cũng đặc

biệt nói đến các mối quan hệ của anh với các đồng đội trong chiến đấu về cách ăn ở, đi lại, sinh hoạt… và tình cảm của tác giả đối với người vợ mới cưới và những người đồngđội trong kháng chiến Nguyễn Ngọc Tấn đã ghi lại một cách chân thực về chiến tranh, về tình yêu và nỗi nhớ của anh đối với người vợ quê nhà, nỗi nhớ vợ, ba má, cô, chú…Điều đó giúp cho Nguyễn Ngọc Tấn có thêm nghị lực để tiếp tục chiến đấu, có lúc Nguyễn Ngọc Tấn cũng cảm thấy bùi ngùi xót xa “Ngày thứ hai lên Phòng, kỳ này sẽ gặp T đây

- Anh sẽ về và hôm nay anh về thiệt, về với em, vui với mừng để rồi lại chia

tay… Mới hôm nay anh đã hình dung thấy lúc chia tay rồi [15;51] Nhật

kýNguyễn Ngọc Tấn ghi lại những vấn đề tác giả chứng kiến, những vấn đề

thuộc về đời sống cá nhân của chính tác giả nên trong nhật ký luôn dùng lời

kể ở ngôi thứ nhất.Đọc những trang nhật ký, người đọc như đang cảm nhận được một cách trực tiếp những lời tâm sự chân thành, không hề giấu diếm, không hề che đậy, rào đón

Hình thức tự sự ngôi thứ nhất cho phép người viết tự mình bộc bạch ghi chép của mình theo cảm hứng chủ quan: “Xác chết ngổn ngang lầy nhầy gót chân, tung tóe vào áo và súng các anh xung kích Đạn và súng thì khỏi nói tới nhiều – Cứ nói một câu: chỗ nào súng và đạn, chỗ nào cũng đạn và súng, đủ rồi Tất cả như một cái chợ đêm, đủ tiếng, tiếng la hét của mình, tiếng khóc lóc van vỉ của đám tù binh và vợ lính - Ồn ào phức tạp Tiếng cười vang, tiếng khóc lóc - Cái vui của mình đang mâu thuẫn với tiếng khóc và sợ của tù

binh” [15;30] Đọc những trang Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn ta thấy được chủ

Trang 23

thể đang tự bộc bạch, giãi bày cảm xúc của mình có khi là nỗi đau đớn xót xa khi phải chứng kiến cảnh đất nước bị quân thù xâm lược, những đồng đội đã ngã xuống trong trận chiến ấy, đồng thời lòng căm thù giặc sâu sắc nhưng có khi lại là sự mâu thuẫn giữa hiện thực đau thương và tâm trạng của chính tác giả, hiện thực chiến tranh với tinh thần lạc quan quyết tâm chiến đấu anh dũng để bảo vệ Tổ quốc Đó là tâm trạng, những dòng cảm xúc chân thành của chính Nguyễn Ngọc Tấn và chính điều đó làm cho cuốn nhật ký có sự khác biệt với các cuốn nhật ký ở chỗ là mọi cảm xúc đều được viết ra một cách chân thành

Trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn hình tượng tác giả hiện lên một cách

trực tiếp, là trung tâm của mọi vấn đề, sự kiện xảy ra.Tác giả không bao giờ vắng mặt cái tôi giữ vai trò quan trọng trong sự việc thể hiện tình cảm, cảm xúc cũng như ghi chép sự kiện.Đồng thời lời kể ngôi thứ nhất đem lại cho thể loại nhật ký độ chân thật và tin cậy cao.Chính điều này đã làm nên sức hấp dẫn của cuốn nhật ký đối với bạn đọc.Đặc điểm này cũng làm cho thể loại này khác với truyện, tiểu thuyết và thơ.Trong truyện chủ yếu lời kể ở ngôi thứ nhất, có thể ở ngôi thứ hai, thứ ba thậm chí đan xen nhiều giọng kể.Không những thế truyện sử dụng thủ pháp nghệ thuật đó là hư cấu trong lời kể ngôi thứ nhất.Nhưng trong nhật ký lại không hề có hư cấu, phóng đại mà nó được viết bằng những cảm xúc thật của chính tác giả qua những gì mà họ đã chứng

kiến và đã từng trải qua.Chính điều này làm cho Nhật ký NguyễnNgọc Tấn đã

có một sự lôi cuốn và hấp dẫn riêng đối với bạn đọc, với các nhà nghiên cứu

và các nhà phê bình văn học

Trong truyện ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện Người kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba Người kể chuyện chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cuộc, đang chứng kiến sự việc xảy ra bằng tất cả các giác quan của mình

