1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm văn xuôi nghệ thuật dạ ngân

147 647 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 908,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà phê bình Nguyễn Văn Lưu đã có nhận định qua truyện ngắn đầu tay của Dạ Ngân : “ Truyện của chị đậm đà tâm tình của người phụ nữ Nam Bộ giàu tình cảm và suy tư, luôn trăn trở về cuộc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

- -

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh

tập tại Trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận, đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành được khoá học khi tôi đã ở độ tuổi không còn trẻ

Xin cho tôi được gửi lời cảm ơn đến nhà văn Dạ Ngân, người đã dành thời gian cho tôi được tiếp xúc, trao đổi, cung cấp thêm cho tôi những tư liệu, giúp tôi có thêm điều kiện để nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thành Thi, người Thầy đã định hướng, nghiêm túc chỉ bảo, hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện luận văn này

Phan Thiết, tháng 10 năm 2011

Người thực hiện

Dương Thế Thuật

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích của đề tài 4

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5.Phương pháp nghiên cứu 5

6.Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI DẠ NGÂN – NHÌN TỪ VỐN SỐNG VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 6

1.1 Dạ Ngân – Nhà văn của cái hôm qua và cái hôm nay 6

1.1.1 Dạ Ngân – Nét vẽ chân dung nhìn từ cuộc đời 6

1.1.2 Dạ Ngân – nét vẽ chân dung nhìn từ sáng tác 9

1.1.3 Một cái nhìn cuộc sống đa dạng, nhiều chiều: 13

1.2 Sáng tác của Dạ Ngân – tiếng nói của lòng nhân hậu và niềm tin 22

1.2.1 Ký ức về chiến tranh và nỗi đau thời hậu chiến 23

1.2.2 Nghịch cảnh thời hậu chiến và những băn khoăn về cuộc đời, con người 28

1.2.3 Tiếng nói trân trọng cảm thương thân phận “bé mọn” của con người” 33

1.3 Sáng tác của Dạ Ngân – Tiếng nói của tình quê hương 44

1.3.1 Tình yêu quê hương của một người con Nam Bộ,“thế hệ thứ tư” 44

1.3.2 Cảnh sắc, hương vị quê hương Nam Bộ qua những rung động tinh tế của Dạ Ngân 46

1.3.3 Cá tính con người và văn hoá Nam Bộ qua ngòi bút chăm chút đầy trân trọng, trìu mến của Dạ Ngân 52

Chương 2: VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT DẠ NGÂN – ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ LOẠI VÀ PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ 57

2.1 Nhà văn nữ của nhiều thể loại 57

2.1.1 Sáng tác của Dạ Ngân – Nhìn từ thể loại 57

2.1.2 Đóng góp của Dạ Ngân – Nhìn từ truyện ngắn 58

2.1.3 Đóng góp của Dạ Ngân – nhìn từ tiểu thuyết, truyện vừa 68

2.1.4 Đóng góp của Dạ Ngân– Nhìn từ tản văn 73

2.1.5 Chất thơ trong văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân 78

2.2 Những thành công trên bình diện phương thức tự sự 84

Trang 5

2.2.1 Tạo tình huống, sự kiện và khắc hoạ nhân vật 84

2.2.2 Kết cấu dòng ý thức và kỹ thuật lồng ghép truyện 92

2.2.3 Trần thuật đa điểm nhìn và vai kể độc thoại 95

Chương 3: VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT DẠ NGÂN – ĐẶC ĐIỂM VỀ NGÔN TỪ 99

3.1 Vẻ đẹp hài hoà trong văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân 99

3.2 Chất Nam Bộ đậm đặc trong lời văn nghệ thuật Dạ Ngân 114

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC 1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau năm 1975 ở tầm khái quát rất cần thiết, nhằm nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về văn xuôi nghệ thuật trong tiến trình văn học chung của đất nước

Ngoài những công trình nghiên cứu khái quát, sự nghiên cứu về văn xuôi nghệ thuật của từng nhà văn cũng rất cần, nhất là đối với những nhà văn có những đóng góp thật sự cho văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau năm 1975

Trong số những nhà văn nữ sáng tác văn xuôi sau 1975, Dạ Ngân đã có những

phẩm đã xuất bản, từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn đến tản văn, chị đã nhận được 4 giải thưởng chính và 1 tặng thưởng văn học (1 của Tạp chí Văn nghệ Quân

đội (năm 1987), 1 của báo Tuổi trẻ TP HCM (năm 1989), 1 của Hội Nhà văn Hà Nội

(năm 2005), 2 của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2004 và năm 2006) cùng một số giải

thưởng khác về các truyện ngắn

Với những giải thưởng đã được nhận, cả ở truyện ngắn và tiểu thuyết, Dạ Ngân

đã được ghi nhận là một trong những nhà văn nữ có giọng điệu riêng hiện nay

Là một trong những gương mặt nhà văn nữ có tác phẩm đến với bạn đọc từ

mình trong việc sáng tác văn chương Với những tác phẩm đã cho ra mắt bạn đọc, Dạ Ngân đã có vị trí nhất định trên văn đàn Tác phẩm của chị cần được nghiên cứu một cách có hệ thống, cả ở mảng tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn và cả tản văn Sự nghiên cứu một cách nghiêm túc, cẩn trọng các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của Dạ Ngân chắc chắn sẽ rút ra những điều có ích, đóng góp thêm vào việc nghiên cứu chung văn xuôi nghệ thuật Việt Nam, từ sau năm 1975, nhất là đối với những sáng tác của những nhà văn nữ

2 Lịch sử vấn đề

Dù sự nghiệp sáng tác của Dạ Ngân đã được thời gian và công chúng khẳng định, nhưng những công trình nghiên cứu về sáng tác của Dạ Ngân vẫn còn quá ít ỏi

Trang 7

Phần lớn các bài viết hiện có ở dưới dạng cảm nhận về một tập truyện ngắn, một tiểu thuyết mới xuất bản, một lời giới thiệu sách

Năm 1986, Chu Huy đã có cảm nhận khi đọc tập truyện ngắn Quãng đời ấm

đến cội nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp, từ những tình cảm trong sáng, mãnh liệt, từ những nền tảng tư tưởng không bao giờ mờ phai của những năm chiến tranh giải phóng đầy hi sinh gian khổ mà rất đổi hào hùng” Chu Huy cũng nhận xét nét đặc sắc của văn phong Dạ Ngân: “ Viết khá sành về tâm lý nhân vật nữ”

Nhà phê bình Nguyễn Văn Lưu đã có nhận định qua truyện ngắn đầu tay của

Dạ Ngân : “ Truyện của chị đậm đà tâm tình của người phụ nữ Nam Bộ giàu tình cảm

và suy tư, luôn trăn trở về cuộc sống của cá nhân mình và đồng đội, bạn bè, với gia đình, quê hương, với lý tưởng và nghĩa vụ, những khao khát nồng cháy của trái tim thiếu nữ trước cuộc đời…Chị viết về chiến tranh nhưng không nặng về mô tả chiến trận hay sự kiện”

Truyện ngắn Trên mái nhà người phụ nữ, giải nhì Tạp chí Văn nghệ Quân đội

năm 1987, đã được Nguyễn Trọng Hoàn đánh giá : “ Truyện có nhiều đoạn thành công bởi ở đó hình ảnh, màu sắc, âm thanh…được khai thác một cách triệt để làm trang viết trở nên thi vị, thực sự có hồn, khiến người đọc có thể trực tiếp tri giác như được bước vào một thế giới sinh động tồn tại dưới dạng vật chất”

dằn cay đắng rất Nam Bộ, để rồi hướng tới cái thiện…Cái mạnh nhất, quý nhất của

Dạ Ngân là nghệ thuật khắc họa, cách nhìn của chị góc cạnh Khai thác tâm lý nhận vật, tình tiết, chi tiết và sử dụng ngôn ngữ thật tài hoa”

Phó Giáo sư - Tiến sĩ Mai Hương trong bài viết “ Truyện ngắn của Dạ Ngân”

đã đánh giá cao hướng khai thác, tiếp cận hiện thực riêng, nét đặc sắc trong thế giới nhân vật và văn phong của Dạ Ngân

Nguyễn Hoàng Sơn đã có nhận định về truyện vừa Miệt vườn xa lắm: “ Chị

chú trọng phân tích tâm lý và khéo sử dụng chi tiết để khắc họa tính cách nhân vật”

Trang 8

Tiểu thuyết Gia đình bé mọn là một thành công lớn của chị, đã nhận được

nhiều ý kiến phản hồi từ những người nghiên cứu Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam

đã nhận định “Những phẩm chất làm nên thế mạnh ngòi bút của Dạ Ngân: Sự cẩn trọng và tinh tế trong câu chữ, khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa “mỹ văn” và ngôn ngữ đời thường của người Nam Bộ, sự sắc sảo trong phác họa nhân vật bằng vài chi tiết đắt giá, nhanh gọn; và sau cùng là một cái nhìn cuộc đời – dù với sự phê phán

dẫn người đọc bởi bức tranh xã hội thời bao cấp.”

