1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết sông của nguyễn ngọc tư

92 642 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận xét cho dù là những con người đồng tính nhưng họ vẫn cần lắm sự khao khát sống đúng vớichính bản thân con người mình, với cách đưa nhân vật như

Trang 1

ĐẠ ĐẠIIII H H HỌ Ọ ỌC C C C C CẦ Ầ ẦN N N TH TH THƠ Ơ KHOA KHOA KHOA KHOA KHOA H H HỌ Ọ ỌC C C X X XÃ Ã Ã H H HỘ Ộ ỘIIII V V VÀ À À NH NH NHÂ Â ÂN N N V V VĂ Ă ĂN N

NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T T T T TỰ Ự Ự S S SỰ Ự Ự TRONG TRONG TRONG TI TI TIỂ Ể ỂU U U THUY THUY THUYẾ Ế ẾT T S SÔ Ô ÔNG NG

C CỦ Ủ ỦA A A NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N NG NG NGỌ Ọ ỌC C C T T TƯ Ư

Lu Luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n ttttố ố ốtttt nghi nghi nghiệệệệp p p Đạ Đạ Đạiiii h h họ ọ ọcccc

Ng Ngà à ành nh nh Ng Ng Ngữ ữ ữ V V Vă ă ăn n

C Cá á án n n b b bộ ộ ộ h h hướ ướ ướng ng ng d d dẫ ẫ ẫn n :::: Th.S Th.S GV GV GV L L LÊ Ê Ê TH TH THỊỊỊỊ NHI NHI NHIÊ Ê ÊN N

C

Cầ ầ ần n n th th thơ ơ ơ,,,, 2013 2013

Trang 2

ĐỀ ĐỀ C C CƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG T T TỔ Ổ ỔNG NG NG QU QU QUÁ Á ÁT T PH

PHẦ Ầ ẦN N N N N NỘ Ộ ỘIIII DUNG DUNG

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1: 1: M M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG, CHUNG, CHUNG, T T TÁ Á ÁC C C GI GI GIẢ Ả Ả V V VÀ À

Trang 3

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2: 2: 2: NGH NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T T T T TỔ Ổ Ổ CH CH CHỨ Ứ ỨC C C C C CỐ Ố ỐT T T TRUY TRUY TRUYỆ Ệ ỆN N N V V VÀ À

K KẾ Ế ẾT T T C C CẤ Ấ ẤU U U TRONG TRONG TRONG TI TI TIỂ Ể ỂU U U THUY THUY THUYẾ Ế ẾT T S SÔ Ô ÔNG NG C CỦ Ủ ỦA A A NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N

NG NGỌ Ọ ỌC C C T T TƯ Ư

2.1.

2.1 Ngh Ngh Nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt x x xâ â ây y y d d dự ự ựng ng ng ccccố ố ốtttt truy truy truyệệệện n n trong trong trong ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt S Sô ô ông ng

2.1.1 Chi tiết nghệ thuật

2.1.1.1 Chi tiết về vấn đề mang tính thời sự

2.1.1.2 Chi tiết mảnh ghép cuộc đời và số phận con người

2.1.1.3 Chi tiết biểu trưng

2.1.2 Kết thúc bỏ lửng

2.2.

2.2 Ngh Ngh Nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt ttttổ ổ ổ ch ch chứ ứ ứcccc k k kếếếếtttt ccccấ ấ ấu u u trong trong trong ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt S Sô ô ông ng

2.2.1 Kết cấu thời gian, không gian đa chiều

2.2.1.1 Kết cấu thời gian đa chiều

2.2.1.2 Kết cấu không gian đa chiều

Trang 4

PH PHẦ Ầ ẦN N N M M MỞ Ở Ở ĐẦ ĐẦ ĐẦU U

1 1 L L Lý ý ý do do do ch ch chọ ọ ọn n n đề đề đề ttttà à àiiii

Nghệ thuật tự sự là một vấn đề hấp dẫn đối với những nhà nghiên cứu Khi tìmhiểu về vấn đề này của một tác phẩm, giúp ta khám phá ra những tầng lớp sâu kín vềnghệ thuật, những nội dung độc đáo của một tác phẩm Tìm hiểu về nghệ thuật tự sựgiúp cho ta có cái nhìn khách quan hơn đối với tác phẩm Và nghệ thuật tự sự là mộttrong những đối tượng nghiên cứu đặc thù của tự sự học Trong đó, tự sự học là mộtphân nhánh của thi pháp học được xem như một khoa học nghiên cứu về cấu trúc củavăn bản tự sự Mặt khác, tự sự học cung cấp cho những nhà nghiên cứu về giới thuyếtquan trọng trong việc khám phá, tiếp cận những giá trị của tác phẩm tự sự

Nguyễn Ngọc Tư là cây bút trẻ đầy hứa hẹn của vùng Đồng bằng sông CửuLong Những sáng tác của nhà văn mang đậm dấu ấn của con người Nam Bộ NguyễnNgọc Tư đã khẳng định được vị trí trong văn đàn, trước hết đã vinh dự nhận được một

số giải thưởng của Hội văn học thành phố Hồ Chí Minh và Báo tuổi Trẻ Sau đó, tạo

được tiếng vang lớn bằng sự ra đời của truyện ngắn C C Cá á ánh nh nh đồ đồ đồng ng ng b b bấ ấ ấtttt ttttậ ậ ận n n Tác phẩm đã

tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả, và khiến cho giới phê bình bàn luận sôinổi Là nhà văn luôn tự làm mới mình, năm 2012, bằng một bước đi mới Nguyễn Ngọc

Tư đã chuyển sang sáng tác tiểu thuyết “ “ “S S Sô ô ông ng ng” ” ”, tạo nên một làn sóng mới cho nền văn

học Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và nền văn học Việt Nam đương đại nói

chung Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng như một bước ngoặt thử nghiệm của Nguyễn Ngọc Tư.

Không giống với những truyện ngắn trước đây, những nhân vật là con người chất phác,nồng hậu, còn trong tiểu thuyết đầu tay này nhân vật chính là những con người đi tìmlại “bản ngã” của chính mình, con người khát khao với hạnh phúc Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng

chưa đầy 300 trang, song những trang viết ấy lại chuyển tải những vấn đề thời sự, vềcon người mang giới tính thứ ba, hay những bất cập của xã hội hiện nay, thông qua cáinhìn tinh tế và nhạy cảm nhưng không kém phần sâu sắc của một người nghệ sĩ Đó là

cái hay cái lạ về tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng của Nguyễn Ngọc Tư Dưới góc độ của nhà nghiên

cứu chúng tôi đi tìm hiểu về nghệ thuật tự sự để hiểu một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn

về giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng, cũng như về cái tình, cái hồn của nhà văn

trong tác phẩm

Tiểu thuyết là thể loại tự sự cở lớn, là bức tranh hoành tráng tái hiện lại nhữngkhoảnh khắc của cuộc sống, chứa trong đó lịch sử nhiều cuộc đời, và tiểu thuyết được

Trang 5

xem như“sử thi của thời đại” Ngày nay, xã hội càng phát triển năng động, vì thế tiểu

thuyết đáp ứng được nhịp sống của xã hội hiện đại, phù hợp với tâm lí và thị hiếu củangười đọc Chuyển tải những mặt tích cực và tiêu cực của đời sống con người, có thể

là những mảng nhỏ nhặt trong đời sống, như một lăng kính phản chiếu lại hiện thựccuộc sống con người Chính vì thế tiểu thuyết có đóng góp đáng kể trong việc pháttriển nền văn học cũng như thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việc tìm hiểu về nghệ

thuật tự sự trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng của Nguyễn Ngọc Tư sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về

những vấn đề thời sự Cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển của thể loại tiểuthuyết trong nền văn học Đồng bằng sông Cửu Long đang còn khiếm khuyết

Văn học Đồng bằng sông Cửu Long đến nay có những bước tiến đáng kể,nhưng gặp không ít khó khăn, trong việc khẳng định vị trí trong nền văn học Vì một

số khó khăn trong việc tiếp nhận những tác phẩm của người dân, và chưa có những tácphẩm có giá trị tư tưởng cao, không phải nơi đây không có những cây bút trẻ tài năng

có tâm có nghề, bởi vì những nhà nghiên cứu về văn học của vùng “trũng” này còn

quá ít, chưa đi sâu vào việc khai thác những giá trị đích thực của những tác phẩm,chuyển tải đến người đọc Cũng chính điều đó người viết mong đóng góp nhỏ này cóthể khai thác thêm vấn đề nghiên cứu của một tác phẩm, nhằm làm phong phú thêmnguồn tư liệu cho việc làm rõ giá trị của tác phẩm văn học

Bên cạnh đó mong bài viết này đưa ra cái nhìn khách quan hơn về tài năng củacây bút trẻ đầy hứa hẹn như Nguyễn Ngọc Tư, trong việc phát triển nền văn học vùng

“trũng” cũng như nền văn học Việt Nam đương đại Cũng như về mặt tích cực trong

việc thoát khỏi phong cách sáng tác truyện ngắn, tản văn, tạp văn của Nguyễn Ngọc

Tư trước đây

Đó là những lý do mà người viết chọn đề tài “ “ “Ngh Ngh Nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt ttttự ự ự ssssự ự ự trong trong trong ti ti tiểểểểu u thuy

thuyếếếếtttt S S Sô ô ông ng ng ccccủ ủ ủa a a Nguy Nguy Nguyễễễễn n n Ng Ng Ngọ ọ ọcccc T T Tư” ư” ư”

2.

2 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử v v vấ ấ ấn n n đề đề

Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ, nhưng những tác phẩm của nhà văn đánhdấu những bước tiến đáng kể trong nền văn học vùng Đồng bằng sông Cửu Long nóiriêng và nền văn học Việt Nam đương đại nói chung Trong hơn mười năm sáng tácđối với một nhà văn thì khoảng thời gian không dài cũng không ngắn, trong đóNguyễn Ngọc Tư đã cho ra đời hơn mười tập truyện ngắn, cùng nhiều tản văn và tạp

Trang 6

văn, một tiểu thuyết đầu tay Với truyện ngắn đầu tay đã giúp nhà văn khẳng địnhđược tài năng bằng giải thưởng của Hội văn học, một khởi đầu tốt giúp Nguyễn Ngọc

Tư chuyển sang cây bút chuyên nghiệp hơn Trong hai năm 2005- 2006, Nguyễn Ngọc

Tư đã gặt hái được không ít thành công, làm xôn xao dư luận bằng những tác phẩmmang cái hồn riêng không lẫn vào đâu được, mang hương vị “sầu riêng”, được độc

giả trong nước và ngoài nước ái mộ Trong năm 2012, nhà văn đã cho ra đời tiểu

thuyết S S Sô ô ông ng ng, một hướng rẻ mới trong sự nghiệp viết văn, bức phá ra khỏi phong cách

viết truyện ngắn Trong khoảng thời gian sáng tác, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên nhữnggiá trị thật của chính những sáng tác, khẳng định vị trí xứng đáng trong văn đàn Dođây là cây bút trẻ còn nhiều mặt hạn chế trong việc nghiên cứu về tác giả cũng như tácphẩm này, mà phần lớn những ý kiến, phản hồi được đăng tải nhiều trên Internet củanhững trang mạng như: Tuổi Trẻ, Báo văn nghệ, Dân Trí, Đài tiếng nói Việt Namonline, Văn Nghệ Đồng bằng sông Cửu Long, Blog cá nhân Nguyễn Ngọc Tư…

Trong bài phỏng vấn của trang mạng “Đà “Đà “Đàiiii ti ti tiếếếếng ng ng n n nó ó óiiii Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam online online online”” ”, Nguyễn

Ngọc Tư đã tâm sự khi mình viết tiểu thuyết đầu tay “Đối với tôi, viết tiểu thuyết là một bước thử nghiệm thú vị, nếu tôi không thử viết tiểu thuyết thì có thể sau này tôi sẽ cảm thấy hối tiếc Thực ra, có thể nói đây cũng chính là cố gắng của tôi, thay vì viết ngắn thì bây giờ tôi viết dài Thay vì kể thiếu thì bây giờ kể thừa” [16] Lời bộc bạch

trên, cũng cho thấy được một phần con người cũng như phong cách viết văn củaNguyễn Ngọc Tư, một con người luôn muốn bức phá, luôn đi tìm cái mới, bức phá rakhỏi phong cách cũ để đi tìm chất“sáng” cho tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng cũng như những sáng

tác sau này Sáng tác cũng phải dấn thân cũng phải trải nghiệm mới có một bước tiếncho dù kết quả đem lại không được hoàn mĩ, nhưng đổi lại cho thấy sự cố gắng cũngnhư sự tôi luyện bản thân

Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư, nó ra đời chịu ảnh hưởng từ nhiều truyện ngắn khác của nhà văn, đặc biệt là tập truyện ngắn C C Cá á ánh nh đồ

đồng ng ng b b bấ ấ ấtttt ttttậ ậ ận n n, tập truyện ngắn Gi Gi Gió ó ó llllẻẻẻẻ vvvvà à à ch ch chíííín n n ccccâ â âu u u chuy chuy chuyệệệện n n kh kh khá á ácccc Nguyễn Ngọc Tư đã viết về tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng bằng đam mê bằng việc thích khám phá, nhà văn đã nói: “Chỉ

viết bằng sự mơ mộng, tưởng tượng về thế giới chưa từng tới, về những con người chưa từng thấy, những người chưa gặp hoàn toàn không vì một trải nghiệm nào” [16].