Trang 24

Như vậy, với hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất, Nhật ký Nguyễn Ngọc

Tấn không chỉ tái hiện được không khí chung của dân tộc những năm tháng

ác liệt mà còn là bức chân dung tinh thần của chính người viết Đằng sau cái

ác liệt, dữ dội của chiến tranh với cuộc sống khó khăn thiếu thốn, vất vả gian lao nhưng ẩn sâu bên trong lại là tinh thần lạc quan, lòng quyết tâm đồng lòng làm nên chiến thắng cho đất nước Nguyễn Ngọc Tấn đã viết lên những gì chân thật nhất về hiện thực chiến tranh qua bao năm tháng mà con người vẫn anh dũng chiến đấu cho Tổ quốc Trong số những người thanh niên đó có Nguyễn Ngọc Tấn anh đã cống hiến tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong cuộc sống riêng anh cũng viết ra những dòng tâm sự giàu cảm xúc giành cho người vợ của mình, là nỗi nhớ mong được gặp lại khi chịu cảnh xa cách, là những tình cảm sâu đậm dành cho nhau…Từ đó ta thấy được những dòng tâm sự rất chân thật của Nguyễn Ngọc Tấn với cái nhìn sâu sắc về đời sống chiến tranh và đời sống riêng tư của tác giả

2.2 Điểm nhìn trần thuật

2.2.1 Điểm nhìn của người trần thuật

Điểm nhìn là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu với những nhà nghiên cứu như: Tz.Todorov, G.Genette, M.Bakhtin…

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, điểm nhìn là vị trí từ đó người trần

thuật nhìn ra bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật [ 3;113]

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử coi điểm nhìn là một chiếc camera dẫn dắt người cầm bút khám phá hiện thực và đưa người đọc đi vào một thế giới nghệ thuật của tác phẩm Điểm nhìn nghệ thuật sẽ cung cấp một phương diện

để người đọc hình dung cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm phong cách ở

đó

Trang 25

Như vậy, có thể hiểu điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cảm thụ thế giới của tác giả Nó là vị trí dùng

để quan sát, cảm nhận, đánh giá

Nhận thấy vai trò của điểm nhìn trần thuật, nhà lý luận Phương Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sỹ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của đời sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng, nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên ngoài” [10; 310], bởi sự trần thuật bao giờ cũng tiến hành từ một điểm nhìn nào đó Trong mỗi tác phẩm, mỗi sự biểu hiện, miêu tả đều từ tác giả mà ra, song để tạo nên hình tượng nghệ thuật tác giả thường tạo ra kẻ môi giới đứng ra kể chuyện, quan sát, miêu tả Người kể chuyện có thể là giấu mình (thường gọi là “ người kể theo ngôi thứ ba”) hay là người lộ diện như là một trong số các nhân vật của truyện (thường xưng “tôi”) Nhưng dù là ai người kể chuyện phải lựa chọn điểm nhìn trần thuật- tức là vị trí để quan sát để kể chuyện Trong hồi ký, tùy bút, người trần thuật trực tiếp xưng tôi

Điểm nhìn trần thuật giống như ống kính có vai trò dẫn dắt người đọc quan sát các chi tiết và diễn biến có ý nghĩa đặc biệt của truyện Khi đọc truyện cần theo dõi điểm nhìn trần thuật để lĩnh hội được ý nghĩa của tác phẩm