Nhà văn- dịch giả Trần Thiện Đạo cũng đã có những lời tâm tình với bạn đọc

khi được đọc Gia đình bé mọn của Dạ Ngân: “… Một mình một bóng, trên con

đường quen thuộc hơn một phần tư thế kỷ cầm bút trong Nam ngoài Bắc, tác giả đã nhè nhẹ nắm tay người đọc, “rù quyến”, lôi cuốn, dẫn họ cùng rảo bước với mình từ trang đầu tới trang chót…”

Tác giả Tuy Hoà trong bài viết “Dạ Ngân theo nước nguồn xuôi mãi” đưa ra

nhận định: “Ngón nghề của nhà văn Dạ Ngân trong tập Nước nguồn xuôi mãi là

khơi dậy những mẩu chuyện be bé và luận giải thấu đáo tâm trạng cá thể giữa xô đẩy thời đại đang cưu mang chúng ta… Truyện Dạ Ngân không phải đọc để nắm bắt cuộc sống, mà đọc để nghĩ ngợi cuộc sống”

Đến năm 2006, Cao Thị Huệ đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ “Sáng tác của Dạ Ngân” tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nghiên cứu 9 tác phẩm của Dạ Ngân xuất bản từ năm 1986 đến 2005, bao gồm các truyện ngắn, tiểu thuyết

Năm 2009, Hoàng Thị Kim Cúc đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài

“Phong cách truyện ngắn Dạ Ngân” tại Trường Đại học Vinh trên cơ sở nghiên cứu 7 tập truyện ngắn của Dạ Ngân, xuất bản từ 1986 đến 2008

Wayne Karlin, nhà văn, giáo sư văn học Đại học Maryland (Hoa Kỳ), một

người am hiểu văn học Việt Nam, trong lời giới thiệu tiểu thuyết Gia đình bé mọn

bản dịch ra tiếng Anh (Rosemary Nguyen dịch) ấn hành bởi nhà xuất bản Curbstone Press năm 2009, đã có nhận định: “ Hành trình của Tiệp và hành trình của cái “gia

Trang 9

đình bé mọn” của nàng trùng hợp với hành trình của đất nước nàng”,… “ Tiệp từ chối nhìn thế giới qua lăng kính truyền thống” Điều đó cũng có nghĩa: Nhân vật Tiệp đã đồng hành cùng đất nước và nhân vật ấy đã có một cái nhìn mới mẻ về thế giới mà mình đang sống, trải nghiệm, không phụ thuộc vào truyền thống ngày xưa

Nhận định của những người nghiên cứu, phê bình đi trước là những cứ liệu khoa học, những gợi ý quý báu để chúng tôi đi sâu hơn, khảo sát một cách có hệ

thống những sáng tác của Dạ Ngân, bao gồm cả 7 tập truyện ngắn, 2 tiểu thuyết, 2

truyện vừa, 5 tập tản văn, mong nhận ra được những đặc điểm văn xuôi nghệ thuật

của Dạ Ngân cũng như đóng góp của chị đối với văn xuôi nghệ thuật Việt Nam thời

kỳ đổi mới

3 Mục đích của đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân nhằm:

Ngân, phân tích những biểu hiện cụ thể của những cảm hứng ấy qua các sáng tác: truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, tản văn của nhà văn

cảm hứng trong tính chỉnh thể của văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân: nhận diện những đặc điểm; những nét riêng của nhà văn bộc lộ trên các bình diện: nội dung và phương thức thể hiện, hình thức nghệ thuật

ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, tản văn Việt Nam sau 1975 nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân bao gồm:

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tất cả các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Dạ Ngân xuất bản từ năm 1986 đến năm 2010 bao gồm:

Trang 10

 7 tập truyện ngắn

5.Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu sau:

6.Cấu trúc luận văn

văn được tổ chức, triển khai thành ba chương:

Chương 1: Đặc điểm văn xuôi Dạ Ngân - Nhìn từ vốn sống và cảm hứng nghệ thuật

Chương 2: Văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân – Đặc điểm về thể loại và phương thức tự sự

Chương 3: Văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân – Đặc điểm về ngôn từ

Trang 11

Chương 1: ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI DẠ NGÂN – NHÌN TỪ VỐN

SỐNG VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT

1.1 Dạ Ngân – Nhà văn của cái hôm qua và cái hôm nay

1.1.1 Dạ Ngân – Nét vẽ chân dung nhìn từ cuộc đời

Trong dòng chảy của cuộc sống, mỗi một con người ghi lại sự hiện diện của mình bằng những cách khác nhau, và bằng những cảnh đời khác nhau Trong những cảnh đời ấy, có những cảnh đời êm ả, phẳng lặng; nhưng lại cũng có những cảnh đời chẳng hề bình lặng một tí nào

Dạ Ngân, một người con của vùng sông nước Tây Nam Bộ, một người đã

nghiệm đời thường

Dạ Ngân đã thổ lộ : “Quê gốc tôi ở miệt vườn Cao Lãnh sông Tiền nhưng vì

ông nội tôi thích thi thố nên đưa tất cả anh em giạt xuống tận Cần Thơ để phỉ chí nghề vườn Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về điều đó

Tuổi thơ tôi được bảo bọc bằng nghề vườn, cây vườn và nhà nội, trong đó vai

trong xà lim thì tôi thuộc về cô tôi hoàn toàn, tâm hồn và tính cách ấy đã quyết định

tư chất tôi Ở vào vùng hành lang giữa căn cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình tôi không có sự lựa chọn nào khác cho chị em gái nhà tôi: Tất cả phải đi vào Cứ tham gia đánh giặc, con đường của cha tôi Lý tưởng đã được đơn giản hoá thành thù nhà rồi sau mới là nghĩa nước” [12, 27]

tù, chị đã tiếp nối những chặng đường kháng chiến của cha, đi vào Cứ, sống những

nhau Với bao khó khăn, thiếu thốn, với nhiều vất vả gian nan Nhưng lẫn trong

Trang 12

những gian khổ, vẫn có những giây phút bình yên, ấm áp với đồng đội, với người thân

Một Lê Hồng Nga – tên thật của Dạ Ngân – nhiệt tình, say sưa, cặm cụi với công việc trong rừng, trong Cứ Quãng đời ấy, đã để lại những kỷ niệm ấm áp trong chị Song, không chỉ có ấm áp, đã có những nỗi buồn, những tiếc thương, khi đồng đội, khi những người chị, người anh của cùng cơ quan với chị, những người gởi quãng đời thanh xuân, tươi đẹp, rực rỡ của mình vào cuộc kháng chiến cao

cả mà cũng thật nhiều gian nan của dân tộc, đã hy sinh

Những tháng năm trong Cứ, đẹp đẽ, hào hùng, mà cũng thật khó nhọc, hiểm nguy Những tháng năm kháng chiến ấy mãi trong ký ức của Hồng Nga, đã trở thành những ám ảnh nghệ thuật trong chị

năm khó khăn thời bao cấp Cuộc hôn nhân đến với chị sau những ngày hoạt động chung trong rừng, có những chung đụng về thể xác, đã không là sự chọn lựa của chị trên tình yêu Để, về sau này, khi sống gần nhau, cùng nhau, dần theo thời gian, đã cho chị thấm thía: Chị phải gánh chịu những đau khổ âm thầm của một người vợ, mà trái tim hai người không cùng chung nhịp đập Sau những rạn nứt trong cuộc sống vợ chồng là cả một quãng thời gian dài chị phải chịu nhiều áp lực nặng nề, bị lên án, từ gia đình, đến cơ quan

Ở gia đình, đó là sự ràng buộc của nền nếp gia phong, không cho phép chị đến hết lòng với người mình yêu, khi chị còn đang là vợ của một cán bộ tuyên giáo tỉnh với hai con nhỏ Những người có quyền uy trong gia tộc không cần biết: Chị sống với chồng mà có tình yêu hay không; chồng chị là một người có tâm tính như thế nào

đang có vợ “Chấp nhận và đau khổ Biết bao nhiêu nước mắt đã chảy Hơn 11 năm

trời…”, “Nhiều thứ áp lực như thể tôi bị nhốt vào cái thùng phuy mà đậy vậy” [12,

109 – 110]

Sức ép ấy, người phụ nữ làm văn chương ấy phải chịu đựng từ cơ quan, từ gia tộc, từ con cái và cả của bạn bè, rồi còn cả dư luận nữa

Trang 13

Nếu không vì một tình yêu chân thật, dễ gì nhà văn nữ của chúng ta có thể vượt qua được tất cả những sức ép nặng nề ấy với đằng đẵng từng ấy năm

Rồi còn phải miếng cơm manh áo thường nhật, rồi còn phải nuôi con ăn học, rồi còn bao lo toan khác Có lẽ, như những người luôn gặp những cảnh ngộ kém may, chị như đã được tiêm vaccin để tạo kháng thể, để quen chịu đựng những cảnh ngộ khó khăn

Sự kéo dài thủ tục ly hôn, rồi việc không ngại vượt những chặng đường xa thẳm để đến với tình yêu mới, rồi tâm trạng cứ luôn trĩu nặng khi nghĩ mình chưa lo cho hai con chu đáo đã luôn trong suy tư của chị, để rồi những băn khoăn ấy đã dồn nén thành những ám ảnh nghệ thuật của nhà văn

Dạ Ngân từng thổ lộ “Nghĩa là sống với tất cả các cung bậc tình cảm của

mình, với tất cả giác quan của từng tế bào trong con người mình Nguyên liệu sẽ sinh

ra từ từng giây phút sống ấy” [71, 179]

Cuộc đời từng trải của chị, lắm khổ đau, từng hạnh phúc, đã vẽ nên chân dung Dạ Ngân, nhạy cảm, quan sát tinh tế, sống hết mình, cả trong công việc, lẫn trong tình cảm

Nhà văn nữ của chúng ta, Dạ Ngân, đã có những quan niệm gì trong tình yêu?

dung” [12, 109]

