Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ
3.1. Gi ọng điệu hùng ca đậm chất trữ tình
Giọng điệu là một trong những yếu tố nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên phong cách của nhà văn. Một nhà văn có tài là nhà văn có giọng điệu riêng, không lẫn với ai. Giọng điệu bao giờ cũng là yếu tố gắn liền với phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn: Tô Hoài trung thành suốt đời với chất trữ tình thơ mộng;
Nguyễn Thi giọng điệu suồng sã, bình dị thân mật đã làm gia tăng chất tiểu thuyết;
Anh Đức giọng văn trữ tình ngọt ngào pha chút lâm lí; Nguyễn Khải bình dị, đời thường còn Nguyễn Trung Thành nổi bật lên giọng điệu hào hùng đậm sắc thái anh hùng ca...
Trong tác phẩm văn học, giọng điệu là thái độ, tình cảm của nhà văn đối với sự vật, hiện tượng được miêu tả mà người đọc có thể cảm nhận được qua sắc thái biểu cảm của lời văn nghệ thuật. Giọng điệu trong tác phẩm văn chương là yếu tố quan
trọng, nó thể hiện được "sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn"[28;
62]. Một giọng điệu riêng được tạo ra trong sáng tác là thước đo quan trọng đánh giá tài năng của nhà văn. Nhà văn Nêmirôvivh - Danchencô đã tuyên bố: "Một vở kịch hay bao giờ cũng có giọng điệu riêng của tác giả. Nếu cái giọng điệu ấy không có tức là tác giả không có tài năng" [37;72].
Nguyên Ngọc vừa mang tính cách Quảng Nam nhưng đồng thời ông còn chịu ảnh hưởng của môi trường sống từ thời thơ ấu ở Hội An bởi ông vốn sinh ra ở Đà Nẵng nhưng lớn lên ở Hội An. Hội An vào cái thời thơ ấu của Nguyên Ngọc là những ngôi nhà cổ, những tòa thành cổ, những chiếc xe ngựa cũ kỹ lọc cọc, lạch cạch lăn bánh chầm chậm một cách nên thơ trên những con đường đất đỏ - Nguyễn Tuân quan niệm Hội An là "hình bóng sự vận tải của một thời trung cổ" - Bãi bể Cửa Đại thì vắng vẻ, hoang sơ chưa nhiễm mùi đô thị, những bản đàn muôn thuở của sóng biển và gió ngàn thông nhẹ nhàng êm ái. Con người nơi đây lịch sự nhẹ nhàng và hiếu khách.
Chính cái không khí cổ xưa, hoang sơ đó đã thấm sâu vào tâm hồn nhà văn và đã tạo nên tâm thế giọng điệu của Nguyên Ngọc. Mặt khác, những sáng tác mà phạm vi phản ánh là bối cảnh của hai cuộc kháng chiến ở vùng đất Tây Nguyên và đất Quảng, nơi diễn ra những cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch. Do đó, những sáng tác của ông đã đem lại cho người đọc hình bóng và dâu ấn của cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, trong đó những chiến thắng mà dân tộc ta giành được phải trải qua bao gian khổ hy sinh. Tất cả những điều ấy đã tạo nên một chất giọng riêng của nhà văn Nguyên Ngọc: giọng điệu sử thi, trang trọng, hào hùng, trữ tình say đắm và đậm chất anh hùng ca.
