1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật hồ dzếnh

130 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

"[3; 193] Có lẽ đúng như thế, tác phẩm của Hồ Dzếnh ra đời không tạo nên một tiếng vang lớn, không được đón nhận sôi nổi như một số nhà văn lớn khác nhưng sức sống của nó trong lòng ngườ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

LỜI CÁM ƠN 5

D ẪN NHẬP 6

l.Lý do ch ọn đề tài: 6

2 Ph ạm vi nghiên cứu: 7

3 L ịch sử vấn đề: 8

4 Phương pháp nghiên cứu: 16

5.Đóng góp của luận văn: 18

6.C ấu trúc của luận văn: 18

CHƯƠNG 1: CẢM THỨC VỀ CON NGƯỜI VÀ QUÊ HƯƠNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT HỒ DZẾNH 19

1.1.C ảm thức về con người: 19

1.1.1.Con người hiện thân của số phận tăm tối lụi tàn nhưng có tâm hồn đẹp đẽ tượng trưng cho tinh thần Việt nam cao quí: 21

1.1.1.1 Nh ững số phận tăm tối lụi tàn: 21

1.1.1.2.Nh ững tâm hồn đẹp đẽ tượng trưng cho tình thẩn Việt nam cao quí: 28

1.1.2 Con người tha phương lưu lạc : 33

1.1.2.1 Con người tha hương vì chí nguyện giang hồ: 33

1.1.2.2.Con người tha phương lưu lạc vì sự xô đẩy của số phận: 36

1.1.3.Con người tự vấn, tự ý thức 41

1.2.C ảm thức về quê hương: 49

1.2.1.Quê cha-một gốc rễ, một cội nguồn: 50

Trang 4

1.2.2.Quê mẹ- vùng quê sinh trưởng cũng là cội nguồn cảm hứng nghệ thuật của nhà văn: 57

CHƯƠNG 2: LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI HỒ DZẾNH: 70

2.1.Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong vấn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh: 72

2.1.1.Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo phương thức trần thuật chủ quan: 722.1.2.Lời văn nghệ thuật được tổ chức theo phương thức trần thuật khách quan: 91

Dz ếnh: 99

2.2.1.Một giọng điệu trữ tình sâu lắng thấm đẫm cảm xúc: 1002.2.2.Một giọng điệu thủ thỉ tâm tình thấm đượm nỗi buồn thương man mác khi hoài niệm về quá khứ: 108

K ẾT LUẬN 121 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 125

Trang 5

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt ánh của cắc

thầy cô và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đôi vói PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người thầy hướng dẫn khoa học tận tình, cùng với quý thầy cô đã nhiệt tình

giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suôi quá trình học tập cũng như trong quá trình tôi thực hiện

luận văn này

An Giang, tháng 8 năm 2003

Ngô Thị Hy

Trang 6

DẪN NHẬP

l.L ý do chọn đề tài:

Giai đoạn 1930- 1945 là giai đoạn nền văn học dân tộc đã phát triển hết sức mạnh

mẽ, phong phú đa dạng theo hướng hiện đại Chỉ trong vòng 15 năm mà nền văn học đã

tiến một bước dài dẫn đến những thành tựu lớn lao với biết bao những tác phẩm đặc sắc

có giá tri, những phong cách tác giả đa dạng thuộc nhiều xu hướng văn học khác nhau Văn học Việt nam giai đoạn này đã có một diện mạo mới mẻ hiện đại và đã đạt được nhiều thành tựu về nhiều phương diện trên tiến trình hiện đại hóa văn học Về phương

diện thể loại, văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này đã có những bước đột phá đáng kể so với văn học trung đại Trên văn đàn có những cây bút viết nhiều, viết khỏe, trở thành quen thuộc với người đọc, đã thực sự được khẳng định tài năng và có được một vị trí vững vàng trong nền văn học dân tộc Cũng có những nhà văn viết không nhiều, họ chỉ âm

thầm lặng lẽ viết về những điều họ trải nghiệm, cảm xúc nhưng cũng đủ tạo ấn tượng trong lòng người đọc Hồ Dzếnh (1916-1991) là một trường hợp như thế

Trong các nhà văn Việt Nam, Hồ Dzếnh là một trường hợp đặc biệt Ông là một người Trung Hoa Tên ông cũng nói lên điều ấy Hồ Dzếnh tức Hồ Anh đọc theo tiếng

Quảng Đông, cha ông là một người Trung Quốc di cư từ Quảng Đông Trung Quốc sang

Việt Nam vào những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, mẹ ông là một cô gái chở đò ngang trên sông Ghép, Thanh Hoa.Thuở nhỏ ông sống với gia đình ở Thanh Hoa (huyện Như Xuân) rồi lên thị xã Thanh Hoa Ông học tiểu học ở đó rồi sau ra Hà Nội học tiếp bậc trung học, vừa học ông vừa kiếm sống bằng nghề gia sư và làm công ở các hiệu buôn người Hoa Ông làm thơ, viết văn rất sớm Năm 1937, Hồ Dzếnh bắt đầu viết một số bài

thơ và truyện ngắn đăng rải rác trên các báo Trung bắc chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy, tập san Mùa g ặt mới Trước Cách mạng tháng Tám, tập truyện "Chân trời cũ”(1942) và tập

thơ "Quê ngoại" ( 1943 ) là những tác phẩm tiêu biểu của Hồ Dzếnh Ngoài ra còn có tiểu thuyết " Một truyện tình mười lăm năm về trước" (1942) ký bút danh Lưu Thị Hạnh Năm

Trang 7

1944, Hồ Dzếnh lại cho in truyện dài "Hai mối tình" hay “Tiếng kêu trong máu" và tiểu

thuyết "Những vành khăn trắng" (ký tên Lưu Thị Hạnh)

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Hồ Dzếnh sống chủ yếu ở vùng tự do Thanh Hoa

Thời kỳ này ông cho ra đời "Cô gái Bình xuyên" ( 1946 ) Cũng năm này ông cho ra mắt

bạn đọc ''Hoa xuân đất Việt"(thơ)

Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai ( 1957 ), ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt nam Ông đã đi thâm nhập thực tế, sống đời người thợ và tiếp tục sáng tác nhưng không nhiều Năm 1993, hai năm sau khi nhà văn qua đời, Nguyễn Bao đã giới thiệu và công bố một tác phẩm văn xuôi khác mà nhà văn

chưa có ý định công bố, đó là quyển “Cuốn sách không tên" Với quyển sách này, người

đọc càng hiểu thêm về Hồ Dzếnh, một cây bút luôn luôn trung thực và chân thành

Hồ Dzếnh không phải là một tác giả lớn nhưng những tác phẩm của ông, do sức hấp

dẫn riêng của ngòi bút văn xuôi trữ tình, cũng đã đứng vững được với thời gian Không

phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu xếp Hồ Dzếnh vào chung khu vực với Thạch Lam, Thanh Tịnh Đây chính là ba phong cách văn xuôi trữ tình tiêu biểu trong văn xuôi nghệ thuật giai đoạn 1930- 1945

Chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm hiểu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh ở

một mức độ bao quát và toàn diện là vấn đề cần quan tâm Vì điều này trước hết sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn chung về văn xuôi Hồ Dzếnh và từ đó khẳng định được sự đóng góp của ông cho nền văn học dân tộc Mặt khác, nghiên cứu vấn đề này cũng giúp cho

việc giảng dạy của chúng tôi ở trường về những cây bút của nền văn học hiện đại được

tốt hơn Chúng tôi cũng muốn qua công trình này thể hiện thái độ trân trọng của người yêu văn chương Hồ Dzếnh đối với những tác phẩm mà ông đã để lại hôm nay Đó là lý

do chúng tôi chọn đề tài này

2 Ph ạm vi nghiên cứu:

Như trên đã nói, Hồ Dzếnh không sáng tác nhiều Người ta biết đến ông qua tập thơ

"Quê ngo ại", tập truyện ngắn "Chân trời cũ" và vài tiểu thuyết Ở cả lĩnh vực thơ và văn

Trang 8

xuôi, ông đều có những thành công Khó ai quên được âm điệu bài thơ "Chiều" nổi tiếng

của Hồ Dzếhh và những bài thơ mang đậm phong cách riêng của ông.Cũng không ai yêu thích văn chương mà không một lần rung động bởi những trang văn đậm chất trữ tình và

thấm đượm nỗi niềm thương cảm hoài niệpi về quá khứ của ông khi hướng về một " Chân trời cũ" cũng như những trang viết không kém phần đặc sắc của "Một truyện tình

15 năm về trước", “Cô gái Bình xuyên" Có thể nói trong lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật,

tập truyện "Chân trời cũ" đã khẳng định vị trí của Hồ Dzếnh trên văn đàn Trải qua sự

thử thách khắc nghiệt của thời gian, tác phẩm ấy vẫn âm thầm lặng lẽ sống trong lòng người đọc

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận xét về đặc điểm vãn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, trên cơ sở tập trung chú ý đến truyện ngắn của ông, đặc

biệt là tập truyện "Chân trời cũ", và đồng thời cũng có đề cập đến một số tiểu thuyết đã

được xuất bản Các tác phẩm này được in trong các tập sách sau:

- Chân tr ời cũ - NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 2001

3 Lịch sử vấn đề:

Nhắc đến Hồ Dzếnh, một tài năng nghệ thuật độc đáo nhưng lại tỏa sáng một cách

âm thầm lặng lẽ, Mai Hương đã nhận xét rằng Hồ Dzếnh trong những trang viết của mình

đã "lặng lẽ ký thác, trao gửi Người đọc cũng lặng lẽ để cảm nhận Cứ như thế tạo nên

một sự đồng cảm "âm thầm thương mến" giữa Hồ Dzếnh và các thế hệ độc giả của ông.Không ồn ào, không tạo nên những choáng váng đột ngột, không là "một niềm kinh

Trang 9

dị", Chân trời cũ rồi Quê ngoại lặng lẽ tìm đến sự tri kỷ tri âm, lặng lẽ "kết kén" trong tâm tình người đọc "[3; 193]

Có lẽ đúng như thế, tác phẩm của Hồ Dzếnh ra đời không tạo nên một tiếng vang

lớn, không được đón nhận sôi nổi như một số nhà văn lớn khác nhưng sức sống của nó trong lòng người đọc vẫn lâu bền dù có phải trải qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian Điều này đã được chứng minh từ khi tác phẩm của Hồ Dzếnh ra mắt bạn đọc đến nay, dư luận và giới nghiên cứu đã dành khá nhiều thiện cảm và ưu ái cho nhà văn mang trong mình hai dòng máu Hoa- Việt này

Nhìn chung giai đoạn trước 1975 ít có những bài viết, bài nghiên cứu về tác phẩm

Hồ Dzếnh Nhưng khi tập Chân trời cũ ra mắt bạn đọc năm 1942, Hồ Dzếnh đã tìm thấy được một người bạn tri âm biết cảm thông với nỗi niềm của ông Người bạn tri âm ây chính là Thạch Lam.Đọc Chân trời cũ, Thạch Lam đã hiểu nỗi đau khổ của Hồ Dzếnh trong cuộc sống khi ông quay về dĩ vãng, "cái dĩ vãng của một gia đình Việt-Hoa", ở đó

là cuộc sống của những con người mà " số phận hình như bắt buộc phải buồn rầu"[3;82] Qua tập truyện, Thạch Lam đã phát hiện được ở Hồ Dzếnh một tài năng trẻ đầy hứa hẹn:

" Tôi không nói rằng tác phẩm này không có khuyết điểm nhưng tác giả còn trẻ và tài năng còn hứa hẹn cho chúng ta nhiều".[3;84]

Kiều Thanh Quế trong bài "Phê bình Chân trời cũ" cũng phát hiện ra rằng các "đoản thiên" trong “Chân trời cũ"có một màu sắc lạ, một phong vị mới"[3;86].Cũng có những bài phê bình văn thơ Hồ Dzếnh như bài của Mai Thảo-" Hai nhánh sông tâm hồn trong thơ Hồ Dzếnh" (1973), Du Tử Lê -bài "Người bạn thiết của những kẻ lang thang" ( 1973 ), Cao Huy Khanh- "bài Hồ Dzếnh, thỉ sĩ của thời gian" (1973 ) Dần dần vị trí của Hồ

Dzếnh đã được khẳng định Ương lòng bạn đọc khi những tác phẩm của ông lần lượt được tái bản Năm 1988, nhà xuất bản Văn học đã cho ra đời Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc

Tiếp theo đó tập sách Văn xuôi lãng mạn Việt nam 1930- 1945, nhà xuất bản Khoa học

xã hội lại một lần nữa giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của ông Người đọc ngày càng

có điều kiện để tiếp xúc với tác phẩm của một nhà văn còn được ít người biết đến này Từ đây xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về văn thơ của ông Đó là bài viết của các nhà nghiên

Trang 10

cứu như: Trần Hữu Tá (1988), Phạm Khải ( 1989), Trương Chính (1989), Vũ Quần Phương (1989), Võ Văn Trực (1990), Vương Trí Nhàn (1991), Hoài Anh (1991),Tôn Phương Lan, Phạm Thu Hương (1995) Cũng có những bài viết về nhà văn Hồ Dzếnh trong các sách như: Nhà văn Việt nam thế kỷ XX tập u NXB Hội nhà văn Hà nội (1999), sách Tác giả Văn học Việt nam tập 2- Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyên

An, nhà xuất bản Giáo dục (1992) Trong bộ Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, ở

lời giới thiệu bộ sách , Nguyễn Hoành Khung cũng có giới thiệu về nhà văn Hồ Dzếnh Nhìn chung, các ý kiến của các nhà nghiên cứu đều khẳng định vị trí của Hồ Dzếnh trong nền văn học Vương Trí Nhàn cho rằng "với tập thơ Quê ngoại, nhất là với tập truyện ngắn Chân trời cũ, Hồ Dzếnh đã tạo ra một vị trí trong đời sống văn học trước 1945"[3;172] và đánh giá "Chân trời cũ" là "loại tác phẩm không gây ra choáng váng đột

ngột song luôn luôn có bạn đọc, hết lớp này đến lớp khác"[3;173] bởi đó là u thứ văn chương không có tuổi" Vũ Quần Phương trong bài giới thiệu chung về văn nghiệp Hồ

Dzếnh in ở đầu tập Tác phẩm chọn lọc của Hồ Dzếnh cũng khẳng định: "Với hai tác

phẩm ấy (tập thơ Quê ngoại và tập văn Chân trời cũ ), Hồ Dzếnh đã có một vị trí xứng đáng trong văn đàn Việt nam trước cách mạng"[3; 139]

Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi sẽ trình bày các ý kiến nổi bật trong các bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài Cụ thể là các ý kiến sau:

3.1 Những nhận xét xoay quanh những vấn đề về cách cảm nhận của Hồ Dzếnh đối

với con người và quê hương:

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất ý kiến khi cho rằng "Chân trời cũ" thể hiện chất

tự truyện, hồi ký Hồ Dzếnh đã "kể chuyện mình, chuyện gia đình mình thời thơ ấu Mỗi truyện là chân dung một người thân: cha mẹ, anh chị em, mấy người hàng xóm"[3; 192] Qua đó nhà văn đã thể hiện những cảm nhận của mình về con người thân thương ở quê

mẹ, về quê hương Thanh Hoa và cả mảnh đất xa xôi của quê cha Trung Quốc Nhận xét

về điều này, Trần Hữu Tá đã viết: "Tác giả đã đau khổ, đã sống thực sự những truyện của mình, đã nhớ lại cuộc đời cũ với tình xót thương, lòng nhân đạo khá sâu sắc "[68;315]

và " Trong bất cứ truyện nào dù nói về ai nhưng ẩn sau những dòng chữ in, nhân vật

Trang 11

chính vẫn là tác giả, là tâm hồn giàu lòng yêu thương, xao xuyến của ông Tác giả như

mở lòng mình để chia sẻ nỗi đau với những người thân và như để nghiêng mình ngưỡng

mộ trước những phẩm chất tuyệt vời của những người không chịu chết chìm trong cơ cực

buồn khổ "[3;154] Trần Hữu Tá cũng khẳng định rằng những phẩm chất của những con người này đã "hợp thành nên phẩm chất Việt nam, sức mạnh Việt nam, vẻ đẹp Việt nam" [3;154-155]và nó tiêu biểu cho "linh hồn Việt nam", "tinh thần Việt nam" cao quí" [68;315] Các nhà nghiên cứu đều nhìn nhận rằng khi viết về những người thân bao giờ nhà văn cũng dành cho họ những tình cảm yêu thương, sự sẻ chia, niềm cảm thông đối

với số phận của họ đặc biệt là của người phụ nữ, mà " nổi bật hơn cả là hình ảnh những người đàn bà của một vùng nông thôn nghèo đói, những con người thật trung hậu đầy lòng vị tha và đức hy sinh nhưíig chẳng bao giờ được hưởng một ngày vui dù là niềm vui

mà họ ao ước chỉ là được yêu thương người khác, được hy sinh cho người khác " Nhận xét về "Chân trời cũ", Vũ Quần Phương cũng viết: "Bằng trái tim lương thiện và đa cảm, ông đã đứng về phía những người nghèo khổ dù là Hoa hay Việt Ông thấy ở họ những tình cảm tốt đẹp, lòng vị tha cao cả, sự rộng lượng và tình thương người"[3;143]

Phong Lê cũng nhận xét: "Tác giả đặt toàn bộ thế giới con người vào một màn sương tâm tình và người viết như muốn trải lòng ra để yêu thương tất cả Không phải chỉ

với mẹ, với anh Hai, chị Yên, em Dần là những người giàu tình thương và nết tốt mà phải

chịu số phận buồn khổ mà ngay với chú Nhì xa lạ, ông cậu, người gây nên tội lỗi, anh cả- cách biệt và hư hỏng Tấm lòng tác giả thật rất bao dung, dường như không dám nghĩ đến điều ác bao giờ và giá có lúc vô tình hoặc cố ý chạm phải điều ác thì là cả một nỗi day dứt khôn nguôi"[41;108-109] Chính vì thế mà trong những câu chuyện của ông, xen vào giữa những dòng tự sự thường là những lời tâm tình, những lời tự vấn lương tâm chân thành, cho nên Vũ Quần Phương trong lời giới thiệu "Hồ Dzếnh, tác phẩm chọn lọc"

đã viết: "Ông viết như giãi bày, như tự thú, như sám hối về những câu chuyện của gia đình, viết cho vợi như lời ông nói" [53; 15] Nhận xét về điều này, Văn Tâm cũng cho

rằng ở "Chân trời cũ", " Tâm thế ăn năn, hối lỗi ẩn hiện bàng bạc trên suốt các trang hoài

niệm "[3; 224]

Trang 12

Đánh giá "Chân trời cũ", các nhà nghiên cứu cũng khẳng định tình yêu tổ quốc, quê hương của Hồ Dzếnh cũng thấm đượm trong các trang văn của ông.Tôn Phương Lan đã

nhận định: "Với Hồ Dzếnh, cả ưong văn và thơ, luôn hiện diện một tình yêu tổ

quốc"[3;215] Hồ Dzếnh có một gốc gác đặc biệt nên tình cảm của ông hướng cả về quê cha Trung quốc và quê mẹ Việt nam Nhìn chung các bài viết đều cho rằng tình cảm đối

với quê mẹ Việt nam là tình cảm thường xuyên và chủ đạo trong văn xuôi Hồ Dzếnh và

"tình cảm ấy hiện ra có lúc mơ hồ, có khi rõ rệt nhưng chân thành và bao giờ cũng gắn

với những miền đất và con người cụ thể Đó là một tình yêu thương con người da diết,

nỗi đồng cảm sâu sắc trước những buồn đau của những kiếp người cụ thể luôn được thể

hiện qua giọng kể "nhớ về" man mác chất thơ và bằng những ngôn từ rất gây ấn tượng"[3;206-207-208]

Lê Quang Trang cũng nhận xét rằng tình yêu đối với quê ngoại, với tổ quốc Việt nam là xuất phát từ tình yêu những con người cụ thể: "Ông hướng lòng mình về những người nghèo khổ, chia sẻ với họ những bất trắc, bất hạnh, bi kịch gặp trong đường đời,

bởi vậy truyện của ông đậm đặc bản chất nhân đạo Những trang viết về người mẹ Việt

của ông thật đằm thắm, đôi khi không chỉ dừng ở phạm trù mẹ con bình thường mà qua

đó còn biểu lộ tình yêu sâu nặng với quê ngoại, với tổ quốc Việt nam "[3; 181] Cũng

nhận xét về điều này, Vũ Quần Phương viết: "Lòng yêu quê hương của Hồ Dzếnh gắn bó

khắng khít với lòng yêu mẹ, yêu những người thân yêu.ông yêu tổ quốc từ tình yêu

những người dân lao khổ thiệt thòi"[3;144].Cũng với một quan niệm như thế, Tôn Phương Lan đã viết: "Đọc Chân trời cũ ta thấy trong con người tác giả, tình yêu đất nước

là một tình cảm tự nhiên vừa như là cái bóng trùm phủ lên đời sống tinh thần của ông đồng thời cũng là nơi nương tựa cho những tình cảm riêng tư để rồi tình cảm riêng tư cũng trở thành điểm tựa cho tình yêu đất nước Hai thứ tình cảm này đã hỗ trợ cho nhau cùng hòa đồng, tỏa sáng và tạo nên một tố chất riêng của Hồ Dzếnh khiến ông vừa giống

lại vừa khác mọi người Cho nên khi nhớ về Chị Yên, cô thôn nữ tốt nết, thương người,

bị sống quên lãng sau lũy tre xanh, ông đã nhìn thấy sau con người chị một cái gì lớn hơn tâm hồn muốn cam chịu, nhẫn nại và đau khổ của một con người cụ thể Đó là "một nước

Trang 13

Việt nam, quê hương thứ hai của tôi", một nước Việt nam "ở đó con người sống nhân hậu

và "rất đỗi hiền lành"[3;206-207]

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng nhận xét rằng cùng với tình yêu quê mẹ là tình

cảm hướng về quê cha của Hồ Dzếnh Đối với ông, quê nội là "Một gốc rễ, một cội nguồn"[3,136], "nơi đó mới thật là quê hương, là gốc rễ" [3; 169] Nói về điều này Lê Quang Trang đã nhận xét: " Ông sống nhiều ở quê ngoại, lớn lên trong vòng tay của mẹ Nhưng tâm hồn ông vẫn thỉnh thoảng bị đánh thức về quê nội bởi những sứ giả của gia

hệ, các phong tục tập quán lâu đời Những yếu tố ấy vừa là chất liệu cho tác phẩm của ông vừa ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời sống tâm linh ông"[3; 181] Một mực yêu quê mẹ

với tình yêu tha thiết nhưng cũng dành tình cảm thiêng liêng hướng về quê cha, cho nên điều này đã tạo nên trong văn chương của ông một "niềm khắc khoải giữa hai bờ xứ

sở"[28;42] và "cảm thức không cội nguồn" hay "cái mặc cảm bị bỏ rơi, bị lãng quên" [3;136] Và chính tâm sự ngậm ngùi ấy đã "tạo nên nét đặc sắc riêng trong những trang ít

ỏi Hồ Dzếnh viết về quế nội, góp vào bức tranh quê của văn học Việt nam một nỗi niềm

cố quốc, tha hương, "một tình yêu tiềm tàng âm thầm như một niềm đau xót" về "cả một

xứ Trung Hoa bí mật"[3;1951

3.2 Những nhận xét về lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật

HồDzếnh:

Những bài viết, bài nghiên cứu về Hồ Dzếnh cũng có đề cập rải rác những ý kiến về

lời văn, giọng kể, ngôi kể, ngôn ngữ trong văn xuôi Hồ Dzếnh

Năm 1942, khi đề tựa Chân trời cũ, Thạch Lam đã có nhận xét khái quát về giọng điệu kể chuyện của Hồ Dzếnh: " Những chuyện của ông kể cho chúng ta nghe đều có một màu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía"[3;83]

Khi phê bình Chân trời cũ, Kiều Thanh Quế chú ý đến "tính cách ngòi bút" của tác

giả nhiều hơn cốt truyện và đã nhận xét rằng những câu văn của Hồ Dzếnh "có những

nhịp uyển chuyển và buồn lạ như một khúc nhạc lâm ly ai oán Những khóc nhạc đều đều

ấy thường gặp những âm thanh rền lên gợi được bao nhiêu vang bóng trong lòng độc

Trang 14

giả"[3;87] Phong Lê thì đã tìm thấy trong những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh "những đoạn văn thật giàu âm điệu như đồng vọng lại từ sâu thẳm của một tâm

hồn cực kỳ đa cảm và một quá khứ xa xưa" và "những câu văn ngân dài như những nốt

nhạc buồn trên nền mờ của những kỷ niệm dệt thành quá vãng"[41;107] Từ đó Phong Lê