đòi hỏi sự hy sinh ghê gớm mới có hạnh phúc”[12, 111]

cứu văn học cao niên, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, về nghề văn: “Phải vật lộn với

hoàn cảnh, nghĩa là phải sống và chiến đấu thật sự, lại phải vật lộn với chất liệu nghệ thuật, với chữ nghĩa, với chính bản thân mình để chống lại sự lười nhác, dễ dãi,

để tự tạo lấy những vốn liếng mới, những khả năng mới, đáp ứng cho được những yêu cầu ngày càng cao của xã hội” [46, 88]

Trang 14

Sống thật sự, với những cảm xúc thật của một con người nhạy cảm; với hoàn cảnh cũng thật, không tạo nên, không tô vẽ, đã tạc nên một Dạ Ngân – Lê Hồng Nga nhìn từ cuộc đời

mà người ấy mang đến cho bạn đọc, sáng tạo vì bạn đọc

Trong suốt hơn hai mươi lăm năm sáng tác của mình, với trên mười lăm tác phẩm đã được xuất bản, cả truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, tản văn, người đọc

dễ dàng nhận ra một chân dung Dạ Ngân nhìn từ sáng tác của chị

1.1.2 Dạ Ngân – nét vẽ chân dung nhìn từ sáng tác

Mỗi một nhà văn đều có những cách khác nhau trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Có người đi nhiều, tiếp xúc với nhiều người làm nhiều công việc khác nhau, để viết nên những trang văn giàu sức sống, như Nguyễn Tuân, như Tô Hoài Lại có những nhà văn từ thực tế quan sát được, kết hợp với những kiến thức khoa học, sáng tạo nên những câu chuyện cổ tích thời nay như Phạm Hổ Lại có nhà văn chỉ chuyên viết cho một lứa tuổi, tuổi mới lớn như Nguyễn Nhật Ánh Mỗi nhà văn

ấy, có những nét riêng trong phong cách, trong sáng tác của mình

Dạ Ngân đã từng tâm sự “Tôi là tạng nhà văn cái gì không ngấm vào mình,

không trải qua thì không thể viết sâu sắc” [22, 103]

Từ những sáng tác của chị, người đọc dễ nhận ra một chân dung Dạ Ngân trong muôn mặt đời thường

lắm Thuở ở miệt vườn Long Mỹ, Hậu Giang, Tiệp yêu thương, quý trọng, kính phục

vô vàn cô Tư Ràng, cô em út của ba chị, một người đã gác lại cuộc sống riêng của mình, để nuôi, dạy dỗ một đàn cháu, con của ông anh đi kháng chiến đã ngồi tù với

án hai mươi năm khổ sai

Chị đã học rất nhiều điều tốt đẹp từ cô Từ việc kính yêu ông bà nội, việc chịu khó làm lụng, đến việc thực hiện bổn phận con cháu trong gia đình, cả tính kỷ luật trong công việc, sự tháo vát, ý thức tiết kiệm, ý chí và nghị lực vươn lên trong cuộc sống

Trang 15

Tất cả, chị có được từ cô Tư Ràng Đọc trọn Miệt vườn xa lắm, gấp sách lại,

mấy ai không có cảm nhận đó Mẹ chị đã cho chị hình hài Nhưng người tạo cho chị tính cách mạnh mẽ mà vẫn luôn đôn hậu lại là cô Tư Lời của Tiệp trong tác phẩm

cũng là nỗi lòng của nhà văn “Tình thương với má và với cô là hai ngôi song song

đau khổ trong lòng tôi, giằng xé, tranh cãi nhưng không thể không tồn tại được” Chị

luôn mang ơn cô Tư, bởi “ Cô đã gồng gánh hết sức bằng sự đảm lược có thể nói là

phi thường”

Người đọc nhận ra một Dạ Ngân tinh tế, cẩn trọng từ hình ảnh một cô bé Tiệp

ngày thơ “Tôi biết đọc những niềm hy vọng của người khác và tôi biết tiếp tục những

cử chỉ nhỏ nhoi ấy một cách lặng lẽ, ý tứ” và điều quan trọng mà Tiệp ý thức được là

“Tôi cảm nhận được sự kỳ diệu của đời sống tinh thần giữa cô và tôi”; “ Càng ngày tôi càng thấy cái quỹ đạo của cô thật có lý, sâu sắc” Một bài học của cuộc đời mà cô

Tư rút ra từ chính bản thân mình quả đúng với mọi người, trong đó có Tiệp “Nhà

xông vô chỗ nào cũng thấy nhẹ tênh hết Ráng đi tụi con!” Tiệp của ngày xưa đã lớn

lên trong công nuôi dưỡng của mẹ, của cô và trong sự dạy dỗ một cách sâu sắc, gần gũi, yêu thương của cô Tư như vậy đó

Nếu ở Miệt vườn xa lắm, Tiệp vô cùng kính yêu, nể phục cô Tư Ràng; thì

“Tiệp thương má bằng tình thương ngậm ngùi xương thịt, nhưng với cô em út của ba nàng, người đã ở vậy để thay anh trai chăm cha mẹ già rồi gánh vác luôn một bầy con của ông anh nữa, bà cô Tư ấy xứng đáng được nàng yêu bằng tình cảm thần thánh, tri kỷ, tình cảm ấy thường khiến nàng mềm lòng và thức tỉnh”

Vào Cứ, khi mới mười bốn tuổi, là một thiếu nữ, “Tiệp nhớ cô bằng với nhớ

má và luôn ao ước: cô mình ít chữ nhưng mình chỉ mong nữa mình cũng sắc sảo, xông pha, tinh tế và biển cả như cô thôi” Trong lòng Tiệp, đã từ rất lâu, có một hình

mẫu để Tiệp ước ao, hướng tới

Ngoài hình mẫu cô Tư Ràng, Tiệp còn có một người tri kỷ thời ở Cứ:

Trang 16

chương của Tiệp sau này”, “ Chú Tư Thọ là cha tinh thần đúng nghĩa dưới mái vòm kiến trúc bằng lý tưởng yêu nước, nàng tin vào dự cảm của chú Tư về dân tộc và tương lai của mình”[ 59, 114]

Sống dưới sự giáo dục của cô Tư Ràng và sự chỉ bảo của hú Tư Thọ ở những

hưởng tính cách cô Tư, sự tin vào dự cảm của chú Tư đã hướng Hồng Nga đến với văn chương sau này, và gắn bó với chị dài lâu

Tất nhiên, đời sống của một nhà văn không chỉ có những mối quan hệ đó, những sự ảnh hưởng đó Nhưng đây là hai nhân vật chủ chốt, đã có ảnh hưởng đến cuộc sống của chị, đến sự nghiệp văn chương của chị

Dạ Ngân đã từng bộc bạch: “Hình như tư chất và tính cách của một người

chính là số phận của người đó” [71,179] Mà Tiệp thì “Tiệp tung tăng…Tiệp bay nhảy…Tiệp lai láng…Tiệp thích chỗ đông người” [59, 94]

Tiệp còn là một người phụ nữ có lúc bồng bột để đến nỗi mắc phải sai lầm Tiệp đã không dấu nỗi lòng mình khi có những điều thật sự không hoà hợp giữa nàng

và Tuyên Nhưng quả tình, Tiệp đã sống hết mình và đã nói hết nỗi niềm của mình,

khi không còn chịu đựng được nữa Một cô Ràng sắc sảo đã thật đúng khi thốt lên:

“Ừ thì con chán nản, con ấm ức nhưng sao lại làm um lên tui có người khác đây, chồng ơi tui có người khác đây nè! Thân bại danh liệt, con giết con, con giết cả thanh danh nhà mình…”[59, 98]

Dạ Ngân cũng từng bày tỏ: “Tôi quan niệm nhà văn phải sống trước đã Sống

tức là viết được phân nửa điều mình muốn tuyên ngôn”[71, 179]

Với những tác phẩm mà chị đã cho ra mắt bạn đọc, có thể thấy, từ Quãng đời

ấm áp, Con chó và vụ ly hôn, Cõi nhà, Nhìn từ phía khác, Nước nguồn xuôi mãi;

rồi Miệt vườn xa lắm, Gia đình bé mọn, đến Lục bình mải miết, 100 tản mạn hồn

quê, Phố của làng, Gánh đàn bà…Người đọc dễ nhận ra thấp thoáng trong những

tác phẩm ấy bóng dáng của chị, những trải nghiệm của chị, tính cách của chị, những đất, những người mà chị đã từng sống, từng cùng chia ngọt sẻ bùi, lẫn chịu

Trang 17

đựng nhau trong cay đắng Và cả những chuyện đời mà chị đã được nghe kể lại, tạo

sự xúc cảm trong chị, tạo những day dứt không nguôi trong chị

Dạ Ngân đã để Tiệp nói thay tiếng nói của lòng mình: “Văn chương với nàng

giống một thứ tín ngưỡng hơn là thứ phương tiện Nàng không biết nó đến với nàng

từ đâu…Văn chương đã mon men rủ rê nàng từ hồi con nhỏ Tiệp cuộn tròn cuốn tập học trong tay bước đi dưới vòm cây trong vườn, rồi nó biến thành sự nghiêm cẩn thường trực khi nàng làm một bài văn trong lớp hay lúc ôm một cuốn sách bất ngờ bắt được, cuối cùng nó chiếm lĩnh toàn bộ nàng, thiết kế số phận và đẩy nàng đi, đi mãi” [59,196]

chữ nghĩa, trong những lúc còn thảnh thơi, hay những lúc đầy đau khổ, ngổn ngang

trăm mối khi những biến cố gia đình xảy ra, kéo dài Vậy mà rồi “cũng có lúc nàng

thấy văn chương thật phù phiếm và vô tăm tích” [59,198]