Dù Nguyễn Ngọc Tư viết bằng sự “mơ mộng, tưởng tượng” nhưng đó cũng là sự

quyết tâm thay đổi phong cách viết truyện ngắn, cũng không thể đứng hoài một chỗ

Trang 7

trong ánh sáng của hào quang cũ được Tuy tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng là một bước thử nghiệm,

cái được cũng nhiều cái thiếu sót cũng có Song vẫn thấy rõ được một Nguyễn Ngọc

Tư luôn tự tin vào những gì nhà văn viết, viết bằng tất cả những gì mà tác giả trảinghiệm được, luôn muốn làm mới trang viết của mình bằng những thế giới khác, đây

là sự thử thách với chính bản thân của tác giả để có một hướng đi mới trong sự nghiệpviết văn của mình

Trong bài viết về “ “ “Nguy Nguy Nguyễễễễn n n Ng Ng Ngọ ọ ọcccc T T Tư ư ư ra ra ra m m mắ ắ ắtttt ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt đầ đầ đầu u u tay tay tay” ” ” nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên có nhận xét về tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng: “Ở Sông vẫn là không gian sông

nước quen thuộc trong sáng tác của Nguyễn ngọc Tư Sông là chuyển động, là dòng chảy Với việc cho nhân vật ra đi men theo dòng sông, Tư đã làm được hai việc: vừa phản ánh hiện thực, kể, tả về những vùng đất dọc hành trình vừa men theo dòng chảy tâm trạng để nhân vật bộc lộ mình Từng chương, từng chương của Sông hiện lên như truyện ngắn Lối viết nhẫn nha, dẫn dụ tạo nên sự hấp dẫn từ những mảng miếng tưởng như rời rạc, chấp vá, câu chuyện dần mở ra theo từng trang sách Sông như đời người với những khúc quanh Sông vừa quen vừa lạ, vừa là Tư của hiện tại vừa là Tư của chuyển tiếp…” [15] Những nhân vật trong tiểu thuyết là những hình tượng nhân

vật “bỏ đi”, đi để tìm về với chính con người thật của mình, tìm về cái gọi là “bản ngã”, tìm thấy được khát vọng của cuộc sống Trong tiểu thuyết là những cuộc đời của

nhiều số phận được ghép nối lại với nhau nhưng vẫn là những con người thân thuộc

mà ta từng bắt gặp trong truyện ngắn, những cuộc đời ấy có thể ẩn hiện bóng dáng chonhững số phận thật trong cuộc sống hiện thực ngày nay Những lời nhận xét trên cũng

một phần giúp người đọc hiểu được một phần về tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng của Nguyễn Ngọc

Biên tập viên Trần Ngọc Sinh của NXB Trẻ, trong lần giới thiệu về tiểu thuyết

S

Sô ô ông ng ng có đưa ra nhận xét: “Sông là sự đổi mới toàn diện của Nguyễn Ngọc Tư Đẹp.

Đáo để Trần tục và hư ảo Truyện kết thúc bằng dấu chấm hỏi về số phận một con người - không do dự, cô đã đẩy mầm móng ý tưởng vừa nhú lên sang tay người đọc, để

họ nuôi dưỡng chúng bằng trải nghiệm, qua việc đọc cuốn sách” [15] Lời nhận xét

của Biên tập viên Trần Ngọc Sinh một lần nữa khẳng định lại sự thay đổi trong phongcách viết văn của Nguyễn Ngọc Tư Một tác phẩm được khen ngợi là “Đẹp Đáo để.

Trần tục và hư ảo”, nó như thổi ánh sáng vào tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng, tuy lời nhận xét ngắn

gọn nhưng bao hàm cho cả tiểu thuyết về nội dung và nghệ thuật Trong đó có đề cập

Trang 8

đến việc kết thúc tác phẩm, do những bạn đọc nuôi dưỡng những gì họ cho là đúng vớihoàn cảnh và những con người thật của hiện tại Một kết thúc không có hậu nhưng đómới chính là phong cách viết văn của Nguyễn Ngọc Tư.

Bạn đọc đã quen với phong cách viết truyện ngắn cũng như tản văn và tạp văncủa Nguyễn Ngọc Tư, nhưng có sự thay đổi đáng kể trong cách viết mới, người đọc

cần ngẫm nghĩ và nhận định lại những giá trị mà tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng mang lại Nhà phê

bình Nguyễn Thế Thanh nhận xét: “Tôi nghĩ Sông đặc biệt với Tư bởi cô đã bước ra khỏi vùng quen thuộc của mình Vùng quen thuộc của Tư là truyện ngắn Một vùng quen thuộc khác là tản văn rất hấp hẫn người đọc Bây giờ Ngọc Tư bỏ lại sau mình tất cả những thói quen ấy, sở trường ấy để bước vào một thử thách mới là tiểu thuyết Bản thân cô không nghĩ rằng sẽ viết một tác phẩm hoành tráng, cô chỉ biết là cô sẽ tự đổi mới chính mình Cách viết lạ lẫm hơn Cách xây dựng nhân vật cũng lạ lẫm hơn.

Có người nhận xét về cuốn tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư là nó đẹp, nó hư ảo

và nó cũng đáo để nữa” [16] Trong lời nhận xét trên, chủ yếu đề cập đến vấn đề tự đổi

mới mình trong phong cách viết tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, không đitheo con đường cũ của truyện ngắn, tản văn và tạp văn

Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng ra mắt độc giả trong năm 2012, tác giả đã đưa chuyện đồng

tính vào tác phẩm, như một nét mới trong việc phản ánh hiện thực xã hội với vấn đềnóng bỏng này Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Đưa chuyện đồng tính vào, tôi cho đó là một sự gia giảm cần thiết và hợp lý, với liều lượng vừa phải và hoàn toàn ăn nhập với câu chuyện đi tìm bản ngã ở tiểu thuyết “Sông” Đủ để không gây cảm giác tác giả đang muốn dùng điều đó để câu khách - điều đó đương nhiên không

có ở Nguyễn Ngọc Tư” [17] Như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận xét cho

dù là những con người đồng tính nhưng họ vẫn cần lắm sự khao khát sống đúng vớichính bản thân con người mình, với cách đưa nhân vật như thế vào tác phẩm tạo nênhiệu ứng cao hơn trong việc thể hiện tâm lý cũng như sự đấu tranh trong con người họđược đẩy lên mức cao nhất

Trong bài báo “ “ “Kh Kh Khả ả ảo o o vvvvềềềề ssssự ự ự bi bi biếếếến n n m m mấ ấ ấtttt” ” ”, bài viết này đã đưa ra cách nhìn nhận về giọng điệu trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng: “Cũng phải nói thêm, nhờ sự thoáng chốc tan biến

của Sông khi đọc lên, ngay từ đầu, nghi lễ khai sinh không còn vẫy gọi giọng điệu vang dội như hộp âm bốn chữ rải đều Cánh đồng bất tận, Biển người mênh mông, Thương quá rau răm, Khói trời lộng lẫy, Biến mất ở thư viện,…mà đơn độc chỉ dẫn về

Trang 9

một đích ngắm sự biểu đạt ngắn ngủi vụt hiện, tan chảy triền miên của hiện thực trước mặt Từ đó lối viết tiểu thuyết này cũng có vài biến đổi dựa trên đà sẵn có của một phong cách văn chương đậm chất Nam Bộ” [18] Tuy Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua

cái bóng của giọng văn cũ, nhưng những trang viết vẫn đậm chất Nam Bộ không thểnào xóa nhòa, hay đây chính là nét riêng của nhà văn, một đứa con của vùng đồngbằng đầy nắng gió

Cũng chính nhà văn từng nhận định về tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng, nó không đạt như

mong đợi, vẫn còn nhiều ý kiến về những mặt mà tác phẩm chưa đạt, trong việc táihiện đời sống và những cung bậc trạng thái cảm xúc Như câu nói của Nguyễn NgọcTư:“Vừa bước ra khỏi ngôi nhà ấm cúng kia thôi, gặp phải trận mưa đầu tiên” [14].

Quả thật, khi viết tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng Nguyễn Ngọc Tư cố bức phá ra khỏi phong cách

viết truyện ngắn, tản văn và tạp văn, cố thoát mà không được, vì chịu ảnh hưởng nhiều

từ những thành công trên Khi tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng ra mắt bạn đọc cũng có nhiều ý kiến

trái chiều về tác phẩm này, nó không tạo nên kịch tính và hấp dẫn người đọc, còn quánhẹ nhàng ở chương kết thúc

Tác giả Nguyễn Võ Khang Hạ trong bài viết “ “ “H H Hơ ơ ơiiii th th thở ở ở cu cu cuộ ộ ộcccc ssssố ố ống ng ng trong trong trong ti ti tiểểểểu u thuy

thuyếếếếtttt S S Sô ô ông ng ng ccccủ ủ ủa a a Nguy Nguy Nguyễễễễn n n Ng Ng Ngọ ọ ọcccc T T Tư” ư” ư” có bàn đến việc tác phẩm còn đôi chỗ chưa đạt,

“theo tôi thì có đôi ba chỗ dở Nhưng trong bài viết này tôi chỉ mạn phép lạm bàn một điều ở chương bốn, nói về bế và bà mẹ chồng giả bệnh ho giữ con dâu ở lại với mình trên chiếc ghe bán tạp hóa có tên rất lạ: Chợ Trôi Đáng buồn là tác giả đã cho người đọc “ăn đồ nguội” từ truyện ngắn “Kịch ở Làng” nguyên cả đoạn văn dài với tên nhân vật… y chang, có “edit” dăm ba từ, lỗi chính tả” [19] Lời lạm bàn cho thấy rõ

khiếm khuyết của tác phẩm Cho nên, sự đầu tư kĩ cho việc tạo chi tiết, tình huống chotác phẩm cũng góp phần tạo nên một cốt truyện đặc sắc

Trong bài bình luận văn nghệ về “ “ “S S Sô ô ông ng ng vvvvà à à h h hà à ành nh nh tr tr trìììình nh nh b b bả ả ản n n ng ng ngã” ã” ã” , tác giả Hoài

Phương đưa ra lời nhận xét: “Đọc “Sông” ta cảm nhận được những “áp lực” đè lên Nguyễn Ngọc Tư Điều đó dễ hiểu Từ độ “Cánh đồng bất tận” đến nay đã là một khoảng thời gian đủ cho người đọc mong đợi một sự bức phá, hoặc chí ít một sự khác

đi Chưa kể Sông còn là tiểu thuyết đầu tiên của cây bút văn xuôi xuất sắc này Có phải vì áp lực vô hình đó mà ở Sông, ta gặp một giọng văn dường như có chút phân vân, chênh chao, đôi chỗ gồng lên” [20] Một vướng mắc khi nhà văn bắt đầu viết tiểu

thuyết đầu tay, giọng văn vẫn ẩn hiện đâu đó trong những trang viết sự gò ép, lời nhận

Trang 10

xét đưa ra cái nhìn rõ hơn về giọng văn cố thoát khỏi những ràng buộc cũ, đi tìm mộtgiọng văn đặc thù riêng của chính mình Đây là lời nhận xét rõ hơn về phần nghệ thuậtcủa tác phẩm, giúp cho những độc giả đưa ra cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm.

Những lời nhận định, đánh giá trên xoay quanh những mặt được và hạn chế của

tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng đa phần là đánh giá về sự bức phá khỏi phong cách viết truyện ngắn,

tạp văn và tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, chưa có những bài viết nghiên cứu sâu cũng

như vẫn còn ít những ý kiến bàn luận về nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng Những

nhận định, đánh giá trên giúp cho người viết có thể tham khảo và tìm hiểu sâu hơn vềnghệ thuật tự sự bằng việc lấy cốt truyện, kết cấu tự sự, giọng điệu trần thuật và ngônngữ trần thuật, làm đối tượng để khảo sát, tìm hiểu một cách có hệ thống về tiểu thuyết

S

Sô ô ông ng ng Để hiểu rõ và toàn vẹn, cũng như có cái nhìn khách quan hơn về nghệ thuật tự

sự trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư

3.

3 M M Mụ ụ ụcccc đí đí đích ch ch nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Nghiên cứu về đề tài “ “ “Ngh Ngh Nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt ttttự ự ự ssssự ự ự trong trong trong ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt S S Sô ô ông ng ng ccccủ ủ ủa a a Nguy Nguy Nguyễễễễn n Ng

Ngọ ọ ọcccc T T Tư” ư” ư” chúng tôi hướng vào những mục tiêu sau:

Thứ nhất, tìm hiểu về tác phẩm S S Sô ô ông ng ng để thấy rõ hơn về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng của Nguyễn Ngọc Tư, thông qua ngòi bút hồn hậu đậm chất Nam Bộ,

cũng như mạnh dạn đưa vào tiểu thuyết vấn đề giới tính thứ ba bằng ngôn ngữ vàgiọng văn trần thuật hết sức linh hoạt Xây dựng một cốt truyện sự kiện có những mốiquan hệ ràng buộc với nhau để tạo nên hiệu quả về việc làm sáng tỏ chủ đề, một vấn

đề về hiện thực của xã hội Đồng thời cốt truyện tác phẩm có những chi tiết nghệ thuậtđặc sắc giúp nổi bật lên những hình tượng nhân vật, cũng như không gian và thời giannghệ thuật Qua đó, có thể nhận ra nhiều mặt mà xã hội Việt Nam đang phải đối mặtvới vấn đề nan giải này Có những con người đi tìm về đúng bản ngã của chính mình,khát khao sống đúng con người thật, mà những điều đó thật khó thực hiện Thông quanhững vấn đề trên, tìm hiểu thêm về những vấn đề thời sự, cũng như những đóng góptrong việc thúc đẩy việc phát triển của văn học đương đại, ngoài ra có sự phá cáchtrong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, góp phần tạo nên sự đa dạng trong sáng tác

Thứ hai, qua tác phẩm S S Sô ô ông ng ng có thể hiểu thêm về quan niệm cuộc sống, những

cách nhìn, cách suy ngẫm có thể là triết lí đời thường về những vấn đề mà nhà văn đãđưa vào tác phẩm thông qua việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự ở các khía cạnh: cốt truyện

Trang 11

tự sự, kết cấu, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Cũng như làm rõ giá trị thẩm mĩ của

tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng.

Thứ ba, mục đích nghiên cứu của đề tài này còn phục vụ mục đích học tập, tìm

hiểu thêm về vấn đề thời sự xã hôi Ngoài ra, còn giúp người viết nắm vững kiến thức

về lí luận

4.

4 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Trong phạm vi nghiên cứu về đề tài “ “ “Ngh Ngh Nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt ttttự ự ự ssssự ự ự trong trong trong ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt S S Sô ô ông ng ccccủ ủ ủa a a Nguy Nguy Nguyễễễễn n n Ng Ng Ngọ ọ ọcccc T T Tư” ư” ư”, do nhu cầu nghiên cứu, khả năng giới hạn của bản thân và nguồn tư liệu nên người viết chỉ khảo sát sâu về tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng, về nghệ thuật tự sự

của tiểu thuyết, những giá trị mà tiểu thuyết chuyển tải đến những bạn đọc Tìm hiểu

về tác giả Nguyễn Ngọc Tư, một đứa con của vùng đất tận cùng của Tổ quốc

Bên cạnh đó người viết còn khảo sát thêm một số sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư, và một số sáng tác của một số nhà văn khác, đặc biệt thuộc vùng Đồng bằng sôngCửu Long, để có cái nhìn mới, lạ và hay về cây bút trẻ này

Tư liệu khảo sát chính là tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng, bên cạnh đó người viết còn tham khảo tư liệu về “ “ “L L Líííí lu lu luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc” ” ”, “ “ “Thi Thi Thi ph ph phá á áp p p h h họ ọ ọcccc” ” ”, “ “ “T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc” ” ”, “ “ “T T Tự ự ự ssssự ự ự h h họ ọ ọcccc” ” ”.