đã nhận ra một đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, đó là "mạch kể chuyện của

Hồ Dzếnh cũng rủ ri và sa đà"[41;107]

Gặp gỡ nhau trong ý kiến về giọng văn Hồ Dzếnh, Tôn Phương Lan và Vũ Quần Phương cùng tìm thấy trong văn của ông "một giọng kể chân thật từ tốn với sự đồng cảm xót xa"[3;205] Phạm Khải cũng cho rằng " giọng văn Hồ Dzếnh bao giờ cũng bày tỏ một

sự cảm thông nâng niu đầy thương cảm"[3;158]

Các ý kiến của các nhà nghiên cứu đã có điểm gặp gỡ nhau khi cho rằng văn Hồ

Dzếnh thấm đượm một nỗi buồn nhân thế Cũng nhận xét về giọng văn, Lê Quang Trang

viết: "Văn ông trầm tĩnh đều đều như những cơn mưa ngầu dai dẳng, dầm dề, không ào ạt nhưng vẫn tạo được cảm giác lắng đọng, ngấm sâu gợi nghĩ về những điều nhân đạo một cách trong sáng"[3;181-182]

Nhiều nhà nghiên cứu cũng chú ý đến sắc thái trữ tình và chất thơ trong văn xuôi

Hồ Dzếnh Trần Hữu Tá cho rằng Hồ Dzếnh đã phát huy tối đa thế mạnh của Hồ Dzếnh thi sĩ ương khi viết văn xuôi vì thế "chất thơ thấm vào từng trang văn tạo nên phong vị

trữ tình ảo diệu"[3; 154].Võ Vãn Trực thì cho rằng "Hồ Dzếnh viết văn bằng tâm hồn nhà thơ cho nên có thể nói rằng mỗi truyện ngắn của anh là một bài thơ triền miên cảm xúc

mà ương đó nhân vật chỉ là cái đinh để anh treo lên đó bức tranh tâm hồn của mình"[3; 166]

Tôn Phương Lan khi nói về tình cảm của nhà văn đối với "tình quê Nam Việt" đã

nhận xét rằng để thể hiện nỗi đồng cảm sâu sắc trước những nỗi buồn đau của những kiếp người cụ thể thì Hồ Dzếnh đã sử dụng "giọng kể nhớ về "man mác chất thơ và bằng"

những ngôn từ rất gây ấn tượng" và "ông đã sử dụng một cách đắc địa chất trữ tình vào

thể loại tự sự khiến cho những trang văn giàu sức gợi cảm của Hồ Dzếnh dễ đi vào lòng người và thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc"[3;208-209]

Trang 15

Nguyễn Hoành Khung, khi giới thiệu về Hồ Đzếnh trong bộ "Văn xuôi lãng mạn

Việt Nam 1930- 1945" đã nhận xét Hồ Dzếnh trong sự so sánh với Thạch Lam và Thanh

Tịnh Ông viết: "Cũng như Thạch Lam, Thanh Tịnh, truyện Hồ Dzếnh thấm đượm trữ tình và man mác chất thơ", " văn Hồ Dzếnh giàu cảm xúc, ý vị tuy mực thước trau chuốt

mà lắng đọng dư ba"[36;41]

Để nhấn mạnh sắc thái trữ tình, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến yếu tố người kể trong văn xuôi Hồ Dzếnh Các tác giả trong cuốn “Tác giả văn học Việt Nam tập 2", trong mục Hồ Dzếnh đã khẳng định trong tập Chân trời cũ "ở truyện nào cũng có mặt

một nhân vật người kể chuyện đứng ở ngôi thứ nhất"

Vũ Quần Phương cũng khẳng định: "Nhân vật chính xuyên qua tất cả mọi truyện chính là tác giả Nhiều lúc diễn biến cốt truyện bị ngưng lại nhường lời cho người viết

bộc lộ"[3; 143-144]

Đề cập đến Chân trời cũ như một tác phẩm thuộc thể loại tự truyện, Phạm Thu Hương cho rằng trong những ưang vãn xuôi Hồ Dzếnh luôn luôn xuất hiện "cái tôi" của tác giả Đó "vừa là chủ thể thẩm mỹ lại vừa là đối tượng thẩm mỹ và chất liệu chính để

tạo nên tác phẩm là "hiện thực nội tâm" của nhà văn" Cái tôi đó có khi bộc lộ ở "khúc trữ tình ngoại đề" đầy xúc động "[28;41]

Văn Tâm nhấn mạnh thêm rằng "Nhân vật "Tôi" trong Chân trời cũ không phải sản

phẩm của hư cấu mà là chân nhân chân sự ( người thật việc thật): Hồ Dzếnh- Hà Triệu Anh"[3;224]

Trang 16

3.3.2.Các ý kiến này cũng có điểm tương đồng khi khẳng định tài năng của Hồ

Dzếnh và nêu lên những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh ở các mặt nội dung cũng như giọng điệu, lời kể chuyện Song những ý kiến này mới chỉ dừng lại ở những

nhận định, nhận xét tương đối khái quát vì ương phạm vi những bài báo lẻ hoặc những bài viết trong một tập sách chung, các tác giả đều chưa có điều kiện đi sâu lý giải một cách triệt để và có hệ thống những vấn đề liên quan đến đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh Tuy nhiên đó lại là những phát hiện, những đóng góp đáng quí của các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, một mảng sáng tác rất quan trọng và thành công của nhà văn

3.3.3 Chúng tôi cũng được biết rằng có một số luận văn nghiên cứu về văn xuôi trữ tình Việt nam thời kỳ 1930-1945 trong đó có đề cập đến Hồ Dzếnh nhưng nhìn chung, các luận văn này đã nghiên cứu Hồ Dzếnh trong mối tương quan với các cây bút văn xuôi

trữ tình khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh để tìm ra đặc điểm văn xuôi trữ tình 1930-

1945 Vì thế các luận văn này chưa tập trung đi sâu nghiên cứu kỹ các đặc điểm và nét riêng trong văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh Phần lời văn nghệ thuật trong văn xuôi của ông cũng chưa được quan tâm khảo sát kỹ Mặt khác các luận văn này hầu như chỉ tập trung khảo sát truyện ngắn của Hồ Dzếnh mà chưa bao quát những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật khác của ông

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những ý kiến và những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi, trong một chừng mực nhất định, sẽ có cái nhìn bao quát hơn về

những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh để từ đó tìm ra vài đặc điểm nổi bật trong sáng tác của ông

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã dựa trên quan điểm Mác xít ương nghiên

cứu văn học Đó là việc nghiên cứu vãn học trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội và đặt đối tượng nghiên cứu(văn xuôi nghệ thuật Hồ Đzếnh) trong mối quan hệ giữa nhà văn-cuộc sống và bạn đọc để nhận thức, nghiên cứu đồng thời cũng chú

ý tới qui luật thống nhất nội tại giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học

Trang 17

Chúng tôi cũng vận dụng những thành tựu của các khoa học liên ngành như lý luận văn học, thi pháp học, phong cách học, phương pháp luận nghiên cứu văn học trong quá trình nghiên cứu

Ngoài những vấn đề có tính chất phương pháp luận như trên, trong quá trình thực

hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp cụ thể và chủ yếu như phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

Phương pháp phân tích- tổng hợp là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong luận văn Đi từ việc khảo sát phân tích từng tác phẩm, từng yếu tố nổi bật trong việc thể hiện

nội đung tư tưởng và hình thức tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, chúng tôi rút ra

những nhận xét cổ tính chất tổng hợp khái quát, từ đó làm nổi rỗ đặc điểm văn xuôi nghệ thuật cửa nhà văn

Phương pháp hệ thống cũng là một phương pháp mà chúng tôi chú ý vận dụng trong

luận văn Chứng ta biết rằng mỗi tác phạm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật Thế giới nghệ thuật của nhà văn lại là một chỉnh thể nghệ thuật khác lớn hơn bao gồm toàn bộ tác

phẩm của nhà văn đổ cho nên việc xem xét thế giới nghệ thuật cửa Hồ Dzếnh thông qua

việc khảo sát những tác phẩm của nhà văn đặt ương hệ thống hoàn chỉnh sẽ giúp cho

chứng ta nhận ra những nét riêng cơ bản của nhà văn

Để có thể làm rõ đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, trong trường hợp cần thiết, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát hiện tượng lặp lại một số

yếu tố về nội dung và hình thức tác phẩm, những yếu tố có tần số xuất hiện nhiều lần để

từ đó khát quát, tổng hợp, hệ thống hoá và rút ra những đặc điểm riêng, ổn định ở nhà văn

Phương pháp so sánh cũng được chúng tôi vận dụng trong một chừng mực nhất định Để thấy được nét riêng độc đáo sáng tạo và sự đóng góp của Hồ Dzếnh trong nền văn xuôi hiện đại Việt nam, người viết có chú ý so sánh đối chiếu với một số cây bút văn xuôi lãng mạn và hiện thực khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Vũ Bằng, Nam Cao về

Trang 18

từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và dị biệt giữa các nhà văn này

5.Đóng góp của luận văn:

Luận văn tập trung đi vào tìm hiểu đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh ở các khía cạnh như: cái nhìn và sự cảm nhận của ông đối với con người và quê hương, đặc điểm về phương thức tổ chức của lời văn nghệ thuật và sắc thái giọng điệu trong văn xuôi nghệ thuật của ông Qua đó luận văn sẽ cho thấy những yếu tố làm nên đặc điểm phong cách bút pháp của Hồ Dzếnh cũng như sự thống nhất giữa bút pháp nghệ thuật với nội dung tư tưởng thể hiện trong tác phẩm của ông

Thực hiện luận văn này, chúng tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong

việc nghiên cứu một cây bút văn xuôi trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn

1930-1945 Chúng tôi sẽ có một cái nhìn tương đối toàn diện hơn về tác phẩm của Hồ Dzếnh

để đưa ra những ý kiến bổ sung hay đào sâu thêm những ý kiến của những người đi trước Nhưng điều quan trọng là từ góc độ thi pháp, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ hơn đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh

Về đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Hồ Dzếnh, ta thấy có nhiều vấn đề cần đề cập đến nhưng trong phạm vi luận văn này chóng tôi sẽ đi vào hai vấn đề Đó là cảm thức về con người và quê hương trong văn xuôi Hồ Dzếnh và lời văn nghệ thuật trong tác phẩm của ông

Với luận văn này, chúng tôi mong mỏi góp một tiếng nói khẳng định những đóng góp của Hồ Dzếnh trong nền văn học Việt Nam hiện đại

6.C ấu trúc của luận văn:

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn sẽ gồm có hai chương như sau:

Chương mót: Cảm thức về con người và quê hương trong văn xuôi nghệ thuật Hồ

Dzếnh:

Chương hai:Lời văn nghệ thuật trong văn xuôi Hồ Dzếnh

Trang 19

CHƯƠNG 1: CẢM THỨC VỀ CON NGƯỜI VÀ QUÊ HƯƠNG

TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT HỒ DZẾNH

1.1 Cảm thức về con người:

Như ta đã biết văn học là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, một bộ môn nghệ thuật dùng ngôn từ làm chất liệu và phương tiện để phản ánh cuộc sống, qua đó còn giúp con người tư duy và cảm nhận về cuộc sống Tác phẩm văn học thực chất là tiếng nói của nhà văn về cuộc sống, về tất cả những điều nhà văn nghĩ, thấy và yêu ghét Trong bức tranh

cuộc sống rộng lớn ấy, con người là đối tượng nhận thức, đối tượng miêu tả đặc biệt của văn học Con người chính là một đối tượng phong phú, phức tạp và đầy bí ẩn của văn chương nghệ thuật Những người cầm bứt từ xưa đến nay đã dành không ít thời gian và tâm huyết cho việc tìm hiểu con người để từ đó hiểu về cuộc sống

