Cách so sánh ví von giàu tính ch ất tượng hình, một đặc điểm nổi bật trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

Một phần của tài liệu Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc (Trang 100 - 105)

Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ

3.2. Ngôn ng ữ trong văn xuôi của Nguyên Ngọc

3.2.1. Cách so sánh ví von giàu tính ch ất tượng hình, một đặc điểm nổi bật trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc

Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách tài năng của nhà văn. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm trước hết là nghệ thuật sử dụng từ ngữ. Nguyên Ngọc là một nhà văn có phong cách ngôn ngữ riêng. Ông không quen dùng ngôn ngữ rườm rà, bay bướm hoa lá. Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông giàu chất tạo hình được thể hiện bằng lối nói so sánh ví von giàu hình ảnh. Miền núi vốn là môi trường thiên nhiên thuần phác, trữ tình giàu chất thơ, con người miền núi vốn cũng hồn nhiên, mộc mạc như chính môi trường

ấy. Do vậy, khi viết về Tây Nguyên tác giả thường sử dụng một loại ngôn ngữ có khả năng miêu tả tái tạo thích hợp với hiện thực ấy, đó là loại ngôn ngữ cụ thể, giàu hình ảnh, giàu âm sắc. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra đặc điểm ngôn ngữ này qua nhiều câu văn, đoạn văn miêu tả phong cảnh, hoặc khắc họa chân dung nhân vật. Để làm nổi bật sức mạnh phi thường của con người Tây Nguyên, tác giả viết bàn tay của Núp là: "

bàn tay gân guốc khi nói, cả khi nói với mẹ, đưa lên đưa xuống chắc chắn, mạnh như n đá ném xuống nước"; bàn tay của cụ Mết thì: "nặng trịch...như một cái kìm sắt". Khi miêu tả giọng nói của các nhân vật, tác giả cũng bằng lối nói so sánh ví von đem đến cho người đọc những ấn tượng sâu sắc: Lời nói của anh Núp thì "như một ngọn lửa cháy ...không gì dập tắt nổi", còn tiếng nói của cụ Mết cũng thật đặc biệt: "nặng trịch", "ồ, ồ" dội vang trong lòng ngựctưởng như âm vang của núi rừng, có khi cụ nói "như ra lệnh... dội vang trong lòng ngực"[76;140], có khi "vang vọng như dội lại từ cái đêm xa xôi ấy"[76;153], còn cụ Xớt thì: "trầm như tiếng vọng của núi đá"

[67;50]

Ngay cả khi miêu tả về thân hình nhân vật tác giả cũng vận dụng lối so sánh cụ thể này để giúp cho người đọc hình dung được một cách rõ nét. Dưới ánh lửa chập chờn của ngôi nhà rông, thân hình cụ Mết hiện lên thật đẹp: "kì ảo như một người anh hùng trong các bài hát dài suốt đêm" [76;146]; cụ Xớt thì lại có một vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung: "lưng vẫn đứng thẳng, cả người quắc thước như một ngọn núi đá". Bằng lối so sánh kỳ vĩ hóa, thiêng liêng hóa, Nguyên Ngọc đã để lại những ấn tượng đẹp về ngoại hình con người anh hùng của núi rừng Tây Nguyên. Bên cạnh đó nhà văn còn đi sâu miêu tả và khắc họa vẻ đẹp nội tâm bên trong của nhân vật qua lối so sánh giàu hình ảnh này. Để thể hiện được một tình cảm rộng lớn, bao la của Núp, tác giả viết:

"Tôi thương lũ làng như thương Liêu, thương Hờru. Tôi cũng thương mẹ, thương Liêu, thương Hờru như thương lũ làng"[73,90]. Còn trong tác phẩm Rừng xà nu, nhân vật Tnú có vẻ đẹp trong sáng: "Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta" [76;146], dáng vẻ lanh lẹ của anh thì được tác giả viết "cưỡi lên thác như một con cá kình" [76;151]. Để khắc họa tính cách gan dạ của Kơ Lơng, tác giả viết: "Trái tim nó bằng thép, nó đã quyết định rồi dù phải san bằng ngọn núi Chư- Pông, phải tát cạn con sông La- mơ, nó cũng làm". Còn khi miêu tả ý nghĩ của nhân vật này, tác giả

lại viết: "nhọn sắc như dao, cháy bỏng dưới vầng trán rộng". Đối với các nhân vật anh hùng, nhà văn Nguyên Ngọc miêu tả về họ, cả ngoại hình lẫn nội tâm bao giờ cũng so sánh với những hình ảnh đẹp, mang tính chất kỳ vĩ, ít khi sử dụng những hình ảnh suồng sã hoặc hài hước.

Đặc biệt là ông đã sử dụng lời ăn tiếng nói của người miền núi, sự kết hợp nhuyễn nhuyễn giữa cái so sánh và cái được so sánh làm cho điều được so sánh biểu hiện một cách sinh động trước mắt người đọc. Con người thường được so sánh với những hình ảnh hùng vĩ, ngang tàng của thiên nhiên; còn thiên nhiên lại thường được so sánh với những thuộc tính, tâm trạng của con người. Để làm nổi bật quá trình trưởng thành của chàng thanh niên trong tác phẩm Rẻo cao, nhà văn Nguyên Ngọc đã viết: "Nó lớn nhanh như một cái cây bên suối đấy" "Nó nhớn bằng con lợn ba tháng rồi", " Nó nhớn bằng con hoẵng con rồi", " Thằng bé lúc đầu còn như một con búp bê, sau nó thành một con chó lài, sau dần thì nó trở thành một con cọp. Bụng nó sáng như thắp đền trong ấy"[76;6]. Nhân vật Thào Mỹ trong mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, tác giả miêu tả vẻ đẹp của một cô gái đang tuổi trưởng thành tràn đầy sức sống qua: "Hai bắp chân Mỹ nõn nà như hai cái ức trắng của đôi chim rừng thoăn thoắt lướt đi trong cỏ lá " [76; 121]

Bằng sự từng trải, trí tưởng tượng phong phú cùng với sự thấu hiểu lời ăn tiếng nói, cách cảm, cách nghĩ của người dân Tây Nguyên mà những hình ảnh so sánh của nhà văn hiện một cách sinh động trước mắt người đọc. Khi ca ngợi vẻ đẹp của Thào Mỹ tác giả viết: "Một vẻ đẹp rất lạ cuốn hút vô cùng khi im lặng trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc, khi lẳng lơ như những bông hoa thuốc phiện quyến rũ, khi phấp phới như ngọn gió ào ạt trên đỉnh Sam Pun..." [76;111]. Vẻ đẹp tràn trề sức sống của một cô gái Strá mới lớn trong tác phẩm Tháng Ninh Nông thì: "Khuôn ngực thanh xuân...khoe sắc xuân kiêu hãnh như hai chồi xà nu nhọn hồng..."[ 76; 169 ]

Để nói về con người và hành vi của con người, tác giả thường liên hệ, mượn các hình tượng thiên nhiên: cây cỏ, muông thú để diễn đạt, so sánh. Còn để nói về thiên nhiên nhà văn lại dùng những từ chỉ hành động, tính cách, tâm lý của con người đế so sánh. Hay để làm nổi bật phẩm chất phi thường, tính cách kiên cường bất khuất của một con người suốt cả cuộc đời của mình thủy chung với cách mạng, với

quê hương làng xóm như ông già Sông Trúc trong tác phẩm Đất Quảng, tác giả đã sử dụng một loạt những hình ảnh so sánh: "Ông già sống một mình trong vườn mít mấy đời của ông, cây nào cũng cao lớn sần sùi, sừng sững như chính con người ông"[71;5] Trước những trận đòn khủng khiếp của kẻ thù thì: "Ông già đứng vững lạ lùng ... còn cơ thể của ông thì lả đi từng mảng như những cây mít già đầy thương tích đại bác của ông. Và trên cái cằm vuông ngang ngạnh của ông bỗng mọc tua tủa những sợi râu đen cứng như rễ tre chưa kịp đen đã bạc phêu"[71;5]. Khi nhấn mạnh phẩm chất yêu nước và tư thế hiên ngang bất khuất trước kẻ thù: "Ông già cao lớn sừng sững như một cây danh mộc trong rừng sâu mà nhanh nhẹn như một con báo",

"ông già lang thang khắp những đường làng hoang vắng, sục sạo rình mò khôn khéo như một con mèo già" [71;6]. Còn nổi đau của chị Thắm trước cảnh đứa con gái duy nhất bị giặc giết không còn là nổi đau bình thường nữa mà là một sự căm thù tột độ buộc chị phải hành động: "Nổi đau ngoài da thịt chị cắn răng chịu đựng bấy lâu nay chuyển thành một nổi đau giằng xé trong tim óc, nỗi đau dữ dội như một cơn bão đã nhen nhóm lên trong người chị, giục chị đi tới, giục chị tìm một con đường" [71].

Bằng cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh quen thuộc, trí tưởng tượng dồi dào phong phú Nguyên Ngọc đã thể hiện được vẻ đẹp hào hùng con người và thiên nhiên, của núi rừng và biển cả. Bên cạnh đó nhà văn còn kết hợp sử dụng phương tiện tu từ so sánh và nhân hóa làm cho lời văn thêm sinh động giàu hình ảnh, giàu chất tạo hình. Đây cũng là một yếu tố tạo nên nét riêng trong phong cách văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc. Khi tả cảnh rừng đêm, tác giả viết: "Đêm xuống. Phải ngủ trong rừng.

Đêm trong rừng có trăm, nghìn con mắt sáng ở dưới đất, ở trên cây. Nó nhìn Núp.

Núp biết đó là những cái lá khô ban đêm nó thức dậy nhìn trời...Nhưng có lúc, nhìn kỹ ngó như mắt con cọp. Lạnh như ngôi sao trên trời chạy vô lỗ tai, rồi chạy ra sau lưng, Núp lùi lại sau một gốc cây to, đề phòng con cọp nhảy tới, thì bắn ngay một nhát.

Nhưng con cọp nhìn mãi, đứng yên một chỗ. Một ngọn gió đi qua. Mắt cọp liếc qua liếc lại...không phải con cọp, cái lá khô đấy thôi"[73; 75].

Cảnh "ma gió" được tác giả miêu tả: "Những buổi trưa nắng cháy, làng xóm vắng tanh, thường nổi lên những cơn gió rất lạ. Gió cứ quay tròn rất mạnh, bao nhiêu

rác rưỡi, bao nhiêu lá khô, có khi cả những vật lớn như cái gùi, cái thúng cũng đều bị gió cuốn vào, xoay tròn cuống quýt tung lên trời cao"[73;91].

Đặc biệt, Nguyên Ngọc có những trang viết rất hay, thú vị về hình ảnh thiên nhiên được nhân hóa, như trong câu chuyện Bok Sung kể cho dân làng nghe về núi rừng, sông, suối, nước, trời, đất như sau : "Núi thì có mật ong có cây gỗ làm nhà, sông suối thì đem nước cho người uống, đem cá cho người ăn và nước khi chảy mệt dừng lại nghỉ chân ở các bến có cây to thì trong lắm, chỉ ngồi trên hòn đá nhúng hai chăn xuống cũng đủ mát lạnh cả người. Gió thì như anh chàng suốt lúa ăn no rồi cầm đi săn trong núi, khi thì chạy mau khi thì rón rén, rình mò từng gốc cây, nói thì thầm, sợ con thú rừng nghe nó chạy mất. Đá thì lười biếng quanh năm nằm ì một chỗ, không muốn đi đâu nhưng cũng có khi trời đất tức giận, không biết giận cái gì. Nước to lên, chảy ào ào dưới suối,có khi chạy tuốt lên rẫy, lôi cả cây, cả lúa, cả người ném xuống sông Ba. Gió gầm như con cọp, chạy ầm ầm, gặp cái gì cũng xô ngã, bẻ gãy cây to bốn năm người ô, cả nhà, cả người ta... "[73;55]. Nguyên Ngọc vận dụng nhiều hình ảnh nhân hóa làm cho lời văn thêm sinh động. Cái nắng nóng của miền núi Tây Nguyên được tác giả viết: "Nắng như cầm lửa mà đổ xuống trên núi Chư Lây.

Dưới suối nước trốn đi gần hết, dân làng phải dỡ từng hòn đá mới tìm được nước"

[73; 142]

Thú vị hơn cả và cũng rất đậm đà sắc thái Tây Nguyên là những trang nhà văn miêu tả cảnh "đá giận": "Suốt đêm đó, giónước nổi giận trước. Tảng sáng hôm sau hơi đỡ một chút. Gió mệt chạy chậm, mưa nhỏ dần. Tự nhiên trên đỉnh núi Chư - Lây, tảng đá to nhất nổi giận. Trước tiên nó mấy miếng đất dưới chân nó ra. Nó chuyển mình, rồi bất thình lình nó lật ngược và vụt chạy xuống núi. Nó chạy mau không thể gì chạy theo kịp. Nó bẻ gãy hết cây nào cản đường nó. Gặp con thú nào nó đấm một cái, con thú chết bẹp ngay, đến giữa đường, gặp đá bạn, đá con, nó thúc mỗi đứa một cái, tất cả đá ùa nhau chạy theo nó. Thôi thì cả núi rừng rung lên ào ào, đất thành khói đỏ bay mù mịt, đồng bào sợ quá, rú lên, chạy trốn vô trong nhà... "[73; 56 ] Tới chân núi, đá không chạy nữa, nó nhảy lung tung vào trong làng. Có hòn nhảy ào ngay vào nhà rông, phá bể hết hàng chục chai rượu một loạt, có hòn nhảy vào trong nhà rẫy, bắn lúa văng lung tung ra ngoài. Những hòn cuối cùng nhảy phùm

xuống suối, bắn nước lên tung tóe, rồi từ đó...nằm ì đó, không chịu đi đâu nữa, để cho lũ rêu tới đóng xanh rì"[73;55].

Bằng cách sử dụng phương thức tu từ nhân hóa làm cho thiên nhiên dưới ngòi bút của ông trở nên sống động hấp dẫn và nó đã lột tả được một cách chính xác và đầy đủ những ý nghĩ của con người về thiên nhiên. Biện pháp tu từ nhân hóa đó đã giúp con người như chạm vào được cảnh vật và thấm thìa được sự khăng khít giữa thiên nhiên và con người. Trong tác phẩm Rừng xà nu, tác giả đã thể hiện phẩm chất bất khuất của cây xà nu trên đất làng Xô Man: Những vết thương của chúng chóng lành như những vết thương trên một thân thể cường tráng.. Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng" [76;132]. Khi nhận xét về nghệ thuật miêu tả hình ảnh rừng xà nu, Trần Đăng Suyền đã viết: "Nguyễn Trung Thành đã sử dụng nhân hóa như một phép tu từ chủ đạo trên suốt trang văn đặc tả xà nu. Điều đó cho phép ta được nghĩ: đoạn văn mở đầu rất đẹp này không chỉ là một phút tiền tấu phóng túng, đầy ngẫu hứng và suy tưởng được nhà văn cho dạo lên trước khi bắt đầu câu chuyện về những con người. Rừng xà nu đó là một kiểu ẩn dụ về chính con người, những con người sống dưới tầm đại bác" [31;309].

Một phần của tài liệu Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của nguyên ngọc (Trang 100 - 105)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)