Điểm nhìn nhân vật là điểm nhìn theo cá tính, địa vị tâm lý của nhân vật Điểm nhìn người trần thuật lại có thể tựa vào điểm nhìn nhân vật để miêu

tả thế giới, theo cảm nhận chủ quan của nhân vật

Điểm nhìn của người kể, người kể có một điểm nhìn bao quát để lựa chọn, điều khiển các nhân vật hành động Trong quá trình hành động, nhân vật lại có điểm nhìn riêng, chọn một điểm xuất phát để từ đó theo hướng thiện hay hướng nghịch để triển khai hoặc rút ngắn sự kiện, có tác dụng cô đặc hay vươn ra ngoài cốt truyện

Trang 26

Điểm nhìn của nhân vật chia cắt từng khúc đoạn thực tế, nhưng điểm nhìn của người kể thì luôn thấu suốt trên một trục thời gian được lựa chọn trước và xâu chuỗi lại nhờ sự liên hệ với người đọc

Nguyễn Ngọc Tấn là người có tâm hồn nhạy cảm đôi khi trong chiến đấu

đã nhận thức được việc đồng đội của mình không tích cực lắm trong công việc

“Kêu hết đầu này đầu kia năn nỉ mãi mới có người khiêng anh em xuống Mình phải khiêng 3 lần.Chạy chọt người chèo ghe, sạp cho chiến thương nằm dưới ghe, chạy đèn, khiêng vác tíu tít mệt thở không ra – Đụng tới chuyện anh em ai cũng than mệt, than đau, than đủ chuyện, họ không tích cực lắm Không hết mình cho chiến thương - Không biết mình có hẹp hòi hay không?” [15;37] Hay đôi khi Nguyễn Ngọc Tấn cũng nhận thấy mình có tích ích kỷ nhưng cũng vì bị thương mà làm như vậy “Nằm trên đòn gánh, cái gánh nồi của đồng chí hỏa thực, đầu gối lên ba lô, mình ngủ ngon lành Anh em quát tháo rầy nhau, mình thây kệ, làm biếng nói quá vì mệt hết sức rồi Hai bàn chân gai đâm làm mủ thật nhiều, sưng lên mình không thể đi được nữa” [15;38]

Với tâm hồn nhạy cảm đó Nguyễn Ngọc Tấn lại thấy trong bản thân mình có những cảm xúc bối rối, khó hiểu nhưng đôi khi lại rất cứng rắn “Thở

ra một hơi nhẹ nhàng – chưa bao giờ mình lại gặp gay go bối rối như vậy Đây

là một bài học lớn cho mình, cố gắng trưởng thành trong công tác”[15; 42] Nguyễn Ngọc Tấn đã tự nhận thức được khuyết điểm của mình, những thiếu xót của bản thân để từ đó dần dần khắc phục “Chiều nay họp tổ, anh Doãn nhắc mấy khuyết điểm: Cái ghe lạc chứng tỏ ta kém trách nhiệm Mình làm công việc nhưng thái độ chưa toàn tâm toàn ý, hăng say Còn có người trốn tránh nhiệm vụ.Kiểm lại ba khuyết điểm trên mình cũng có một phần.Cố gắng sửa chữa Có một khuyết điểm rõ nhất của mình trong thời gian này là thiếu bình tĩnh và hay nóng giận lúckhiêng vác anh em, trong lúc mọi người ở không, kêu đi làm khó khăn và không được” [15; 44]

Trang 27

Nguyễn Ngọc Tấn cũng cảm nhận được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đó là việc chính mình không ngừng đem sức lực, tinh thần quyết tâm lạc quan của mình để chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc “Ngày mai bắt tay vào làm việc, đem về tất cả những hăng say mới của sức thanh niên, sức chiến đấu và sáng tạo, không quên cái tình cảm yêu đương nồng nàn để tự động viên mình trong công tác” [15; 51]

Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn, bằng điểm nhìn của người trần thuật vô

hình trung đã kể về câu chuyện về quãng thời gian tuổi trẻ của một đời để cống hiến cho độc lập tự do cho Tổ quốc Và anh luôn trăn trở về những người đồng đội đã hy sinh vì nền độc lập của dân tộc, họ là những con người

đã đem lòng quyết tâm, sự kiên cường, lòng căm thù giặc sâu sắc để cùng nhau đoàn kết ra sức chiến đấu bảo vệ độc lập tự do cho dân tộc