Quả thật vậy, văn học bao giờ cũng phản ánh đời sống nhưhg dù người nghệ sĩ có miêu tả hiện tượng nào của đời sống xã hội thì cũng hướng vào đối tượng chủ yếu là con người, con người cá thể cảm tính với những nét tính cách, phẩm chất có ý nghĩa xã hội Văn học là một loại hình nghệ thuật hấp dẫn vì văn học là câu chuyện về một đời người

với bao nỗi thăng trầm của cuộc đời gắn liền với vinh quang, cay đắng, hạnh phúc, sung sướng, trái ngang Từ một đời cụ thể ta hiểu về cuộc đời chung, cuộc đời xã hội Lấy con người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, văn học đã có một điểm tựa để nhìn ra thế giới Câu nói của Gorki: " Văn học là nhân /ỉợc"đã nhấn mạnh đến đặc trưng của văn học, một khoa học để nhận thức, khám phá về con người, con người với tất cả đời sống tự nhiên và

xã hội của nó, thân phận và cuộc đời của nó Đồng thời đó còn là con người trong "tổng hoa những mối quan hệ xã hội" phức tạp con người trải qua mọi nổi thăng trầm của cuộc đời, với mọi biểu hiện của tâm hồn cảm xúc đối với cuộc sống Có thể nói không có gì thuộc về con người mà xa lạ với văn học

Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học Nhưng sự miêu tả con người ttong văn học không phải là sự sao chép, chụp ảnh Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể và miêu tả nhân vật bao giờ cũng theo cách hình dung, cảm nhận của mình để từ đó thể hiện

Trang 20

cách nhìn, cách đánh giá nghiền ngẫm về hiện thực Cách cảm nhận của tác giả về con người sẽ được thể hiện ra trong tác phẩm bằng những phương tiện nghệ thuật hay những hình thức miêu tả nhân vật Do đó đọc một tác phẩm văn học, ta không những hiểu được

bản chất, tính cách jcã hội của nhân vật mà còn hiểu được cảm thức của nhà văn về con người qua cách xây dựng và thể hiện nhân vật Trong tác phẩm văn học, sự miêu tả vừa

nhằm mục đích gợi ra khách thể, đối tượng miêu tả vừa thể hiện cách nhìn chủ quan của nhà văn đối với chúng Chính phương diện cảm thụ hay cách nhìn chủ quan này đã thể

hiện quan niệm nghệ thuật về con người đối với nhân vật mà muốn cảm nhận nhân vật

một cách toàn vẹn thì không thể bỏ qua được Vì thế muốn khám phá sự cảm nhận con người thì cần khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong hình thức miêu

tả nhân vật Thật quả là "Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm

về đối tượng Quan niệm là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật" [53;23] Nhà văn qua cách miêu tả nhân vật đã thể hiện cách cảm nhận về con người

Như phần trước đã đề cập, Hồ Dzếnh không sáng tác nhiều Trong lĩnh vực văn xuôi, ngoài mấy tiểu thuyết ký bút danh Lưu Thị Hạnh, ông được biết đến nhiều qua tập truyện "Chân trời cũ”, "Chân trời cũ" là tập truyện chỉ toàn viết về những người thân trong gia đình và những người quen biết của Hồ Dzếnh Đó không phải là những con người đại diện cho tầng lớp, giai cấp, địa vị xã hội nhất định mà đó là những con người

cá nhân, cụ thể, mỗi người một số phận Mỗi truyện là câu chuyện về số phận một con người cụ thể, cho nên không phải ngẫu nhiên mà tác giả đặt tên cho mỗi truyện là tên một nhân vật mà tác giả muốn kể: Em Dìn, Chị Yên, Anh Đỏ Phụ, chị Đỏ Đương Vì đó là

những người thân, những người mà ông quen biết nên có thể nói ông thấu hiểu họ tới

từng ngóc ngách và đau nỗi đau đối với từng số phận của họ

Nhân vật trong tác phẩm hồ Dzếnh là con người bình thường mà "số phận hình như

bắt buộc phải buồn rầu"[3;92] nhưng dường như đó không phải chỉ là những số phận cá nhân mà qua họ ta thoáng thấy "số phận một dân số nghèo khó ỏ các tỉnh đông đúc hay nghèo nàn, cuộc sinh hoạt khó khăn trên những đồng ruộng bạc màu"[3;83] Những nhân

vật hiện ra trong trang văn của ông hết sức linh động, mỗi người một bản ngã, một số

Trang 21

phận riêng nhưng qua họ ta thấy được cảm thức của nhà văn về con người, về cuộc đời, đúng như Vương Trí Nhàn đã nhận định: "Tên tuổi ông gắn liền với “Chân trời cũ", ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời ông và cả cách cảm nghĩ riêng của

Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa[3;189] Đó là những con người hiện thân của số phận tăm tối, lụi tàn nhưng tâm hồn đẹp đẽ tượng trưng cho tinh thần Việt Nam cao quí, những con người tha phương lưu lạc và con người tự vấn, tự ý thức luôn soát xét soi rọi bản thân mình

tượng trưng cho tinh thần Việt nam cao quí:

1.1.1.1 Những số phận tăm tối lụi tàn:

Con người là trung tâm của cuộc sống, là đối tượng nhận thức chủ yếu của văn học Nói đến con người là nói đến số phận con người, đến đời người Văn học là câu chuyện

về một đời người với những biến cố, thăng trầm của cuộc đời dẫn đến những số phận khác nhau Bằng những dòng hoài niệm, hồi tưởng về quá khứ của một thời mà Hồ

Dzếnh gọi là “Chân trời cũ” ông đã thể hiện cách cảm nhận một cách sâu sắc số phận con người trong xã hội cũ qua số phận những người thân và những người mà ông quen biết

Nhận xét về "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh, Tôn Phương Lan đã cho rằng cảm hứng nghệ thuật trong “Chân trời cũ" đã ra đời trên cơ sở những "hoài niệm về những người

ruột thịt thân thiết trong gia đình ông mà số phận con người dường như không một lần được hạnh phúc mỉm cười Ngược lại cuộc sống của họ triền miên trong những ngày

buồn đau hiu hắt" [3; 204] Quả thật thế giới nhân vật hiện ra trong "Chân trời cũ" đều là

những con người bình thường: một người cha, một người mẹ, người chị dâu, người anh

cả, anh hai, người chị nuôi, người anh rể hụt Và thật lạ, những con người ấy có những

cảnh ngộ riêng nhưng đều có chung một số phận buồn đau, tăm tối, bất hạnh, cuộc sống

của họ cứ lụi tàn dần theo năm tháng Đọc " Chân trời cũ” người đọc dễ dàng cảm nhận

về " nỗi buồn đau thế sự" qua số phận của những kiếp người đau khổ Dường như những nhân vật trong tác phẩm của ông " nhân vật nào cũng mang một tâm hồn đau khổ như chính tác giả đã đau khổ trong cuộc sống" Có thể nói những ưang viết của Hồ Dzếnh là

Trang 22

những trang đời của những số phận bất hạnh phản ánh hình bóng của những cuộc đời đau

khổ, tăm tối, lụi tàn Những cuộc đời ấy, những số phận ấy là những cuộc đời, những số

phận mà ông thương yêu Qua họ, ông đã "nhận thấy một định mệnh khe khắt" đối với con người, "một duyên phận tăm tối và buồn rầu" [15; 9]

Hình ảnh người cha qua hoài niệm của nhà văn xuất hiện trong nhiều truyện ngắn

của ông (Ngày gặp gỡ, Con ngựa trắng của ba tôi, Trong bóng rừng ) Bằng những dòng hoài niệm ấy, ta hiểu về cuộc đời của một người Hoa.Trên con đường giang hồ phiêu bạt, người khách lạ ấy đã dừng chân ở một đất nước xa lạ chỉ với " vốn liếng không ngoài

mấy đồng bạc" Lấy một cô gái lái đò ở bờ sông Ghép tỉnh Thanh, dần dần con người mang dòng máu Trung Hoa ấy đã xây dựng được một cơ ngơi và một gia thế không tầm thường "Thoạt đầu ba tôi làm thông ngôn cho một viên chức nhà đoan, rồi xoay ra lập

một công ty muối Dần dần vì công việc phát đạt, ba tôi mở đồn điền buôn gỗ Những

cuộc kinh doanh hồi ấy toé ra tiền, nảy ra bạc nhờ ở cái thời mà mọi người chưa bị ngạt hơi vì sinh kế như bây giờ" (Con ngựa trắng của ba tôi ) Người khách thương ấy "ba mươi năm trời lặn lội để gây chút sự nghiệp mỏng manh" để rồi "để lại cái danh vọng tàn

của những ngày rực rỡ" Cuộc đời của người giang hồ lưu lạc ấy chỉ lóe lên chút ánh sáng

của danh vọng rồi cứ lụi tàn sa sút dần

Người anh cả (Người anh xấu số) cũng có một số phận hẩm hiu cứ bước những bước cô quạnh trong cuộc đời, sống với mình nhiều hơn là sống với những người xung quanh, nóng nảy và liều lĩnh" Người anh ấy đà bị mẹ coi là "đốt mía bị sâu đục", bị ghẻ

lạnh trong tình thương của mẹ và rồi chết trong cô đơn, lưu lạc " đôi mắt anh vào giờ cuối cùng không được bàn tay nào khép hộ " (Thiên truyện cuối cùng ) Đó là cái chết của một người bạc mệnh và sự sống của anh cũng là "một tấn bi kịch đáng tiền" Trốn sự ghẻ lạnh

của người đời để đến với bà tiên nâu nhưng anh cũng không được bà tiên ấy đón nhận

Cuộc đời anh đã lụi tàn dần như chính "sự sống tan dần theo hơi thở nóng bỏng" Người anh ấy đã chính thức kết thúc 44 một cuộc hành trình điên dại"trong sự lụi tàn của một

kiếp người

Trang 23

Người anh hai (Truyện "Vừa một kiếp người") cũng là một người đau khổ sống

cuộc đời phong trần, đã từng nếm mùi ăn chơi ở Hà nội, sẩn sàng vất bạc trăm vào sòng này, vất bạc nghìn vào sòng khác, đã có lần vào tù vì tội thụt két.Cuối cùng người anh ấy

đã phải sống một "cuộc đời lệch lạc", "thất thểu đi tìm cái lý tưởng đen tối của đời anh"(Vừa một kiếp người) Cuộc sống của anh không phải chỉ lụi tàn vì cái nghèo đói mà thê thảm hơn chính là sự tàn lụi của lý tưởng sống cao đẹp Đắm mình trong ăn chơi trác táng, người anh ấy dần dần mất đi hy vọng ở ngày mai, không tin ở lý tưởng cuộc đời đến

mức có khi đã tự đặt ra câu hỏi chua chát: "Phải chăng là người ta phải sống thật sa ngã

mới thấy mình sung sướng?" (Vừa một kiếp người) Anh cứ âm thầm trải đời mình "dưới

bầu trời tang tóc như không hứa có ngày mai" Tựa như bóng dáng của một con chim lạc loài trong một vùng trời đen tối của cuộc đời, con người ấy" cứ dò dẫm níu lấy cái tương lai không chắc chắn, mắt nhìn ra một phương trời không hứa hẹn giữa một cánh đồng mà bão táp vừa đi qua" Cứ thế cuộc đời anh lụi tàn dần trong tăm tối, chán chường tuyệt

vọng của một kiếp người

Anh Đỏ Phụ (truyện Anh Đỏ Phụ), người thanh niên cần cù tháo vát, có lưng vốn

chữ nghĩa "chi, hồ, đả, giã", dù cái nghèo, cái đói đã len lỏi vào ba gian nhà lá thừa tự, làm hốc hác thêm nét mặt người bố và làm rạn đần hai bộ quần áo may bằng vải trúc bâu lâu ngày sợi đã bở của hai bố con"[53; 103] nhưng vẫn giữ lối sống thanh sạch chỉ biết

chắt chiu dụm giành, chắt bóp từng xu để chờ ngày cưới vợ Cái giấc mơ được vợ tưởng

chừng rất đơn giản nhưng buồn thay lại không thể đến được với một con người tốt bụng

hiền lành ấy Chỉ còn có ba mươi ngày, một tuần trăng thì người con gái anh yêu thương

đã ra đi bởi một "cơn gió độc" bất chợt "sà xuống mái nhà", nơi người con gái tội nghiệp

ấy làm chỗ trú thân Từ đó cuộc đời anh chìm dần vào buồn đau hiu hắt, anh cứ sống lùi lũi như một chiếc bóng cô đơn Hạnh phúc đã không mỉm cười với những con người

xứng đáng được hưởng, thay vào đó số phận cay nghiệt đã đẩy anh ngày càng xa thân thích quê hương để đi vào một cuộc sống mới, không tương lai ở nơi mà người ta gọi là Tân thế giới Anh đã bán đời mình, chấp nhận cuộc sống lụi tàn, hết cả ước mơ để lao

Trang 24

đến một nơi mờ mịt tựa như cái "toa sắt đen ngòm" đang mở hết tốc lực lao nhanh đưa anh vào đường tàu định mệnh