Khi tìm hiểu về nghệ thuật tự sự cần phải liên hệ với những vấn đề lí luận và thi pháp,

để làm rõ và có sức thuyết phục cao hơn về giá trị của tác phẩm

5.

5 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Nhằm đạt hiệu quả cao trong việc làm sáng tỏ đề tài, thì cốt yếu người viết thựchiện bước đầu tiên là tìm hiểu và đọc những vấn đề có liên quan đến phạm vi nghiêncứu Bước tiếp theo là sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

Phương pháp phân tích chứng minh: trên những vấn đề lí luận và tác phẩm cụthể, người viết đi tìm hiểu, phân tích, lập luận, giải thích, bằng những dẫn chứng cụ thể,

nhằm làm rõ nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng.

Phương pháp hệ thống: nhằm mục đích nhìn nhận, đánh giá một cách có hệthống các sự kiện, chi tiết nghệ thuật, tình huống xảy ra với các nhân vật trong cốttruyện, cũng như mối quan hệ giữa các nhân vật, những yếu tố góp phần tạo nên sứchấp dẫn của tác phẩm như: giọng điệu, ngôn ngữ,… Từ đó làm rõ vấn đề mà đề tài đã

đặt ra về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng.

Trang 12

Phương pháp tổng hợp: trên cơ sở những vấn đề về tìm hiểu nghệ thuật tự sự

trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng thông qua phương pháp phân tích chứng minh và phương pháp

hệ thống, từ đó tổng hợp lại những vấn đề mà tác phẩm đạt được cũng như hạn chế củatác phẩm, nhằm chọn ra những vấn đề nổi bật làm sáng tỏ đề tài

Trang 13

PH PHẦ Ầ ẦN N N N N NỘ Ộ ỘIIII DUNG DUNG CH

CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1:

Việc phân chia loại thể văn học từ xưa đã có và gặp không ít khó khăn Trong

đó, có nhiều cách phân chia văn học thành nhiều loại thể khác nhau, nhưng được sựđồng tình và ủng hộ nhiều nhất từ các nhà nghiên cứu lí luận học là cách chia văn họcthành ba loại hình cơ bản nhất là: tự sự, trữ tình và kịch

Theo tác giả của công trình L L Líííí lu lu luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc, tự sự là “hiện thực tái hiện qua

những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người, được thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ bộc bạch, thổ lộ, tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của

nó - qua con người, hành vi, sự kiện, được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó” [7;

tr.375] Theo Lại Nguyên Ân, loại hình tự sự được hiểu là: “tái hiện hành động diễn

ra trong thời gian và không gian, thực hiện các biến cố trong cuộc đời các nhân vật…” [1; tr.359].

Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực chủ yếu thông qua những biểu hiệncủa cảm xúc, suy tưởng, thì tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực đời sống qua những sựkiện, biến cố Vì vây, tính sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là khả năng phản ánh cuộcsống một cách bao quát rộng lớn Tính chủ quan trong tác phẩm tự sự được tác giả ẩnvào bên trong, tái hiện đời sống và thuyết phục người đọc chủ yếu ở tính khách quan

Và ở tự sự, có thể xây dựng được những tính cách phức tạp, mâu thuẫn, đa diện, đanghình thành; mặc dù không phải tác phẩm nào cũng làm được như vậy, nhưng khả năngtiềm tàng của tự sự là chỉ ra được cuộc đời trong tính toàn vẹn của nó, là khám pháđược bản chất của cả một thời đại, là bộc lộ tính quy mô của hành vi sáng tạo

Tác phẩm tự sự không chỉ phản ánh thế giới bên ngoài còn phản ánh thế giớibên trong gồm tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ, gắn liền với giọng trần thuật trầm tĩnh Nhàvăn tự sự tái hiện toàn bộ thế giới, thể hiện mọi biểu hiện bên trong và bên ngoài conngười, mà sự kiện là mối quan hệ của thế giới, tác giả tự sự có thể chọn và tạo rakhông gian và thời gian Chính điều đó giúp cho tác phẩm tự sự có khả năng bao quátcuộc sống trong phạm vi lớn Giúp cho cốt truyện tự sự khác với cốt truyện kịch

Trang 14

Ngoài ra tác phẩm tự sự cũng cần những chi chi chi ti ti tiếếếếtttt ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt để tạo nên một tác

phẩm hoàn chỉnh, tác giả cũng tạo nên người trần thuật để phân tích, khêu gợi, bìnhluận hay làm sáng tỏ, giúp cho người đọc hiểu ý nghĩ thầm kín, hay hành động củanhân vật Để có những điều đó nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người kể chuyện,các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, giọng điệu mang nét đặc trưng

Văn tự sự có một khả năng bao quát vô song mà chỉ có nghệ thuật điện ảnh là

có thể sánh được Tác phẩm thuộc thể loại tự sự trở thành một loại văn học có khảnăng phản ánh hiện thực sâu rộng nhất, có vị trí ngày càng quan trọng trong đời sốngtinh thần của người hiện đại

1.1.2.

1.1.2 T T Tự ự ự ssssự ự ự h h họ ọ ọcccc

Lí thuyết tự sự cung cấp một bộ công cụ cơ bản và sắc bén nhất giúp cho việcnghiên cứu đi sâu vào từng lĩnh vực nghiên cứu như điện ảnh, giao tiếp, phương tiệntruyền thông, nghiên cứu văn hóa “Nếu thiếu kiến thức cơ bản về tự sự học thì các phán đón trong các ngành nghiên cứu trên rất dễ phạm những sai lầm sơ đẳng và các kết luận có thể chỉ là lâu đài xây trên cát” [11; tr.11].

Trong lời nói đầu của công trình nghiên cứu “ “ “T T Tự ự ự ssssự ự ự h h họ ọ ọcccc” ” ”, tác giả Trần Đình Sử

có đề cập đến vấn đề: “Tự sự học (Narratology) là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của Lí luận văn học, lấy nghệ thuật, tự sự làm đối tượng, phần nào đó tương ứng với

“thi học” nghĩa hẹp, là lĩnh vực lấy thi ca làm đối tượng nghiên cứu [11; tr.7].

Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng

“nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc”

[11; tr.11] Tư sự học không đóng khung trong tiểu thuyết mà vận dụng cả hình thức

“tự sự” khác, như tôn giáo, lịch sử, điện ảnh, khoa học, triết học, chính trị.

Trong văn học, tự sự có trong thơ, thơ trữ tình, trong kịch, chứ không chỉ làtrong truyện ngắn, tiểu thuyết, ngụ ngôn… như một phương thức tạo nghĩa và truyềnthông tin Tự sự nằm trong bản chất con người bởi con người là một động vật biết tự

sự Chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất, đáng để nghiên cứu nhất

Tự sự học có từ thời Platon, Aistote Đến tự sự học hiện đại được manh nhahình thành từ cuối thế kỉ trước Tự sự học đến nay có thể chia làm ba thời kì: Tự sựhọc trước chủ nghĩa cấu trúc“nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự” [11;

Trang 15

tr.13]; tự sự học cấu trúc chủ nghĩa đi tìm mô hình của hình thức tự sự Đặc điểm của

lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là

sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ, và“mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan” [11; tr.14-15]; và tự sự học hậu cấu trúc, một bộ môn “quan tâm tới các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở” [11; tr15] Hình

thức tự sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm Quá trình phát triển của líthuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ Gerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình.Nhóm một là những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩaNga như V.Propp Nhóm hai lấy G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự

là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, nên vai trò của người trần thuật là quantrọng nhất Nhóm ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman, họ coi trọngphương pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp

Lí thuyết tự sự học hiện đại cho ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự Tác giảkhông bao giờ hiện diện trong tiểu thuyết như là “một người kể, người phát ngôn, mà chỉ xuất hiện như một tác giả hàm ẩn, một cái Tôi thứ hai của nhà văn, với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm” [11; tr.18] Lí thuyết tự sự

chỉ ra“kết cấu của tầng bậc trần thuật, mà người trần thuật ở bậc càng cao thì càng xuất hiện sau, và nhiệm vụ của nó là cung cấp, giới thiệu người trần thuật ở bậc thấp, phân biệt trần thuật chính, trần thuật phụ, siêu trần thuật…” [11; tr.18] Lí thuyết tự

sự cho thấy rõ “sự biến dạng thời gian bằng các biện pháp rút gọn, tỉnh lược, cảnh, kéo dài, dừng lại, lặp lại, và các hình thức đổi thay tính liên tục của sự kiện” [11;

tr.18], chính điều đó giúp ta có thể quan sát một cách cụ thể hơn về cơ chế của nghệthuật tự sự Lí thuyết tự sự có thể chỉ ra “góc nhìn, điểm nhìn, tiêu cự trần thuật với

mô hình trần thuật” [11; tr.18] Ngoài ra, tự sự học hiện đại cũng đi sâu vào nghiên

cứu “về hành vi ngôn ngữ tự sự và các hình thức của nó, tiếp tục nghiên cứu về cấu trúc của tình tiết, đơn vị cơ bản của tình tiết, loại hình hóa cốt truyện” [11; tr.18-19].

Và tự sự học hiện đại tiếp tục nghiên cứu cấu trúc của tình tiết, đơn vị cơ bản của tự sự,các kiểu tổ hợp tình tiết, loại hình hóa cốt truyện

Tự sự học giúp hiểu rõ mọi hình thức tự sự, nghệ thuật và phi nghệ thuật Mở rakhả năng nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học Lí thuyết tự sự cung

Trang 16

cấp những khái niệm về cấu trúc văn bản tự sự, cho phép nhận ra các đặc điểm trênmột cách khoa học Ví dụ Milena Dolezel nghiên cứu mô hình tự sự trong tiểu thuyếtcuối Thanh ở Trung Quốc, Andrew Placks, người Mĩ nghiên cứu nghệ thuật tự sự củatiểu thuyết chương hồi cổ điển Trung Quốc mà ông gọi là“Tứ đại kì thư”…

Lý thuyết tự sự sẽ cho ta thấy không chỉ là kĩ thuật trần thuật của các thể loại,các nhà văn, mà cho thấy cả truyền thống văn hóa ở đằng sau nó Và văn học ViệtNam cũng có truyền thống tự sự lâu đời

1.2

1.2 Gi Gi Giớ ớ ớiiii thuy thuy thuyếếếếtttt v v vềềềề ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt ttttự ự ự ssssự ự

1.2.1.

1.2.1 C C Cố ố ốtttt truy truy truyệệệện n n ttttự ự ự ssssự ự

Cốt truyện trong các thể văn học là một thành phần thiết yếu của tác phẩm tự sự

và kịch, nhưng ít có trong tác phẩm trữ tình Đặc biệt, trong tác phẩm tự sự cốt truyệnđược xem là một trường hành động của các nhân vật và để tác giả lý giải những tínhcách của nhân vật

Theo Lại Nguyên Ân cốt truyện là: “Sự phát triển hành động; tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” [1;

tr.113] Cốt truyện có chức năng quan trọng là thể hiện các mối quan hệ của các đờisống nhân vật, tức là tạo nên xung đột của một tác phẩm tự sự Qua đó, phát triển mốiquan hệ giữa các nhân vật đồng thời là nơi để tác giả bộc lộ các tính cách của nhân vậtnhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của một tác phẩm tự sự

Trần Đình Sử cho rằng cốt truyện là: “yếu tố của tác phẩm tự sự Theo định nghĩa truyền thống đó là tất cả hành động, biến cố được phát triển trong tiến trình kể

chuyện” [9; tr.99] Trong công trình L L Líííí lu lu luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc các tác giả cho rằng “cốt truyện

thực chất là cái lõi diễn biến của truyện từ xảy ra cho đến kết thúc” [7; tr.304].

Còn trong T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc cốt truyện là: “một phương diện của lĩnh vực hình

thức nghệ thuật, nó chỉ lớp biến cố của hình thức tác phẩm Chính hệ thống biến cố (tức cốt truyện) đã tạo ra sự vận động của nội dung cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm Tính truyện (có cốt truyện) là một phẩm chất có giá trị quan trọng của văn học, sân khấu, điện ảnh và các nghệ thuật cùng loại” [5; tr.324].