Cũng như tất cả các nhà văn văn học giai đọan 1945 - 1975, Nguyên Ngọc hướng ngòi bút của mình vào việc phản ánh hiện thực cách mạng, nhân danh cộng đồng để khẳng định, ngợi ca những anh hùng với những chiến công chói lọi. Qua ngòi bút của ông, hình ảnh con người và núi rừng Tây Nguyên hiện lên trong tác phẩm Đất nước đứng lên thật hùng vĩ, tráng lệ lạ thường. Nổi bật hơn cả đó là vẻ đẹp của những con người trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp gian khổ nhưng tinh thần quyết tâm sắt đá, không chịu khuất phục kẻ thù: "Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi"[73;76]. Hay hình ảnh của dân làng Kông Hoa đoàn kết, thương yêu
gắn bó với nhau trong những buổi tối tụ họp đông đủ ở nhà rông để đánh đàn, nghe hát ca ngợi đất nước Ba Na xinh đẹp của mình. Chính niềm tự hào về quê hương đất nước đã giúp cho họ vượt qua những khó khăn thử thách, hình ảnh toàn thể dân làng Kông Hoa bỏ ngôi làng thân thuộc, dời làng lên núi Chư Lây cheo leo để đánh Pháp: "Chín mươi người lại đi trong núi, thành một hàng dài...chín mươi người đi, lầm lì, leo đá, lội suối, người già cũng đi, con nít cũng đi, người có mang cũng đi. Con vắt cắn chảy máu không cần, con mòng chích đau không kêu". Họ vừa đi vừa hát, giọng hát như thách thức kẻ thù: "Con chim phí vỗ cánh bay trong nắng buổi sớm... Thằng Pháp ơi/
mày lầm rồi / coi thử tao chết trước hay mày chết trước nhé..."[13;64]. Giọng văn trầm lắng chứa chất bao nổi căm thù cũng như ý chí niềm tin quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược của nhân dân Tây Nguyên
Bằng lối kể chuyện tự nhiên, cách dắt dẫn câu chuyện một cách cụ thể, lối trần thuật khoan thai, giọng văn trầm tĩnh, tác giả đã tường thuật cặn kẽ từng sự việc, từ hoạt động chiến đấu đơn độc của dân làng Kông Hoa đến chỗ đoàn kết sức mạnh toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đánh Pháp thắng lợi. Tác giả ca ngợi và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến: "Đánh giặc không có Đảng nhất định không hơn được...không có Đảng thì trong bụng có thù thằng Pháp mấy đi nữa cũng không làm trúng được hết, cũng không đánh nổi Pháp"[73;110]. Đoạn văn thể hiện được tình cảm lớn của nhân dân Tây Nguyên, càng trong gian khổ càng bền chặt thủy chung gắn bó với cách mạng, Đảng, Bác Hồ. Cũng như niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai dưới sự lãnh đạo của Đảng Bác Hồ: "Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này Cớn"[73;149]. Đó chính là cơ sở cho cảm hứng anh hùng ca luôn gắn chặt với cảm hứng trữ tình có sức thôi thúc làm phấn chấn niềm tin ở mọi người. Cô Vàng Thị Mỹ trong Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng là một con người đã từng được Đảng, Cách mạng giác ngộ, đổi đời và cô đã truyền lại với đồng bào Mèo niềm tin với Đảng như sau: "Ngày xưa, người đối với người coi nhau như thú dữ, bây giờ có Đảng, có chính phủ, có cụ Hồ, người với người mới tin nhau, giúp nhau như thể anh em một nhà vậy"[ 76; 82 ].
Cảm hứng trữ tình được khơi nguồn từ những tình cảm chân thật mà chính bản thân nhà văn cũng không nén nổi đã thốt lên, truyền đạt cho người đọc những giây
phút lắng sâu của nội tâm tạo được một không khí thiêng liêng, trầm hùng. Như cảnh làng Kông Hoa làm rẫy tháng giêng thắng lợi, trong niềm vui chung của cả làng Ghíp lại đánh đàn "tưng từng tưng tưng từng tưng"[73;69] Tiếng đàn ấy làm cho dân làng thêm niềm tin vào khả năng khuất phục những tập tục mê tín dị đoan và đồng thời còn chiến thắng được cả thú dữ đang phá hoại mùa màng của họ: "Hễ lúa chín là có đờn Tơ rưng nước, con heo rừng sợ tiếng đờn đó, suối nước vừa đánh đờn vừa chơi vừa giữ rẫy cho mình. Ba bốn mùa nay lúa không mọc trên rẫy, con heo rừng không thèm đến..."[73;70]. Tiếng đàn của Ghíp không những làm cho con heo rừng sợ mà còn làm cho nó vểnh tai ngơ ngác. Phải chăng tiếng đàn chính là bản tình ca cất lên từ núi rừng Tây Nguyên và cũng là cội nguồn chất thơ trong giọng điệu riêng của Nguyên Ngọc:
"Trong đêm núi rừng thanh vắng hai tai nó vểnh lên: nó nghe có tiếng suối đánh đờn.
Cặp mắt đỏ như lửa của nó trở nên dịu xuống, nó ngơ ngác. Tiếng đờn mỗi lúc một dồn dập, mỗi lúc một cao. Tự nhiên im bặt. Rồi lại nổi lên, trầm trầm.. Rồi nhanh. Rồi dục giã. Con heo rừng hoảng hốt: không, giống người Kông Hoa không chết, giống người Kông Hoa còn sống, còn đánh cái đờn giữ cái rẫy suốt đêm ngày, không cho nó vào phá cái rẫy ăn hột lúa chín..."[73;88]. Nhà văn đi sâu vào mối quan hệ khăng khít của người dân nơi đây với núi rừng, sông suối để phát hiện vẻ đẹp đậm chất Tây Nguyên, hoang sơ mà hùng vĩ, gân guốc mà hào sảng.