Quả thật trong chân trời hoài niệm của Hồ Dzếnh, thế giới nhân vật của ông chỉ là

"những hình bóng lui hùi chịu sự đè nặng của số phận", những số phận lầm lũi dường như sinh ra để mà cam chịu mọi nỗi bất hạnh trên đời Hồ Dzếnh dường như "đặc biệt

nhạy cảm với những buồn đau của những người đàn bà nông thôn Người phụ nữ trong truyện ngắn Hồ Dzếnh dù đó là người mẹ, người chị dâu, người em, người phụ nữ ương làng đều có một số phận tăm tối buồn rầu Đó là những con người chỉ biết thầm lặng

sống, thầm lặng chịu đựng những khổ đau mà cuộc đời giành cho họ Truyện ngắn Hồ

Dzếnh quả là những chân dung đau khổ của thân phận những người phụ nữ Mỗi người

có những cảnh ngộ khác nhau nhưng đều có kết cục tăm tối như nhau nhưng dù thế nào

họ vẫn là những phụ nữ đáng thương Tác giả đã điểm qua số phận của từng con người

với niềm xót xa thông cảm

Người chị dâu Trung Quốc(truyện Người chị dâu tôi) đã phải vượt trùng dương theo

chồng về một xứ sở xa lạ để làm dâu đồng thời phải đảm đương trách nhiệm cùng chồng gây lại "nòi giống Trung Hoa" cho một gia đình cha Hoa mẹ Việt Kể từ đó, người phụ

nữ ấy đã trải qua những chuỗi ngày buồn thảm nhất của cuộc đời mình "làm vợ một người chồng không bằng người, làm một người đàn bà lưu lạc "[15 ;22].Người phụ nữ đặc Tàu ấy phải sống giữa sự lãnh đạm của mọi người, trừ chồng và người em chồng Từ

một cô gái Trung Hoa quí phái, đài các, người phụ nữ ấy phải chịu đựng cuộc sống nghèo

khổ và phải chấp nhận một số phận hẩm hiu cơ cực, lặng lẽ như biết bao số phận lặng lẽ

của những người phụ nữ trên quê hương này, người phụ nữ đặc Việt nam: "Trên cánh đồng rộng rãi của làng Đông Bích, người ta thường thấy một giải áo chàm in bật trên nền

trời mỗi sáng chăm chỉ và lặng lẽ như dấu hiệu một cuộc sống vâng lởi ngu muội"[5, 29] Trong ký ức người em chồng vẫn nhớ mãi hình ảnh người chị dâu tiều tụy, tang thương

ấy

Viết về thân phận ngươi phụ nữ làm dâu, Hồ Dzếnh có điểm gặp gỡ với Thạch Lam Cũng như Dung (Truyện Hai lần chết của Thạch Lam), người chị dâu (Người chị dâu tôi

Trang 25

của Hồ Dzếnh) cũng có cái kết cục buồn thảm Nếu Dung không thể chết bằng cách tự tử đành phải chấp nhận một cách chết, một lần chết thứ hai: về lại với người chồng, với gia đình chồng, nơi nàng chỉ là một thứ công cụ làm thuê trả nợ để nhận chịu sự sĩ nhục, chửi

mắng hàng ngày thì người chị dâu của Hồ Dzếnh cũng phải lặng lẽ chấp nhận "một cuộc

sống vâng lời ngu muội" Cả hai cùng có số phận hẩm hiu cơ cực nhưng người chị dâu ngoài cái nỗi khổ phải sống giữa sự lãnh đạm của mọi người, ưừ người chồng và em

chồng hết mực yêu thương chị, còn mang ương lòng nỗi nhớ quê hương cố quốc nhiều lúc đến cháy lòng.Khi những đứa con thi nhau ra đời trói buộc chặt chẽ người mẹ với cái đất nước xa lạ này thì người đàn bà ấy đã "thôi không bao giờ còn dám hy vọng trở về quê hương nữa" Cuộc đời của người đàn bà buồn khổ ấy ngày càng xa lạ với hai chữ "

hạnh phúc", tuổi xuân cứ đi qua trong công việc đều đặn hàng ngày "sàng từng hạt mẩn

xuống nong trong khi trời chiều từng giọt hoàng hôn xuống tóc"[15,26] Cả hai nhà văn đều hướng về số phận người phụ nữ với nỗi niềm xót thương vô hạn

Hầu như cuộc đời người phụ nữ nào trong tác phẩm của Hố Đzếnh cũng có cái kết

cục buồn bã- Cuộc đời của Yên, người con gái nuôi hiền lành quả là "một tấn kịch đau đớn nhất"[15;166] Được mua về với cái giá hai quan tiền vào một năm lụt lội, đói kém,

dù bị bạc đãi, người con gái ấy vẫn vui vẻ làm việc và trung thành "ngày bốn lượt chị gánh hàng cho mẹ tôi đi về chợ, tiếng kẽo kẹt của tiếng đòn tre trên vai bình yên nhịp với tháng ngày âm u "[15;152]Thế rồi một ' cơn gió độc" đã sà xuống cái mái nhà quen biết

một cách vô lý và hết sức vô duyên "[15; 159] đã tàn nhẫn cướp mất đi của người con gái

hiền lành ấy hy vọng suốt một thời con gái là có được một tấm chồng ngay khi hạnh phúc

ấy chỉ cách trong tầm tay.xấu hổ, người con gái ấy đã ra đi Khi đã yên phận bên người

chồng ngày ngày xe đá về tạc những hình tượng xinh xinh, số phận cũng không buông tha chị, chị "đã chết một tháng sau chồng và hai tháng trước đứa con trai"

Số phận của chị Đỏ Đương (Sáng trăng suông)cũng vậy Mang tên chị Đỏ nhưng số

phận của chị không đỏ chút nào Lạc chồng từ năm 18 tuổi, người phụ nữ ấy đã khóc đến đau mắt, đã tuyệt vọng, "đã chết lòng trong một niềm chờ đợi đau xót"[15;168] Khi trong lòng người phụ nữ chớm lên một tia hy vọng mới cho cuộc đời, "muốn lập một

Trang 26

cuộc đời thứ hai" thì một lần nữa, người phụ nữ ấy lại phải chờ đợi trong vô vọng để rồi

cuối cùng đành phải chấp nhận một cuộc sống yên phận, thiếu êm vui

Nói đến số phận người phụ nữ, Hồ Dzếnh đặc biệt khắc sâu hình ảnh người mẹ Cô lái đò bên bờ sông Ghép lặng lẽ của tỉnh Thanh một đêm đưa đò đã gặp gỡ một người khách lạ giang hồ mà "linh hồn Trung quốc đã phát lộ trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc, trông tìm " [ 15; 10] Duyên phận đã đưa đẩy để họ gặp nhau làm thành một gia đình trong hoàn cảnh túng thiếu.Bằng mồ hôi, nước mắt, nghị lực, người

chồng ấy đã lập nên một cơ ngơi không tầm thường để rồi không lâu sau lại rơi vào tình

trạng khánh kiệt.Để có được bốn đồng tiền học cho con, người mẹ đã chịu đựng sự nhục

mạ, phỉ báng vì đã "mượn tạm" của người em dâu hai đồng Khi người chồng nằm xuống, cái cơ nghiệp to tát của người chồng đã không giữ nổi, người mẹ đã rơi vào một buổi chiều đời buồn bã, phải bán dần nhà cửa ruộng vườn để tra nợ mà cái vận mệnh của gia đình vẫn " thâm lại với những gót chân của ba thằng con mất bố “Gia đình ngày càng sa sút, cảnh xô xát giữa vợ cả và vợ lẽ ngày càng nhiều kéo theo cảnh chia rẽ vĩnh

viễn.Người mẹ mất tất cả của cải vì bị người vợ lẽ chiếm đoạt chỉ còn lại ba thằng con trai phải nuôi và cái bàn thờ phải dọn sửa.Những đứa con không còn là niềm hy vọng của người đàn bà đau khổ ấy "Anh cả tôi nghèo và phải nuôi vợ con Anh hai tôi phong trần, chán hết mọi sự cho đến cả hy vọng

Tôi làm thơ và chỉ thích cỏ làm thơ Mẹ tôi đau khổ sinh ra ba chúng tôi để chỉ càng ngày càng thêm đau khổ, càng ngày càng thấy mình già đi"[15; 106] "Người đàn bà phương Đông yếu đuối ấy" đã sống suốt quãng đời còn lại ưong sự mòn mỏi, tẻ nhạt, không biết trông cậy vào ai

Có thể nói "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh là cả một chuỗi dài những dòng hồi ức

buồn về những số phận đau khổ của những người ông yêu thương và quen biết Nỗi khổ đau cứ vây bủa con người dồn cuộc đời họ vào tận cùng của cảnh sống hắt hiu, mù xám Quan tâm đến con người, Hồ Dzếnh cũng thể hiện những cảm nhận, suy ngẫm về

nỗi khổ của họ, đặc biệt là nỗi khổ của người phụ nữ Dường như họ sinh ra để nhận chịu

mọi nỗi bất hạnh bởi họ chính là hiện thân của một "định mệnh khe khắt, một duyên phận

Trang 27

tăm tối buồn rầu"[15; 9] Từ nỗi khổ của một người mẹ, nhà văn đã nghĩ rộng ra rằng:

"những bà mẹ Việt nam- tôi nói những bà mẹ đáng là mẹ- đều phải đau khổ ngay từ lúc

lọt lòng"[15;9] Nỗi khổ của họ dường như đã là một "định mệnh", một "duyên phận" mà

"Trời" đã định sẵn để khi họ có mặt trên cõi đời, họ chỉ biết vâng theo một cách nhẫn

nhục, một cách lặng lẽ, một cách chua xót vô cùng"[15;9 ]

Viết về những con người này, ngòi bút của Hồ Dzếnh thấm đượm một nỗi buồn man mác, một nỗi xót xa thương cảm đối với những số phận khổ đau Đó không phải là

một tình yêu hời hợt thoáng qua mà là tình thương yêu sâu đậm xuất phát từ cái tâm của

một nhà văn chân chính, thành thực Có thể nói "tấm lòng thành của anh là hồn của

những trang văn"[51,77 ] Và cũng chính tấm lòng thành ấy đã đem đến cho người đọc

những rung động thật sự Mỗi truyện ngắn của ông đều có sức lay động thấm thìa lòng người vì nó có nguồn gốc nhân bản sâu xa " Bằng trái tim lương thiện và đa cảm, ông đã đứng về phía người nghèo khổ dù là Hoa hay Việt "[3; 143] và "trong bất cứ truyện nào,

dù nói về ai nhưng ẩn sau những dòng chữ in, nhân vật chính vẫn là tác giả, là tâm hồn giàu lòng yêu thương, xao xuyến của ông"[3;154]

Tuy đề cập đến số phận của những người thân và những người ông quen biết, "ý nghĩa xã hội của truyện có vẻ như hẹp" nhưng qua những số phận ấy ta có thể hiểu được

những cảnh đời của con người trong xã hội cũ Đó là những con người nhỏ bé, tội nghiệp

an phận trong nỗi khổ của chính họ, họ chỉ biết lặng lẽ chịu đựng số phận của mình mà không hề than van, oán trách Họ đã hoàn toàn bị nhấn chìm bởi hoàn cảnh Ở họ không

có sự vật lộn, quẫy đạp để thoát ra hoàn cảnh ươi buộc họ Những trang sách của Hồ

Dzếnh như "những lời thì thầm với những ai đang đọc nó rằng cuộc đời thật oái oăm,

tán, đau khổ, tha hương Miêu tả cái dấu ấn nặng nề đó ỏ mỗi cá nhân, Hồ Dzếnh cũng đã góp phần nói lên cái chung của xã hội Có thể nói Hồ Dzếnh đã khai thác những tình cảm

vốn rất quen thuộc với mọi người nhưng lại có màu sắc riêng của một cảnh đời rất cảm động Đề cập đến khía cạnh này của của đời sống, Hồ Dzếnh đã đưa vào những trang văn

Trang 28

của ông nhiêu yếu tố hiện thực nhưng hiện thực ở đây không phải là thứ hiện thực góc

cạnh được tái hiện như nó vốn có với xu hướng đi sâu khám phá bản chất cuộc sống trong các mối liên hệ phức tạp, các xung đột xã hội sâu sắc Ở đây trong văn xuôi Hồ