Chức năng của cốt truyện là làm sao bộc lộ được các mâu thuẫn của đời sốngcác nhân vật, tức là làm sao thể hiện được các xung đột; gắn kết các sự kiện thành mộtchuỗi; khắc họa nhân vật…

Trang 17

Có các kiểu cốt truyện như là: cốt truyện“biên niên” và cốt truyện “đồng tâm”

hoặc cốt truyện “đơn tuyến” và cốt truyện “đa tuyến” Ngoài ra, có những tác phẩm

không có cốt truyện hoặc cốt truyện đơn giản, sơ lược

Cho dù truyện thuộc loại lớn hay nhỏ, cốt truyện thường được nêu theo tiếntrình vận động của các sự kiện được miêu tả trong đó, từ hình thành cho đến kết thúc,bao gồm các thành phần chính: thắt nút, phát triển các hành động, cao trào, mở nút.Các thành phần ấy có một chức năng riêng, khi tìm hiểu một tác phẩm cần có sự nhậnthức một cách linh hoạt về các thành phần đó để lí giải nội dung và tư tưởng tác phẩm.Thắt nút là sự xuất hiện các sự kiện đánh dấu điểm khởi đầu của mối quan hệ tất yếu

sẽ tiếp tục phát triển Phát triển là toàn bộ sự kiện và vận động của các mối quan hệnảy sinh từ thắt nút Cao trào là sự phát triển đến đỉnh điểm các sự kiện, tạo nên bướcngoặt lớn cho sự phát triển của truyện Mở nút là sự kiện tiếp theo của cao trào, đánhdấu sự kết thúc và phát triển của các mối quan hệ, giải quyết xung đột trong tác phẩm.Ngoài ra cốt truyện có thể có phần trình bày và vĩ thanh Trình bày là quá trình thainghén xung đột Vĩ thanh là phần kể lại những sự việc xảy ra, tương lai của các nhânvật Nhưng cốt truyện không nhất thiết đủ các thành phần trên và tách bạch rõ ràng.Chính điều đó nên trật tự trần thuật có ý nghĩa là khám phá ý nghĩa tâm lý, tư tưởng,nhận thức của sự kiện đối với nhân vật Cốt truyện trong một tác phẩm đôi khi cũng có

sự lặp lại theo một môtip nào đó

Như vậy việc xây dựng cốt truyện có ý nghĩa quan trọng đối với một nhà văn, lànơi để nhà văn phán ánh những hiện thực xã hội cũng như những mâu thuẫn của đờisống con người

Góp phần xây dựng tình huống truyện trong một tác phẩm cần đến những chi chi ti

tiếếếếtttt ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt nổi bật lên chủ đề cũng như hình tượng văn học đặc sắc Trần Đình Sử

viết:“chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó không có ý nghĩa độc lập, nhưng lại biểu hiện được ý nghĩa của các chỉnh thể mà chúng thuộc vào” [9; tr.82] Chi tiết nghệ

thuật là dụng ý tinh tế của tác giả văn học để xây dựng nên tình huống truyện và làmtiền đề cho cốt truyện phát triển hợp lí Là một phương tiện cơ bản để thể hiện nhânvật tính cách sao cho sinh động và hấp dẫn

Tác phẩm tự sự tái hiện cuộc sống khách quan nên có sự khởi đầu và kết thúc

Vì vậy, k k kếếếếtttt th th thú ú úcccc ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m m là: “một trong những thành phần của cốt truyện thường tiếp theo sau ngay đỉnh điểm, đảm nhiệm chức năng thể hiện tính trạng thái cuối cùng

Trang 18

của xung đột được mô tả trong tác phẩm” [4; tr.157] Hay “kết thúc tác phẩm, tác giả nói một ý kiến khái quát, một lời cảm ơn công chúng, v.v…” [5; tr.325] Việc nhìn

nhận vấn đề cuộc sống của mỗi người trong tác phẩm có cách suy nghĩ khác nhau,chính vì thế tác giả của tác phẩm tự sự thường dừng lại ở mức độ miêu tả sự việc nào

đó, tạo nên một kết thúc bỏ ngỏ Tiểu thuyết được xem là “sử thi của thời đại”, chính

vì vậy mà nó gần giống như hiện thực cuộc sống, cũng phải tuân theo quy luật tự nhiên,được các tác giả tạo cho tác phẩm bằng kết thúc mở Với lối kết thúc này thường đưa

ra vấn đề mà không bàn luận, khiến cho người đọc có cảm giác câu chuyện còn tiếpdiễn và kéo dài ra nửa Nhà văn tạo cho tác phẩm kết thúc mở hay bỏ lửng vấn đề đểngười đọc liên tưởng đến sự việc đó sẽ diễn ra, cảm nhận và suy ngẫm về những vấn

đề bằng cái nhìn đa diện, đa chiều, có thể những vấn đề được đề cập chịu ảnh hưởng từnhiều mặt của cuộc sống Chính là tuân theo quy luật đồng sáng tạo Tuy nhiên, tácphẩm là đứa con tinh thần của tác giả, vì thế việc kết thúc một tác phẩm như thế nàovẫn mang bản chất và quan điểm của tác giả trong đó

1.2.2.

1.2.2 K K Kếếếếtttt ccccấ ấ ấu u u ttttự ự ự ssssự ự

Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của quá trình tư duy nghệ thuật của nhàvăn Vì vậy, về nguyên tắc một tác phẩm văn học là một chỉnh thể, để tạo nên một tácphẩm hoàn chỉnh nhà văn phải lao động cật lực để chọn những chi tiết đặc sắc, sắp xếpcác sự kiện, hình tượng, miêu tả chi tiết nghệ thuật như thế nào,… Phải đảm bảonguyên tắc các yếu tố đó trong tổng thể có mối quan hệ bổ trợ nhau và tương đối bềnvững Nên kết cấu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành một tác phẩm văn họchoàn chỉnh

Theo Lại Nguyên Ân“kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng Các quy luật của kết cấu –

là kết quả của nhận thức thẩm mỹ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại” [1;

tr.167] Hay theo T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n thu thu thuậ ậ ậtttt ng ng ngữ ữ ữ vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc thì: “Kết cấu là toàn bộ tổ chức phức

tạp và sinh động của tác phẩm… Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận chương, đoạn mà còn bao hàm

sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm… Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật Kết cấu phải đảm nhiệm chức

Trang 19

năng đa dạng: bộc lộ tốt chủ đề, tư tưởng của tác phẩm; triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện;… tạo nên tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mĩ” [4;

tr.156 – 157] Kết cấu tạo nên tính toàn vẹn cho tác phẩm văn học Tạo nên tính mạchlạc cho văn bản, vì kết cấu tác phẩm văn học là sự sắp xếp, bố trí hệ thống nhân vật, sựkiện, phương thức trần thuật, cũng như các thủ pháp văn phong, sao cho logic Kếtcấu còn tạo nên sự thống nhất giữa chủ đề - tư tưởng với hệ thống tính cách Giúp cho

tư tưởng thống nhất và chủ đề được triển khai tập trung Kết cấu có nhiệm vụ quantrọng giúp cho cốt truyện được sắp xếp thành từng chương, đoạn, lớp, cảnh phù hợp

Trong T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc kết cấu là: “chỉ sự sắp xếp, phân bố các thành phần

hình thức nghệ thuật – tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng Các quy luật của kết cấu là kết quả của nhận thức thẩm mĩ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại” [5; tr.715].

Trong công trình L L Líííí lu lu luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc, nhóm tác giả đưa ra khái niệm về kết cấu “là

toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm” [7; tr.295] Hay trong công trình

D

Dẫ ẫ ẫn n n lu lu luậ ậ ận n n nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u u vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc của G.N Pôxpêlôp cho rằng: “kết cấu bao hàm sự sắp

xếp nhân vật (“hệ thống” của chúng), sự sắp đặt các tình tiết của cốt truyện và trật tự thông báo về tiến trình các sự kiện, sự thay thế các thủ pháp trần thuật, và tương quan nhau của các chi tiết của cái…được miêu tả, và tương quan các chương, đoạn, khổ, các câu riêng biệt” [3; tr.206] Mọi tác phẩm văn học dù lớn hay nhỏ đều có kết cấu,

kết cấu như một phương tiện cơ bản nhất trong tác phẩm nghệ thuật Nhà văn là mộtnhà ảo thuật tài ba trong chính những sáng tác của mình, vì từ những trải nghiệm củabản thân đã nhào nặn những kinh nghiệm ấy, cũng như tư tưởng, cảm xúc về hiện thựcđời sống, hay những nhận thức về cái mới chưa ai đề cập đến để đưa vào trong tácphẩm Từ đó, dẫn đến tác phẩm văn học không tách rời giữa nội dung cuộc sống và tưtưởng được tác giả chuyển tải vào trong tác phẩm văn học

Chức năng quan trọng của kết cấu là tạo cho tác phẩm trở nên mạch lạc, có“vẻ duyên dáng của sự trật tự” (Hoax).

Ngoài khái niệm kết cấu, trong công trình L L Líííí lu lu luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc còn bàn thêm về kết

cấu, được xem như một phần tất yếu trong tác phẩm văn học, “kết cấu là toàn bộ tổ chức tác phẩm trong tính độc đáo, sinh động, gợi cảm của nó Cách tổ chức của thể loại, bố cục chung của một thể văn, nguyên tắc của một luật thơ cụ thể và cả mô hình

Trang 20

tư duy của một tác giả cố nhiên là quan trọng, nhưng kết cấu tác phẩm trong phần sâu sắc nhất của nó là sự liên kết theo công thức, biện pháp sẵn có, mà là liên kết theo sự hiện ra hiệu quả tư tưởng” [7; tr.296] Kết cấu được xem như một phần tất yếu trong

Kết cấu có mối tương quan với nội dung còn có mối tương quan với hình thức,

để tạo nên sự hài hòa và cân đối, khi nào hai mối tương quan này phát huy tác dụng.Khi nó phục vụ cho nội dung chân thật và sinh động

Đối với các thể loại văn học để có nguyên tắc tổ chức riêng, về quy luật,phương thức, bất biến và bền vững nhưng sự thể hiện của nó lại sinh động tùy thuộcvào mỗi tác phẩm thuộc thể loại gì mà có sự thay đổi tạo nên nét riêng

Kết cấu cũng có sự vận động và phát triển theo thời kì văn học Như kết cấutrong tác phẩm truyền thống tuân theo trật tự thời gian trần thuật: cái gì có trước kểtrước cái gì có sau kể sau, hay tổ chức theo hệ thống nhân vật: tác phẩm có mở đầu vàkết thúc rõ ràng Đối với tiểu thuyết hiện đại thì kết cấu có sự thay đổi nhằm tạo nênsức hấp dẫn đối với người đọc như kết cấu mở, kết cấu tâm lí, kết cấu ngược, kết cấuchia theo tuyến nhân vật… Các kiểu kết cấu này có thể chứa đựng nhiều sự kiện, biến

cố, các tuyến nhân vật, chi tiết nghệ thuật nhiều hơn, nhằm tái hiện bức tranh về đờisống được chân thực và sinh động hơn, chuyển tải được nhiều tư tưởng sâu sắc, haynhững trải nghiệm của tác giả vào trong tác phẩm, góp phần tạo nên một tác phẩm cụthể và khách quan hơn dưới góc nhìn chủ quan của tác giả

Bất cứ hiện tượng nào được xây dựng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật, đều là hình tượng nghệ thuật, thông thường và quan trọng nhất là hình

Trang 21

tượng con người (hình tượng nhân vật) [5; tr.594] Vì thế, hình tượng có chức năng

“phản ánh mà còn khái quát hiện thực, khám phá cái cốt lõi, cái bất biến, cái vĩnh cửu trong cái đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên (…) hình tượng mang tính hiển hiện, nó không phân giải các hiện tượng thành các yếu tố trừu hóa – lý tính, nó bảo lưu tính chỉnh thể, tính độc đáo, không lặp lại của các hiện tượng” [5; tr.294] Hình tượng nhân vật mang

tính chỉnh thể được đưa vào tác phẩm văn học thông qua các khả năng miêu tả và biểucảm Đi tìm hiểu hình tượng nhân vật chính là đi khám phá những nét thuộc tính củacon người Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học cũng có những đặc điểm vềngoại hình như dáng người, vẻ mặt,… có suy nghĩ và hành động riêng, có thế giới tinhthần và tâm hồn Nó tiêu biểu cho một tính cách, một hiện tượng cụ thể gắn liền vớinhững con người ở xã hội hiện thực

Thời gian và không gian nghệ thuật góp phần quan trọng trong việc thể hiện rõchức năng của kết cấu Là nơi để nhà văn thể hiện ý đồ nghệ thuật, và giúp cho ngườiđọc nhận ra những điều về ý nghĩa nhân sinh, về cuộc đời một cách sâu sắc hơn

Th

Thờ ờ ờiiii gian gian gian ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt là thời gian ta có thể cảm nhận thông qua cường độ thời

gian, nhịp độ thời gian và được đo bằng các chiều thời gian trong một tác phẩm nghệthuật Trong đó, thời gian trần thuật có đặc điểm là: mang tính hữu hạn, có tốc độ vànhịp độ riêng, không thể đảo ngược Còn thời gian được trần thuật là thời gian của sựkiện được nhắc tới, có thể đảo ngược quá khứ, hiện tại, tương lai, tùy theo ý đồ của tácgiả

Kh

Khô ô ông ng ng gian gian gian ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt, theo Lê Bá Hán trong công trình T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc:

“Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [4; tr.162] Ngoài ra Trần Đình Sử còn giải thích thêm: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế giới nghệ thuật” [4; tr.88] Trong đó, ông

còn khẳng định một cách chắc chắn “không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” [4; tr.88 – 89] Chính vì vậy, không gian

nghệ thuật là một phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là phương thức tồn tại và triển khaicủa thế giới nghệ thuật, là nơi để nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật của mình

1.2.3.

1.2.3 Ng Ng Ngô ô ôn n n ng ng ngữ ữ ữ tr tr trầ ầ ần n n thu thu thuậ ậ ậtttt

Trang 22

Mỗi sự việc đều có sự liên kết, nếu trong âm nhạc âm thanh là cầu nối thì trongvăn học ngôn ngữ là cầu nối giữa tác phẩm văn học với độc giả Ngôn ngữ cũng làbước khởi đầu cho tác giả sáng tạo nên tác phẩm văn học M.Gorki đã khẳng định:

“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó cùng với các sự kiện, các hiện tượng cuộc sống là chất liệu văn học”

Theo T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n thu thu thuậ ậ ậtttt ng ng ngữ ữ ữ vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc: “Ngôn ngữ trần thuật là phần lời văn độc

thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả” [4; tr.148 ] Nhà văn muốn chuyển tải những cái nhìn về cuộc sống với

những cung bậc khác nhau thì phải nhờ sự phục vụ đắc lực của ngôn ngữ Ngôn ngữ

có vai trò cơ bản trong việc thể hiện cá tính của tác giả Trong văn bản tác phẩm thìngôn ngữ góp phần xây dựng hình tượng nhân vật, thể hiện những tư tưởng về bứctranh hiện thực qua con mắt nghệ thuật của tác giả Vì vậy, mà nhà văn phải khéo léotrong việc chọn ngôn ngữ trần thuật để diễn tả sao cho chân thực, sinh động, hấp dẫnngười đọc, thì mới tạo nên những tác phẩm mang dấu ấn cá nhân riêng không lẫn vàođâu

Trong công trình D D Dẫ ẫ ẫn n n lu lu luậ ậ ận n n nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u u vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc, G.N Pôxpêlốp đưa ra khái

niệm về ngôn ngữ: “là nguồn dự trữ các từ và các nguyên tắc ngữ pháp để kết hợp các

từ đó thành câu…” [3; tr.352] Vì thế mà ngôn ngữ mang tính chính xác, cá thể hóa.

Dù mỗi câu mỗi chữ trong tác phẩm văn học nó mang nhiều hàm ý hay nhiều tầng bậcnhưng mỗi từ của ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự chính xác, cụ thể mới có thể diễn tảđúng những gì mà tác giả có thể chuyển tải thông qua ngôn ngữ

Ngôn ngữ trần thuật còn mang yếu tố đa thanh vì trong ngôn ngữ văn xuôi còn

có sự tác động qua lại giữa ngôn ngữ kể và ngôn ngữ nhân vật hay ngôn ngữ miêu tả

và ngôn ngữ được miêu tả Được thể hiện qua các dạng: đối thoai trực tiếp, đối thoạigián tiếp, lời nửa trực tiếp…

Đố

Đốiiii tho tho thoạ ạ ạiiii là một dạng phát ngôn trực tiếp, mang tính cá thể hóa cao của nhân

vật khi tham gia giao tiếp Trong đó, đối thoại theo hình thức phân vai hay có sự nhấnmạnh nhờ những chỉ dẫn của người trần thuật, và người trần thuật cũng có thể biến lờithoại của nhân vật thành lời thoại của chính bản thân mình Thể hiện chất nhiều giọngcủa ngôn ngữ

L

Lờ ờ ờiiii n n nử ử ửa a a tr tr trự ự ựcccc ti ti tiếếếếp p p theo Bakhtin là: “Lời trần thuật của tác giả và lời độc thoại

của nhân vật có khi hòa nhập với nhau, xuyên thấu nhau” hay trong T T Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n thu thu thuậ ậ ậtttt

Trang 23

ngữ ữ ữ vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc là: “biện pháp diễn đạt lời văn khi lời của nhân vật có bề ngoài thuộc về

tác giả (về mặt chấm câu, ngữ pháp) nhưng về nội dung và phong cách lại thuộc về nhân vật” [4; tr.187] Đây là kiểu lời nói có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ người trần

thuật và ngôn ngữ nhân vật, không đơn nghĩa như lời trực tiếp, lời nửa trực tiếp thường

mở ra nhiều hướng tiếp nhận, trở thành kiểu lời nói đặc trưng cho ngôn ngữ trần thuậtphức hợp Ngôn ngữ trần thuật trở nên giàu sức gợi nhờ vào lời nửa trực tiếp Nó giúp

ta đi sâu vào khám phá những tâm trạng của nhân vật, thông qua giọng kể của ngườitrần thuật

Để phục vụ cho việc sáng tạo nghệ thuật, ngôn ngữ trần thuật còn mang tínhhiện đại, thể hiện qua việc tác giả sử dụng ngôn ngữ đời thường, dân dã vào trongnhững sáng tác của chính mình không còn những ngôn ngữ mang tính bác học, quyền

uy vào trong sáng tác Nhằm thể hiện một phong cách độc đáo trong việc khẳng địnhnhững sáng tác của mình gắn liền với những hiện thực đời sống Hay tác giả làm chongôn ngữ trần thuật mang những bản sắc văn hóa riêng của mỗi vùng miền, tạo nên nétđộc đáo trong cá tính sáng tác

1.2.4.

1.2.4 Gi Gi Giọ ọ ọng ng ng đ đ điiiiệệệệu u u tr tr trầ ầ ần n n thu thu thuậ ậ ậtttt

Ngoài ngôn ngữ trần thuật thì giọng điệu trần thuật là yếu tố không thể thiếucủa nghệ thuật trần thuật Giọng điệu trần thuật tạo nên phong cách sáng tác của nhàvăn cũng là cầu nối tình cảm đến với độc giả

TheoTừ đ đ điiiiểểểển n n thu thu thuậ ậ ậtttt ng ng ngữ ữ ữ vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc định nghĩa rằng: “Giọng điệu là thái độ, tình

cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [4; tr.134].

Giọng điệu làm nên nét riêng cho mỗi nhà văn vì những thái độ hay tình cảm của mỗingười có những cung bậc cảm thụ khác nhau đối với hiện thực cuộc sống, hay tùy vàocách tiếp cận đối với độc giả mà tác giả chọn những giọng điệu nào thích hợp gần gũivới họ, đặc biệt là ảnh hưởng từ những vùng miền mang bản sắc văn hóa, làm nên néthay và độc đáo trong mỗi giọng điệu khác nhau

Giọng điệu là hai từ nghe rất quen thuộc trong cuộc sống thường nhật nhưnggiọng điệu trong tác phẩm văn học khó có thể hiểu một cách sâu sắc, nếu có nhữngcách cảm và cách hiểu đi lệch hướng thì sẽ dẫn đến việc hiểu một tác phẩm không sâu

Trang 24

về hàm ý Giọng điệu có vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học Các tác giả của

T

Từ ừ ừ đ đ điiiiểểểển n n thu thu thuậ ậ ậtttt ng ng ngữ ữ ữ vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc cũng nói thêm về vai trò của giọng điệu: “Có vai trò rất

lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Thiếu một giọng điệu nhất định nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có

đủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật” [4; tr.134] Như vậy giọng điệu được ví

như linh hồn của tác phẩm, tạo nên nét độc đáo của tác phẩm cũng như tạo nên phongcách riêng của mỗi nhà văn Nhà văn Tsêkhôp đã đưa ra nhận định rằng:“Nếu tác giả nào đó không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả”.

Hay G.N Pôxpêlôp tác giả của công trình D D Dẫ ẫ ẫn n n lu lu luậ ậ ận n n nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u u vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc cho

rằng: “Giọng điệu là các kiểu cách dùng để kể chuyện” [3; tr.89] Chỉ đơn giản cách

kể, đối với giọng điệu cũng có sự khác nhau trong từng thể loại văn học, chẳng hạn sửthi cổ đại thì dùng giọng điệu trang trọng, ung dung, cao cả nhưng đối với tiểu thuyếthiện đại dùng nhiều giọng điệu khác nhau phù hợp với hoàn cảnh, tình huống, diễnbiến tâm trạng của nhân vật trong tác phẩm mà người trần thuật dùng giọng điệu thíchhợp

Ngoài giọng điệu của người trần thuật còn có “giọng” của nhân vật, nhờ hai

giọng điệu có mối tương quan với nhau giúp cho tác giả dễ dàng đi sâu vào tâm hồncủa nhân vật cũng như suy nghĩ, hành động của nhân vật mà tác giả tạo nên, tác giả cóthể khống chế được ý định của nhân vật được dễ dàng và đạt được chiều sâu trong việc

đi phân tích các cảm thụ của nhân vật

Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu là phương tiện giúp cho người kể chuyện đisâu và phản ánh về đời sống hiện thực con người Mỗi nhà văn đều có giọng điệu riêng,tạo nên cá tính độc đáo không lẫn vào đâu được Giọng điệu trở thành cánh cửa đi vàotác phẩm văn học, thông qua giọng điệu người đọc có thể hiểu thêm về tư tưởng - cảmxúc mà tác giả sử dụng trong tác phẩm Nếu thiếu đi giọng điệu thì tác phẩm văn học

sẽ nhạt nhẽo, thiếu cảm xúc, chỉ đơn thuần là một văn bản có hệ thống nhân vật, nhữngchi tiết nghệ thuật được ghép nối lại với nhau

Giọng điệu cũng quyết định đến nhiều yếu tố trong việc tổ chức hoàn chỉnh tácphẩm, cách xây dựng hình tượng nhân vật Giọng điệu làm nên nét độc đáo cho tácphẩm nên giọng điệu trần thuật được ví như chất kết dính tạo nên mối quan hệ giữanhà văn - tác phẩm - bạn đọc

Trang 25

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ về tuổi đời lẫn tuổi nghề Nhà văn xuất hiệntrong văn đàn hơn mười năm trở lại đây (1996 - 2013) Do gia đình khó khăn nên lúcnhỏ nhà văn không có điều kiện học hành đến nơi đến chốn, học hết lớp 9 NguyễnNgọc Tư phải nghỉ học để phụ giúp gia đình Thế nhưng trong khoảng thời gian nàynhà văn có nhiều cơ hội tiếp xúc với thực tế đời sống để có vốn sống lẫn vốn hiểu biếtthực tế Sau khi nghỉ học Nguyễn Ngọc Tư xin vào làm ở vị trí văn thư của Tạp chíBán Đảo Cà Mau và tiếp tục học hoàn thành chương trình tốt nghiệp trung học phổthông.

Là một nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Ngọc Tư là một hiệntượng văn học độc đáo khiến đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước quan tâm

Là một “cây bút” với tuổi đời chưa cao nhưng sự nghiệp sáng tác văn chương

của Nguyễn Ngọc Tư thật đáng quan tâm Số lượng tác phẩm của nhà văn khá phong

phú Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu cầm bút từ năm 1996 với truyện ngắn “Đổ “Đổ “Đổiiii thay thay thay” ” ” được

đăng báo

Năm 2000, Nguyễn Ngọc Tư nhận được giải nhất cuộc thi sáng tác văn học tuổi

20 lần thứ 3 của Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh với tập truyện ngắn “ “ “Ng Ng Ngọ ọ ọn n n đè đè đèn n kh

khô ô ông ng ng ttttắ ắ ắtttt” ” ” Đến năm 2001, nhà văn lại ra mắt bạn đọc tập truyện dành cho thiếu nhi

Trang 26

nhất tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đạt giải thưởng ASEAN khu vực Đông Nam Á.Năm 2006, Nguyễn Ngọc Tư nhận giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam với tác phẩm

“C C Cá á ánh nh nh đồ đồ đồng ng ng b b bấ ấ ấtttt ttttậ ậ ận n n” ” ”, tác phẩm được 12 lần tái bản Năm 2007, nhà văn được mời

sang Hàn Quốc để nói về tác phẩm này và được dịch sang nhiều thứ tiếng như: tiếngHàn, Nhật, Anh Và đến năm 2009, tác phẩm được chuyển thể thành phim Gần đây

nhất, năm 2012, Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời tiểu thuyết đầu tay với tựa đề “ “ “S S Sô ô ông ng ng” ” ”,

đây được xem như một bước ngoặt mới trong quá trình sáng tác của nhà văn

C

Cá á ácccc ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m m ch ch chíííính nh nh bao bao bao g g gồ ồ ồm m m:

Ngọn đèn không tắt (Tập truyện – NXB Trẻ - 2000)

Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi – NXB Trẻ - 2001)

Biển người mênh mông (Truyện ngắn – NXB Trẻ - 2003)

Giao thừa (Tập truyện – NXB Trẻ - 2003)

Nước chảy mây trôi (Truyện ngắn – Kí – NXB Văn nghệ TP HCM - 2004)

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (NXB Văn hóa Sài Gòn - 2005)

Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn – NXB Trẻ - 2005)

Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005)

Cái nhìn khắc khoải

Sầu trên đỉnh Puvan (2007)

Ngày mai của những ngày mai (2007)

Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện – NXB Trẻ - 2008)

Biển của mỗi người (2008)

Yêu người ngóng núi (tái bản năm 2010)

Khói trời lộng lẫy (Tập truyện – NXB Trẻ - 2010)

Sông (Tiểu thuyết – NXB Trẻ - 2012

1.3.2.

1.3.2 T T Tá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m

1.3.2.1.

1.3.2.1 Ho Ho Hoà à àn n n ccccả ả ảnh nh nh ssssá á áng ng ng ttttá á ácccc

Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng ra mắt bạn đọc vào tháng 9 – 2012 Sau thành công vang dội

từ C C Cá á ánh nh nh đồ đồ đồng ng ng b b bấ ấ ấtttt ttttậ ậ ận n n, Gi Gi Gió ó ó llllẻẻẻẻ vvvvà à à ch ch chíííín n n ccccâ â âu u u chuy chuy chuyệệệện n n kh kh khá á ácccc, Kh Kh Khó ó óiiii tr tr trờ ờ ờiiii llllộ ộ ộng ng ng llllẫ ẫ ẫyyyy Nguyễn

Ngọc Tư đã tìm một hướng đi mới cho sự nghiệp sáng tác cũng như một bước thửnghiệm cho bản thân thoát khỏi những ánh hào quang cũ Chính điều đó mà tiểu thuyết

S

Sô ô ông ng ng ra đời, như chính tác giả đã từng nói: ”Đối với tôi, viết tiểu thuyết là một trải

nghiệm thú vị, nếu tôi không thử viết tiểu thuyết thì có thể sau này sẽ cảm thấy hối

Trang 27

tiếc” Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng được đánh giá là độc đáo, giàu chất thơ nhưng vẫn mang đầy

tính thời sự, hư cấu nhưng vẫn ẩn chứa trong đó bao hiện thực ngồn ngộn, như NguyễnNgọc Tư đã từng tâm sự: ”viết bằng sự mơ mộng, tưởng tượng về một thế giới chưa từng tới, về những con người chưa gặp hoàn toàn không vì một trải nghiệm nào” Khi

viết một tác phẩm nhà văn không vạch định chỉ tiêu hay một kế hoạch rõ ràng vìnguyên nhân:”Tôi muốn đi một cách chậm rãi để chủ động tạo nhịp trở lại cho mình,

đi từ tốn và thanh thản” Vì thế mà tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng khi ra đời mang trong nó bao cái

tình cái hồn của nhà văn

1.3.2.2.

1.3.2.2 T T Tó ó óm m m ttttắ ắ ắtttt ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m

Tiểu thuyết ” ” ”S S Sô ô ông ng ng” ” ” viết về chuyến phượt sông Di, trong đó nhân vật chính là

Ân, một chàng trai trẻ nhưng phải chạy trốn để quên mối tình tan vỡ với Tú, trước khibắt đầu chuyến hành trình này Ân đã làm quen được hai người bạn đó là Xu và Bốithông qua mạng, họ không hề quen biết và cũng chưa hiểu rõ về nhau, nhưng có điểmchung là muốn bỏ đi và mang trong mình”những vết thương kín đáo” Bối được sinh

ra trong một gia đình trí thức có”hai giáo sư và một tiến sĩ” nhưng gia đình ấy luôn

lao vào công việc, danh vọng, cha mẹ không quan tâm đến con, chính vì thế mà Bối đãtrở thành một con người luôn thích nghĩ ra những trò chơi biến mất, mong từ đó có thểtìm được một chút quan tâm của họ đến mình, luôn khao khát tình thương yêu Nhânvật Xu là đứa trẻ lớn lên từ trại trẻ mồ côi, nên luôn trầm lặng, với ý nghĩ tronglòng”Từ điển đời tôi không hề có chữ khóc” Nhân vật Ân là một người có duyên với

những người chị đồng nghiệp nghề báo không biết có phải do tính cách đằng sau conngười ấy không, mà chiếm được tình cảm quan tâm, nhưng Ân lại là một đứa trẻ cótuổi thơ buồn có cha nhưng không được thừa nhận và một người mẹ với những mốitình không có kết quả Ân đã bỏ lại sau lưng một công việc tốt, bỏ lại mối tình với Tú,một người tình đồng tính vừa mới cưới vợ, bỏ lại người mẹ với cuộc sống đầy nhữngngười tình Để vượt sông Di với mục đích chính đáng là do sếp đặt hàng để viết mộtcuốn sách hay về sông Di, kèm theo đó là tìm một người tên Ánh, một người cũng cóchuyến hành trình vượt sông Di, nhưng không thấy trở về Hành trình ấy đã giúp Ântiếp xúc được với nhiều vùng đất mới, gắn với những con người có số phận bi thương,nghèo khổ, cuộc hành trình đó đã có sự biến mất của Bối khi mới được nửa hành trình,còn lại Ân và Xu và một người bạn đồng hành mới (Phụng) vẫn tiếp tục xuôi sông Di

Trang 28

Nhưng chuyến hành trình đó đã kết thúc ở rốn Túi, khi chưa đến thượng nguồn sông

Di, Ân đã quyết định kết thúc chuyến hành trình này cùng với hai người bạn đồnghành

Trang 29

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2: 2:

NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T T T T TỔ Ổ Ổ CH CH CHỨ Ứ ỨC C C C C CỐ Ố ỐT T T TRUY TRUY TRUYỆ Ệ ỆN N N V V VÀ À À K K KẾ Ế ẾT T T C C CẤ Ấ ẤU U TRONG TRONG TI TI TIỂ Ể ỂU U U THUY THUY THUYẾ Ế ẾT T S SÔ Ô ÔNG NG C CỦ Ủ ỦA A A NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N NG NG NGỌ Ọ ỌC C C T T TƯ Ư

2.1.

2.1 Ngh Ngh Nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt x x xâ â ây y y d d dự ự ựng ng ng ccccố ố ốtttt truy truy truyệệệện n n trong trong trong ti ti tiểểểểu u u thuy thuy thuyếếếếtttt S Sô ô ông ng

2.1.1.

2.1.1 Chi Chi Chi ti ti tiếếếếtttt ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt

Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng được ghép nối bởi nhiều mảnh đời, số phận với nhau tạo nên

một dòng chảy chung về con người của vùng nắng gió đầy khó khăn, cực khổ xuyênsuốt tác phẩm Chính điều đó đã tạo nên một cốt truyện hấp dẫn bạn đọc không chỉ ởnội dung mà cả nghệ thuật Đặc biệt, Nguyễn Ngọc Tư đã sáng tạo nên những chi tiếtnghệ thuật bình thường, nhỏ nhặt nhưng toát lên cái hồn của cuộc sống, man mác cáitình của nhà văn Sau khi đọc xong tác phẩm người đọc vẫn bị ám ảnh bởi những chitiết nghệ thuật về cuộc đời đầy giông gió của từng nhân vật, về những điều mà họ đốimặt với cuộc sống khắc nghiệt Điều đó đã chứng minh Nguyễn Ngọc Tư tuy là nhàvăn trẻ về tuổi đời nhưng khả năng quan sát và suy ngẫm về cuộc sống một cách sâusắc

2.1.1.1.

2.1.1.1 Chi Chi Chi ti ti tiếếếếtttt v v vềềềề v v vấ ấ ấn n n đề đề đề mang mang mang ttttíííính nh nh th th thờ ờ ờiiii ssssự ự

Vấn đề thời sự là vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trong xã hội và có nhiều bànluận từ cộng đồng Nguyễn Ngọc Tư đưa vào tác phẩm của mình những câu chuyệnmang tính thời sự, như một lời cảnh tỉnh,”Hồi xưa sông Di chỉ lấy đi những thứ nhỏ thôi Bà ngoại tôi chuyện bị nó lấy kim chỉ và bao lưới trùm đầu tóc mượn Nên mất gì thì cũng tỉnh bơ ( ) Giờ thì nó dữ tợn, có khi kéo cả một căn nhà ” [13; tr.33].

Thường thì chúng ta bỏ ngoài tai những gì đang diễn ra trong thiên nhiên, để rồi sựgiận dữ của nó lên đến đỉnh điểm có thể cuốn trôi đi những thứ giá trị kể cả con người

thì chúng ta mới nhận ra những gì đánh mất, có lẽ đã quá muộn Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng có

những chi tiết nghệ thuật như đúng tên gọi của nó, với những chi tiết được tác giả viếtbằng sự lặp đi lặp lại nhưng không gây cho người đọc sự khô khan, đó chính là hìnhảnh biến mất trên dòng sông Di do nguyên nhân: ”Sông Di cũng đang bị những dãy nhà hai bên bờ chồm ra bóp nghẹt” [13; tr.28] Như những điều mà ta tưởng sống mãi

nhưng”sông, thấy mênh mông mà cũng dễ giết” [13; tr.28] Cái gì cũng có sự tồn sinh

Trang 30

của nó, nếu chúng ta không biết trân trọng thiên nhiên, như chính chúng ta đang hủyduyệt chúng ta Cách mà thiên nhiên đáp lại những việc làm của con người như consông Di ”nhưng nó dào dạt theo cách riêng của mình, bằng cách luồng sâu vào lòng đất Không ai hay sông Di trả đũa cho đến khi những ngôi nhà lần lượt đổ vào sông,

sau những trận mưa dầm” [13; tr.28] Đây là chi tiết khá đắt trong tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng,

Nguyễn Ngọc Tư đã đánh mạnh vào những vấn đề về tương lai hơn là hiện tại, những

gì mà con người làm thì như một quả bom nổ chậm Cho đến khi mọi việc diễn ra nhưcách sông Di trả đũa, để rồi sự biến mất không còn xa lạ, tất cả đều chìm vào quênlãng như chưa hề xảy ra chuyện gì Nhưng vẫn có sự hiện hữu một đời sống song songvới dòng chảy của sông Di, chính là ”cả rừng trôi”, ”miếu trôi”, ”nhà trôi” hay cả

những câu hỏi mang đầy sự bất lực,”Có cái gì không trôi? Đâu biết, vì ta đang trôi”

[13; tr.40] Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa nên bức tranh cuộc sống của một vùng sôngnước, trong đó con người phải đối mặt với những trò chơi đầy tính ngẫu hứng của sông

Di Nếu chi tiết này bị cắt bỏ thì sẽ không tạo nên tính chất cuốn hút bạn đọc bởi yếu

tố lang bạc của một cuộc hành trình tìm về sự sống của con người, về vấn đề mangtính xã hội, lẫn thiên nhiên

Trong văn học hiện đại thì vấn đề đồng tính, được đưa vào tác phẩm không cònquá mới mẻ, Nguyễn Ngọc Tư cũng chọn đề tài đồng tính, đưa vào tác phẩm của chínhmình dưới góc độ đồng cảm và đưa ra những khía cạnh khác nhau xung quanh giớitính thứ ba này, tự người đọc có những cách suy nghĩ riêng, cách hiểu vấn đề mangtính nhạy cảm này Một trong những chi tiết được Nguyễn Ngọc Tư bày tỏ thông quacái nhìn chân thật và cảm thông Đây chính là cái lạ của tác phẩm, với chi tiếtmở:”Lúc đến đám cưới của Chit và Pi, cậu từng bảo, rồi thì tụi mình sẽ được như họ, chỉ cần kiên nhẫn Chit, để có thể trao nhẫn cho Pi trước hàng trăm quan khách, cậu

ta đã đánh đổi cả máu Hai lần tự sát để gây áp lực với gia đình, Chit ghi trên blog mình, tự sát mà không chết là cả một nghệ thuật Cuối cùng, người ta đã nhận ra, chúng tôi yêu nhau Một tình yêu không khác thường” [13; tr.190-191] Nhà văn đã

thông qua hồi tưởng của chính nhân vật cậu để tự mở ra một vấn đề mới, với nhậnđịnh giữa những người đồng tính yêu nhau là một chuyện có thể chấp nhận ”một tình yêu không khác thường”, như mở ra một cánh cổng để tiếp nhận mối quan hệ giữa

những người đồng tính

Trang 31

Nguyễn Ngọc Tư không né tránh những vấn đề xã hội, mà trực tiếp phơi bày raánh sáng những mặt trái, nhà văn lựa chọn những chi tiết thật sắc để nói lên tiếng gọi

từ nhân tâm: ”Bảy sinh vật tái nhợt, rúm co Cả bọn chúng đều lạnh cóng, thân nhiệt thấp Nhân viên của trạm y tế phường suýt đánh rơi một thằng bé vì người nó nhờn nhợt rau củ thúi” [13; tr.90] Biết đâu những đứa trẻ bị cha mẹ chúng bán đi lại là

những đứa bé này, có thể khi đọc qua những chi tiết như có mối tương quan nào đó,tuy được Nguyễn Ngọc Tư viết không theo một trình tự nào nhưng người đọc có thểliên tưởng ra được, thông qua những mạch văn ngầm Những chi tiết nghệ thuật gópphần triển khai hết những sự kiện trong tác phẩm, giải thích rõ chủ đề của tác phẩm vàdẫn dắt người đọc đến từng số phận con người với những cái nhìn đa chiều Có thểnhận ra lời văn của Nguyễn Ngọc Tư có phần ”lạnh trơ” khi viết về những đứa trẻ bị

bán hay bỏ rơi, nhưng với những lời văn ấy mới có cái nhìn khách quan hơn về những

số phận những đứa bé ấy Với chi tiết này nếu bị cắt đi sẽ làm cho tác phẩm mất đi tínhthuyết phục đến với đọc giả về những số phận con người, thiếu đi cái nhìn toàn diện vềcuộc sống, đâu phải cuộc sống luôn diễn ra những cuộc đời màu hồng mà ở đâu đóngoài xã hội thực này vẫn còn biết bao số phận mang đầy bóng tối

Hay câu chuyện viết về cô bé Mí của dân tộc Đào”Kỳ kinh đầu tiên của Mí được mọi người trong làng chúc tụng, từ giờ cô có thể sinh con và bán, giống như mẹ cô sinh con bán đến mức bà không nhớ đã đẻ bao nhiêu đứa Mí là đứa cuối cùng được giữ lại,

để nó có thể bán con nuôi bà” [13, tr.182] Một chi tiết có nhiều điều để bàn luận về

nhân đạo Một cô bé có kỳ kinh đầu tiên được chú ý và chúc tụng chỉ vì có thể sinhcon để bán Tạo nên tiếng cười chua xót về số phận những cô bé mới lớn chưa biết gì

về cuộc sống xung quanh nhưng lại có thể sinh con mà bán, như một điều thiếu nhânđạo Và việc sinh con để bán cũng được xem như một nghề nuôi sống bản thân và giađình, mang tính nối nghiệp Tác giả như có thể biện minh cũng cho đó là một cái nghềnhưng nghề ấy đã đánh đi mất cái quyền thiêng liêng làm mẹ mà trời đã ban tặng chophụ nữ Tố cáo thực trạng xã hội, có lẽ con người ta không được lựa chọn mình sinh ra

ở gia đình nào nhưng có quyền quyết định cái nghề mà nuôi sống bản thân, nhưngcũng có người chỉ vì những đồng tiền mà đánh mất những điều thiêng liêng ấy Cái gìcũng có hậu quả của nó, để rồi những đứa trẻ bị bán ấy có thể nằm lăn lóc xin ăn ởngoài đường hay bị đày vào làm ở những công xưởng chui Nhà văn đã hình dung raviễn cảnh về những mảnh đời bất hạnh đó trong tương lai chỉ toàn là màu xám Có thể

Trang 32

thấy được mặt trái của xã hội rất thực dụng, số phận con người cũng chỉ quyết định bởivật chất, tiền bạc bằng những cuộc ngã giá như buôn bán những đồ vật Tác giả đã đặtcon người ngang với những vật chất, người đọc cũng có thể hiểu rõ những vấn đề mà

xã hội đang gặp phải, song song với sự phát triển vẫn có những tệ nạn đang và tiếp tụcdiễn ra Đặc biệt, Nguyễn Ngọc Tư còn viết nên một khía cạnh khác trong việc nhữngđứa trẻ bị bỏ rơi và chính những gia đình có lòng tốt nhận nuôi những đứa trẻ ấy,nhưng lòng tốt chỉ đổi bằng tiền bạc Với chi tiết: ”Một đôi vợ chồng bán rau quả ở Thới Lai mang thằng bé quấn khăn cháo lòng về Hai mươi ngày sau họ trả lại vì nó không khóc một tiếng nào, nhưng lí do chính là những món tiền mà người có lòng trắc

ẩn xúm vào cho cũng vãn” [13; tr.91] Quả thật, với chi tiết trên càng làm cho người

đọc nhận ra những điều mang tính nhân đạo của con người bị những đồng tiền làmlung lay đi Họ không nuôi nữa với lí do rất ấu trĩ”vì nó không khóc một tiếng nào”.

Rồi những đứa trẻ ấy vẫn phải trở về với nơi mà nó bắt đầu xuất phát Trong tiểu

thuyết S S Sô ô ông ng ng Nguyễn Ngọc Tư nhắc nhiều đến những đứa trẻ bị bán và bị gia đình bỏ

rơi, không tạo cho người đọc cảm gián buồn chán, mà nhấn mạnh thêm những gì hiệnthực đang diễn ra, để rồi phơi bày ra ánh sáng nhiều mặt trái của xã hội Giúp chongười đọc có cái nhìn bao quát hơn về cuộc sống này Những người gây nên việc xấu

đã làm chết đi những tâm hồn ngây thơ của những đứa trẻ, mang trong mình sự mặccảm, sinh ra những tính cách lạ như”Từ điển đời tôi không hề có chữ khóc”.

2.1.1.2.

2.1.1.2 Chi Chi Chi ti ti tiếếếếtttt m m mả ả ảnh nh nh gh gh ghéééép p p cu cu cuộ ộ ộcccc đờ đờ đờiiii v v và à à ssssố ố ố ph ph phậ ậ ận n n con con con ng ng ngườ ườ ườiiii

Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng tuy có cốt truyện đơn giản nhưng nhờ vào những chi tiết nghệ

thuật đắt giá đã tạo được những ấn tượng tốt, góp phần tạo nên không gian rộng để bộc

lộ những tính cách, hành động, tư tưởng của nhân vật thể hiện một cách rõ nét Cónhững chi tiết hay đã chiếm được sự cảm thông, những tình cảm trong lòng bạn đọcbằng chi tiết những câu chuyện kể, thấm đậm tình người Nhà văn rất khéo léo trongviệc sử dụng các chi tiết, tạo cho độc giả như cuốn hút vào tác phẩm tự bao giờ, nhưchứng kiến mọi hoạt động của nhân vật mà không bị phát hiện rằng ta đang đọc tácphẩm hay đang bước từng bước vào thế giới thật Bằng cách lồng ghép các chi tiết vớinhau, có khi cắt rời các chi tiết, nhưng rồi xâu chuỗi, liên kết các chi tiết lại để giảithích cho một vấn đề Mở ra vấn đề hay nói đúng hơn chi tiết này lí giả cho chi tiết đặt

ra vấn đề như”Mười bảy tuổi Một ngày của năm đó mẹ đuổi cậu xuống tấm niệm trải

Trang 33

dưới đất ngủ riêng Lý do ngớ ngẫn là cậu lớn rồi, đừng có quấn mẹ hoài vậy, tách ra

mà yêu đương, bồ bịch” [13; tr.113] Đây như một lời khẳng định của người mẹ, và

như tự đặt ra một cuộc đời mới cho chính con trai Có lúc lại là sự kỳ vọng rất cao:

”Thằng đó là khách Mấy chuyện đó phải có đàn ông ở trong nhà.

Mẹ thường nấn ná đợi cậu phải về sửa cái máng xối, thay rèm, ngăn lại gian bếp Vì Ân là đàn ông trong nhà, mẹ cậu hay nhắc đi nhắc lại Đôi khi mấy chữ đó như gọng kìm siết lấy họng cậu” [13; tr.144] Hay chi tiết nhân vật ”Xu hơi nhăn mặt trong khi mắt vẫn nhắm” khi trên xe xuất hiện nhóm người chuyển giới Tất cả các chi

tiết trên không phải được nhà văn liệt kê hàng loạt, liên tiếp những vấn đề không liênquan, mà thông qua sự hồi tưởng của nhân vật Ân một cách đứt quãng nhưng như vậymới cuốn người đọc vào những vấn đề mang tính nghi vấn vì sao nhân vật Ân khôngdám sống đúng với bản chất con người thật của mình”Cái gì đã giúp mình không phơi bày bản thân, bộc lộ thiên tính như nhóm người kia, cậu tự hỏi Kỳ vọng của mẹ, thoáng nhăn mặt của người đời hay những cuốn sách mà cậu đã gặp trong thư viện từ hồi nhỏ? Cậu không biết, chỉ là những cơn khát thèm váy áo chưa bao giờ đủ mạnh để làm lý trí cậu tê dại Bản chất con người cậu nằm sâu ở bên trong, không cần níu vào giày cao gót đỏ, son đỏ, váy đỏ” [13; tr.83] Với chi tiết này đã lý giải tại sao nhân vật

Ân luôn có sự đấu trang trong nội tâm của mình, với những ý nghĩ về kì vọng củangười mẹ, sợ ánh mắt người đời, các ý nghĩ không có sự tác động mà nó như ám ảnhvào tâm trí của nhân vật Ân Muốn đi tìm về cái gọi là”bản ngã” của con người thì đó

là một hành trình phải vượt qua rất nhiều thử thách Chính Nguyễn Ngọc Tư đã lồngghép các chi tiết lại với nhau để tạo nên những bước ngoặt mà nhân vật Ân phải tựmình nhận ra, và tự mình đưa ra quyết định kết thúc hành trình vượt sông Di ở rốn Túi.Đưa người đọc đến với những cách tiếp nhận vấn đề khác nhau, và suy nghĩ về nhữngngười đồng tính Các chi tiết không theo một trình tự kể mà thông qua những hồitưởng của nhân vật, được lồng ghép vào nhau, tạo nên những nếp gấp của cuộc đờicon người, không phải chỉ là con đường thẳng để đến với tương lai mà có những khúccua khó vượt qua, muốn sống đúng với chính con người thật cần có sự nổ lực của bảnthân Với kiểu chi tiết cắt rời sự kiện, nhà văn muốn thể hiện những cung bậc trạngthái, tâm lí của con người đầy bế tắc Chính sự sáng tạo của nhà văn từ những cái vụnvặt, rối rắm ấy tạo nên những chi tiết đắt giá, và gây sức ám ảnh mạnh Khi tiếp nhận

Trang 34

tác phẩm người đọc không có cảm giác gượng ép hay khuôn sáo, bởi các chi tiết đượcngắt quãng như chính tâm trạng con người.

Tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng kể về hành trình ngược sông Di của ba nhân vật Ân, Xu và Bối Nguyễn Ngọc Tư viết tiểu thuyết S S Sô ô ông ng ng như một thử nghiệm mới, dùng những trải

nghiệm của cuộc đời để viết nên, vì điều đó mà những chi tiết trong tác phẩm để lạinhiều dấu ấn của tác giả, thông qua cách nhà văn bộc bạch về những trạng thái tâm lícủa chính nhân vật trong tác phẩm Nhà văn có cái nhìn đầy cảm thông đối với những

số phận con người trong tác phẩm Những mảnh đời ấy thấp thoáng đâu đó ngoài cuộcđời thực này Một điều nữa là những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm được nhà vănviết bằng cả tấm lòng, một người có thể nói về những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống

mà ta thường bỏ qua, nhưng người đọc cần để tâm lắm mới phát hiện Chính vì thế mà

mở đầu tác phẩm nhà văn viết”cho những ngày chủ nhật vắng người”, cần lắm những

phút suy ngẫm về cuộc sống, cách niếm những hương vị khác nhau, mặn có, đắng có,chua có và có cả ngọt ngào hòa lẫn vào nhau Có những chi tiết như những mảnh ghép

số phận con người của những vùng quê nghèo khó Với chi tiết ”Thằng nhỏ la cà đâu

đó Ông già không thèm réo gọi lầm lì quay mũi ghe về Đi một đoạn thấy trên bờ thằng nhỏ vọt theo Nó không chờ ông già ghé vào bờ đón mình, mà chẳng có vẻ gì ông sẽ làm như vậy Nó chạy vọt qua rồi lội càng xuống đu mũi ghe leo lên Ướt ròng, thằng nhỏ ôm bàn chân đang chảy máu, lấm lét ngó ông già Nếu không liều nó sẽ lội

ba cây số, luồn qua bao vạt bần, qua một con rạch mới có thể về đến nhà” [13, tr.18].

Với một đứa trẻ bình thường thì rất vô tư hồn nhiên, thích ”la cà” chẳng để ý gì hết,

đối với đứa trẻ này thì cũng vậy nhưng có sự khác biệt là đã biết đọc lấy cho mình vềsắc mặt ông nó, phải nhìn ông mình như một đứa trẻ mắc tội với ánh mắt ”lấm lét”,

trong khi chân của mình đang bị chảy máu Không kêu khóc hay tỏ ra đau đớn gì hết.Bản tính trẻ con thường vô tư, luôn luôn nói ra những gì mà chúng thấy khó chịu.Nhưng ở đây, đứa trẻ lại không than vãn với ông mình và chỉ biết im lặng như chưa hề

có chuyện gì xảy ra Nguyễn Ngọc Tư chỉ miêu tả về những hành động vượt sức củamột đứa trẻ bình thường Với chi tiết ấy lại đánh trúng những trái tim, những ánh mắtxót thương của độc giả đối với những trẻ em như thế Trẻ em phải được vỗ về, cầnđược sống trong lời ru ngọt ngào của mẹ, nhưng cha mẹ em đâu? Đặt ra một vấn đề vềtình trạng những đứa trẻ sinh ra lại không có cha mẹ dạy dỗ thì sau này sẽ ra sao? Tất

cả như một câu hỏi không lời giải đáp Nguyễn Ngọc Tư như đánh vào những cái mà

Trang 35

xã hội ít quan tâm, đó là những đứa trẻ mồ côi Chi tiết trên đưa người đọc đến vấn đềtại sao ông của đứa trẻ lại làm như thế? Với chi tiết sau lại giúp trả lời câu hỏi

ấy ”Hình như cô có kể cho cậu nghe về đứa học trò hay đến trường với vài ba lằn roi trên đít Những trận đòn đổ xuống vì ông nội nó chứng minh không thương nó như con

đẻ, như xóm giềng vẫn xoi xỉa” [13; tr.21] Từ chi tiết này mới lí giải vì sao ông nội

của đứa trẻ lại làm như thế, không phải những trận đòn là vô cớ Nhà văn NguyễnNgọc Tư, không giải thích trực tiếp về những hành động của một người ông đối xử vớicháu mình như thế, mà gián tiếp thông qua sự hồi tưởng của nhân vật Ân, bằng hồitưởng không chắc chắn ”hình như”, tạo nên một chi tiết tưởng bình thường nhưng lại

đắt giá Như cơn gió thổi vào làm dịu đi nguyên nhân người ông đối xử ghẻ lạnh vớicháu mình, và không phải mọi việc cứ nhìn bề ngoài của nó Nhà văn đã tạo cho tácphẩm của mình với cách nhìn cuộc đời phải bằng tấm lòng nhân đạo Hiện thực xã hộicòn rất nhiều cảnh đời, đặc biệt là số phận những đứa trẻ mồ côi cha mẹ Người đọc cóthể cho đây là chi tiết đơn giản viết về những số phận đứa trẻ là một chuyện không cònmấy ngạc nhiên, nhưng Nguyễn Ngọc Tư lại xoáy sâu vào đó là chính những tâm hồnđứa trẻ ấy sẽ có những vết thương không bao giờ xóa nhòa đi dù cho năm tháng trôi đi.Giúp cho người đọc có những suy ngẫm về vấn đề, tổn thương về tinh thần bao giờcũng khó lành hơn tổn thương về thể xác Con người chúng ta cần lắng nghe mọi việccho thật rõ ràng rồi mới nói, dư luận cũng giống như những cơn bão có thể đánh đổ đibao mái ấm gia đình, đừng chỉ nghĩ cho bản thân, có những ”đời sống chảy song song” với mình Đây là là chi tiết nghệ thuật giàu tính nhân đạo.

2.1.1.3.

2.1.1.3 Chi Chi Chi ti ti tiếếếếtttt bi bi biểểểểu u u tr tr trư ư ưng ng

Một chi tiết khác trong tác phẩm có thể được xem như mang tính hiện thực của

xã hội, với ý nghĩa tượng trưng về những gia đình sống theo lối sống danh lợi mà đangngày càng xuất hiện nhiều trong xã hội Việt Nam hiện nay như:”Giọng Bối nhốm đầy than thở, tuồng như cuộc sống êm đềm, đầy đủ cũng là một thứ bất hạnh không thể cứu vãn Không sóng gió, Bối lớn lên, muốn gì cũng có đòi gì cũng được Cha mẹ Bối cùng đứa em gái suốt ngày chỉ biết hùng hục học để kiếm danh vị Một ngôi nhà có hai giáo sư và một tiến sĩ hoàn toàn không cãi cọ, chỉ ít nhìn mặt nhau như nhìn mặt sách Bối cho đó là một cuộc sống giả tạo, một vở kịch tẻ nhạt hết sức nói” [13; tr.80] Khi

xã hội phát triển thì song song đó nhiều gia đình đã lao vào con đường kiếm tiền tài,

Trang 36

không một ai có thể khẳng định mình không có tham vọng nhưng tham vọng như thếnào mới là tốt cho bản thân và gia đình Để rồi buông bỏ sau lưng cái gọi là hạnh phúcgia đình, tuy có vẻ bề ngoài mà bên trong lại không có tiếng cười, không có những lờiyêu thương, tới ánh nhìn cũng là một thứ xa xỉ Tiêu biểu đó là nhân vật Bối luôn khátkhao tình yêu thương của cha mẹ, chỉ có thể tạo được sự chú ý của cha mẹ bằng mọicách phá phách hay những cuộc bỏ trốn Nguyễn Ngọc Tư đưa vào tác phẩm chi tiếtbiểu trưng cho những gia đình có thể là ngoài hiện thực của chúng ta, như một hồichuông cảnh tỉnh về những gia đình sống như thế, giúp cho người đọc có thể hiểu rõmột gia đình hạnh phúc đầy đủ vật chất chỉ là thứ yếu mà cần lắm sự quan tâm củanhững người thân trong gia đình mới là quan trọng.

Trong tác phẩm còn có chi tiết kể về thế giới tâm linh, như: ”Đời nào em bán kẹo của giặc Anh mua kẹo gừng đi ngon hơn nhiều Em bé gằn giọng chữ giặc, mắt vằn những tia máu Con nít con nôi hỉ mũi chưa sạch mà bày đặt cho nuôi oán thù chi.

Mớ kẹo bỏ vô túi áo khi ngang qua khỏi ngã ba thì thành những viên sỏi nhỏ, cả viên nằm trong miệng cậu nảy nồng mùi gừng cũng là hòn sỏi đâm nhói đầu lưỡi Cậu sửng sốt nhả viên đá ra lòng tay cho Xu coi Một người đi ngang qua nghe chuyện bảo à con bé đó ngày nào cũng về bán kẹo” [13; tr.116] Hay chi tiết nói về chợ Chằm ở đó

có những người âm hiện về trò chuyện như người bình thường:

”Trời lạnh ghê há chị_Cậu giả vờ lờ đi

Về dưới một mình buồn lắm Cho chị một đứa con, nhé! Chị sẽ dạy nó dạ dạ suốt ngày, nghe chắc mê ly” [13; tr.119] Còn có người ông trách mắng cháu vì không

viếng thăm họ Nguyễn Ngọc Tư đưa những chi tiết về thế giới tâm linh như muốnkhẳng định lại những giá trị tinh thần mà chúng ta đã vô tình bỏ qua Họ đại diện chonhững điều mà cuộc sống con người hiện nay hay mắc phải, thờ ơ trước những điều vềbản sắc dân tộc, về văn hóa tinh thần, đã được cha ông chúng ta gìn giữ ngàn năm lại

có thể bị mai mòn theo cuộc sống hội nhập Cuộc sống cần phải thay đổi nhưng vẫnphải giữ gìn được những gì mà dân tộc chúng ta có, thế giới tâm linh có thể là hư cấunhưng vẫn mang trong nó sự ràng buộc về bản sắc dân tộc Việt Nam

Sự tồn tại tĩnh lặng của con người, của cuộc sống bằng sự hiện hữu của nhữngvết thương kín đáo trong tâm của mỗi nhân vật trong tác phẩm, hay trái ngược với điều

đó là sự ra đi, họ chứng minh mình đang di chuyển để biết mình đang tồn tại bằngcách dấn thân vào cuộc hành trình tìm kiếm Ra đi để mà tìm lại những thứ ta cần Với

Trang 37

chi tiết ra đi như thế được Nguyễn Ngọc Tư miêu tả một cách khéo léo, làm nổi bật lênnhững tính cách điển hình, những tư tưởng của tác phẩm gắn liền với sự tồn tại haykhông tồn tại Nó như cơn lốc tìm kiếm trong cuộc ra đi của những con người mangnhiều khuyết điểm nhưng họ ra đi để biết mình tồn tại vì lí do gì Nguyễn Ngọc Tư đãchuyển tải những vấn đề về những con người tìm kiếm khát vọng sống, khát vọngđược yêu thương, quan tâm, mà đại diện là lớp trẻ hiện nay không biết mình cần gì và

tìm kiếm cái gì cho cuộc đời này Quay lại tác phẩm S S Sô ô ông ng ng, xuyên suốt tác phẩm được

tạo nên bởi chi tiết nhân vật ra đi, tạo nên vấn đề, những ý nghĩa từ cuộc sống của conngười đầy bế tắc

Đến với chi tiết viết về nhân vật Bối đại diện cho con người không thích tĩnhlặng, ra đi để được tìm kiếm để biết mình còn đang tồn tại trong thế giới xung quanhmọi người Một người đã bỏ đi với gần nửa hành trình, vì không thích cuộc sống đứngyên”ao ước một vòi rồng mang anh ta đi Một hành trình đầy ngẫu hứng Hình dung xem cứ cuốn vào trong cơn lốc, cùng với cái cây bị nhổ rể, một cái ghế sofa, một máy hát đĩa vẫn còn quay ” [13; tr.44] Một người chỉ thích mọi thứ chuyển động, để cảm

nhận mình đang vận động đến với nhiều nơi Với sở thích đi săn những cơn giông,những tia sét, vì lí do rất đơn giản anh ta sinh ra trong một gia đình bình lặng đến mứckhông tồn tại Rồi ra đi như ”một cơn lốc xoáy” hay tan biến bằng ”tia sét nóng ba chục ngàn độ” Ra đi để nhận được sự chú ý của mọi người, một kiểu ra đi khác lạ

nhưng trong cuộc sống thực vẫn có những sự việc đó diễn ra Tất cả như hiện hữutrong con người ấy, đi để có thể mong chờ”sao ông không tìm tôi dù là bước ra ngoài ngó dáo dác một chút thôi? Bị mất tiền mà” [13; tr.71] Bối làm như thế mong có

người nhớ tới mình, như muốn để lại trong lòng hai người còn lại cảm giác thiếu vắng.Cách tạo nên hình tượng nhân vật Bối, được Nguyễn Ngọc Tư xoay quanh sự chuyểnđộng, thích những nơi đầy kịch tính, hoặc là nơi tử thần, và một cuộc bỏ đi như khônglời giải đáp mà tạo nên cảm giác hụt hẫng, biến mất một cách nhanh chóng Nhưng đặt

ra vấn đề sống và hiện hữu thật khó, nếu như cuộc sống quá tẻ nhạt, cũng như cuộcsống của nhân vật Bối, cũng phải lựa chọn bỏ đi để chống lại cảm giác tĩnh lặng

Nhân vật Xu cũng chọn lựa cách ra đi, đi với mục đích giải thích những ám ảnhtrong tâm trí là tìm nơi mình sinh ra Hình tượng tiêu biểu cho con người không biếtmình xuất phát từ đâu, luôn cảm thấy lạc lỏng giữa xã hội Với ý nghĩ luôn chợt xuấthiện trong những chặng đường ”rằng đôi khi những xóm làng ven sông, những đám

Trang 38

cây đã che khuất đi, làm tôi tưởng mình đang lạc mất nó” [13; tr.78] Cảm giác trống

vắng đến tê dại, đi mà không biết ta sinh ra từ đâu, như lạc vào bóng tối, mọi sự vậtđối với mình đều bị che đậy khéo léo Một người luôn tự đặt câu hỏi ”biết đâu tôi được sinh ra ở đó” [13; tr.91] Những con người ấy có những cách tự bảo vệ bản thân

không bị tổn thương bằng cách đưa ra những quy tắc cho bản thân như ”Từ điển đời tôi không hề có chữ khóc” [13; tr.91] Xu cũng chọn cách ra đi ở rốn Túi cùng với Ân

và Phụng, xuất phát cũng là bỏ đi để biết về nguồn gốc và kết thúc cũng bỏ đi để tự trảlời những câu hỏi luôn lặp lại trong đầu Kiểu chi tiết giải thích cho những mối liênquan sự việc về cuộc đời con người có mở đầu cũng cần biết vạch xuất phát là ở đâu

Nguyễn Ngọc Tư viết về nhân vật Ân đại diện cho những con người thuộc giớitính thứ ba, luôn mang nỗi mặc cảm, tự ti, phải sống không đúng với con người thậtcủa mình Nhân vật Ân cũng ra đi để quên mối tình với người bạn cùng giới với mình

là Tú Hay ra đi để tạo sự khác thường để gây sự chú ý đến mẹ mình, và mang theoniềm hy vọng của ông Giám đốc là tìm người tình tên Ánh cũng trên hành trình ngượcsông Di Đi để quên những vết thương cứ đau âm ỉ, và có thể thêm sức mạnh để vượtqua rào cản tâm lý của bản thân Ân cảm thấy mình lạc lỏng giữa xã hội này, và cảmthấy sự khác biệt với người khác, một người không dám sống đúng với bản chất thậtcủa con người mình ”Cậu nhận ra ruồng rẫy giọng điệu nữ tính là chối bỏ một thứ thuộc về bản chất của mình” [13; tr.180] Hay không có lời khẳng định chắc chắn về

giới tính thật: ”tôi không phải loại cô cần Cậu nói và khi ra khỏi phòng thấy hơi tiếc

vì đã không nói trắng phớ cho rồi” [13; tr.206] Chính những điều mà nhân vật Ân

nghĩ ra cái kết thúc bằng quyết định bỏ đi cuộc hành trình ngược sông Di để có thể tìm

sự hiện hữu của con người thật trong bản thân bằng cách ra khơi ở rốn Túi Đi để đượcsống đúng với chính mình, để sông Di có thể mang cậu đi với sức mạnh của thủy thầnbằng cách chôn vùi thân thể này cuộc sống này, để có thể sống đúng với chính mình

dù chỉ là một phút Với ba nhân vật ra đi ở rốn Túi không biết có quay trở lại để tiếptục cuộc hành trình này không thì đây là một điều còn bỏ ngõ Có thể đây chỉ là dòngsông tâm trí của nhân vật Ân, dòng sông mang nhiều đau buồn, và tự mình quyết địnhtrong chính dòng sông đó, một dòng sông lạc lỏng, mâu thuẫn và giằng xé nội tâm, cóthể nhân vật tự mình chọn cách bỏ đi để được sống với cái gọi là ”bản ngã” Chỉ với

chi tiết nhỏ mà ta có thể phát hiện ra nguyên nhân vì sao mà nhân vật Ân lại làm quyếtđịnh kết thúc hành trình ở rốn Túi:”Mình cũng biết bơi, thì sao, ở đây là Túi Sách cổ

Trang 39

viết rằng khoảng ba trăm năm trước ở đây vẫn duy trì một tục lệ: những người bị tình nghi là trộm cướp, những kẻ bị ngờ là gian dâm, tư thông với giặc đã bị đưa ra thả giữa rốn Túi, họ phải tự bơi vào Những kẻ còn sống sót mặc nhiên vô tội Nam Việt chí đã nói đã không có kẻ nào trong bọn nữ nhi vô tội, đơn giản là họ không đủ sức để bơi” [13; tr.223] Đây là một chi tiết về những lời tự độc thoại nội tâm của chính nhân

vật Ân, nếu chúng ta vô tình bỏ qua thì khó có thể nhận ra vì sao mà nhân vật Ân lại

có quyết định kết thúc cuộc hành trình ở rốn Túi cùng hai người bạn đồng hành Mộtquyết định để cho rốn Túi tự định đoạt về sống hay chết cho cả ba, nghe như không cóthật nhưng điều đó vẫn diễn ra, hay đây là một trò chơi số phận Với ý nghĩ”những kẻ còn sống sót mặc nhiên vô tội” và nhân vật Ân cũng vậy, nếu con người không thể tự

mình định đoạt về những thứ mình muốn thì đây là một cơ hội cuối cho những nhânvật đó có thể tìm ra con đường giải thoát những mặc cảm, những nỗi buồn cô đơn, tìm

về đúng với con người thật của chính mình Không khó khi đưa ra quyết định nhưngrất cần lắm nghị lực để vượt qua bản thân, chính họ phải tự mình đi tìm lại con ngườithật của chính mình, nếu một người có ý chí tiến lên thì sẽ tự mình đứng lên và quaytrở về hoặc ngược lại để sông Di mang họ đi Vì thế đã trả lời tại sao khi kết thúc tácphẩm Nguyễn Ngọc Tư lại cho chính nhân vật mình tìm về đúng bản chất con người,một người mang giới tính thứ ba Hay nhân vật Xu, một người không biết mình sinh ra

ở đâu và một nhân vật Phụng không biết mục tiêu sau này là gì Và một điểm nổi bật

đó là nhân vật lại đưa ra cách nghĩ đó cho rằng ”Sách cổ viết” như chứng minh một

điều, quyết định đó có đúng hay không, đã mở ra một trạng thái tâm lí đầy mâu thuẫncủa nhân vật Ân, có những lúc Ân muốn nói cho Xu và Phụng biết ý định của chuyến

ra khơi nhưng sự ích kỉ của bản thân đã chiến thắng Mở ra vấn đề mà một con ngườiđứng trước cái chết họ đều ích kỉ và đầy dằn vặt bản thân Nguyễn Ngọc Tư đã đặt tâm

lý con người thật với những trạng thái mâu thuẫn đứng trước ranh giới của sự sống vàcái chết để hiểu một cách sâu sắc hơn về bản chất của con người Sinh mạng của conngười đều rất quý giá nhưng vì ai mà họ lại quyết định cuộc sống chỉ với một trò chơi,

có thể là do họ không chiến thắng bản thân cũng có thể do xã hội quá định kiến vềnhững người thuộc giới tính thứ ba

Chi tiết viết về nhân vật Ánh, nhân vật xuất hiện chỉ trong hồi tưởng của nhânvật Ân, nhưng cũng là nhân vật không thích cuộc sống quá tĩnh lặng, ”Ánh thích trà trộn vào thiên hạ sống nhiều đời sống khác nhau” [13; tr.64] Một kiểu hình tượng

Trang 40

thích dấn thân Muốn cảm nhận rõ ràng hư vị của cuộc sống, muốn được hòa nhập vàochúng, cảm giác được mình đang tồn tại trong xã hội xô bồ này,”Ánh chỉ một tòa cao

ốc, nói chỗ đó bỗng dưng phát cháy thì hay quá, ha Mình sẽ có chuyện để lao tới” [13;

tr.65] Thích được dấn thân như một con thiêu thân dù sự việc có thể rất nguy hiểm

Và Ánh cũng ra đi, một người biến mất hay đã chết như một ẩn số Để lại trong lòngngười ở lại là những hình ảnh nhập nhòa”Cậu nhìn nước, tự dưng nhớ tới ba chữ: rồi sao nữa? Bồn chồn của Ánh có thể chị đã từng đến đây và ở đâu đó trên những làng nổi lụp xụp ngoài đó Có thể chị là người đàn bà quăng chài làm rung rinh mặt nước kia” [13; tr.215].

Một người luôn sống trong ám ảnh về những điều trong quá khứ như nhân vậtSan, một kiểu hình tượng về những cô gái sống sa đọa, chìm vào những hành động đingược lại ý nghĩ của những người xung quanh, để lãng quên hay đó là cái cớ để chobản thân bớt trống trải và cần một chia sẻ, đồng cảm, ”Càng bị chỉ trích càng cảm thấy khoái cảm! Họ đang quan tâm mình Kiểu nào thì không quan trọng” [13; tr.219].

Và một người đã ra đi về một nơi không có tiếng gọi”ơi” ám ảnh trong cuộc sống, nó

có thể là: ”San chua chát nói biết đâu chính là những đứa con của chị gọi mẹ ơi?”

[13; tr.73], cũng có thể là từ những giấc mơ”Có lần chị mơ thấy mình đi giữa bầy cừu, chúng kêu mẹ ơi day diết trong cát Chị mơ thấy chủ tịch diễn thuyết ở hội ngày phòng chống cháy mà cứ gọi mẹ ơi Cuộc biểu tình đòi đất đông người ràm rạt gọi mẹ ơi ( ) Tấm ảnh ông nội chị trên bàn thờ mấp máy mẹ ơi” [13; tr.74] San đã chọn cho mình

cuộc ra đi vào giấc ngủ vĩnh hằng,” chị đã biết mình thích gì rồi Thích ngủ một giấc ngủ đã đời” [13; tr.74] Nguyên nhân cho nhân vật San tìm đến cuộc bỏ đi là ”không ngủ thì chị biết trốn vào gì để quên một lúc” [13; tr.220].

Việc chọn các chi tiết nghệ thuật được Nguyễn Ngọc Tư chắc lọc rất kỹ, tuynhững chi tiết rất bình thường nhưng cách mà nhà văn mở ra nhiều khía cạnh khácnhau của vấn đề về mặt ý nghĩa cuộc sống, những hiện thực về bức tranh xã hội cónhững mặt trái của nó Bằng chi tiết về vấn đề mang tính thời sự, hay bằng sự cắt rờicác chi tiết thành vụn vặt nhất, rồi thông qua những dòng kí ức của nhân vật kể ghépnối, liên kết lại với nhau, có khi là chi tiết biểu trưng Việc sắp xếp các chi tiết trongtiểu thuyết có sự đan xen một cách tự nhiên, giúp người đọc có cách tiếp nhận không

gò bó

Ngày đăng: 05/10/2015, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w