Để có những trang viết gởi tới bạn đọc, Dạ Ngân đã thường tìm đến sự cô đơn Trong sự tĩnh lặng của đêm, một mình với chiếc máy chữ và trang giấy, chị đã trải lòng mình Cả khi đã tìm được sự hạnh phúc với người mình yêu, sau những năm dài trắc trở, nhà văn vẫn muốn tìm đến sự cô đơn, để suy ngẫm, và để viết Chị đã rút ra

được rằng “Yếu tố làm nên hoàn cảnh và điều kiện để người nghệ sĩ tồn tại, ấy là sự

cô độc” [71,180]

Viết văn với gần ba mươi năm, vì gánh nặng chữ nghĩa và cũng vì sinh kế,

như đạo, bởi có nói gì gì nó vẫn có ý nghĩa cứu rỗi, hướng thiện cho con người Chính vì vậy mà nó cày lật không nương tay mặt trái của xã hội loài người và mảnh đất tâm linh của kiếp người”[71,179]

Với quan niệm như vậy, chị đã lặng lẽ quan sát, lặng lẽ suy ngẫm, quanh mình

hồn người, có những nét đẹp của cảnh vật, có những chi tiết làm người ta nhớ mãi; lại cũng rất nhiều chi tiết, nhiều hình ảnh, hành động của con người không đẹp một chút

Trang 18

khuất tất của cơn sốt tập đoàn hoá ở miền Nam, về một Hà Nội bị nông thôn hoá sau những ngày miền Nam mới hoàn toàn giải phóng Những tồn tại ấy, những thiếu sót ấy, đã để lại dấu ấn rất đậm trong tâm trí của chị; và với những trang viết của mình, chị đã khiến bạn đọc không thể nào quên, cùng chị Nhắc thế, để rồi

cùng hướng mọi người đến một ngày mai, xây dựng một Hà Nội, một thủ đô, và xây dựng cả nước theo con đường đổi mới

1.1.3 Một cái nhìn cuộc sống đa dạng, nhiều chiều:

Thực sự đến với văn chương từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhưng với kinh nghiệm chín năm ở Cứ, đã từng làm cách mạng từ những ngày còn

đời Và chị đã là một ngòi bút của cả cái hôm qua và của cái hôm nay

Với trải nghiệm của mình, Dạ Ngân đã hướng ngòi bút của chị về những ngày đã qua, những năm tháng còn thơ dại ở miệt vườn ở Long Mỹ, Hậu Giang, những năm tháng ở Cứ với bao gian khổ xen lẫn ngọt bùi thời kháng chiến, những sự việc ở thành, ở vùng tạm chiếm; rồi những năm hậu chiến với tập đoàn hoá ở miền Nam, Hà Nội những ngày sau giải phóng Cũng là nhà văn của thời hiện tại, Dạ Ngân hướng ngòi bút đến cả những việc, những người của ngày nay

Tất cả, với nhiều cảnh đời, nhiều thân phận Chị đã nhìn cuộc sống với sự đa dạng, nhiều chiều Tất cả, đều gắn với con người Con người với những nét đẹp tâm hồn,

Dẫu có quan niệm văn chương “cày xới không nương tay mặt trái của xã hội

loài người, thì rồi cuối cùng cũng phải hướng tới cái thiện cho con người”, Dạ Ngân

trước hết, đã hướng ngòi bút của chị đi theo trái tim của chị, nhìn cuộc sống ở nét đẹp tâm hồn con người

Ở Quãng đời ấm áp, đó là hình ảnh một chú Tư Thọ, người thủ trưởng Bê

Hai, một cơ quan công tác chính trị tư tưởng thời kháng chiến chống Mỹ Chú điềm đạm, chú quan tâm đến anh chị em trong cơ quan, nhất là đối với cô Tiệp, một thiếu

nữ mới vào Cứ Chú hiểu tâm lý anh em trong đơn vị, chú động viên, chia sẻ với anh

Trang 19

em trong gian khổ của chiến tranh Yêu những giờ phút hiếm hoi lắng đọng trong Cứ với chương trình Tiếng Thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam và chú cùng chia sẻ niềm yêu này với anh em nhân viên trong đơn vị Với Tiệp, chú là người cha tinh thần tuyệt vời, như từ trong trí tưởng tượng của chị bước ra Khi chú hy sinh, Tiệp vẫn nhớ như in những lời nhắc nhở, những lời động viên tận tình của chú Những lời dặn

dò ấy của chú, Tiệp xem nó là một thứ hành trang, tạo động lực để chị đi trọn con đường kháng chiến

Ở Thợ vẽ truyền thần, là hình ảnh một người hoạ sĩ già, bác Hà Trước yêu

cầu vẽ lại bức chân dung của một người bộ đội ngày xưa với trang phục trang trọng của ngày nay, ông đã có những phản ứng tức thời

Dầu vậy, ông vẫn nhận lời vẽ Người hoạ sĩ ấy đã hoàn thành bức vẽ với thời gian sớm nhất và không để phạm một sai sót kỹ thuật nào Song, ông đã không thành công Bởi, từ trong trái tim ông, trái tim của một người hoạ sĩ già có tài, ông đã thấy việc lắp ghép ấy là khiên cưỡng: Một người lính cụ Hồ năm xưa với dáng vẻ phong trần, làm sao tương thích được với bộ áo vét, cà vạt của ngày nay

Ở Trăng về, là hình ảnh của Nguyệt Nguyệt quê tận U Minh, xứ sở có nhiều

đôi chân của một người đẹp, giữa hầm bí mật của chiến khu, lại càng thêm khêu gợi

Bởi nó như một kiệt tác “Một vẻ đẹp được nhào nặn để được tôn vinh, được công

kênh cho mọi người chiêm ngưỡng nếu như không có chiến trận” [56, 15 – 16]

Không chỉ có thế, Nguyệt còn có tài xoay xở trước việc khó trong Cứ Để rồi, muốn tự làm cái phòng tắm có vách làm từ những thân sậy, thân lách, chị đã đi dọn

và rồi vướng phải trái nổ Đôi chân đẹp đẽ ấy đã chẳng còn ra hình thù gì Vậy mà,

giữa lúc cực kỳ nguy hiểm ấy, Nguyệt vẫn bộc lộ phẩm chất tuyệt vời của mình “Chị

Nguyệt ngã ngửa, đang cố ngóc dậy để nhìn đôi chân không còn ra hình thù và bằng tất cả sức mạnh chớp nhoáng, Chị kéo mạnh tôi xuống, cố gắng nghiêng người đè lên

để che đạn cho tôi”

Trang 20

Lo lắng cho người khác, một đứa em của mình trong khi bản thân đang

bị thương nặng, Nguyệt càng thêm đẹp bội phần Vẻ đẹp ấy còn nhiều lần hơn dáng hình của Chị

Với Ngọn nến phập phồng Ngữ, một Phó Tiến sĩ sử học, tốt nghiệp ở Đông

Âu, đã nhận lời với bà Loan: Nhận làm cha của một đứa bé khi bản thân cháu bé chưa biết mặt ba mình Ngữ đã đau đáu vì lòng trắc ẩn trước hoàn cảnh của một cô bé mồ

côi : Mồ côi mẹ, rồi bà ngoại cũng mất; cha thì nhiều năm không biết tăm hơi: “Có

một ngọn nến nhỏ trước mặt tôi, ngọn nến rất trắng đang cho tôi ánh sáng phập phồng của lòng trắc ẩn Tôi không thể rời bàn tay vun đắp ra khỏi nó được, chỉ vì nó phải cháy lên cho cuộc đời nó và cho cả phần đời của tôi nữa” [56, 166] Vẻ đẹp từ

lòng trắc ẩn của Ngữ chưa gặp được sự đồng điệu từ người đầu ấp tay gối với mình

Chiến tranh đã qua đi trên đất nước chúng ta, những ký ức về nó vẫn chưa thể xoá nhoà trong tâm trí Dạ Ngân – Chị vẫn từng viết về nó, về những ngày phải trực tiếp đối mặt với những người bên kia chiến tuyến Trong sáng tác của Dạ Ngân,

có truyện ngắn Câu chuyện nhiều năm Truyện là sự nối tiếp mạch truyện Nhìn từ

phía khác, cùng viết đề tài về cuộc gặp gỡ của những cán bộ cách mạng với những người lính của chế độ cũ, với một cách nhìn khác, đời hơn Hai mươi lăm năm trôi qua sau cuộc chiến tranh ác liệt, đã có điều kiện để Chị nhìn về một thời khói lửa, về những cảnh ngộ, về những tâm trạng, những cảm xúc của những con người ở những

chiến tuyến khác nhau Câu chuyện nhiều năm đã ghi lại những tâm trạng của

những con người Truyện đã dẫn dắt người đọc bắt đầu từ sự việc Thẩm vào Cứ thăm

chồng Trực thăng của địch tràn tới Giữa toán lính với “Tiếng giày rầm rập nghẹt

thở, những gương mặt râu tóc mụn nhọt nắng nôi được súng đạn và uy lực của trực thăng hỗ trợ biến thành những gã robot cứng đanh hùng hổ” [49,22] là một hình ảnh

khác của người chỉ huy “viên thiếu uý dong dỏng, gậy chỉ huy rất điệu và đôi kính

cận thư sinh” Thiếu uý Ng Đ Sang, người chỉ huy cuộc đổ quân, đã nhận ra ngay

được Thẩm, khi nhìn thấy cây đèn chai đặc trưng của những người đi Cứ và hộp kem nho nhỏ, loại kem trang điểm thịnh hành thời đó

Trang 21

Thiếu uý Sang đã không quá ngây thơ để không nhìn ra chị Cuộc đối thoại rất

lạ lùng giữa thiếu uý Sang và Thẩm đã tái hiện trước người đọc một cảnh ngộ cam go thời khói lửa Nhưng sâu xa hơn cả, sau những câu nói tưởng như đùa một thiếu uý kiểng, lại thấy thấp thoáng một tấm lòng Có thể xuất phát từ cái nhìn trước một cô

gái khá xinh, người thiếu uý ấy không nỡ để cô làm “bia thịt” Sang đã là một người

có lòng nhân, một tâm hồn đẹp khi nói với Thẩm “Tụi tui sẽ để ba má con trở lại

chòi cũ trước, cứ bám hầm cho chắc ăn, tụi nó không hơi đâu diệt hết từng cái chòi Quân rút, pháo cũng nghỉ mệt, chừng đó xuống ghe về hay ở lại với Việt cộng thây kệ các người” và “Hộp kem thì trả, còn chai đèn, cho giữ làm kỷ niệm chơi há!”