Dzếnh, ông không tái tạo một bức tranh nghiệt ngã, lạnh lùng của hiện thực một cách khách quan Toàn bộ hiện thực được miêu tả đã được khúc xạ qua cái nhìn, cách cảm

nhận riêng và được lắng nghe bằng một trái tim đa cảm Hiện thực ấy đã được chắt lọc qua tâm hồn giàu cảm xúc và hết sức tinh tế của nhà văn Xen vào đó là hiện thực tâm

trạng của người kể tức là những biểu hiện tâm lý, tâm trạng cảm xúc của nhà văn trước

hiện thực Có thể thấy trong văn xuôi, Hồ Dzếnh chiếm lĩnh hiện thực thông qua cảm xúc

chủ quan của nhà văn và đã được lọc qua một trái tim nhân hậu giàu cảm xúc Do đó, tác

phẩm của Hồ Dzếnh có sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và trữ tình tạo nên một phong cách đặc biệt của loại văn xuôi trữ tình Cho nên không phải ngẫu nhiên người ta đã xếp

Hồ Dzếnh vào cùng một xu hướng sáng tác của Thạch Lam, Thanh Tịnh Các nhà văn này đã tạo nên một bút pháp riêng, một khuynh hướng thẩm mỹ đặc biệt cho loại văn xuôi trữ tình mà ở đó " những suy nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả xâm nhập vào câu chuyện về các biến cố[55;140 ]

"Chân trời cũ" là những hồi ức chân thực về những mảnh đời bất hạnh, đau khổ Dường như mỗi con người xuất hiện trên trang văn của ông đều là những số phận đau

khổ bất hạnh nhưng tâm hồn họ lại toát lên một vẻ đẹp thật dung dị, thầm lặng mà cao quí biết bao Bằng một trái tim nhân hậu và đa cảm, ông đã phát hiện và nâng niu từng vẻ đẹp ấy bằng tất cả lòng yêu thương chân thành, nồng thắm Càng xót xa thông cảm, chia

sẻ với những nỗi đau của họ, ông càng nâng niu những phẩm chất đẹp đẽ và trân trọng gìn giữ những hình ảnh đẹp ấy trong ký ức Tất cả những con người ấy đều là "những người có chân tâm, họ lặng lẽ sống, nhẫn nại chịu đựng, âm thầm chia sẻ và lặng lẽ yếu thương nhường nhịn đến cảm động" [3;198] Có thể nói những đức tính tốt đẹp như sự

cần cù, chịu thương chịu khó, sự độ lượng và giàu lòng yêu thương được thể hiện ở nhiều nhân vật trong "Chân trời cũ", đặc biệt là nhân vật người phụ nữ Mỗi câu chuyện

Trang 29

trong Chân trời cũ là chân dung của một con người buồn khổ, họ cứ lặng lẽ sống, lặng lẽ

chịu đựng nhưng họ vẫn âm thầm toát lên vẻ đẹp tâm hồn dung dị mà đầy sức ám ảnh

Đó là hình ảnh người con gái nuôi hiền lành suốt đời chỉ biết "trung thành và tận tuy", "trung thành trên hết mọi người trung thành", hy sinh vì người khác mà không hề than van dù có khi bị đối xử bất công Do quá trung thành nên ngay cả lúc bị bị ông cậu hãm hại, chà đạp khi chỉ còn vài tháng là đến ngày cưới, chị vẫn âm thầm lặng lẽ chịu đựng trong đau khổ chỉ vì "cậu ấy là người nhà" Khi chị chết đi, nhà văn đã khắc sâu trong lòng mình một hình ảnh đẹp mà có lúc nhìn mô đá tượng hình người mẹ dắt con trên đỉnh núi Nhồi, nhà văn lại ngờ rằng "đó là hình dáng người chị dắt em"

Đó là người con gái mang tên Đỏ Đương sống với một người chị gái lỡ thì tàn tật, thiếu hạnh phúc sum vầy nhưng giàu lòng nhân đức Hạnh phúc cứ lần lượt vuột khỏi tầm tay Tuy vậy trong tâm hồn người con gái đẹp ấy vẫn tha thiết một khát vọng hạnh phúc

"muốn lập một cuộc đời thứ hai"

Ngay cả người chị dâu, vợ người anh hai mà Hồ Dzếnh chưa hề biết mặt nhưng ông cũng ghi nhận một tím tình cao quí ở chị "Khi thi ân lại chưa gặp người chịu ân lấy một

lần”[3;102 ]

Ấn tượng đậm nét nhất của nhà vãn cũng vẫn là người mẹ Có thể nói "từ mẹ- như

một tâm điểm- Hồ Dzếnh biết nhận ra nỗi khổ đau bất hạnh cùng là vẻ đẹp của con người " [3; 199 ] Người mẹ đối với nhà văn như "những làn gió mát từ phương trời tản

lại giữa một"vùng sa mạc" để yênji một tâm hồn "tự tạo ra đau khổ để sống, để sung sướng vì thấy mình đau khổ hơn người Người mẹ đó đã suốt một đời " chỉ biết vâng theo

một cách nhẫn nhục, một cách lặng lẽ, một cách chua xót vô cùng mọi sự do "Trời" định,

suốt đời chỉ biết "nghiêng xuống bổn phận hàng ngày tầm thường và nhỏ mọn" Người

mẹ ấy đã hết lòng tôn thờ và phục vụ chồng con như một thứ nô lệ Chồng chết, người

mẹ cũng với sự cam chịu, nhẫn nhục lại tiếp tục phục vụ người em chồng, một con người

chỉ biết có tiền Mỗi lần con người ấy ghé nhà, người mẹ ấy lại phải lo lắng không chỉ

việc ăn uống mà còn phải chạy vạy "vài hào chỉ thuốc phiện" để cung phụng cho chú mỗi ngày và còn phải io số tiền vãng phí cho chú về nước.Người phụ nữ ấy có đức tính vị tha

Trang 30

và tím lòng bao dung, trắc ẩn Đối với em Dìn, đứa con vợ lẽ tuy có lúc tức giận, người

mẹ đã vô tình tiếp tay đẩy em vào bước đường lưu lạc nhưng vào cái đêm giao thừa sum

họp, người mẹ cũng bùi ngùi nhắc đến người con gái ấy: "Không biết con Dần năm nay bao nhiêu tuổi nhĩ?" Câu nói ấy tuy muộn màng nhưtig thực chất là tiếng nói của tình thương của lòng trắc ẩn Những đức tính này, người mẹ đã truyền cho con trai mình để sau này nhà văn biết cúi xuống nỗi đau của người khác Trong ký ức nhà văn luôn còn lưu giữ hình bóng người mẹ yêu thương Người mẹ ấy đã dồn hết tất cả tình yêu thương

để nâng niu đứa con trai mà người đã thấy trước "một cuộc đời đau khổ ủ gói lấy cái số

phận thiếu êm vui" Người mẹ đã từng hy sinh danh dự của mình, sẩn sàng chịu sự sỉ

nhục để có được vài đồng đóng tiền học cho con Tình cảm của người mẹ đã làm rung động trái tim đa cảm của đứa con trai bé nhỏ để sau này đứa con ấy lại viết nên những trang văn cảm động chân thành về mẹ Trong cảm nhận của nhà văn "thực không còn gì

có nghĩa bằng người ấy nữa.Người ấy to quá, rộng quá, tuy tất cả sự có nghĩa chỉ là cái thân hình tiều tuy bọc bằng chiếc áo vá vai"[15; 143]

Đức tính vị tha, nhân ái, hy sinh vì người khác của người phụ nữ không chỉ thể hiện trong "Chân trời cũ” mà còn được thể hiện trong các tác phẩm văn xuôi khác của Hồ

Dzếnh Có thể nói hình ảnh người phụ nữ trong sáng tác văn xuôi của ông, dù được viết

ra ương thời kỳ nào cũng đều mang một vẻ đẹp của lòng vị tha, nhân ái, sẵn sàng hy sinh

vì người khác Trong tiểu thuyết "Một chuyện tình mười lăm năm về trước” ký tên Lưu

Thị Hạnh, tác giả đã kể lại một câu chuyện tình yêu thật đẹp tuy tình yêu này luôn luôn được đặt trong khuôn phép đạo lý truyền thống Nguyện yêu Thủy nhưng vẫn phải vâng

lời cha mẹ lấy Quân, người mà mình không yêu dẫn đến hôn nhân tan vờ Về sau dù còn

rất yêu Thủy và dù biết rằng Thủy sẵn sàng từ bỏ tất cả để trở về với mình, Nguyện vẫn khuyên Thủy ở lại với người vợ đang mang thai vì cô không muốn đứa con sắp ra đời của

Thủy không có bố và sợ làm tan vỡ hạnh phúc của người phụ nữ khác, vợ Thủy Điều này tuy cũng làm cho Nguyện đau khổ nhưng cũng cho thấy tấm lòng nhân hậu của cô

Trang 31

Trong "Những vành khăn trắng", Hậu cũng từ bỏ hạnh phúc riêng của mình vì đứa con Cô đã không dám đi theo tiếng gọi tha thiết của tình yêu dừ sau này gặp lại người yêu cũ, cô cũng thấy tiếc nuối, bâng khuâng

Trong "Tiếng kêu trong máu", Thúy cũng vì đứa con mà chấp nhận sống với người đàn ông vũ phu, từ bỏ hạnh phúc của riêng mình để rồi phải chịu đựng cuộc sống đau

Hình tượng đậm nét, đặc sắc và gợi cảm của Hồ Dzếnh là hình tượng những bà

mẹ,những người anh, người chị Việt Nam cần cù, nhẫn nại, giàu lòng vị tha và đức tính

hy sinh' những đức tính mà tác giả coi là tiêu biểu cho "linh hồn Việt nam", cho "tinh

thần Việt nam" cao quí [68; 315]

"Hình ảnh người mẹ, người chị nuôi, người thiếu phụ góa bụa ( Sáng trăng suông ), người em gái cùng cha khác mẹ, anh trai làng xấu số (Anh Đỏ Phu) hiện lên như

những đốm sáng tinh thần trong bóng đêm nhạt nhòa của xã hội cũ, lung lỉnh một vẻ đẹp thuần khiết của đức chịu thương chịu khó, hay lam hay làm, cần cù, nhẫn nại, hy sinh, vị tha dũng cảm gan góc những đức tính hợp thành nên phẩm chất Việt Nam, sức mạnh

Việt Nam, vẻ đẹp Việt Nam"[3; 154 ]

Cho nên khi nói về người phụ nữ không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại thường trân ưọng đặt thêm vào đó định ngữ "Việt nam" Trong tập truyện "Chân trời cũ" đã xuất hiện đến hơn 10 lần cấu trúc danh ngữ gồm danh từ chỉ người và định ngữ "Việt nam" hay có khi còn thêm yếu tố bổ nghĩa chỉ phẩm chất con người Chẳng hạn khi viết về mẹ, từ lòng kính trọng một bà mẹ cụ thể, nhà văn cảm nhận rằng đó là hiện thân của những "bà mẹ

Việt nam cao quí", “người vợ hiền, mẹ đảm Việt nam":

Trang 32

"Vì thế tôi được sự thật cho biết rằng phần nhiều hay tất cả cũng được, những bà mẹ

Việt nam- tôi nói những bà mẹ đáng là mẹ- đều phải chịu đau khổ ngay từ lúc lọt lòng" (Ngày gặp gỡ)

"Từ bao lâu đến nay, tôi vẫn tin rằng mẹ tôi sung sướng Nhiệm vụ một người vợ

hiền, mẹ đảm Việt nam đã được làm trọn vẹn và danh vọng xứng đáng ấy được lấp lánh ở

một chỗ cao quí nhất trong trái tim loài người (Em Dìn )

Khi viết về người chị nuôi, nhà văn cũng dấu được tình cảm thân thiết đối với người

chị đảm đang, chịu thương chịu khó và xem đó là biểu tượng của "người đàn bà Việt chân chính người thiếu nữ Việt nam gương mẫu":

"Ngày bốn lượt chi gánh hàng cho mẹ tôi đi về chợ, tiếng kẽo kẹt của chiếc đòn tre trên vai bình yên nhịp với tháng ngày âm u vắng mọi sự xa hoa của một người đàn bà

Việt nam chân chính" (Chị Yên)

Người thiếu nữ Việt nam gương mẫu ấy còn một cách trang sức khác là soi dung nhan mình trên làn nước giếng lặng lẽ, rồi lấy tay từ từ rẽ ra hai bên tai mái tóc đen lanh lánh" (Chị Yên)