Trong không khí căng thẳng của những ngày chống Mỹ gian khổ, hàng loạt tác phẩm mang cảm hứng sử thi xuất hiện, các nhà văn đã ý thức sâu sắc được trách nhiệm của mình trước lịch sử. Những trang viết của họ như những bằng chứng sống về cuộc chiến hào hùng của dân tộc. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có những giọng điệu riêng trong cách thể hiện nhưng vẫn toát lên một điểm chung nổi bật "Những trang viết vừa giàu chất hiện thực, vừa thấm đượm chất lãng mạn, sự phóng khoáng trong suy tưởng ở hình tượng con người, hình tượng thiên nhiên kỳ vĩ oai hùng" [26]. Nguyễn Thi với những tác phẩm tiêu biểu: Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình...
giọng văn đậm màu sắc Nam Bộ thể hiện khí thế hào hùng của nhân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, dù bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng trung thành với cách mạng. Chị Út Tịch từng nói với chồng: "Hễ theo giặc là thôi nhau luôn. Còn đánh lộn, chết bỏ cũng không thôi nhau" đã thể hiện tình cảm tình yêu của họ luôn gắn bó với
cách mạng. Phan Tứ với tác phẩm Gia đình má Bảy, bằng giọng văn sôi nổi hào hùng pha lẫn chất trữ tình tha thiết, nhà văn mang đến cho người đọc một bức tranh hoành tráng về những ngày nhân dân miền Nam vượt mọi gian khổ quyết tâm chiến đấu giành lại từng tấc đất với kẻ thù. Nhà văn Anh Đức với tác phẩm Hòn Đất bằng cảm hứng dồi dào về quê hương đất nước, ngòi bút đậm tính trữ tính, tác giả ca ngợi cuộc chiến đấu của nhân dân, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam của nhân dân xứ Hòn. Nguyễn Minh Châu với hai tác phẩm Cửa sông và Dấu chân người lính, qua giọng văn hào hùng trong không khí sôi động của nhũng ngày tháng cả nước ra trận đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ của nhân dân ta với khí thế:
"Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai". (Tố Hữu)
Chiến đấu và yêu thương, sử thi và trữ tình hòa hợp đã tạo cho những trang văn xuôi thời kỳ này đậm chất anh hùng ca vừa trữ tình tha thiết.
Vẻ đẹp giọng điệu hào hùng, sảng khoái đó lại được nhà văn thể hiện một cách rõ nét qua những tác phẩm viết trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Đường chúng ta đi, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đường chúng ta đi, Rừng xà nu, Đất Quảng...Nhà văn tạo ra những khung cảnh khốc liệt và dữ dội, làm nền để tô đậm chân dung những anh hùng thời đại. Những anh hùng ấy là kết tinh những truyền thống cao quí của dân tộc ta, phát huy đến mức cao nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Cách mạng. Nhà văn đã khẳng định "mỗi giờ thắng Mỹ hôm nay là bốn ngàn năm cộng với một giờ, trong mỗi mũi lê đâm giặc có sức mạnh của ba mươi mốt triệu người Việt Nam, của ba ngàn triệu người trên thế giới” [66;38].
Đó cũng chính là sức mạnh của tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm, không bao giờ khuất phục kẻ thù của toàn dân: "Kẻ thù đã bắt đầu mở tiệc trên mảnh đất chúng tưởng đã san phẳng bằng máy chém và rào kín bằng dây thép gai Mỹ, bỗng nghe mảnh đất dưới chân chúng rùng rùng chuyển động. Súng đã nổ bốn bề, người đã ào ào xông tới, mõ đã dậy khắp làng quê. Khởi nghĩa! Khởi nghĩa ! chúng nó kinh hoàng chống đỡ. Nhưng không kịp nữa rồi: trong mười năm, nhân dân ta đã suy nghĩ
về chúng nó và về bản thân mình và đã quyết định. Bản án đã tuyên bố rồi. Mười bốn triệu người đã đứng dậy và đi tới trên hai chân vững chãi, rập ràng. Dân tộc ta đã quyết làm cuộc kháng chiến lần thứ hai"[66;38].
Đường chứng ta đi là một bản anh hùng ca, ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giọng văn hào hùng như một lời hiệu triệu, tràn ngập một khí thế phấn chấn tự tin: "Rồi chúng ta đứng dậy...lửa cháy ở một làng Trà Bồng. Những người con gái Hờ re...trong một đêm trở thành quân khởi nghĩa. Chỉ trong một đêm, anh nông dân đi cày hôm qua, chị hàng xén xinh xinh bữa trước, cô học sinh., bỗng trở thành du kích và giải phóng quân...Súng đã nổ bốn bề, người đã ào ào xông tới, mõ đã dậy khắp làng quê.."[ 66;38]
Trong truyện và ký của Nguyên Ngọc, cảnh vật, con người, cuộc sống bao giờ cũng đẹp, một vẻ đẹp huyền ảo được tô điểm bằng màu sắc lãng mạn làm cho người đọc phải say sưa ngất ngây thể hiện qua những đoạn văn đậm chất trữ tình. Trong Đường chúng ta đi Nguyên Ngọc viết: "Chúng tôi đóng ở trong làng. Bây giờ đã khuya, bốn bề im lặng. Cho đến ngôi sao sa ngoài khung cửa cũng đứng im, lóng lánh như giọt nước mắt vui lặng lẽ của người vợ ở quê ta gặp chồng sau mười năm trời gian lao và cách biệt. Gió se lạnh, thoang thoảng hương lúa lên đồng, thơm như sữa một người mẹ trẻ...Điều gì đây? Có gì đây đang trào dậy trong lòng tôi như một linh cảm mơ hồ, như một hơi men say, một cơn sóng ngầm xao động ở tận chỗ sâu kín nhất của tâm hồn" [66;39]
Với Nguyên Ngọc, cuộc sống hôm nay luôn quyện với ước mơ mai sau, con người thực quyện với con người lý tưởng. Điều đó khiến cho các truyện và ký của ông thường đậm đà chất trữ tình trong sáng, đôi khi có dáng dấp bài thơ bằng văn xuôi.
Chính chất trữ tình trong từng câu chữ mà qua giọng điệu của mình, nhà văn cho chúng ta thấy cuộc chiến đấu của dân tộc hết sức khó khăn, gian khổ nhưng rất đổi hào hùng và đầy lạc quan tin tưởng: "Ôi dân tộc ta từ trong máu lửa mà sinh ra, mà lớn lên. Từ trong máu lửa bốn nghìn năm chúng ta đứng dậy và cất tiếng nói. Từ trong máu lửa đỏ cháy trong cả không gian và thời gian như vậy, tưởng như chỉ có thể kêu rú căm hờn, dân tộc ta chỉ có thể nấc lên tiếng khóc xé ruột, xé lòng...Thế nhưng lạ lùng thay, từ trong máu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng nói ấy
lại là tiếng hát trữ tĩnh, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như một cuộc hò hẹn, xao xuyến như buổi gặp gỡ ban đầu. Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết chừng nào" [66;32 ].
Giọng điệu anh hùng ca đậm chất trữ tình là đặc điểm nổi bật, riêng biệt trong các thể loại sáng tác của Nguyên Ngọc. Trong đó, cảm hứng sử thi bao giờ cũng đi liền với khuynh hướng lãng mạn, lại được kết hợp với một tâm hồn dạt dào tình cảm và trí tưởng tượng phong phú, làm cho những trang viết của ông luôn tràn đầy cảm xúc.
Trong tác phẩm Rừng xà nu, tác giả đã đưa người đọc đến với một bức tranh hoành tráng, giọng văn trang trọng, hào hùng mang âm hưởng sử thi. Ngay từ câu mở đầu tác giả viết: "Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc"[ 8;132] đã gợi thức cho người đọc một khí thế, tinh thần thách thức với kẻ thù của người dân Xô Man Tây Nguyên. Trên cái mảnh đất tưởng chừng như không còn con đường sống ấy, hàng ngày, con người đang phải chịu bao nhiêu đau thương tang tóc vì bom đạn giặc Mỹ: " ... Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây chặt đứt ngang nữa thân mình, đổ ào ào như một trận bão.." [76;132]. Cả dân làng Xô Man vẫn bám trụ, cuộc sống đang đâm chồi nảy lộc, những mầm non chắc khỏe : "Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tấp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra… Vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê"
[76;133]. Những mầm sống đang trỗi dậy từ sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù, nó không chỉ tồn tại mà ngày càng lớn mạnh thêm. Ở đây, cây xà nu mang trong mình tầm vóc, khí phách của những dũng sĩ Tây Nguyên mạnh mẽ: "Mũi tên lao thẳng lên bầu trời.
Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng... " cây xà nu ưỡn tấm ngực lởn của mình che chở cho làng" [76;133]. Bằng giọng văn thiết tha pha chút cường điệu, có lúc như không nén nổi những xúc động đang tràn ngập vì yêu thương, vì khâm phục và cả vì kính trọng nữa, nhà văn đã thốt lên những lời nhận xét trực tiếp, để lộ cái tôi của mình:
"Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy" " Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế" [76;133]. Trong cuộc chiến đấu oanh liệt của dân tộc, cũng như núi rừng, con người Tây Nguyên không chỉ phải chịu đau thương tàn phá của kẻ