Đặc điểm Tây Nguyên, miền Trung Trung bộ qua ngôn ngữ và cách diễn đạt trong văn xuôi của Nguyên Ngọc

Một phần của tài liệu Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc (Trang 108 - 131)

Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ

3.2. Ngôn ng ữ trong văn xuôi của Nguyên Ngọc

3.3.3. Đặc điểm Tây Nguyên, miền Trung Trung bộ qua ngôn ngữ và cách diễn đạt trong văn xuôi của Nguyên Ngọc

Nguyên Ngọc là người am hiểu sâu sắc con người và thiên nhiên Tây Nguyên cũng như vùng miền Trung trung bộ. Ông nhìn Tây Nguyên với con mắt của một nhà thơ, tha thiết yêu thương và gắn bó xương thịt với cuộc sống con người và cảnh vật nơi đây. Tình cảm của ông đối với Tây Nguyên là tình cảm của một người đã sống nhiều năm trên đất này, sống với tất cả tâm hồn, tất cả trái tim mình. Chính nhờ vậy mà Nguyên Ngọc đã cảm thụ được hết vẻ đẹp giản dị của ngôn ngữ khẩu ngữ. Hơn thế nữa, ông đã nâng cao và làm trong sáng thêm ngôn ngữ ấy khi lọc nó qua tâm hồn mình làm cho lời văn giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và cảm xúc. Đọc văn Nguyên Ngọc, ta bắt gặp một lớp từ ngữ sinh hoạt, giản dị mộc mạc như lối nói của người dân Tây Nguyên: Trong tác phẩm Đất nước đứng lên, ta nghe lời thầm thì tâm sự của người dân Tây Nguyên với núi rừng khi giặc Pháp đến tước đoạt hết dụng cụ lao động của họ: "Chim ôi! Lần này khổ lắm rồi nhé! Khổ hung rồi nhé! Lần này tao phải lấy cái tay mà chặt cái cây to làm rẫy rồi! Phải lấy cái ngón tay mà đào củ mài sâu dưới đất tồi! Phải lấy cái răng mà cắn miếng da con trâu rồi! Tội ác tầy trời ấy là của thằng Pháp. Thằng Pháp bụng nó như lửa, nó ác lắm. Chim ôi! Nó biết không có cái sắt, không sống được đâu. Lấy gì mà làm rẫy, lấy gì chặt con nai, con mang? Nó muốn cho người ba Na chết hết!...Chim ơi! Gió ơi! Núi rừng ơi!. [73; 64 ].

Tuy nhiên ngôn ngữ văn học không phải là thứ ngôn ngữ sao chép nguyên xi ngoài cuộc đời mà là thứ ngôn ngữ nghệ thuật mang đặc trưng thẩm mỹ nhất định.

Nguyên Ngọc đã vận dụng ngôn ngữ khẩu ngữ miền núi một cách linh hoạt để thể hiện cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt cụ thể mộc mạc của con người miền núi. Như khi Núp thuyết phục dân làng Kông Hoa đánh giặc, nhà văn viết: "Đánh Pháp cha mẹ không khóc, vợ con không khóc. Đúng. Khóc gì. Pháp tới lấy đất nước mình, phải đánh nó đi. Mình có liều chết, cha mẹ vợ con mới sống được. Còn đánh người Hà Ro đất nước nào? Cũng đất nước mình. Người Hà Ro cũng khổ như mình, cũng bị Pháp áp bức, bóc lột như mình. Còn khổ hơn mình"[73;125]. Khi anh Núp nói với anh Thế :

"Chỗ này khó, Đảng kêu tôi đi đấy. Tôi không sợ chết đâu. Tôi biết làng Kông Ma.

đó lũ người giàu bụng xấu. Còn lũ người khổ phải đi làm cho Pháp, nó không phải sướng đâu...người cực khổ lỗ tai ai cũng tốt" [73;121]

Lời Núp khi thuyết phục dân làng khắc phục nạn đói muối thật giản dị chân tình biết bao: "Ăn tro tranh khổ lắm, tôi cũng biết khổ. Nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi. Còn ăn muối Pháp khổ hết đời mình, đời con mình khổ nữa"[73, 54]. Hay khi Núp nói cho bà con dân làng hiểu về Bok Hồ là người như thế nào, nhà văn đã viết: "Ai dạy làm rẫy tốt, ai dạy đánh Pháp lâu, ai nói cán bộ người Kinh lên thương người Thượng như thế? Đều là Bác Hồ dạy cả"[73;59] Nổi đau của Núp trước cái chết của Liêu thì: "Ai cắt trong ruột Núp thế này? Đau lắm, nói không được sao Liêu không biết sống nữa, Liêu ơi!"[73;158]. Hay trong tác phẩm Rừng xà nu, cách vận dụng từ ngữ sinh hoạt được thể hiện trong đoạn: "Bọn đàn ông này, xê ra một chút cho con Dít nó ngồi với chớ...". Hay "Bữa cơm tối ở nhà cụ Mết với món canh tàu môn bạc hà nấu lạt trong ống nứa. Ông cụ không nêm muối vào canh. Ông chia cho mỗi người mấy hạt, họ ăn sống từng hạt, ngậm rất lâu trong miệng để nghe chất mặn đậm đà tan dần...”[76;143]

Trong tác phẩm Mạch nước ngầm, tác giả viết: "Trong nhà đại đội, chính trị viên Quả vẫn thức: một ngọn đền dầu lửa tù mù...mẹ kiếp ba cái thứ kỷ thuật này! ...ngày trước choảng nhau với địch về lau khẩu súng cho sạch, đạn cho bóng, đưa mũi ngửi nòng súng còn mùi thuốc….ngủ thẳng cẳng, bây giờ khác rồi...mày có xỏ chúng ông, mày biến chứng, trở mặt một cái, và thế là trong một giây đi đời cả công trình"[ 61;5]

Đặc biệt, Nguyên Ngọc sinh ra lớn lên ở Quảng Nam - Đà Nẵng, lại từng hoạt động cách mạng nhiều năm ở vùng đất này, vì thế nhà văn sử dụng lời ăn tiếng nói địa phương rất thông thạo, đọc tác phẩm Đất Quảng, chúng ta bắt gặp những câu văn như lối nói dân dã thường ngày của nhân dân. Chính sử dụng thành thạo lớp từ ngữ này trong các tác phẩm văn chương đã tạo nên một nét phong cách riêng của Nguyên Ngọc:

"Mi cất mô phải chỉ cho tau chớ, rủi mi hy sinh làm răng!?" [71;13]

"Anh ngồi xuống đi chớ, đứng hoài rứa à?"

"Anh định nhảy xuống dưới xóm hả? Tui can anh, anh về dưới đó bây giờ, tụi riềng đầu ngay, đừng dại, " [71 ;45]

"Đừng rầy người ta tội anh, anh coi: thì tui đây cũng làm cái nghề nghe trộm chớ chi. Thằng nớ rứa mà được việc. Nói thiệt ba thằng Mỹ của anh ngu hơn bò. Bữa qua tui xuống đây, không có thằng già đó, không có cách chi gặp được anh, anh trốn kỹ quá mà"[71;46].

Với cách sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ mang phong vị đặc trưng của người dân miền Trung đất Quảng, nhà văn đã khắc họa một cách cụ thể và sinh động cuộc sống sinh hoạt nơi đây và qua đó, nhằm góp phần tạo nên tính chân thực trong những trang viết của Nguyên Ngọc. Ngôn ngữ trong văn xuôi Nguyên Ngọc phong phú đa dạng giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, cách sử dụng nhuần nhuyễn từ ngữ sinh hoạt, đời thường nhưng đó không phải là nét trội, không phải là nét đặc trưng mà nét nổi bật trong văn xuôi của Nguyên Ngọc là chất liệu ngôn ngữ anh hùng ca và huyền thoại. Đọc tác phẩm của Nguyên Ngọc, ta nghe âm vang lời nói của núi sông, của lửa cháy, của những lời truyền hịch, lời hiệu triệu đánh giặc cứu nước. Trong tác phẩm Rừng xà nu, bức tranh thiên nhiên với rừng cây hùng vĩ được nhà văn khai thác bằng cảm hứng sử thi tượng trưng cho sức sống bất diệt của quê hương đất nước. Sức sống của thiên nhiên được nhà văn nói đến hai mươi lần xuyên suốt thiên truyện ở dưới nhiều góc độ khác nhau: Rừng xà nu, đồi xà nu, dầu xà nu, lửa xà nu, khói xà nu...Từ cái nhìn bao quát hình ảnh rừng xà nu hiện ra trùng trùng điệp điệp như một khúc ca hùng tráng lấn át cả mưa bom bão đạn của kẻ thù. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hàng vạn cây không có cây nào không bị thương nhưng: "Ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đenđặc quện thành từng cục máu lớn". "Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng thẳng táp, lóng lánh vô số hạt bụi từ nhựa cây bay ra thơm mỡ màng"[13;133] Đoạn văn được nhà văn sử dụng khá nhiều những tính từ có khả năng gợi hình và biểu cảm để làm nổi bật không khí Tây Nguyên vừa gân guốc vừa trầm hùng. Miêu tả thiên nhiên qua cây xà nu của đất rừng Tây Nguyên, nhà văn đã khai thác đến tận cùng bản năng sinh tồn, bản năng sự sống của loài cây đặc biệt ấy như tích tụ sức mạnh đoàn kết

chiến thắng sự tàn phá của chiến tranh, sự sống vẫn mạnh hơn cái chết, sự sống vẫn luôn luôn bất diệt ngay trong hủy diệt.

Khi miêu tả vẻ đẹp con sông Bàu Đưng xứ Quảng trong tác phẩm Đất lửa, tác giả viết: "Con sông này từ trên nguồn của nó vốn đã là một con sông sôi nổi và hùng mạnh. Khi gặp đồng bằng, nó sung sướng nhảy tung trên một loạt thác trắng xóa rồi ưỡn bộ ngực vạm vỡ xanh thẫm của nó ra dưới ánh nắng chan hòa say sưa đổ xuống tràn tr. Trước mắt nó, đồng bằng ríu rít thênh thang" [65;109-110]. Tính từ cũng được nhà văn sử dụng nhiều khi khắc họa cảnh thiên nhiên đầy quyến rũ trong tác phẩm Trở lai Mèo Vạc: "Sườn Nùng thoáng rộng đến vô cùng, nở nanghoang vắng như những khuôn ngực đàn bà hoang sơ nào đấy, tưởng có thể hít thở đến ngợp cả khuôn phổi hương da thịt nồng nàn của đất thuở khai thiên còn nguyên vẹn..."

[76;90]. Việc sử dụng tính từ trong cách biểu đạt là để làm nổi bật cái màu sắc rực rỡ, cái vẻ thanh thoát bao la của cảnh vật, cái hùng vĩ của núi rừng. Tất cả đều nhằm góp phần tạo nên chất giọng anh hùng ca trong văn xuôi của Nguyên Ngọc.

Trong sáng tác của mình, ngoài những cảnh thực hiện ra một cách sống động qua ngòi bút đặc tả của nhà văn, chúng ta còn bắt gặp một lớp ngôn ngữ mang yếu tố thiêng liêng cổ kính mang tính chất huyền thoại nhằm làm sống lại một truyền thống lịch sử hào hùng của đất rừng Tây Nguyên. Trong tác phẩm Đất nước đứng lên, đoạn văn Bok Sung kể cho lũ thanh niên trong làng nghe câu chuyện về lưỡi gươm ông Tú, tác giả viết: "Không ai có cái gươm như gươm ông Tú. Cái gươm đó không phải là gươm thường, đó là một cái gươm giàng. Có cái gươm đó, không ai dám tới lấy đất nước mình, bắt người mình đi đâu. Ông Tú đem gươm ra đánh, Pháp thua chạy hết cả...Nhưng có một bữa, trời mưa to gió lớn, sấm sét. Nước sông Ba Na to lên, chút nữa ngập hết rẫy làng. Ông Tú đem gươm ra múa, đánh mưa gió cứu dân. Mưa gió phải chịu thua. Nhưng ông Tú múa mạnh quá, rớt mất cái lưỡi xuống sông Ba Na, chỉ còn cái cán cầm trong tay. Nước sông Ba chảy, trôi lưỡi gươm về dưới xuôi, người Kinh lấy được. Người Kinh lấy cái lưỡi, người Thượng giữ cái cán, hai người ở xa nhau, Pháp tới không có cái gì đánh nên phải thua...Muốn đánh Pháp phải đi tìm người Kinh, chắp lại cái gươm thì mới đánh thắng...Hay hình ảnh Bok Hồ trong tâm trí của người dân Ba Na thật đẹp và hùng vĩ: "Bok Hồ như ông sao Bắc đẩu. Ông sao đó đã

mọc lên và không bao giờ lặn nữa trong lòng đồng bào Kông Hoa"[73;23]. Câu chuyện về "Thanh gươm ông Tú" được kể lồng vào tác phẩm một cách khéo léo, tác giả đã cụ thể hóa vấn đề đoàn kết đánh giặc giữa dân tộc người Kinh với người thượng.

Phần đầu tác phẩm, thanh gươm ông Tú đang ở hai nơi nhưng kết thúc tác phẩm thì :

"Ngày nay gươm ông Tú đã tìm được lưỡi, gươm đã chắp cán rồi đấy...gươm ông Tú là đoàn kết đấy" [73; 23]

Tùy bút Đường chúng ta điđem đến cho người đọc một niềm tự hào, một niềm tin bất tận về truyền thống lịch sử anh hùng của dân tộc ta qua đoạn văn được tác giả sử dụng một loạt từ ngữ mang âm hưởng anh hùng ca: "Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tình biết chừng nào" " ...Chúng ta nghe những người cộng sản nguyên thủy bốn nghìn năm trước đã theo đức tổ Hùng Vương đến sinh cơ lập nghiệp trên bãi phù sa sông Hồng, những người nô lệ nổi dậy trong cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương, những người nông dân vót chông cọc sắt đâm thủng thuyền Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng, những người dân cày chém chết Liễu Thăng dưới chân Ải Chi Lăng, những người áo vải đã đánh trận phản công vĩ đại của Nguyễn Huệ diệt mấy mươi vạn quân xâm lược Tôn Sĩ Nghị ở Đống Đa, chúng ta nghe Nguyễn Trãi trong rừng đêm chép binh thư, nàng Kiều mười lăm năm trời dày vò đau khổ...chúng ta nghe quá khứ đau thương oanh liệt của dân tộc hỏi ta" [66;9-10] Với tình cảm luôn dạt dào trong từng trang viết, nhà văn đã cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp anh hùng của dân tộc nhằm khích lệ ý chí đấu tranh của mỗi người dân.

Ngoài ra, để phù hợp với việc bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, tác giả đã sử dụng những kiểu câu dài, nhiều mệnh đề, kết cấu trùng điệp. Trong tác phẩm Đất Quảng, để diễn tả cảm xúc xáo trộn của chị Thắm sau khi nghe tin thằng Hứa Min ác ôn (kẻ thù của gia đình chị, của làng xóm chị) đã trở về, tác giả viết: "Trong một thoáng tất cả, tất cả hiện lên, da diết, dữ dội, đau đớn, mừng vui. Một đôi mắt tha thiết và trầm ngâm của chồng, một tiếng khóc u oa của con trên nền xi măng nhà tù lạnh ngắt, một ngày chạy thất thưởng dọc bờ sông Trúc, một đêm xắn quần tới vế cùng Hương và vân bò đi tập kích, một cái vành tai rách đôi của thằng ác ôn mặt cắt không còn máu..."

[71;13]

Hay viết về nổi đau tận ruột gan khi đứa con gái độc nhất của chị bị kẻ thù hại chết, câu văn dài, lời văn tràn ngập cảm xúc: "Người mẹ ấy sẽ thấy chính mình đang nằm xuống đó, dưới đáy huyệt sâu thẳm cùng với hòn máu yêu thương của mình, mỗi nắm đất đắp lên thân thể con sẽ đắp ngay lên thân thể mình và tiếng cuốc đắp mộ sẽ vang lên ở đâu đó trên kia xa xôi nơi cuộc đời vẫn xanh tươi còn mình thì năm ở đây rồi, mắt dịu dáng nhắm lại, hai cánh tay bao la ôm chặt đứa con yêu đã ngủ say trong giấc ngủ mãi mãi lặng im" [71;56].

Trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyên Ngọc, kiểu câu dài, nhiều tầng bậc được sử dụng khá phổ biến, loại câu này nó cũng rất phù hợp với cảm xúc hào hùng của những đoàn quân ra trận với niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của một dân tộc bốn ngàn năm đấu tranh giữ nước. Có những đoạn văn, câu văn không dài nhưng vẫn được nhà văn tiếp tục với kiểu câu trùng điệp này để tạo nên không khí thiêng liêng trang trọng, có khi như khẳng định một chân lý sống của nhân dân ta trong cuộc chiến đấu với kẻ thù:

- "Muốn đánh Pháp lâu năm thì phải thương yêu, không ghét nhau. Phải làm rẫy nhiều, lúa tốt ăn no. Phải tổ chức lũ làng lại" [ 73;49]

- “Ăn tro tranh khổ lắm. Nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi. Còn ăn muối Pháp khổ hết đời mình, đời con mình khổ nữa, đời cháu mình khổ nữa" [73;54]

- “Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi. Đánh đời mình chưa xong, đánh đến đời con, đời cháu mình nữa" [73;86]

Trong tác phẩm Rừng xà nu, lời nhắc nhở của cụ Mết đối với dân làng, như một chân lý không gì thay đổi, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng.: "Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống phải nói cho con cháu.

Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo mác!" [76;159]. Có những câu văn như một lời truyền hịch thiêng liêng: "Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng là tiếng thét vang dội. Tiếp theo là tiếng "Giết!", tiếng chân người đạp trên sàn nhà Ưng rào rào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Meest ồ ồ "Chém! Chém hết" và cụ Mết chống giáo xuống sàn nhà, tiếng nói vang vang: "Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên!

Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải đi tìm lấy

một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông! năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!" [76;161]. Còn lời kêu gọi của cụ Xớt trong tác phẩm Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông thì: "Hỡi người Gia Rai, hãy đứng dậy!

Gươm đâu, giáo đâu, tên đâu, hãy cầm lấy! Quần thù nhất định phải chết! Cuộc chiến đấu cuối cùng đã đến rồi!" [9;46]. Hay lời cụ Xớt nói với Kơ Lơng như một lời phán truyền, như một mệnh lệnh nó chứa đựng sức mạnh đạo lý, truyền thống của dân tộc :

"Con hãy trả thù cho cha, cho núi sông Gia Rai" [67;50]

Nguyên Ngọc là một nhà văn thực tài trong việc sử dụng ngôn ngữ kết hợp với tâm hồn dạt dào chất lãng mạn, ông đã đem lại cho người đọc những trang viết dồi dào cảm xúc: Trần Đăng Khoa khi đọc văn của Nguyên Ngọc đã từng nhận xét: "Nguyên Ngọc viết văn bằng hồn mình. Ông bám sát các vấn đề chính trị mà tác phẩm vẫn vượt qua được sự minh họa, sự chứng minh, vẫn thành tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, không ít tác phẩm có giá trị lâu dài" [34;258].

Một phần của tài liệu Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc (Trang 108 - 131)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)