Viết về số phận chị Đỏ Đương bất hạnh, bằng lòng cảm thông yêu mến, nhà văn đã

gọi chị bằng một cách gọi thân thương: "người thiếu phụ Việt nam” Người thiếu phụ Việt nam đã chết lòng trong một niềm chờ đợi đau xót, bây giờ trở lại sống với trông việc tầm thường nhỏ mọn, nối sáng theo chiều, qua mùa hạ sang mùa thu" (Sáng trăng suông)

Rõ ràng khi viết về con người nào, nhà văn cũng tìm thấy ở họ những đức tính đẹp

đẽ, tiêu biểu cho "linh hồn Việt nam", cho "tinh thần Việt nam cao quí" Điều này có lẽ

xuất phát từ tình cảm gắn bó sâu sắc của nhà văn đối với "Nước Nam- quê hương thứ hai" mà ở đó "người nước Nam rất đỗi hiền lành” Nhà văn đã viết về những con người

hiền lành ấy bằng trái tim nhân hậu và sẵn sàng "mỡ lòng mình để chia sẻ nỗi đau với

những người thân và như để nghiêng mình ngưỡng mộ trước phẩm chất tuyệt vời của

những người không chịu chết chìm ương cơ cực buồn khổ"[3; 154]

Trang 33

1.1.2 Con người tha phương lưu lạc :

Trong những tác phẩm văn xuôi của Hồ Dzếnh nổi bật lên hình ảnh những con người tha phương lưu lạc Trong "Chân trời cũ" có đến li nhân vật trong tổng số 14 nhân

vật chính là những con người tha phương lưu lạc Những nhân vật này chịu cảnh lưu lạc

vì những lý do khác nhau, hoặc là tha hương vì chí nguyện giang hồ hoặc là do sự xô đẩy

của số phận

Trong tập "Chân trời cũ", Hồ Dzếnh đã khắc họa rõ nét hình ảnh người cha, hình ảnh tiêu biểu cho con người tha phương vì chí nguyện giang hồ Người khách giang hồ này đã từ một dải đất xa xôi và mênh mông phương Bắc, trên con đường lưu lạc đã dừng chân ở một mảnh đất nghèo của phương nam bên bến đò Ghép, tỉnh Thanh Hoa Người khách giang hồ qua ngòi bút miêu tả của nhà văn mang dáng dấp hào hùng lãng mạn đầy

ắp tính hoài cổ Người khách lạ ấy từ trang phục, ngoại hình đến dáng đi, cử chỉ đều toát lên vẻ phong trần rắn rỏi của một cuộc đời ngang dọc Hai đặc điểm tạo nên cái phong thái khác lạ rắn rỏi, phong trần của người khách chính là 44 cái trán rất lạ: nó nhỏ nhưng nhô ra một cách bướng bỉnh Nhất là đôi mắt sắc như dao, bén như nước nhìn vật gì như hút lấy vật ấy Đôi mắt trong và sáng ấy đã "không hề vẩn bởi màu sắc thê lương, vẩn

quắc lên nhìn những đợt sóng nhuyễn nhàng bò quanh mấy con thuyền ngái ngủ" Dáng

vẻ người khách ung dung bình tĩnh, con đường lưu lạc đầy gian nguy dường như không làm cho người ấy sợ hãi Ông ta đã lường trước mọi nỗi hiểm nguy trên bước đường lưu

lạc bằng cách trang bị một "lưỡi dao nhọn như một là một lá bùa hộ mệnh” trên bụng Chính cái dáng vẻ này đã làm cho cô lái đò bến sông Ghép đã có "cái cảm tưởng hãi hùng như gặp một tên giặc cướp tàu ô ghê gớm”

Hình ảnh người khách giang hồ hiện ra thật hùng dũng mang nét đẹp cổ điển Nhà văn đã dùng nhiều từ ngữ khác nhau để chỉ người khách ly hương này như: người khách

lạ, gã giang hồ, người lữ hành của đất nước Trung quốc, người lữ khách, vị thần tử của giang san trung quốc Cách gọi khiến ta liên tưởng đến hình ảnh người lữ thứ trong thơ

ca cổ điển phương Đông Người khách ly hương ở đây cũng đang ở trong một không xa

Trang 34

xôi, xa lạ khi hoàng hôn về mang nét cô liêu, hắt hiu, buồn bã Con người mà "cái linh

hồn Trung quốc phát lộ ra trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc, trông tìm”, con người đã mang trong mình "giòng máu hùng cường luân lưu nuôi mạch sống và nuôi

lớn mãi cái chí nguyện giang hồ ấy cũng đã có lúc "chạnh lòng khóc nước" Hoàng hôn là

thời khắc thường khiến người ta nhớ về quê hương Trong cảnh "nắng tắt dần dần chỉ còn

nắng vàng pha sắc tím", người lữ khách đã chạnh lòng so sánh cảnh hoàng hôn ở cố quốc : "Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn của Giang Tây, Hồ Bắc, hoàng hôn ở đây u hoài như một chinh phụ nhớ chồng" Nỗi nhớ quê hương lúc này đã thấm sâu vào tâm

hồn người khách lạ để đếm về trong không gian vắng lặng ở một nhà trọ xa lạ nơi đất khách, trong giây phút chạnh lòng, con người ấy đã gửi gắm nỗi niềm hoài niệmaưởng

nhớ đến một mảnh đất xa xôi bằng mấy câu Đường thi:

Giang phong ngư hỏa, đối sầu miên

Chỉ lúc này nỗi niềm nhớ nước mới làm "chết chí phiêu lưu bôn tẩu" của vị "lữ hành của đất nước Trung quốc" Người khách giang hồ ở đây là con người giàu ý chí khát

vọng, dù chỉ là khát vọng làm giàu, nhưng dường như không hợp thời nên cuối cùng vẻ đẹp rực rỡ ấy chỉ còn lại ià sự tàn tạ với cái "danh vọng tàn" Giống như con ngựa kim hoa trắng ngày nào "mang một vẻ đẹp đẽ oai nghiêm, hùng dũng thế mà trở nên gầy gò thiểu não và "con ngựa trắng ấy ngày nay đã chết Cũng như ba tôi để lại cái danh vọng tàn của những ngày rực rỡ" (Con ngựa trắng của ba tôi) Con ngựa trắng ấy đã gắn với

những kỷ niệm về một thời rực rỡ của người cha Viết về người cha, nhà văn đã tỏ một sự ngưỡng mộ sâu sắc Những dòng kể về người cha được kể với một giọng kể khách quan hơn, từ ngôi thứ nhất chuyển sang ngôi thứ ba, lời kể mang một vẻ trang trọng đặc biệt

Rõ ràng hình ảnh người cha đã để lại ấn tượng rất nhiều cho nhà văn, nhất là cái vẻ ngang tàng và những lời dạy mang đầy khí phách của một người giàu ý chí, khát vọng: "Trong

Trang 35

đời một người đàn ông không nên sợ gì hết, cứ thẳng mà tiến, ngang nhiên mà làm"[53;49]

Tiếp theo người cha là chú Nhì-một "linh hồn phiêu bạt" khác cũng rời xứ ra đi nhưng không phải theo "chí nguyện nhằm một mục đích làm giàu" bằng mồ hôi nước

mắt, bằng nghị lực, kiên nhẫn, không hổ thẹn như người cha, mà chỉ tìm cách sang Việt nam thu tiền của anh về Hình ảnh khách giang hồ ở người chú ấy chỉ còn lại dáng vẻ tàn

tạ vì chỉ đắm chìm trong khói thuốc phiện, trong lối sống ích kỷ, chỉ biết chờ đợi cốt sao cho có "món tiền vãng phí lớn để về lại bên Tàu"

-"Thằng cháu đích tôn" cũng là một "tâm hồn dạn dầy và đau khổ" vì được " sinh ra trong cảnh túng thiếu gạo ít khoai nhiều để rồi lớn lên dưới một trời binh lửa" (Thằng cháu đích tôn) Rời bỏ đất nước Trung hoa, thằng cháu ấy đã đặt chân lên một đất nước

xa lạ để chịu cảnh sống lạc loài tuy đang sống giữa những người trong gia đình Ngoài người ông thật lòng yêu thương nó, người cháu hoàn toàn cảm thấy cô đơn giữa cộng đồng người xa lạ xung quanh nó Cho nên khi người ông chết đi, "người cháu đau khổ ấy

đã thấy chết lần thứ hai niềm thân thiết nhất trong đời"[15;133], từ đấy nó cảm thấy "rất

bơ vơ có lẽ vì nó cảm thấy chung quanh mình sự xa vắng tuy luôn sống giữa gia đình

Những kẻ tha hương thường cảm thấy cô đơn vì luôn luôn có cảm giác lạc loài giữa một

xứ sở xa lạ Có lẽ vì thế mà người ông, một kẻ giang hồ phiêu bạt và thằng cháu, cũng là

một đứa trẻ tha hương, hai linh hồn Trung quốc lưu lạc ấy đã tìm đến nhau, gắn bó nhau trong "niềm thân thiết trong đời"

Từ một hình ảnh người cha giang hồ, phiêu bạt, nhà văn đã nghĩ rộng ra rằng dường như không chỉ người cha mà bao người Tàu khác hoặc những người trong gia đình nhà văn bên ấy có lẽ cũng lang bạt xa xôi" vì lý do thật đơn giản "Tại vì người tàu thích đi ra ngoài Tại vì người Tàu nghèo, dân nhiều gạo ít Tại vì ỏ bên Tàu lắm cướp Cướp nó ở

rừng, cướp ở đâu cũng có ăn vì nó ăn cướp" (Trong bóng rừng).Dường như dòng máu giang hồ đã thấm vào tâm hồn của những con người mang dòng máu Trung hoa Và chí nguyện giang hồ cũng thấm vào máu của chính nhà văn, chỉ có điều mộng giang hồ đoi

với nhà văn chỉ "cốt để thay đổi một khoảng không khí, một mảnh ười nhìn lâu đã chán

Trang 36

mắt đi rồi" (Lòng mẹ) Có lúc nhà văn đã nghĩ mình "sắp được giang hồ rất phải lúc, cái giang hồ nhiễm đầy vẻ hào hứng phong thái" (Ngày lên đường ).Đối với nhà văn, cái

mộng giang hồ đã ám ảnh nhà văn ngay từ nhỏ: "Tôi ao ước sang Marseille, sang Manilie, Hương cảng, sang Lào, sang Cao Miên ơ đâu, tôi cũng tin chắc rằng cảnh tượng đẹp đẽ, sung sướng hơn ở tình nhà" (Ngày lên đường) Điều này đặt trong hoàn cảnh xã

hội lúc bấy giờ đã phản ánh tâm trạng ngột ngạt của lớp văn nghệ sĩ thế hệ nhà văn Họ

muốn tìm lối thoát nhiứig bế tắc và họ đã gửi gắm ước mơ đó vào mộng ước giang hồ Trong bài thơ "Chiều" nổi tiếng, nhà thơ đã tự nhận mình là người lữ khách: Tôi là người

lữ khách Mầu chiều khó làm khuây Ngỡ lòng mình là rừng Ngỡ hồn mình là mây Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây Bài thơ đã được đặt trong một khoảnh

khắc thời gian- chiều để gợi lên một khoảnh khắc của tâm trạng nỗi nhớ, một nỗi nhớ mơ

hồ không rõ nét nhưng đầy ấn tượng- nỗi nhớ của người lữ khách xa lạ

Nhìn chung, hình ảnh con người giang hồ qua cảm nhận của nhà văn vừa mang một phong thái, một nét riêng đầy ấn tượng giống như hình ảnh khách giang hổ thời cổ đổng

thời lại vừa nhuốm vẻ khấc khoải, tàn tạ cô đơn cửa những linh hồn phiếu bạt, chấp nhận

rời bỏ quê hương để sống lạc loài giữa một xứ sở xa lạ Từ những con người giang hồ cụ

thể, những linh hồn lưa lạc, nhà văn đã "nghĩ đến cái Tổ quốc Trung hoa với những manh

áo chàm giang hồ khắp tứ xứ" (Người chị dâu tôi)

Có thể nói "Chân trời cũ" là chuỗi dài những tiếng ngân nga của hoài niệm về

những con người, những cuộc đời đã đi qua tuổi thơ của nhà văn, những con người mà số

phận của họ không một lần được hạnh phúc mỉm cười Mỗi con người là mỗi số phận,

cảnh ngộ riêng nhưng cuộc đời của họ nói chung đều phải trải qua những ngày tháng

buồn đau hiu hắt và kết cục số phận của họ là sự ly tán, chết chóc, lưu lạc, tha phương Trong các tác phẩm văn học hiện thực phê phán, con người thường chịu sự chi phối, quyết định bởi hoàn cảnh.Trong văn xuôi Hồ Dzếnh, con người cũng không thể nào thoát

ra khỏi hoàn cảnh bó buộc họ Chính hoàn cảnh đã đẩy con người vào những cảnh ngộ éo

le buồn tủi, đã đem đến cho họ những tai họa bất ngờ không lường trước để rồi cuối cùng

