Không gian ngh ệ thuật

Một phần của tài liệu Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc (Trang 80 - 90)

Chương 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI - THỜI GIAN NGH Ệ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI

2.2. Th ời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật

2.2.2. Không gian ngh ệ thuật

Trong tác phẩm nghệ thuật, con người xuất hiện với tư cách là hình tượng con người và không gian được tạo dựng cũng chỉ là hình tượng không gian. "Không gian nghệ thuật là hình tượng không gian trong tác phẩm" [81]. Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực. Không gian hiện thực là môi trường, là hoàn cảnh mà con người hiện hữu, là bầu trời, mặt đất. Không gian hiện thực là cơ sở làm nảy sinh sự nhận thức, cảm nhận về không gian của người nghệ sĩ. Không gian nghệ thuật là không gian mà người nghệ sĩ cảm nhận, chiếm lĩnh và thể hiện một cách

nghệ thuật trong tác phẩm. Không gian nghệ thuật theo Trần Đình Sử là "một phương diện rất quan trọng của tư duy nghệ thuật, đánh dấu trình độ chiếm lĩnh thế giới của các nghệ sĩ"[93;51]. Bất kỳ một tác phẩm nào cũng đều có yếu tố không gian: dù rộng hay hẹp; dù biểu hiện hay chìm khuất... không gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh. Do đó không gian nghệ thuật không đơn giản là không gian vật chất với ba chiều mà chủ yếu là không gian tâm tưởng, không gian của cảm xúc, của hồi tưởng, của ước vọng. Trần Đình Sử cho rằng: "Không gian nghệ thuật có nhiều lớp: không gian vũ trụ, không gian- xã hội, không gian địa lý, không gian con đường..." [93; 51]

Trong sáng tác của Nguyên Ngọc, không gian là yếu tố nghệ thuật vô cùng quan trọng, nó là hình thức hữu hiệu biểu hiện những cảm nhận của ông về đất nước và con người. Kiểu không gian phổ biến mà ông lựa chọn trong sáng tác của ông là không gian sinh hoạt cộng đồng, không gian hùng vĩ, hoang dại của núi rừng, không gian dữ dội, đầy biến động của biển cả, hay không gian của những công trường, những trận đánh...Những không gian ấy có xu hướng vượt khỏi khuôn khổ đời tư, cá nhân, hướng tới những thăng trầm lịch sử.

Không gian sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất trong các tác phẩm viết về miền núi của nhà văn là ngôi nhà rông. Ngôi nhà rông đối với người dân tộc miền núi nó đã trở thành hình tượng của uy quyền tuyệt đối, biểu hiện thiêng liêng nhất của cộng đồng dân tộc. Ngôi nhà rông là biểu tượng của sự hùng mạnh, giàu có, sự gắn kết cộng đồng dân tộc Tây Nguyên. Hình tượng này được tác giả nhắc đi nhắc lại 24 lần trong tác phẩm Đất nước đứng lên; 4 lần trong tác phẩm Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông; 5 lần trong tác phẩm Rừng xà nu. Nhà rông vốn là không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần quen thuộc của người dân Tây Nguyên. Nguyên Ngọc đã nói đến không gian này nhằm tạo ra một không khí thiêng liêng cho câu chuyện kể về người anh hùng. Nhà rông là nhà "câu lạc bộ" chung của một làng ở Tây Nguyên, thanh niên, phụ nữ đêm đêm tới đó ca hát, nói chuyện. Mỗi cá nhân khi bước đến ngôi nhà rông là tự nguyện phục tùng khối gắn kết cộng đồng, hòa vào hơi thở của cộng đồng. Buổi tối, họ tụ tập xung quanh ngọn lửa nhà rông huyền ảo để nghe kể chuyện xưa - chuyện lưỡi gươm ông Tú, hoặc để nghe anh Núp nói chuyện cách mạng, chuyện

độc lập, chuyện Bok Hồ lãnh đạo cả nước chống Pháp hay bàn đến những công việc hệ trọng của dân làng, ngay cả chuyện chuẩn bị vũ khí đánh giặc. Ngôi nhà rông cũng là nơi Núp đã giác ngộ cách mạng cho dân làng, từ chuyện giải thích cặn kẽ cho dân làng hiểu về âm mưu xảo quyệt của kẻ thù, đến việc thức tỉnh tinh thần cách mạng cho các dân làng. Tại ngôi nhà rông này là nơi thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết giữa dân làng đối với Bác, Đảng. Ảnh của Bok Hồ được treo trịnh trọng ở giữa nhà rông. Hàng ngày trước khi đi lên rẫy, mọi người tập trung tại đây để chào Bok Hồ. Nhà rông là

"Quảng trường" cũng là "tòa án" để khen ngợi hay xử phạt một cách công minh của người dân Tây Nguyên.

Trong tác phẩm Rừng xà nu, bên bếp lửa trong ngôi nhà rông, dân làng lũ lượt kéo nhau đến mừng Tnú trở về thăm làng sau ba năm xa cách: "cơm nước xong, từ phía nhà ưng (nhà rông), có ai đấy đánh lên một hồi mỏ dài ba tiếng” [76; 142]. Hay trong tác phẩm Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông, tác giả viết ''căn nhà rông nóc nhọn như một mũi tên đứng sừng sững dưới chân núi Chư - Pông"cũng chính là biểu tượng tài trí, là niềm tự hào, là quê hương yêu dấu của người Tây Nguyên. Suốt mấy trăm năm, hàng chục thế hệ nối tiếp trong tác phẩm Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông thường quây quần bên bếp lửa hồng của nhà rông để nghe người già kể về cuộc đời của đất nước, sông núi, của dân tộc Gia Rai. Biết bao con người đã trưởng thành tại nơi này, trong đó Kơ Lơng là con người ưu tú của dân tộc. Cũng chính tại đây cụ Xớt trao cho Kơ Lơng những bí mật về mũi tên a - Kam gia truyền để anh trả thù cho dân tộc: "Đêm đó, khuya lắm trong nhà rông, bên bếp lửa bập bùng, trong tiếng gió biên giới rì rào, một mái đầu bạc phơ nghiêng xuống một bên mái tóc xanh...cụ già Xớt ngoài tám mươi tuổi đời trao lại cho em bé Kơ Lơng mười bốn tuổi ba mũi tên thuốc độc a -Kam gia truyền..."[67;49]. Không gian nhà rông trong tác phẩm này được tác giả nhắc tới bốn lần thể hiện sự gần gũi gắn bó mình với cộng đồng dân tộc.

Trong tác phẩm Tượng gỗ rừng già, nhà rông cũng là nơi dân làng Hà Tam đón tiếp ông Núp trở về. Đây là không gian thiêng liêng đối với họ. Mặc dù mới về làng cũ, nhiều người chưa kịp có nhà ở nhưng nhà rông thì phải làm ngay và phải cho "cao lớn, đẹp đẽ, đúng kiểu: Toàn thân như một nét nhạc, như một tiếng chim vút lên giữa rừng,

chỉ chực bay lên, uy nghi mà nhẹ nhõm, trang nghiêm mà thân tình gần gũi” [78]. Có thể nói không gian thực sự quan trọng trong việc nuôi dưỡng tâm hồn người dân Tây Nguyên. Dựng được không khí Tây Nguyên qua kiểu không gian độc đáo này, nhà văn Nguyên Ngọc quả là có một vốn sống, một sự hiểu biết sâu sắc, một niềm say mê thực sự đối với mảnh đất còn nhiều bí ẩn ấy.

Ở đây nhà văn không trực tiếp chỉ ra nhưng người đọc cảm nhận rất rõ mối quan hệ giữa không gian mà ông lựa chọn miêu tả với tính cách, khí chất con người. Tất cả những người anh hùng Tây Nguyên đều mang hơi thở của ngôi nhà rông. Tại nơi đây họ được nghe những lời truyền giáo về đạo đức, về lý tưởng, trong tâm khảm họ thấm nhuần những truyền thống thiêng liêng và họ sẽ sống để xứng đáng với truyền thống đẹp đẽ của dân tộc. Anh Núp không bao giờ quên cái đêm nói chuyện ở nhà rông để củng cố quyết tâm đi tới An Khê để xem thằng Pháp. Cụ Mết, Tnú gần giống như linh hồn của ngôi nhà rông ở làng Xô Man. Kơ Lơng khi nghe cụ Xớt hát trong nhà rông đã đẩy cửa bước ra giữa “đêm núi rừng biên giới" [67;46] và đến nay người nhà xã đội trưỏng xin vào du kích Kư Lơng đã không làm hổ thẹn dân làng mình. Anh thanh niên trong tác phẩm Tượng gỗ rừng già cũng vậy. Trong dịp cất nhà rông của làng, thần thánh đã "linh ứng" khiến anh "choàng dậy, chụp lấy cái rìu, xăm xăm đi vào rừng một mình, tìm đúng cây gỗ cứ như sinh ra... cho đúng cái dịp này...chặt, hạ, "lột" pho tượng ra khỏi thân gỗ"[78] về đặt giữa nhà rông. Ngôi nhà rông sẽ đi vào cả tiềm thức, tâm linh của con người, mãi mãi bảo dưỡng họ trong vẻ đẹp cội nguồn.

Không gian rừng núi cũng là một không gian tiêu biểu có giá trị nghệ thuật, tạo nên nét đặc sắc riêng trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc. Bên cạnh không gian sinh hoạt đậm chất phong tục còn có không gian thiên nhiên đa dạng và giàu sắc thái. Trong các tác phẩm Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Rẻo cao, Dũng cảm, Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông...là những tác phẩm mà tác giả đã đã khắc họa và xây dựng nhân vật trên nền của không gian này. Người miền núi sống với rừng núi, sống nhờ rừng núi. Rừng là một phần máu thịt của họ, là thế giới hay vũ trụ của riêng họ. Rừng không chỉ là tài nguyên, là môi trường. Rừng còn là bản nguyên, là cội nguồn văn hóa của người dân Tây Nguyên. Rừng là một thực thể thẩm mỹ, là một đối tượng thẩm mỹ, là môi trường, cái nền không thể thiếu cho sự vận động phát triển cốt

truyện và tính cách nhân vật. Rừng núi là nơi nuôi dưỡng nhào nặn nên tính cách con người, in đậm vào trong cả lối sống của con người. Trong tác phẩm Rừng động của Mạc Phi, cái thế giới của rừng, cái hình ảnh "Mẹ rừng" hiện ra thấm đẫm tinh thần nhân văn và một lý tưởng thẩm mỹ thể hiện hết sức tinh tế mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người: "Rừng nở hoa lan, hoa nứa, hoa ban, hoa sung. Có dây củ mài, lại có dầy lá ngón. Rừng nở ra rêu, nấm, giẫm phải mới biết. Lại nở ra cây dẻ cao, hạt rựng đánh bươu đầu con sóc chuột làm dáng cổ đeo chuỗi cườm. Lại có cây vối thuốc chọn đất bùn mới mọc. Nhưng có cây nghiến, rễ không ăn xuyên đá thì cũng chết mất.

Rừng nở ra cây này, cây kia. Có nai lại có hổ. Có kiến lại có voi. Con voi to mà sợ con nhỏ. Mà con ăn cở lại ở chung vói con ăn thịt những con ăn cỏ. Có con chỉ bò suốt đời nó chưa khắp nổi một mặt lá. Có con bay tít trên cao, rừng nào cũng biết, rừng nào cũng nhớ cái tiếng hót nó đánh rơi xuống... Vậy mà tất cả đều ra từ một mẹ. Yêu thương, lo lắng, mẹ rừng xào xạc có bao giờ nguôi. Sao nay rừng im? Sao nay rừng im?".

Nguyên Ngọc vốn sống nhiều ở Tây Nguyên, thông hiểu nhiều về không gian bao la của núi rừng. Do vậy không gian núi rừng không chỉ là không gian hiện thực mà nó còn là những không gian nghệ thuật đặc sắc trong sáng tác của ông. Bản thân nó là những thực thể thẩm mỹ, mang lại cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc. Đồng thời qua hình tượng không gian này, nhà văn tập trung làm nổi rõ những số phận, cảnh đời, khắc họa chiều sâu tâm lý, tính cách nhân vật, từ đó chuyển tải tư tưởng nghệ thuật của mình đến với người đọc. Trong truyện Dũng cảm, rừng qua cảm nhận của một cô gái miền xuôi lên miền núi dạy học, trong một lần băng rừng đến nhà một học sinh nghỉ học, rừng đối với cô như một thế giới diệu kỳ, đầy sắc màu, thật quyến rũ và hấp dẫn lạ thường. Cô vượt rừng băng suối đến nhà học sinh Mèo, trên đường đi, cô được thấy cảnh vật núi rừng "Càng vào sâu, rừng càng dày và kỳ lạ. Ở đây là một thế giới những con sông nhỏ li ti chảy ngang dọc trên mặt đất, một lũ kiến chóp đen đủi, dữ tợn kéo nhau đi đánh trận ở đâu thế kia. Có một con kiến to quá đen bóng như một vị tướng dừng lại ở giữa đàn, có lẽ để giục quân tiến lên trông nó rất quân phiệt, một con họ ngựa cất cánh hay là là từ gốc cây này sang gốc cây kia rồi hay là là tứ gốc cây kìa sang gốc cây này" [76; 32].

Trong tác phẩm Đất nước đứng lên, rừng là nơi nuôi dấu bảo vệ an toàn nhất cho những người cán bộ, "người Đảng". Rừng cho Núp địa hình lý tưởng để anh thử nghiệm việc đánh Pháp. Rừng núi, dòng suối, con thác là địa điểm che chở và nơi tiếp sức cho con người chiến đấu chống kẻ thù. Trước dòng suối, tảng đá Núp suy nghĩ về mảnh đất thiêng liêng và hạ quyết tâm đánh Pháp. Hình tượng "con chim Đ' rao" " con chim to nhất, khỏe nhất của núi rừng Tây Nguyên".Con chim tượng trưng cho ý chí và sức mạnh của con người Tây Nguyên “Núp cũng là một con chim Đ' rao". Quanh anh bây giờ càng có nhiều con chim Đ' rao, thành một đàn chim, mỗi ngày một đông:

Đi lên nào anh em Ta hơn nghìn con chim Chim Đ' rao và chim Linh Khắp nơi đồng chí mình”

[73; 143]

Trong tác phẩm Rừng xà nu, hình ảnh rừng xà nu được tác giả nhắc đi, nhắc lại hai mươi lần như khắc sâu sự gần gũi gắn bó giữa dân làng với rừng núi. Rừng ngăn tầm nhìn của kẻ thù, rừng che chở cho dân làng khỏi tầm đại bác của đồn giặc "ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng" [76;133]. Cảnh rừng xà nu ứng chiếu với làng Xô Man, những lớp cây rừng tương ứng với các thế hệ người dân Xô Man kiên cường, bất khuất. Cụ Mết là cây xà nu già, Tnú là cây xà nu lớn, bé Keng là cây xà nu con...Rừng xà nu là lịch sử làng Xô Man là cái nơi sinh ra những con người dũng cảm, kiên cường như Tnú. Nhựa xà nu soi cho Mai, cho Dít gằn gạo, soi cho Tnú học chữ. Xà nu có mặt rộng khắp trong cuộc sống của người dân Tây Nguyên. Rừng xà nu thể hiện tinh thần bám chặt mảnh đất quê hương để sống và chiến đấu của dân làng Tây Nguyên "Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên, lao thẳng lên hầu trời. Cũng ít loài cây ham ánh sáng mặt trời đến thế...Cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng" [76;133].

Nguyên Ngọc miêu tả thiên nhiên rừng núi Tây Nguyên như một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên cái nôi văn hóa của dân tộc. Người dân Tây Nguyên sống giữa rừng

núi bao la ấy đã tạo nên một phong cách rất Tây Nguyên, phóng khoáng, yêu tự do, giàu ý chí nghị lực không chịu khuất phục những ràng buộc, áp bức của kẻ thù.

Rừng là môi trường trực tiếp ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ cuộc sống con người là cội nguồn văn hóa, cội nguồn những quan niệm triết học, quan niệm thẩm mỹ của con người miền núi. Trong đời sống, con người miền núi luôn đặt bản thân ngang hàng và hòa mình với thiên nhiên, thiên nhiên không chỉ là vật chất, là môi trường mà nó còn là tâm linh, là cội nguồn văn hóa, là nguồn gốc hình thành nên nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc của dân tộc. Trong bút ký Tháng Ninh nông, Nguyên Ngọc đã viết:

"Mùa mưa rừng Tây Nguyên ai đã từng nếm qua, hẳn nhớ đời: dầm dề, dai dẳng, mịt mùng, một tháng, hai tháng, ba tháng, bốn tháng, năm tháng trời...Mỗi mùa mưa lại như một lần khai thiên lập địa trở lại. Từng trái núi khổng lồ đổ ập xuống và từng dãy núi dài cao vút mọc lên, những hố sâu hun hút đột nhiên toác ra ở chỗ mới hôm trước là đất bằng, rừng già. Những con sông lớn ngoắt một cái, đổi ngược dòng nước...nước, nước mênh mông, miên man bất tận" [76;168].

Nghiên cứu về "Rừng trong văn hóa Tây Nguyên" Nguyên Ngọc cho rằng:

"Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên - đến nay còn rất đậm - làng là đơn vị cơ bản.

Mà làng ở Tây Nguyên là gì ? Đấy là một khoảnh đất con người đã cắt ra được của cái bao trùm tất cả là rừng hoang dã. Là cái phần nhỏ của tự nhiên hoang dã mà con người đã thuần hóa được con người biến thành văn hóa. Mối quan hệ cơ bản nhất của sự tồn tại ở đây là vậy, bên này là tự nhiên: rừng, bên kia là văn hóa: làng. Ở giữa là con người. Con người tồn tại chông chênh trên cái ranh giới luôn biển động ấy bởi con người đã thuần hóa một chút rừng cho mình, làm cho cái chút ấy biến thành văn hóa nhưng không bao giờ biến thành hoàn toàn được. Rừng thường xuyên thâm nhập vào con người, và luôn luôn có xu hướng giành lấy tất cả" [35; 16] .

Trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyên Ngọc, thiên nhiên không chỉ là không gian hiện thực mà là cả một thế giới không gian nghệ thuật, là cảm thức thẩm mỹ, bộc lộ tư tưởng của nhà văn, thể hiện góc nhìn, sự nhận thức, lĩnh hội của nhà văn đối với cuộc sống. Đời sống vốn muôn màu muôn vẻ, trong đó con người là trung tâm của đời sống. Trong tác phẩm nghệ thuật, không gian hiện thực không phải được tác giả miêu

Một phần của tài liệu Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc (Trang 80 - 90)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)