Hành động và lời nói ấy, đã khiến Thẩm không thể nào quên buổi trưa của trận

chị làm thành viên trong gia đình “Chị cảm thấy rõ ràng sự thiêng liêng biển cả, đó

là sự cưu mang vô điều kiện của nhân dân, lòng dân, sự vĩ đại của nhân dân” [49,

21] Và lẽ nào, chị không nhận ra viên thiếu uý đại đội trưởng thư sinh với đôi kính cận ấy lại là người không thực thi mệnh lệnh của cấp trên anh ta: tìm diệt những người theo kháng chiến

Nếu ở mảng truyện ngắn, Dạ Ngân, bằng nét bút tài hoa mà sắc sảo của mình,

đã khắc vào lòng bạn đọc hình ảnh những con người trong muôn mặt đời thường với những tấm lòng nhân hậu, đẹp đẽ; thì với mảng truyện vừa, chị cũng đã tạc nên những hình ảnh tươi đẹp, với những sắc màu đậm nhạt khác nhau

người tốt, trong chị Cô Câm bụng mang dạ chửa, vẫn chạy đuổi theo Tiệp, để trả lại cho Tiệp gói tiền mà cô bé đã đánh rơi

Hình ảnh người cha của Tiệp, đã ủng hộ nhà máy dệt lụa tơ tằm cho Tuần lễ vàng kháng chiến để rồi trở thành một cán bộ kháng chiến gương mẫu, cho gia đình, cho cả dòng họ Sự đóng góp ấy cho kháng chiến, cũng có thể nói, là tấm gương điển

Ràng cứng rắn như đàn ông, nhưng hết sức nhân ái, đôn hậu Chồng Cô qua đời khi

cô ở độ tuổi hai mươi tám, Cô đưa con của mình ra thành cho nội nó Rồi “Cô quay

Trang 22

về nhận một lời ký thác của ba tôi: – Làm đàn ông, lúc này anh không mặt mũi nào ở

mà con anh đông, anh trông cậy vào em nghen Ràng!”; “Ai chớ ba tôi mà cầu xin thì

cô tôi chỉ còn nước chôn tuổi trẻ xuống đất mà đứng lên Vì ba tôi là anh trai duy nhất, người đàn ông toàn diện, tuyệt vời nhất mà cô tôi tôn thờ Tình cảm của cô dành cho ba tôi là vô điều kiện, trang trọng, mãi mãi” [58, 64]

Cứ thế, thực hiện theo đúng lời hứa với anh trai mình, cô Tư, ở độ tuổi hai mươi tám, đã gác lại tình duyên, giao con mình về nội nó, để toàn tâm toàn ý thay anh lo cho cha mẹ già, đàn con dại của ông anh, cùng với người chị dâu, bươn chải làm lụng, một nắng hai sương, để nuôi bầy cháu, dạy dỗ bầy cháu khôn lớn Cô, dẫu không biết chữ, nhưng đã thuộc tên, thuộc mặt những nhà tù mà anh cô đã từng nếm trải Để khi anh chết trong nhà tù Côn Đảo, những đêm thanh vắng, cô đã bật khóc, những trận khóc đêm thất thường

quý trọng, lòng biết ơn của chị đối với người cô của mình Bởi tất cả những gì cô Tư

đã mang lại cho chị em Hồng Nga là tài sản quý giá nhất đối với chị em chị Cô Tư

Ràng trong đời thực, đã là nguyên mẫu cho nhân vật Tư Ràng trong Miệt vườn xa

lắm và Gia đình bé mọn của Dạ Ngân

Ở tiểu thuyết Gia đình bé mọn, chúng ta lại gặp những nét đẹp khác của tâm

hồn con người

Bà ngoại Hai, bà bác quen dọc đường, đã giúp đỡ tận tình cho Tiệp khi mẹ con chị khệ nệ tay xách nách mang, nhất là lúc chị bị băng huyết trên đường đi lại, khi từ thị trấn Điệp Vàng đến Bệnh viện, như tấm lòng thương người của mọi bà mẹ

Bà mẹ Đính, quý trọng con mình, quý yêu cháu nội Bà đã hiểu được tình cảm

và tâm trạng của Đính, khi vợ chồng sống không thuận hoà Để, với sự giới thiệu tỉ

mỉ, đầy thiện cảm của con trai, bà đã thu xếp gặp người thương của con mình

1.1.3.2 Nhìn cuộc sống ở mặt còn khuất tất của con người thời hậu chiến

Con người với những nét đẹp tâm hồn đã đầy ắp trong các sáng tác của Dạ Ngân Điều đó phần nào nói lên tấm lòng nhân hậu của chị Yêu cuộc sống, yêu con

Trang 23

người, đã giúp chị xây dựng nên những hình tượng đẹp đẽ, những nhân cách đáng ngưỡng vọng

Song, không chỉ có thế Bởi cuộc sống muôn màu vẫn còn làm chị có những trăn trở, nghĩ suy Một Dạ Ngân đã rất nhạy bén, tinh tế khi nhìn ra những mặt còn khuất tất của con người, nhất là ở thời hậu chiến

Những khuất tất ấy, dễ nhận ra ở Gia đình bé mọn

Đó là hình ảnh của những con người một thời làm mưa làm gió đối với người dân, của những cán bộ thương nghiệp, cán bộ quản lý thị trường, của những cán bộ văn hoá thông tin thời bao cấp

Đúng như quan niệm của nhà văn nữ đồng bằng sông Cửu Long “Văn

chương,… nó cày lật không nương tay mặt trái của xã hội loài người…” Mặt trái ấy,

có không ít trong cuộc sống hôm nay Mặt trái ấy, luôn hiện diện trong tác phẩm của

Dạ Ngân

Chính văn hoá thương nghiệp độc quyền đã làm cho những người cán

bộ thương nghiệp, khi biết được lợi thế của mình, đã có những lời lẽ, hành vi, xử

xự thiếu văn hoá đối với nhân dân, trong những năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng

Tệ hại hơn nữa, những cán bộ văn hoá thông tin, là những người cần có thái độ,

đâu túa ra hỏi giấy, túm tay như mình bị truy nã Thế rồi áp vô gốc cây dùng kéo sởn một nhát nhanh như AQ bị người ta cách mạng cái đuôi sam đi” [59, 43]

Để đến nỗi, nhà văn đã phải thốt lên “Ở dưới địa ngục người ta cũng không đối

xử với tóc dài quần loe như mấy ông văn hoá thông tin xứ này!”

Một con người khác, Tuyên, bản thân là một cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh, đã

tay gối của mình, khi đến ba lần, chị phải tự đi phá thai lấy một mình, để anh rảnh rang lo việc cơ quan

Trang 24

Tiệp đã u buồn nhớ lại: “Lần thứ hai rồi lần thứ ba, lần nào nàng cũng trèo từ

chiếc honđa 67 của chồng xuống, một mình chiến đấu với mọi công đoạn, lại đói và khát, xế chiều lại tự đi mua thuốc rồi ra cổng vẫy xe lôi về nhà nằm rũ xuống như một tàu lá héo Không lần nào Tuyên đi vắng, cơ quan anh cũng chưa di dời, bệnh viện tỉnh vẫn nằm trên trục đường cơ quan Tuyên giáo tỉnh với nhà của anh” Để rồi

chị lại biện minh cho chồng: “Hay anh thuộc nhóm máu cá, xa môi trường nước của

công sở một lát là anh không chịu nổi và sự tận tuỵ tuyệt đối của anh với cương vị phó phòng tuyên truyền của Ban là đáng được thông cảm và đề cao?” [59,54]

Khi nghe Tiệp đặt vấn đề không nên kéo dài cuộc hôn nhân không có tình yêu,

“Đã nói dính tới văn chương là trốn chúa lộn chồng mà Cô với thằng nào, thằng văn thơ trời đánh nào hả?”;“Ra khỏi nhà để thành điếm chớ gì? Đã bảo đi với cái ngữ

ăn trợn nói trạo đó là hư thân mất nết ngay mà!” [59, 84]

Giữa Tiệp và Tuyên mãi mãi là sự không hoà điệu, trong cuộc sống vợ chồng Tiệp quá nhạy cảm, Tuyên lại quá thờ ơ Thờ ơ quá mức đối với vợ của mình, kể cả

khi vợ trong cơn thập tử nhất sinh, băng huyết vì sẩy thai, thế mà “mãi sáng hôm sau