Trang 37

xô đẩy họ vào kiếp sống tha phương trôi dạt Cuộc sống con người quá mong manh bất

trắc vô định, nổi trôi Viết về thân phận trôi nổi, phiêu dạt của kiếp người, ngòi bút của

Hồ Dzếnh nhuốm một cảm quan bi đát về nỗi buồn đau thế sự Nhân vật của Hồ Dzếnh thường lặng lẽ chịu đựng phó mặc cho số phận đưa đẩy vào cuộc sống ly hương Cho nên nhân vật nào của ông cũng gợi lên hình ảnh nhỏ bé, đáng thương, tội nghiệp của một kiếp người và đều chịu cảnh lưu lạc

Người anh cả (truyện Người anh xấu số, Thiên truyện cuối cùng) phải đi đến một nơi xa xôi để sống kiếp sống ly hương Cuối cùng "con đường đưa anh trở lại quê hương

đã mất dấu", "đường về quê đã biến" và số phận đã cướp mất đi cuộc sống của ông ở một nơi núi rừng hẻo lánh, không một người thân thích, không một bày tay nào khép hộ đôi

mắt của anh vào giờ phút cuối cùng

Không phải chịu sự ghẻ lạnh hắt hủi của mọi người trong gia đình nhưng người anh hai (truyện vừa một kiếp người) cũng sống kiếp sống tha hương Nếu người anh cả rơi vào nghiện ngập đến mức "ươn hèn bỉ ổi" thì người anh hai cũng là một tay ăn chơi khét

tiếng đã trải qua " các giải đường đưa đến những ngõ trụy lạc", sống bất cần đời đến mức vào tù vì thụt két Duyên phận cứ liên tiếp lỡ làng, hai lần cưới vợ, hai người vợ cứ lần lượt qua đời Phẫn uất, buồn đau và quá ít hy vọng vào tương lai, cái "tương lai không

chắc chắn", một "phương trời không hứa hẹn, người anh đã quyết định bỏ xứ mà đi đến

một nơi có lẽ là "một góc biển xa xôi, nơi phiêu lưu của một linh hồn phóng dật"

Không được sinh ra ương điều kiện sống tốt đẹp như người anh cả, anh hai, anh Đỏ

Phụ(Truyện Anh Đỏ Phụ), một người con trai nghèo khổ, hiền lành ở cái xã Hoa Trường heo hút cũng đã ban đời mình lấy 10 đồng để làm phu ở Tân thế giới, phó mặc cho kiếp

sống tha hương "cắt đứt lìa mình khỏi cuộc đời quen thuộc, khỏi thân thích, quê hương" Nhân vật người phụ nữ trong tác phẩm của Hồ Dzếnh cũng chịu đựng số phận lưu

lạc tha phương Nếu người chị dâu (Truyện Người chị dâu tôi) là một linh hồn Trung

quốc lưu lạc đến một xứ sở xa lạ để làm dâu thì Chị Yên (truyện Chị Yên )lại là một

mảnh đời khác của số phận lưu lạc Hoàn cảnh lưu lạc của chị lại xuất phát từ một tai họa

bất ngờ ập xuống cuộc đời chị khi chỉ còn vài tháng nữa là chị sẽ theo chồng để tìm một

Trang 38

hạnh phúc riêng cho mình Không chịu được nỗi nhục bị hãm hại, người con gái ấy đã ra

đi, đau xót chấp nhận cuộc sống ly hương và cuối cùng đã chết trong cảnh xa quê

Nếu như cái nguyên nhân xui khiến người con gái nuôi đi vào bước đường tha hương lưu lạc xuất phát từ một tác nhân bên ngoài (người cậu) thì duyên cớ đẩy người con gái cùng cha khác mẹ (Em Dìn) vào con đường gió bụi chính là từ những người trong gia đình Phạm "một tội rất thông thường là yêu vì nhẹ dạ", có lẽ người con gái cũng không đến bước đường phải ra đi Chính vì sự hiềm khích giữa người vợ cả và vợ lẽ, vì

tự ái và lòng ích kỷ, người mẹ của người con gái đau khổ vì yêu ấy đã hành hạ làm tổn thương lòng tự trọng của con gái và vô tình dồn con gái mình vào bước đường cùng đành

nhắm mắt đưa chân ra đi theo người yêu Cuối cùng bị người yêu ruồng bỏ, chỗ bám víu

cuối cùng cũng đã mất, người con gái ấy giữa lúc năm cùng tháng tận đã dấn thân vào

một nơi xa xôi, cái nơi mà chính người sắp bước vào cũng còn chưa hiểu nổi

Nói là đi Sài gòn nhưng nơi đến thật là vô định và biết đâu ở một nơi xa lạ như thế cái " đời mưa gió " đang chờ đợi những cô gái bất hạnh như em Dìn?

Rõ ràng những nhân vật trong tác phẩm Hồ Dzếnh mỗi người một bản ngã, một số

phận nhưng do số mệnh đều phải chịu đựng một cuộc đời đau khổ và kết thúc cuộc đời

họ trong hoàn cảnh tha hương Không hy vọng vào cuộc sống, mất phương hướng hoặc

do sự đưa đẩy của số phận, họ đã chọn con đường bỏ xứ sở mà đi Tưởng rằng có thể tìm đến một cuộc sống mới ở một nơi xa lạ nhưng hoàn cảnh lưu lạc đẩy họ sâu thêm vào tình cảnh đau khổ Tương lai thật vô định, mờ mịt Hoàn cảnh lưu lạc không hứa trước được điều gì, có thể đó là một cuộc đời gió bụi, đen tối ở đó con người có thể bị đẩy sâu hơn vào bước đường tuyệt vọng không có ngày mai Người anh hai thì lưu lạc ở một nơi góc biển xa xôi không hứa hẹn một điều gì ở tương lai Anh Đỏ Phụ chôn vùi cuộc đời ở

một nơi mờ mịt, xa xăm gọi là "Tân thế giới" và hoàn toàn không có đường về Em Dìu

ra đi mà không biết rằng mình đang dấn thân vào con đường gió bụi Có khi hoàn cảnh lưu lạc cũng không dung chứa con người mà đẩy con người đến cái chết đau thương Người anh cả đã chết trong một cuộc hành trình điên dại, dở dang của một kiếp người Người chị nuôi thì kết thúc cuộc đời ở một nơi xa trong hoàn cảnh gia đình ly tán Chị

Trang 39

chết "một tháng sau chồng và hai tháng trước đứa con trai" để lại một "tấn kịch đau đớn

nhất" trong lòng nhà văn

Truyện "Cuốn sách không tên"- một tác phẩm được tìm thấy từ chồng di cảo mà đến trước ngày qua đời nhà văn cũng chưa có ý định công bố- đã được Nguyễn Bao giới thiệu hai năm sau khi nhà văn qua đời và sau này được in ưong cuốn "Hồ Dzếnh-những trang văn xuôi chọn lọc", NXB Văn học 2001 Tác phẩm cũng là một câu chuyện buồn của

những con người tha phương đi tránh loạn trong cảnh chiến tranh Nhân vật trong truyện

là một đôi vợ chồng trẻ đã phải lên tận vùng sơn cước xa xôi giáp Thượng Lào Đó là một nơi vắng vẻ hắt hiu ở chốn sơn lâm mà ở đó "đất rừng đỏ như tiết thử thách nghị lực con người bằng những bóng cây âm u, những bụi gai chằng chịt Tiếng chim "cung quái" giật mình bay lên, tung ra, hốt hoảng ương tiếng xe bò nặng nhọc, ẽo ạt giữa cảnh rừng hoang" [16;216] Xã hội của những con người lánh nạn chỉ vài chục người nhưng những ngày cực khổ gian nan bệnh tật cũng làm cho con số ấy mòn dần chỉ còn ngót nửa và làm cho họ lùi bước phải trở lại đồng bằng Câu chuyện là một nỗi ngậm ngùi đài của con người trong cảnh thời loạn Một nhà giáo nghèo với vợ và hai con còn non đã phải bán chiếc xe đạp, phương tiện đi lại duy nhất để kiếm tiền để rồi phải đi bộ hàng 50 mươi cây

số đến trường Và rồi người đàn ông tội nghiệp ấy lần lượt tiễn đứa con đầu và người vợ

ra đi mãi niãi trong nỗi nghẹn ngào ray rứt vì không có đủ tiền nên phải lừa người bán áo quan để mua một cỗ áo quan tốt cho vợ Cuộc đời của họ là cả một chuỗi ngày buồn bã

nối tiếp nhau vì cái nghèo khổ đói rét cuối cùng là ly tán, chết chóc trong cuộc đời lưu lạc tha phương

Như vậy quả thật là hoàn cảnh lưu lạc đã không mở ra cho con người một hướng

giải thoát cho cuộc sống tăm tối, ngược lại đã đẩy dần con người vào con đường tuyệt

vọng Rõ ràng số phận con người đã bị nhấn chìm bởi hoàn cảnh

Để miêu tả cuộc sống những con người tha hương lưu lạc, nhà văn đã đặt nhân vật trong một không gian riêng gắn liền với số phận từng con người Có thể đó là một không gian bất định, không gian đất khách quê người gắn liền với số phận lưu lạc Chẳng hạn như không gian núi rừng hoang vắng trên bước đường lưu lạc của người anh cả Khi hay

Trang 40

tin anh chết, vợ con anh đã phải cố công đi tìm dấu vết của người chết vì không ai biết nơi đó là ở đâu Chỉ biết rằng đó là một nơi xa xôi, bởi " con đường đưa anh trở lại quê hương đã mất đấu" và hiu quạnh vắng vẻ đến nỗi " tiếng anh kêu vang cả một khu rừng quanh hiu" Bóng dáng cô đơn của anh đã bị bọc trong một không gian lạnh lẽo khi bóng chiều buông xuống chỉ còn trông thấy "mây âm u giải dài cuối rừng" Cuối cùng thân xác anh cũng đã phơi trên một đám đất bị lở giữa cảnh núi rừng mênh mông xa vắng

Kết thúc truyện Em Dìn cũng đã mở ra một không gian vô định, đầy bất trắc và xa

lạ mà bước chân còn bỡ ngỡ của người con gái nhẹ dạ vì yêu đã quyết định hướng tới Chuyến tàu sẽ đưa người con gái ấy đến một nơi hứa hẹn một tương lai tươi sáng hay lại đẩy cô vào con đường tối tăm nơi đất khách quê người? Cũng không ai biết trước được điều đó ngay cả người sấp dấn thân vào

Có khi không gian lưu lạc của con người là một không gian cụ thể xác định nhưng đầy bấp bênh và không ai biết trước được điều gì đang đợi họ phía trước và thậm chí có khi nơi ấy còn hứa hẹn những giông bão sẽ xảy tới trong cuộc đời Đó là "một góc biển

xa xôi", nơi người anh hai chọn làm nơi dừng chân của một cuộc đời "phóng dật" Nơi ấy

"không gian thê lương và mênh mông lắm" Đó là không gian nơi anh Đỏ Phụ hướng tới trong tình trạng tuyệt vọng.thất nghiệp, tình duyên lỡ làng mà đến nơi ấy con người chấp

nhận "cắt lìa mình khỏi cuộc đời quen thuộc, khỏi thân thích quê hương" Đó là không gian chị Yên chọn để sống tiếp quãng đời còn lại của mình sau khi tai họa đã giáng xuống đầu chị Chị đã yên phận sống ở nơi đó và chính nơi này cũng là nơi chứng kiến cái chết

của người con gái bạc phận

Rõ ràng hoàn cảnh lưu lạc càng đẩy sâu con người vào số phận bất hạnh hoặc là

nhận lấy cái chết trong cảnh tha hương (Anh Cả, Chị Yên) hoặc là phó mặc cho số phận đưa đẩy mà không biết được tương lai mình ra sao (Anh Hai, Em Dìn, Anh Đỏ Phụ )

Có khỉ không gian xa lạ ấy đã trói buộc con người vào bổn phận và sự cam chịu, phục tùng ngu muội (Người chị dâu tôi) Nhìn chung, không gian bao quanh những con người lưu lạc này thường là một không gian rộng rãi khoáng đạt nhưng lại đượm vẻ hiu hắt thê

Ngày đăng: 02/01/2021, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm