Chương 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI - THỜI GIAN NGH Ệ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI
2.1.3. Quan ni ệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi của Nguyên Ngọc
2.1.3.1. Con người mang lý tưởng cộng đồng
Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, cả dân tộc ta triệu người như một, tất cả đều tập trung tinh thần và sức lực của mình phục vụ cuộc kháng chiến. Mỗi người một nhiệm vụ khác nhau, người thì chiến đấu, người thì sản xuất, người thì làm công tác nghiên cứu, người thì học hành...Tất cả đều hướng tới một mục tiêu duy nhất là đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung đấu tranh giải phóng dân tộc đem lại hòa bình độc lập, thống nhất đất nước. Đó cũng chính là lý tưởng cao đẹp của tất cả mọi người trong thời kỳ 1945 - 1975.
Viết về những con người lý tưởng, các nhà văn, nhà thơ thời kỳ này ít chú ý đến cái riêng biệt ở họ mà thiên về khám phá những vẻ đẹp chung. Đó là chị Trần Thị Lý
anh hùng trong cái nhìn của Tố Hữu không chỉ riêng chị, mà là hiện thân của tinh thần khí phách của người con gái Việt Nam - Người con gái anh hùng. Hình ảnh một chiến sĩ giải phóng quân hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong thơ Lê Anh Xuân không phải là con người riêng lẻ cá biệt mà trở thành biểu tượng của một dân tộc
"Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ"..
Với Nguyên Ngọc, đi sâu khám phá và phản ánh con người mang lý tưởng cộng đồng trong hai cuộc kháng chiến như đã trở thành một lẽ sống, một "nhu cầu tự thân"
một "sự thôi thúc bên trong, thôi thúc của máu" [56;.333]. Ông muốn ghi lại tất cả những cống hiến của họ và nhà văn cũng muốn cả cuộc đời này, cả thế giới này đều hiểu về họ. Những con người đã sinh ra và trưởng thành trong gian khổ "Đau thương ghê gớm không gì sánh nổi của mảnh đất này"[ 68] nhưng đó cũng là những con người mà "Dám đứng lên đánh bại kẻ thù, dám tiêu diệt nó”[ 68 ]. Ở những con người này, đời sống riêng của cá nhân được cảm nhận như đời sống chung của dân tộc. Họ sống quên mình vì sự nghiệp chung.
Núp trong tác phẩm Đất nước đứng lên là một biểu tượng đẹp đẽ về hình ảnh Tây Nguyên trong những năm kháng chiến chống Pháp. Đó là ý chí quyết chiến, quyết thắng, lấy tinh thần con người đánh bại sức mạnh vũ khí của giặc. Cũng như mọi người dân ở Tây Nguyên trong những ngày đầu khi bị thực dân Pháp đến xâm lược, họ rất sợ Pháp vì họ cho rằng Pháp là "Giàng", là "Trời" “bắn nó, nó không chảy máu". Do đó, tất cả các dân làng Tây Nguyên đều phải qui phục và đi xâu cho Pháp. Riêng chỉ có Tnú không chịu, anh "đi An Khê coi Pháp" và dùng ná bắn một tên Pháp để xem "nó có chảy máu không?"[73;28]. Té ra nó cũng chảy máu. Thế là một ý nghĩ nảy ra trong đầu anh: "bắn nó, nó chảy máu"[13;26], vậy thì có thể đánh nó và ý chí đánh Pháp nung nấu trong lòng Núp bắt đầu từ đó. "Trước khi chưa biết, bây giờ biết rồi ...
làng Kông Hoa phải đánh Pháp, đánh được…”.[73-AA]. Mặc dù anh chưa có lý luận sâu sắc, nhưng anh đã hiểu được những điều cơ bản để đánh thắng quân cướp nước.
Cho nên anh đã cùng với dân làng quyết tâm chống Pháp. Anh lập làng chiến đấu mới theo kiểu du kích; tổ chức thanh niên làm chông ngắn, chông dài, chông cao, chông mưa, làm bẩy, làm rẫy lấy lúa nuôi quân...quyết tâm đánh Pháp đến cùng.
Thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn : cấm muối, tịch thu tất cả dụng cụ bằng sắt thép : dao, rìu, rựa, kim may. .để hòng khuất phục, làm nhụt ý chí chiến đấu của làng Kông Hoa "Lần này khổ lắm rồi nhé! Khổ hung rồi nhé! Lần này phải lấy cái tay chặt cái cây to làm rẫy rồi! Phải lấy cái ngón tay mà đào củ mài sâu dưới đất rồi. Bụng tức thằng Pháp vô cùng. Bụng nó như lửa, nó ác lắm. Lần này nó tới đốt làng nó không lấy gì cả, nó chỉ lục hết các nhà lấy tất cả rìu, rựa, giáo mác. Riêng nhà anh Núp cũng mất 19 cái rìu rựa. Nó biết người Ba Na quí cái sắt lắm, cái sắt này chỉ xuống Kinh mới mua được. Nó biết không có cái sắt, không sống được đâu. Lấy gì mà làm rẫy, lấy gì mà chặt con nai, con mang? Nó muốn cho người Ba Na chết hết..."[73;63]. Nhưng dưới sự chỉ huy của Núp, họ đã từng bước khắc phục được mọi khó khăn. Không có muối họ đốt tranh ăn thay muối, ăn quả Lô pang thay muối, họ dùng đá nhọn chặt cây làm rẫy, lấy tay đào củ mài để ăn. Không có kim may Núp mài thanh sắt thành kim giúp bà con khâu áo...Cứ thế cả dân làng dưới sự chỉ huy của Núp vừa đánh giặc vừa chinh phục thiên nhiên bảo vệ cuộc sống của mình. Với tinh thần quyết tâm đánh Pháp đến cùng Núp đã phá bỏ tục lệ mê tín để cải tạo thiên nhiên. Anh quyết định làm rẫy sớm vào tháng giêng, sớm hơn so với tục lệ canh tác lâu đời của bà con Tây Nguyên hai tháng, bởi anh nghĩ rằng: "Đói nữa thì làm sao đánh được Pháp" [73;68]. Quyết định táo bạo và liều lĩnh của Núp đã giúp anh chiến thắng thiên nhiên và được bà con làm theo. Không những thế Núp cùng với mọi người tìm cách chống hạn hán, anh là người đầu tiên từ trên núi cao lội xuống suối sâu múc từng ống nước tưới cho lúa bắp...Hành động của Núp đã chứng tỏ con đường cách mạng, sự hy sinh bản thân mình vì mọi người, vì cộng đồng là hạnh phúc lớn nhất mà Núp đã chọn cho mình.
Ở Núp còn là một con người có lòng yêu quê hương, thương dân tha thiết. Với anh, cũng như người Ba Na và nhiều dân tộc Tây Nguyên từ bao đời nay gắn bó với bản làng, họ yêu từ cái làng cũ, cái nhà xưa, từng dòng suối, bãi cỏ, con chim:
“ ”Ta luyến ta thương Đất nước ông bà Cái nơi làm rẫy Cái bến nước ăn
Cái làng cũ, cái nhà xưa Nơi bãi cỏ xanh xanh Có con trâu, con bò gặm cỏ Ta luyến ta thương
Dòng suối nước trong
Và rừng ta đi về lấy cây, suối cá Rừng ta đẹp, chim bay về làm tổ
Nước ta trong, bờ suối nở hoa rừng" [1;22 ].
Cái chung hòa với cái riêng tạo nên vẻ đẹp hài hòa trong một con người mà nhà văn Nguyên Ngọc muốn đề cao ca ngợi. Anh Núp trong mối quan hệ với gia đình là người con hiếu thảo, người chồng mẫu mực và người cha hết sức thương con. Khi nghe tin vợ sinh con đầu lòng anh mừng quá, bỏ quên cái rựa trên hòn đá, chạy như bay về nhà, "chưa kịp leo lên thang, nghe tiếng con khóc rồi, mừng quá muốn chảy nước mắt... ngó bàn tay con, Núp cười miết: Ôi! nhỏ quá, nhỏ quá!"[73;58]. Với Núp, tình yêu đất nước hòa quyện trong tình yêu vợ chồng, tình yêu gia đình và tình yêu dân làng: "... Tôi cũng thương mẹ, thương Liêu, thương Hờ Ru như thương lũ làng"[73;90].
Núp là một điển hình nghệ thuật mang đầy đủ mọi nét chung trong một con người, anh là "người anh hùng miền núi có vẻ đẹp kết hợp cả hai yếu tố cổ sơ, ngây thơ mộc mạc chân thành của con người miền núi, đồng thời có cái hiện đại tiên tiến, anh vào Đảng sớm nhất làng Kông Hoa" [45]. Mọi suy nghĩ và việc làm của anh đều gắn chặt với cuộc sống của dân làng Ba Na, với các dân tộc Tây Nguyên. Điều đó chứng tỏ rằng con đường cách mạng, sự hy sinh bản thân mình vì người dân, vì cộng đồng là hạnh phúc lớn nhất của người anh hùng Núp.
Hầu hết những con người trong tác phẩm của Nguyên Ngọc đều mang lý tưởng cộng đồng. Họ khao khát làm cách mạng, tìm đến cách mạng như con đường duy nhất đúng. Ở những con người này họ không chỉ sống đời sống chung của cộng đồng, không chỉ hết mình vì tập thể mà còn là sự tiếp nối những phẩm chất tốt đẹp của truyền thống lịch sử dân tộc, cùng với sự giác ngộ sâu sắc lý tưởng của thời đại. Đó là
cụ Mết, Tnú, Dít trong tác phẩm Rừng xà nu, là ông Cắm trong truyện Rẻo cao, hay là những người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông, những anh hùng trên quê hương Điện Ngọc... đó cũng chính là ông già sông Trúc, chị Thắm, anh Hoàng trong Đất Quảng. Hoặc đó là những người cán bộ mang tư tưởng ánh sáng Cách mạng của Đảng đến giác ngộ cách mạng cho quần chúng như anh Cầm, anh Thế trong Đất nước đứng lên, anh Quyết trong Rừng xà na.. Họ là những con người có cuộc đời khổ nhục, ý thức được nổi khổ của mình trong mọi nổi khổ chung của cả dân tộc mà đi theo cách mạng và một lòng tin tưởng, trung thành với cách mạng. Họ là những con người kết tinh được sức mạnh từ truyền thống lịch sử anh hùng và lý tưởng cách mạng, của cả quê hương đất nước, do đó những suy nghĩ và hành động, lời nói của họ không còn là của cá nhân cụ thể mà là của một lý tưởng đẹp nhất. Tất cả vì sự nghiệp cách mạng. Đối với họ, dường như không được cầm súng tiêu diệt kẻ thù, không được cống hiến sức mình cho cách mạng thì họ không thể sống nổi.
Trong tác phẩm Rừng xà nu, Tnú là nhân vật anh hùng, người con vinh quang của làng Xô Man đã được Nguyễn Trung Thành khắc họa bằng những đường nét giàu chất sử thi. Anh là một con người đại diện cho cộng đồng, cho dân tộc về tinh thần yêu nước, thương yêu bà con lũ làng, một lòng tin yêu Đảng, anh làm cách mạng để bảo vệ danh dự cho buôn làng. Ngay từ những ngày còn nhỏ, Mỹ Diệm dùng mọi thủ đoạn để uy hiếp tinh thần ý chí cách mạng của người dân Tây Nguyên. Chúng đã từng treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, chặt đầu bà Nhan treo đầu súng... Tnú vẫn không sợ, anh hăng hái tham gia làm liên lạc, tiếp tế, canh gác cho cán bộ như anh Quyết. Có khi bị giặc bắt và tra khảo, cụ Mết nói với Tnú: "Tnú đừng làm xấu hổ làng Xô man"[76;l52].
Tnú đã kiên quyết không hé răng, bất chấp mọi sự tra tấn dã man của kẻ thù để bảo vệ danh dự cho buôn làng. Giặc bắt anh, chúng dùng nhựa xà nu tẩm vào dẻ rồi quấn dẻ lên mười đầu ngón tay Tnú đốt, đau đớn đến khủng khiếp, nhưng Tnú không hề kêu van. Trong tâm trí anh lúc nào cũng vang vọng lời dạy của cán bộ Quyết: "người cộng sản không thèm kêu van "[76; 152]. Mười ngón tay anh đã thành mười ngọn đuốc thắp sáng ý chí quyết tâm của cả buôn làng và trong chốc lát giết hết cả mười tên Mỹ Ngụy.
Anh luôn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng: "Cán bộ Đảng còn núi nước này còn"[73; 149]. Tnú tiêu biểu cho dân làng Xô Man Tây Nguyên trong những năm
tháng chống Mỹ quyết liệt với tinh thần kiên cường bất khuất đấu tranh chống giặc đến cùng. Đối với anh, tất cả và duy nhất và chỉ có một điều anh quan tâm hơn cả đó là : sự nghiệp cách mạng. Ngày anh đi lực lượng về thăm làng, cụ Mết lại hỏi Tnú về chính cái điều ba năm trước cụ đã nói với anh: "Ba năm nay mày đã làm xấu hổ cái làng Xô Man này những gì, kể cho bà con đây nghe nào"[73; 163]. Như vậy, chính là thời đại và nhân dân đã đòi hỏi ở những người con ưu tú của mình phải dám nhận lấy tư cách đại diện cho họ, anh là người đại diện danh dự cho cả một cộng đồng.
Cụ Mết cũng là người rất có uy tín đối với buôn làng, những lời của cụ Mết nói với dân làng như là một mệnh lệnh đại diện cho cả cộng đồng phải hành động: "Lúc cụ nói, mọi người như im bặt. Ông cụ nói như ra lệnh... Nghe rõ chưa các con, rõ chưa, nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi bay còn sống phải nói lại cho con, cho cháu". "
Cụ Mết chống giáo xuống sàn nhà, tiếng nói vang vang : "Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây rìu, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên! "[76; 162]. Cụ Mết là già làng đầy quyền uy, những lời cụ nói như là lời thiêng, được mọi người tin tưởng, nghe theo, làm theo. Dít mặc dù rất đau đớn trước cái chết của người chị gái mình nhưng chị đã giấu kín nổi đau ấy sau đôi mắt
"ráo hoảnh"; sau gương mặt lầm lì; chị biến nổi đau thành hành động cách mạng: giả gạo, tiếp tế cho bộ đội - đó là công việc thường ngày Mai vẫn làm. Dít mặc dù tuổi đời còn trẻ nhưng chị đã biết đặt quyền lợi tập thể, lợi ích cách mạng lên trên tình cảm riêng tư, cá nhân.
Trong tác phẩm Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông, Kơ Lơng là người con ưu tú, tiêu biểu cho dân Tộc Tây Nguyên, anh đã trở thành niềm tự hào của cả cộng đồng Tây Nguyên hùng vĩ: "Em được làm du kích từ năm 14 tuổi. Em đã giết được 124 tên Mỹ Ngụy, phá tan được tám xe cơ giới. Năm nay em đã lớn, xin cấp trên cho em được làm giải phóng quân" [67;55]. Trong suy nghĩ của mọi người, Kơ Lơng như là một biểu tượng về lòng yêu nước, về tinh thần cách mạng cao cả: "Kơ Lơng đã trở thành một người Gia - Rai chân chính" [61-,46], "Thằng Rơ Lơng xứng đáng là du kích Gia - Rai mình rồi đó"; "...đứa con yêu của núi rừng Gia - Rai ra đi, tay cầm một khẩu súng với ba viên đạn, một khẩu súng thần với ba viên đạn thần..."[67;.51]. Hình
ảnh của anh là sự kết tinh hiện thực yêu nước và cách mạng của núi rừng Tây Nguyên.
Con người cá nhân đã hóa thân vào quê hương, dân tộc và được quê hương dân tộc suy tôn.
Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt với kẻ thù, chủ nghĩa anh hùng lúc này là phải gắn liền với tình yêu cuộc sống, lòng yêu nước gắn liền với ý chí căm thù giặc sâu sắc, đời sống riêng của cá nhân được hòa lẫn trong đời sống cộng đồng của dân tộc.
Họ sống quên mình vì sự nghiệp chung của cách mạng. Đến với cách mạng không một mảy may phân vân hay tính toán.
Như vậy, nhân vật trong tác phẩm của Nguyên Ngọc là những con người mang lý tưởng cộng đồng, đại diện cho cộng đồng, chiến đấu vì cộng đồng, lý tưởng sống của họ là lý tưởng của cả cộng đồng dân tộc. Ý thức về sứ mạng và lý tưởng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, con người nhập vào đám đông, ngời lên vẻ đẹp của sức mạnh cộng đồng. Như tác giả từng quan niệm: "Lợi ích cộng đồng trở thành nguyên tắc hàng đầu trong chiến tranh, mỗi công dân dù là công dân cầm súng, cầm cày hay cầm bút, khi đã đứng bên này chiến tuyến thì lý tưởng chung, sự nghiệp chung, vận mệnh chung đều trở thành lẽ sống, lẽ tồn tại" [ 72 ]