Nguyễn Ngọc Tấn đã sống trong những ngày tháng gian nan, với những mất mát đau thương, đã từng phải chứng kiến những chiến sĩ đã ngã xuống trong trận chiến đầy gay go và khốc liệt Hiện thực chiến tranh đã cướp họ đi

đã gây ra bao đau thương khi con người phải chia xa nhau nhưng với tất cả niềm lạc quan đã giúp họ vượt qua tất cả để chiến đấu anh dũng, không có gì

có thể ngăn cản họ tiến tới thắng lợi vinh quang Bên cạnh chiến tranh khốc liệt lại là tình cảm riêng tư của Nguyễn Ngọc Tấn dành cho người vợ thân yêu, cho đứa con chưa sinh ra, cho ba má, cậu,…Đó là nỗi nhớ, nỗi đau khi phải chia xa.Chính chiến tranh đã chia cắt họ, để họ luôn sống trong nỗi nhớ nhung mà không thể làm gì khác được chỉ biết nói bằng những tình cảm chân

thành của mình Do đó mà cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn đã trở thành một

người bạn tâm tình ở đó anh có thể bộc lộ tình cảm, cảm xúc, thái độ của mình về những gì đã và đang diễn ra trong cuộc sống, những khó khăn thiếu thốn khi vợ mang thai đứa con của mình, hay có những lúc trách móc hờn giận khi Trang (vợ) để cho mấy trăm ô cỏ chết khô…đó là những cảm xúc

Trang 28

thật đời thường của chính tác giả, bên trong nó lại đang âm ỉ một khát khao được cống hiến, được trở về với gia đình, với đất nước

Qua những trang viết của anh ta thấy được chiến tranh hiện lên thật rõ nét qua từng chi tiết như những cuộc chạy càn liên tục khi những thương binh đang bị thương nặng vẫn phải cố gắng di chuyển, những trận mưa bom, súng nổ… Những trang nhật ký đó của anh viết về những ngày chiến đấu mà bao gian nan, đói khổ hằn sâu trên từng gương mặt đồng đội nhưng không khó khăn nào khuất phục nổi ý chí: “Chiến sĩ thi đua mặt ốm và xanh, đó là kết quả của bao đêm sống với nước, đỉa, muỗi, mưa, đói, rất cực khổ, sống bao nhiêu ngày trong những phút sống chết với giặc - con người đã hiến hoàn toàn thân mình cho Tổ quốc, ra đi là quên tất cả, chỉ còn nghĩ tới đồn giặc, tới lô cốt, tới rào kẽm, tới nhiệm vụ chiến sĩ thi đua - Đỉa và nước là vô nghĩa, đói rét có nghĩ tới nhưng không ám ảnh nổi lòng quyết tâm giết giặc” [15;12] Cũng trong cuốn nhật ký đó, Nguyễn Ngọc Tấn đã cho chúng ta thấy được những hình ảnh về cuộc sống cơ cực, gian nan của nhân dân qua cuộc gặp gỡ của anh đối với bốn em nhỏ trên đường “Mặt mũi lem luốc, chân lấm tay bùn, tóc vàng xém nắng, da màu nâu đen, ở truồng Đứa nhỏ nhứt 6 tuổi, đứa lớn nhứt 8 tuổi, mặt mũi bơ phờ, mệt nhọc, mặt mũi đầy ghèn Cả bốn đứa khệ nệ mang bốn bó lúa, gom cả lại không bằng một ôm người lớn” [15; 47], và quan niệm

có phần cứng nhắc, ấu trĩ trong tình cảm con người của một thời: “Anh Giống, tiểu đội trưởng má ở dưới thành lên thăm, mấy năm trời không gặp Trước tình hình chuẩn bị công tác sôi nổi, rộn rịp ở trại, anh nhất định ở trại không đi thăm Đại đội cho anh đi, anh nói ở lại công tác cho yên tâm, không đi Kỳ nghỉ chiến đấu này nghe phóng thanh Đại đội sẽ cho anh ở nhà, đi thăm bà má và để cho cả hai mẹ con yên tâm giải quyết tình cảm với nhau Nghe tin đó anh nhứt định không chịu, anh nói rằng “đại đội có cho tôi nghỉ, tôi cũng nhứt định không nghỉ, nhất định công tác, tôi sẽ giác ngộ cho má

Trang 29

tôi”” [15; 13] Nhiều, rất nhiều những chi tiết có thực, sống động như vậy trong cuốn nhật ký.Những hình ảnh đó chúng ta rất ít gặp trong những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn viết trong chiến tranh.Nó không được trau chuốt, chọn lọc Nó là những điều mắt thấy tai nghe trong đời sống hàng ngày và thời gian trôi đi giờ đây nó trở thành những tư liệu quan trọng để hiểu thêm về cuộc sống, con người của một thời - thời mà con người được coi là chân chính luôn luôn đặt công việc và lợi ích của tập thể lên cao nhất, ở một góc nhìn

mới Cho nên chúng ta cũng sẽ không ngạc nhiên khi trong nhiều trang Nhật

ký Nguyễn Ngọc Tấn dùng những câu động viên chính bản thân mình như

“Không sao mà”, “Ráng lên”, “Chúng ta chiến thắng mọi mặt, chúng ta đã chiến thắng và ngày càng chiến thắng mãi mãi” [15; 101], hay trong ngày cưới, anh vẫn ghi vào nhật ký của mình tình cảm và lòng biết ơn Đảng (1/2/54: Nhẹ một phần rồi đây Hôm nay lo quá Lo mọi mặt Vui, hân hoan, nhớ ơn Đảng ngàn năm ) Chưa kể là vào ngày thành lập Đảng 3.2, ngày 19.5 nhật ký của anh chỉ dành để ghi về tình cảm, lòng tin yêu của mình đối với Đảng, Bác Nếu những ai cùng thế hệ với anh, và thế hệ sau hơn, như thế hệ chúng tôi, không thể nói đó là thứ tình cảm không thật.Phải nói là rất thật.Nhưng cũng thể hiện sự ấu trĩ của mình Đọc những đoạn như vậy, tôi có cảm giác như anhđang có phần điều chỉnh mình, động viên mình, lại như để cho người khác đọc (ở đây cũng không loại trừ trường hợp đề phòng có một người khác vô tình hoặc hữu ý đọc được nó!) Cũng trong cuốn nhật ký đó, những đoạn hay nhất là những đoạn viết về tình cảm, tâm trạng, cảnh sắc hoang sơ của vùng chiến khu vừa đẹp đẽ, vừa thơ mộng sau ngày cưới của vợ chồng anh

Những trang viết quả đã có sự dự báo về một ngòi bút trữ tình, sự đặc sắc trong miêu tả tâm trạng Cũng qua những trang đoạn này chúng ta thông cảm hơn nỗi đau của anh, anh hiểu được tình huống đặt ra với vợ trong những năm cách mạng ở vào thời kỳ đen tối Cuốn nhật ký được ghi trong khoảng

Trang 30

hai năm 1953-1954 nhưng qua đời sống tình cảm và cuộc sống của vợ chồng Nguyễn Ngọc Tấn chúng ta càng hiểu hơn sự chịu đựng và hy sinh của một con người cụ thể, của một thế hệ, của dân tộc vào một giai đoạn lịch sử bi thương và anh hùng, tưởng như vùi lấp tất cả nhưng lại là động lực để họ tiếp tục chiến đấu cho sự nghiệp chung của dân tộc

Nếu như những trang Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn-Nguyễn Thi cho ta

hình dung ra được những kiểu người tham gia cách mạng trong thời kỳ kháng

chiếnchống Pháp mà chúng ta từng gặp trong Xung kích, Bên bờ sông Lô của Nguyễn Đình Thi, trong Người người lớp lớp của Trần Dần những sáng tác

ra đời theo từng chiến dịch, thời mà lớp nhà văn cách mạng trẻ tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghề nên chưa nói đến cấu trúc tác phẩm mà ngay trong cách xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, người đọc chưa nhìn thấy ở đấy tài năng của những tiểu thuyết gia Điều đáng quý ở những sáng tác đó là những chất liệu của đời sống mới, những kiểu con người mới được viết với cảm hứng mới Hiện thực đời sống gian khổ, bộn bề đầy hiểm họa đối với sinh mạng con người là một hình dung về tính chất ác liệt của cuộc chiến đấu

Hiện thực đó, bổ sung vào Đất lửa của Nguyễn Quang Sáng, Bông hường

bông cúc, Có những lớp người của Hoàn Văn Bổn thì dường như chúng ta

càng hiểu hơn, cùng với sự hy sinh của những tầng lớp khác trong xã hội là sự

hy sinh của văn nghệ sĩ, trí thức Không chỉ là sự chịu đựng, hy sinh về vật chất mà còn cả tinh thần.Mà sự chịu đựng, hy sinh đó chắc khó khăn hơn so

với những lớp người khác trong xã hội Trong Nhật ký chiếntranh của Chu

Cẩm Phong, B trọc của Phạm Việt Long cái ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ dường như ở một cấp độ còn khác hơn Ở giai đoạn trước, trong

Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn, nhân vật chính - chủ thể - cơ bản vẫn là người

nông dân mặc áo lính với cái nghĩa đích thực, và những nhân vật khác cơ bản cũng là những con người như vậy Họ ra đi từ lũy tre và bỏ lại sau lưng sự vất

Trang 31

vả, lam lũ của những kiếp người vừa cởi bỏ gông xiềng của một “dân tộc đói nghèotrong rơm rạ” Còn nhân vật chủ thể trong các cuốn nhật ký viết trong kháng chiến chống Mỹ là những con người được học hành, có trình độ hơn nên sự nhận thức của họ về cuộc sống, con người, lý tưởng cũng khác hơn Dương Thị Xuân Quý, Đặng Thùy Trâm là những cô gái Hà Nội, một người

là nhà báo, một người là bác sĩ Nguyễn Văn Thạc nguyên là một học sinh từng đọat giải Nhất cuộc thi học sinh giỏi văn lớp 10 toàn miền Bắc, là một sinh viên xuất sắc của khoa Toán - Cơ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Hoàng Thượng Lân nguyên là sinh viên của Trường Mỹ thuật Hà Nội, thành thạo chơi được nhiều loại nhạc cụ và từ nhỏ đã nhiều lần đoạt giải cuộc thi vẽ tranh quốc tế tại Ấn Độ và Ba Lan Mười cô gái chàng trai trong Những trang viết trong thời lửa đạn nguyên là những sinh viên khoa Văn - Sử trường Đại học Tổng hợp vừa tốt nghiệp xung phong vào chiến trường Nói lý lịch trích ngang này tôi chỉ muốn nói một điều: Ấy là sự nhận thức của một lớp trí thức trẻ về ý nghĩa cuộc sống, về trách nhiệm công dân đối với vận mệnh của Tổ quốc của họ Cũng từ đây, soi vào những trang Nhật ký của các anh các chị chúng ta sẽ hiểu hơn cuộc sống của một thời còn chưa xa nếu không muốn nói

là nó còn hiện hữu ở một thế hệ giờ đã là tuổi cha chú, tuổi ông bà, ở những nghĩa trang liệt sĩ

Từ điểm nhìn của người trần thuật bạn đọc thấy được hình tượng hình tượng trung tâm của tác phẩm là một con người bằng xương bằng thịt, cũng

có những suy tư thật với hiện thực chiến tranh

Thể loại nhật ký nói chung,Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấnnói riêng đã nói

lên những mất mát, hi sinh của chiến tranh khốc liệt đã đi qua Từ đó làm cho cuốn sách còn mãi với thời gian theo năm tháng trong lòng bạn đọc Cuộc chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm.Nhiều bức màn bí mật đã được vén lên cho thấy chiều kích cuộc chiến đấu một thời cụ thể hơn Vẫn biết những

Ngày đăng: 30/09/2015, 10:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê: Số lần xuất hiện các từ ngữ mang đặc trƣng vùng miền - Nghệ thuật trần thuật trong nhật ký nguyễn ngọc tấn
Bảng th ống kê: Số lần xuất hiện các từ ngữ mang đặc trƣng vùng miền (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w