Tuyên mới nhắn xuống: Ba ngày nữa sẽ ngồi xe cơ quan xuống đón mấy mẹ con về luôn Yên tâm, đã hỏi qua ý kiến của bác sĩ của Ban bảo vệ sức khoẻ Tỉnh uỷ trên này, băng huyết vì sẩy thai mà can thiệp kịp thời thì không có việc gì đâu!” [59,104]

Hồng Nga trong đời thực đã phải gánh chịu những đau đớn một mình, giữa những cơn thập tử nhất sinh Sự quá đỗi thờ ơ của chồng trước những giờ phút

nghiêm trọng nhất của đời nàng đã khiến những trang viết trong Gia đình bé mọn

càng dễ gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc Gia đình bé mọn giàu chất tự

truyện, về cuộc đời của Lê Hồng Nga_ Dạ Ngân, vừa tươi rói chất sống, lại trầm chất nghĩ suy về thân phận con người và tình người trong những trạng huống gay

go nhất

Dạ Ngân đã rất sắc sảo để nhận ra rằng: Nhiều điều còn khuất tất của con người thời hậu chiến vẫn đang diễn ra quanh chị, trong cuộc sống của chúng ta Nó

Trang 25

không chỉ quẩn quanh trong gia đình chị; mà nó vẫn còn hiện hữu ở trong những con người có chút ít quyền hành trên chị

Đã có lúc Tiệp hoang mang, Tiệp tưởng chừng như mình phải gục ngã trước

bao sức ép, từ gia tộc, đến cơ quan Bởi “Một trong những sự yếu đuối của con người

là sợ bị cộng đồng lãng quên hoặc ruồng bỏ” [59, 201] Nhưng rồi, chính nhờ nhìn ra

những điều khuất tất quanh mình, sống thực với lòng mình, với tình cảm cao đẹp và chân thật của mình, Tiệp đã vững chải đứng lên

Bao nhiêu điều còn chưa trọn vẹn, chưa đường hoàng của con người thời hậu

chiến vẫn hiện diện trong sáng tác của Dạ Ngân, mà tiêu biểu nhất, vẫn ở Gia đình

bé mọn

Song, chị không chỉ nhìn thấy cuộc sống ở những mặt còn khuất tất của tâm hồn con người; sống trong dòng chảy của văn hoá Việt, Dạ Ngân đã có những lúc nhìn cuộc sống ở đời sống tâm linh

1.1.3.3 Nhìn cuộc sống ở khía cạnh đời sống tâm linh của con người

Người Việt Nam chúng ta, từ xa xưa, đã rất coi trọng đời sống tâm linh Có lẽ, một phần, khi gặp khổ đau, bất trắc, ông cha ta vẫn luôn tin vào những điều thiêng liêng, bí ẩn, để giúp mình vượt qua khó khăn, vươn lên phía trước Truyện Kiều là một kiệt tác văn chương của dân tộc ta, vẫn thấm đẫm niềm tin vào đời sống tâm linh khi rọi soi số phận nàng Kiều Những lận đận của một đời người mãi gieo vào lòng những người dễ rung cảm những nghĩ suy, ưu tư Đối với Dạ Ngân cũng vậy

Cuộc sống với không ít những đau khổ, khó khăn cả vật chất và đời sống tình

cảm, đã tạo cho Dạ Ngân tin vào đời sống tâm linh của con người “Đời có số hết”

[59, 292]

Sâu xa hơn, khi nghiệm hoạ phúc đời mỗi con người, nhân vật trong tác phẩm

của Dạ Ngân đã từng nói “Tại tụi bây, hồi vô cái nhà này tụi bây không cúng kiếng lễ

lạt đất đai thần thổ mà thằng Biên còn quật đổ trang Phật với bàn thờ gia tiên của người ta” [56, 31] Sống cho phải với đạo lý ở đời, để được phúc, để lánh hoạ, đã ăn

sâu trong tâm hồn người Việt; và cũng đã ẩn chìm trong tâm hồn nhà văn

Trang 26

Dạ Ngân đã có lúc tin vào con tạo xoay vần Để từ sự gặp gỡ này của hơn mười lăm năm trước, hai con người của hai chiến tuyến lại gặp nhau trong một hoàn cảnh

“Bỗng dưng một cuộc xoay vần khác nữa xuất hiện, rắp tâm đặt họ vào tình huống lựa chọn quá sức đối với họ” [56, 35] Cả hai con người ấy, cùng cô đơn sau những

nghịch cảnh của cuộc đời, nhớ về chuyện cũ, họ đã từng hàm ơn nhau “Con đường

của hai người là đường cánh cung từ hai phía mười lăm năm, nó tiến dần về một điểm, suy cho cùng, không ai từng không hoặc từng có nhiều hơn ai, đó là những hạt cát từng bay lên và đã rơi xuống trong giông gió cuộc đời” [56, 34]

Trần Thuỳ Mai, nhà văn nữ xứ Huế, cũng đã nhìn thân phận của những người

phụ nữ như những hạt bụi trong cuộc đời “Rượu thấm đẫm linh hồn và thể xác tôi

đến nỗi không còn gì dẫn dụ tôi được nữa, kể cả những người đàn bà giá ba nghìn ở Bến Me nay cũng chỉ còn là những hạt bụi hổ nhục xa mờ trong ký ức” [44, 117]

Ở một góc nhìn khác, nhân vật trong tác phẩm đã nói hộ Dạ Ngân về một niềm tin tâm linh, bởi cái đẹp của cuộc sống và con người là vĩnh hằng, chỉ có thân xác con

người là hữu hạn: “Tôi như kẻ thất tình, cho đến khi tôi tiễn được chị Nguyệt lên trời,

thỉnh thoảng, cho tới hôm nay, tôi vẫn hay gặp chị nhìn tôi, thăm hỏi tôi qua vẻ đẹp ngậm ngùi của ánh trăng hồi đó” [56,17]

Đây đó trong những sáng tác của Dạ Ngân, vòng tròn tạo hoá vẫn đang hiện hữu, cuốn xoay số phận của những con người mà không chờ đợi sự chuẩn bị của họ

“Hình như cái vòng tròn riết róng trên hành trình xoắn ốc đã nhanh tay đặt tôi vào,

nó không cho tôi kịp hoàn hồn hay kịp thở sau chặng đời phải nói là ghê gớm ở Đông Âu” [56, 152]

Khi trải lòng mình với Gia đình bé mọn, Dạ Ngân dẫn dắt người đọc theo chị

với những suy nghĩ về đời sống tâm linh Với chị, ông bà tổ tiên, dù là của mình hay của người khác, đều phải luôn được ngưỡng vọng Sống trong một cuộc sống với nhiều bất trắc, với lắm gian truân, và có lúc, như cô độc trên hành trình cuộc đời

mình, Dạ Ngân đã có một niềm tin rất mạnh mẽ vào đời sống tâm linh “Tiệp trải tờ

giấy báo trắng và đặt lên nó một chiếc lư hương nhỏ để tưởng nhớ đứa con trai út đã

“tuẫn tiết” của ngài đại tá đang còn ở trại cải tạo nào đó rất xa” Và nàng đã từng

Trang 27

giữ vững một lòng tin: “Nàng tin linh hồn trẻ ở cõi kia vẫn thỉnh thoảng đáo qua đây

thăm nhà, mong cậu ta phù hộ cho các con nàng vượt qua những sự cố trong cuộc sống đơn độc và bất trắc của chúng” [59, 195]

Tiệp, người phụ nữ gan góc trong Gia đình bé mọn, vẫn đã nghĩ về một kiếp

sau Tiệp bị dằn xé bởi một bên là tình yêu còn bên kia là tình mẫu tử Để khi nàng

đến với bên này, bên kia phải chịu thiệt thòi thôi “Nàng… lại nghĩ, như muôn ngàn

lần trong mười mấy năm qua, rằng nếu có kiếp sau thì nàng sẽ chọn gì, tình yêu hay tình mẫu tử? Phải, nếu như có cái kiếp sau ấy thì nàng sẽ chọn sao cho hai thứ tình

ấy có trong nhau, sinh ra cho nhau và vì nhau, mãi mãi, suốt đời” [54,279]

Nhà văn đã để nhân vật nói hộ mình “Nhưng mà phải rắn rỏi lên, đời có số

hết” Sau bao năm lận đận vì tình duyên, giờ được sự hạnh phúc, thì lập tức, Tiệp lại

nhận được tin chẳng lành Tiệp lại tiếp tục suy nghĩ về luật bù trừ của tạo hoá Ở đấy, hạnh phúc đan cài với khổ đau, được đi liền với mất, gần gũi đi với rời xa Tiệp nghĩ

đến cuộc đời, đến bàn tay sắp xếp của tạo hoá “Cha ăn mặn con khát nước, nàng

đang được thì con nàng phải mất, đúng không? Bù và trừ, lẽ nào cuộc đời lại nhẫn tâm với nàng như vậy?” [59, 292]

Tiệp nghĩ nhiều về số phận của con gái, sao hình như cùng một số phận

như nàng? “Tình duyên lận đận, học hành dở ương, con cái nhỏ dại, cái vòng tròn

của nàng chưa khép lại mà vòng tròn con gái nàng đã chồng lên…” [59, 293]

Nhà văn nữ của chúng ta vẫn đang nhìn cuộc sống ở khía cạnh đời sống tâm linh của con người Bởi trong truyền thống văn hoá Việt vẫn đang hiện hữu đời sống tâm linh; và Dạ Ngân, với những tháng năm cay cực, vẫn đang có một niềm tin vào

số phận của con người

1.2 Sáng tác của Dạ Ngân – tiếng nói của lòng nhân hậu và niềm tin

Sáng tác của Dạ Ngân là tiếng nói trân trọng, cảm thương cho thân phận con người bước ra từ chiến tranh, hay con người trong muôn mặt đời thường Tiếng nói

ấy có thể thấm đẫm ký ức, có thể đầy thao thức về nghịch cảnh và thân phận con người

Trang 28

1.2.1 Ký ức về chiến tranh và nỗi đau thời hậu chiến

1.2.1.1 Về cuộc sống ở Cứ trong những tháng ngày rực lửa

Dạ Ngân đã viết về cuộc sống ở Cứ trong những ngày còn chiến tranh Chị đã

có những trải nghiệm thực tế, với đất, với người Không có sự bao quát những khung cảnh rộng lớn của chiến trận, nhưng với những tháng ngày từng hứng chịu lửa khói

đạn bom, ở Quãng đời ấm áp, Chị đã có những trang viết mang hơi thở riêng của

mình, về một cuộc sống vẫn đầy chất thơ, dẫu lửa khói bộn bề “Những hoàng hôn,

mặt nước nhuộm hồng tấp nập ghe xuồng của cán bộ, bộ đội và nhân dân… Tâm hồn

mở ra, lồng ngực bồi hồi, dào dạt tình yêu sôi nổi với một cánh hoa tra vàng óng bất ngờ loé ra giữa những cành lá dập bầm, một vành nón tai bèo xinh xinh ôm lấy khuôn mặt dễ thương của một cô bộ đội nào đó không hề quen, một tiếng hát đột

bom” [49, 12]

Thời gian làm việc chung không dài, nhưng giữa Chú và Chị đã có một

sự đồng cảm mạnh mẽ, có lẽ, hình ảnh Chú Tư Thọ trong Quãng đời ấp áp và sau

này trong Gia đình bé mọn là hình ảnh tiêu biểu của những cán bộ cách mạng, yêu nước, chịu đựng được cực khổ trong kháng chiến, và đã có những thành công trong việc dìu dắt thế hệ sau tham gia cách mạng “Những lời động viên tận tình

của Chú, Chị đã thuộc lòng, nó giúp Chị đi trọn con đường gian khổ Nó là hành trang kháng chiến Chị mang theo mà không hề thấy nặng” [49, 30]

1.2.1.2 Về những con người trong kháng chiến

Cuộc sống ở Cứ những tháng ngày rực lửa luôn gắn bó với con người Những con người trong kháng chiến cũng đa dạng trong tính cách, phong phú trong ứng

xử Rải rác trong các sáng tác của Dạ Ngân, người đọc vẫn dễ dàng nhận ra điều đó

Má con Chị Liệt là một minh chứng Hai tâm hồn đẹp, cùng hướng về mục tiêu

chung của cách mạng Song, con đã hiểu lầm mẹ Mà, mẹ vì thực hiện nhiệm vụ bí mật do đơn vị giao, đã không thể giải thích gì với con Nhà văn Dạ Ngân đã khéo dựng tình tiết hai mẹ con gặp nhau trong một cảnh ngộ quá đỗi đau thương Xác chị Liệt cùng với một xác cán bộ nữa nằm trên vệ cỏ, bị giặc hạ gục ở một nơi nào,

Trang 29

kéo về hàng rào thép gai của căn cứ tiểu đoàn bảo an của địch“Chị Liệt, chị Liệt…

của tôi, sao chị cam tâm nằm lại bên mép lộ đáng nguyền rủa này, sao hai mẹ con chị lại tìm thấy nhau trong hoàn cảnh tàn khốc này, sao vậy?” [56,82]

Ở đây, đã cho chúng ta thấy, một Dạ Ngân sắc sảo trong quan sát, tinh tế

trong rung cảm, tài năng trong diễn đạt, phong phú trong ngôn từ Đúng như lời

nhà nghiên cứu văn học Phong Lê “Nghề phải đi kèm với tài năng để sao cho sự thật

cuộc đời trở thành sự thật nghệ thuật”[39, 62] Bằng tài năng của mình, Dạ Ngân đã

xây dựng nên hình tượng của những người phụ nữ kháng chiến, chịu đựng bao mất mát hy sinh để làm nhiệm vụ cách mạng, với những trang viết làm xúc động lòng người

Ở Trăng về, thông điệp mà Dạ Ngân muốn gởi gắm đến bạn đọc, có phải là:

Chiến tranh dù đã tàn khốc đến bao nhiêu, vẫn không làm nao lòng những con người

có niềm tin sắt đá vào kháng chiến, những con người luôn thương yêu, đùm bọc đồng đội của mình

1.2.1.3 Chiến tranh – Nhìn từ phía khác

Chiến tranh với những gian nan, ác liệt, tàn nhẫn của bom đạn, của lạnh lùng Thế nhưng, hơn hai mươi năm sau cuộc chiến tranh ấy, Dạ Ngân đã có những cảm nhận khác hơn về người lính cộng hoà, ở bên kia chiến tuyến

Thảo, một nữ cán bộ cách mạng, trong vai cô hầu bàn ở nhà hàng Vĩnh Thịnh,

gặp tình huống khó khăn: bọn thực khách thô lỗ với cô, gây sự, không chịu trả tiền… Trong tình huống hiểm nguy ấy, Thuận, một thương phế binh đã giải thoát

Để rồi, sau đó, họ đã có những lúc ngồi bên nhau “Chúng tôi ngồi bên nhau

tối đó và không biết bao nhiêu là tối nữa, ngẩn ngơ bế tắc với sự ẩn hiện ma quái của chiến tranh…” [56, 143]

Đây quả là hồi ức của một con người, sau gần một phần tư thế kỷ, nhìn lại về cuộc chiến, về những cảnh ngộ mà mình đã trải qua, dưới một góc nhìn khác, tâm

trạng khác: “Hai mươi lăm năm, tôi, người đàn bà từng có tuổi đôi mươi bỗng thấy

Trang 30

cộm lên trong mớ ký ức bắt đầu lộn xộn của mình một hình ảnh ban đầu thoáng qua như bức ảnh mờ, sau nó trở đi trở lại ngày một dày hơn kèm theo sự thúc bách câm lặng những da diết như có sự xui khiến nào” [56, 128]

Cuộc chiến tranh, dưới cái nhìn của nhiều nhà văn khác, là máu lửa là chết

người vì chính nghĩa với những con người ở chiến tuyến bên kia Dạ Ngân đã có cái

nhìn khác Thảo trong Nhìn từ phía khác lướt qua trong ký ức của mình: “Hay tâm

hồn con người là thứ khó cắt nghĩa nhất, nó quá nhiều ngóc ngách để một khoảng khắc nào đó, nó bất chợt rung lên một hình ảnh, một kỷ niệm, một chi tiết bởi cái mạng nhện tưởng là mong manh của ký ức” [56, 128]

Đã từ lúc nào, một cô Thảo cán bộ cách mạng được vào vai một cô hầu bàn, đã

có những thao thức “… Tôi là thân phận trôi dạt và đang trôi cùng tôi là một thân

phận khác, chúng tôi luôn có nỗi buồn và những giọt nước mắt giống nhau, chúng tôi nhỏ nhoi thường tình yếu đuối như mọi người đàn ông đàn bà trên đời”

Ngoài nhiệm vụ cao cả mà cách mạng giao phó, Thảo cũng chỉ là một con người, với tình cảm, với những rung động thường tình, trước một người ơn Nhà

nghiên cứu văn học Chu Huy đã từng viết: “Nhìn từ phía khác có lẽ là một cách cảm

nhận có phần mới mẻ của Dạ Ngân về những người lính phía bên kia trận tuyến Đây cũng là một cách viết có tìm tòi trong mảng đề tài chiến tranh” [47, 63]

Tiếp nối mạch viết này là Câu chuyện nhiều năm Người đọc dễ chú ý đến

một cuộc đối thoại lạ lùng giữa Thẩm, người đi từ tỉnh lỵ vào Cứ thăm chồng, với

đẩy đưa để mười lăm năm sau, hai người gặp lại Thế cuộc xoay vần, để rồi Thẩm và Sang lại đến với nhau khi mà hoàn cảnh khiến hai gia đình riêng của họ ly tán

Điều mà Dạ Ngân muốn gởi đến bạn đọc qua Câu chuyện nhiều năm: Chiến

tranh đã qua rồi, mọi việc đều được hàn gắn theo thời gian, những con người cũng thế Dạ Ngân đã để ở đây một cái kết mở: Thẩm và Sang sẽ quyết định chuyện tình cảm

của mình “Điều quan trọng là họ đã có nhau, hiểu nhau như mọi người, những con

người bình thường quyết gắn bó với nhau một cách bình thường” [56, 36]

Trang 31

Phải chăng, khi có một quan niệm về văn chương “cày lật không nương tay

mặt trái của xã hội loài người” để rồi “nó vẫn có ý nghĩa cứu rỗi, hướng thiện cho

con người”, Dạ Ngân đã có những điểm mới mẻ trong cách nhìn về con người

trong chiến tranh, những người lính của bên kia chiến tuyến Đây là một trong

những điểm khá nổi bật trong tư tưởng nghệ thuật Dạ Ngân Khi chiến tranh đã lùi

người lính ấy vẫn có lúc thời cuộc đẩy đưa, họ phải tham gia chiến trận, và họ cũng

phải gánh chịu những hậu quả của chiến trận, cực khổ vì trận mạc, họ chán chường; ở

họ, vẫn có những nét đẹp của lòng nhân, của lẽ phải, trong những tình huống và cảnh ngộ cụ thể Khi binh lửa hết rồi, họ vẫn là những con người, những người đàn

ông, những người đàn bà của một đất nước, một dân tộc, vẫn có tình cảm, tình yêu, vẫn tìm đến nhau khi bắt gặp ở nhau sự đồng điệu Sự hoà hợp ấy mới là sự bình

thường trong cuộc đời này, của ngày hôm nay Đây cũng là điểm mới trong tư tưởng

nghệ thuật của Dạ Ngân sau nhiều năm chị cầm bút, cũng là điểm nhìn khá khác biệt của chị so với những nhà văn cùng thời Bởi, nó đậm tính nhân văn, nó hướng

con người đến với tình yêu, hạnh phúc 1.2.1.4 Những nỗi buồn do chiến tranh mang

lại:

Những cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đã thắng lợi Thành công ấy,

đã có từ những hy sinh, mất mát của bao người

Từ những trải nghiệm của bản thân và gia đình mình, nhà văn của chúng ta đã

Nếu ở Miệt vườn xa lắm, cô Tư Ràng cứng rắn, gan góc, vẫn có lúc “Cô Ràng

cũng linh cảm được ngày mảnh vườn này sẽ bị chiến tranh xâu xé, có thể cái khuôn đất dành sẵn cho ông bà nội tôi ở góc vườn cũng sẽ không còn Biết vậy nên cô đã gồng gánh hết sức bằng sự đảm lược có thể nói là phi thường” [58, 97] Chiến tranh

có thể tàn phá tất cả, kể cả đất dành làm mộ phần của ông bà

Tiếp theo mạch truyện của Miệt vườn xa lắm, những nỗi buồn do chiến tranh mang lại đã thể hiện trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân

Trang 32

Chiến tranh đã làm cho những người đàn ông trong cái gia đình lớn ấy ra đi không về, để những người phụ nữ trong gia đình ấy trở thành những người đàn

cũng goá, bốn bức tường gương mà nếu nàng soi vào thì nàng phải lập tức quên tuổi trẻ và khát vọng của mình đi để nhớ rằng không thể so sánh nỗi bất hạnh nào với nỗi bất hạnh của những người goá bụa” [59, 22] Chiến tranh vẫn còn đây đó để lại

những di hoạ, trên gia đình chị Hoài, trên chính đứa con thân yêu của chị, và trên gia

đình Mỹ Út “Thằng Hớn con chị Hoài bị gãy xương chân vì chất nổ sót trong vườn

Không chỉ trong Gia đình bé mọn, ở những truyện ngắn của mình, Dạ Ngân

cũng đã viết về những nỗi buồn do chiến tranh mang lại “Có thể lắm cái cậu thầy

giáo đã để lại chiến trường biên giới một bàn chân ấy” [51, 30], “Chị đã chờ nhưng anh không bao giờ trở lại nữa Thêm một lần, giông bão chiến tranh cuốn mất cái bóng cây trên mái nhà của chị” Những người đàn ông là những cái bóng cây trên

mái nhà của người phụ nữ Những bóng cây ấy, lần lượt rời mái nhà của những người

phụ nữ, do chiến tranh, bởi chiến tranh mà ra Hai Mật vẫn luôn tự an ủi mình “Dĩ

nhiên rồi nó sẽ qua, chiến tranh và những nỗi khổ” [51, 34]

Trên mái nhà người phụ nữ, Má con Chị Liệt lại tiếp tục tái hiện sự khốc liệt của

nó Những người con của kháng chiến đã phải chịu bao mất mát, hy sinh mới có thành quả của tháng tư năm bảy mươi lăm Để rồi sau chiến thắng vĩ đại ấy, vẫn có những người con âm thầm, hiu hắt chịu cảnh cô đơn Làm sao có thể kể hết có bao nhiêu trang viết của Dạ Ngân ghi lại những nỗi buồn do chiến tranh mang lại Đó

thể con người; đó có thể là sự goá bụa của những người đàn bà có chồng tham gia chiến trận; đó có thể là lúc thân xác của người thân bị phơi giữa vòng rào kẽm gai của

Nam sau khi kết thúc chiến tranh Dạ Ngân đã viết về những điều ấy rất nhiều Người đọc đọc những tác phẩm của chị, gấp sách lại, thì sự hình dung trong đầu, không phải

Trang 33

không khí thê lương ảm đạm, cũng không phải hào khí ngất trời của những cuộc

chiến, mà đó chính là: sự cứng cỏi chịu đựng, sự rắn rỏi vượt qua, để rồi cùng vươn lên, tiến về phía trước; theo dòng chảy của những ngày đã qua, đến hôm nay và đi

tới ngày mai của những con người đã từng sống trong những ngày lửa đạn Và

đây cũng chính là sự thành công của chị, nét riêng của chị khi chị viết về chiến tranh

1.2.2 Nghịch cảnh thời hậu chiến và những băn khoăn về cuộc đời, con người

1.2.2.1 Những nghịch cảnh ở mỗi gia đình thời hậu chiến

Chiến tranh dẫu đã lùi xa, một thời đại mới bắt đầu, nhưng đây đó, vẫn còn nghịch cảnh ở mỗi gia đình

Thực hiện theo Hiệp định Genève, những cán bộ miền Nam đã tập kết ra Bắc những năm 1954 – 1955 Những năm tháng dài của cuộc kháng chiến, sự chia xa về địa lý, đã khiến những cán bộ miền Nam khi chia tay với vợ, với người yêu nghĩ rằng: chưa biết ngày nào gặp lại, và cũng có khi, người vợ ấy, người yêu ấy đã có chồng Để rồi, trên miền Bắc, họ xây dựng gia đình Chiến tranh kết thúc Gia đình đoàn tụ Nhưng không ít gia đình đã gặp hoàn cảnh khó xử: Một cán bộ tập kết, có cả

vợ ở ngoài Bắc, vẫn còn vợ ở miền Nam Dù phải sống ít hơn đã tái hiện lại nghịch

cảnh này Niềm trong tác phẩm là hình ảnh một người phụ nữ miền Nam chờ chồng

suốt hai mươi năm “Hồi anh đi, chị là vợ chưa cưới Vắng anh hai chục năm trời, chị

vẫn giữ nguyên vẹn cái dáng con gái ấy chờ anh Giờ quá tuổi, chị không thể có con được, không thể có vẻ tươi tròn sau cái vặn mình sinh nở nhưng chị có dáng son trẻ

đã gửi bức điện đáp lại Niềm đã nghĩ ngợi nhiều về việc gặp gỡ này, giữa người vợ của chồng mình với mình Đây là khoảnh khắc rất éo le, xét về tình cảm Và

quyết định cuối cùng đã đến với Niềm Khi chị thấy rằng: “Anh thấy không, phía em

chỉ có em cần anh, còn phía cô ấy, có tới ba người cần anh” [44, 49]

Quyết định của chị chính là: chị đã tìm một không gian khác như ý muốn, chỉ

có điều, không có Thịnh, không có người chồng Dù phải sống ít hơn, nhưng Niềm

thật sự đã mang lại hạnh phúc nhiều hơn cho những người thân yêu quanh mình

Trang 34

Những điều oái ăm đó, những nghịch cảnh đó, đã là những điều có thực ở đất nước chúng ta, khi mà những cuộc kháng chiến kéo quá dài

Cuộc chiến ấy cũng đã để lại những nghịch cảnh khác ở mỗi gia đình Gia

đình bé mọn đã tái hiện phần nào Nếu một Tuyên sau chiến tranh chỉ tập trung cho

vai trò một cán bộ tuyên huấn, một cách mẫn cán và có chủ đích, thì ngay trong gia đình anh, cô em gái kế Tuyên lại tìm đường vượt biên mong cứu tương lai của chín người em của mình Với cái nhìn sắc sảo, nhưng nhân hậu, Dạ Ngân đã để lại trên những trang viết của mình những lời chia sẻ, những sự cảm thông trước những điều không hay ấy

Cả trong Câu chuyện nhiều năm, Biên, một cán bộ kiên trung gan lì trong

kháng chiến, sau chiến tranh trở thành một giám đốc công ty năng động, đã có cú

trượt dài vì sự hãnh tiến và để trả đũa một thời cực khổ, cuối cùng đã “chết dưới vòi

hoa sen khách sạn sau khi nốc cả một cơn say với một cô điếm” Thẩm, người vợ của

anh, làm sao thoát khỏi sự dè bỉu, chê bai của người đời Sự tha hoá trong lối sống của một số cán bộ sau chiến tranh cũng đã để lại không ít hệ luỵ ở những gia đình

Còn nghịch cảnh khác nữa, một thực tế của miền Nam những năm mới giải phóng Những gia đình có người đã từng làm việc với chế độ cũ, đã âm thầm lên kế hoạch vượt biên Nhiều lý do để những kế hoạch ấy của họ không thành: kế hoạch bị

lộ, hải tặc cướp tàu, người vào bụng cá giữa đại dương bao la… để rồi, lại thêm

những gia đình ly tán, đau thương Câu chuyện nhiều năm viết về những cảnh đời

ấy “Vợ con anh, vợ con anh đã ôm nhau, ôm cả mộng tự do xuống lòng biển, mãi

mãi anh không biết họ có còn được nắm xương hay vào bụng cá hết, mãi mãi” [49,

35] Những nghịch cảnh ấy là có thật, trên mảnh đất quê hương Việt Nam chúng ta, những tháng năm mới giải phóng Những trang văn, cũng là những trang đời ấy, tồn tại, để nhắc nhở chúng ta: Cuộc sống vẫn rất cần đến những tấm lòng để sẻ chia lúc đau thương, cô quạnh

Không chỉ có nghịch cảnh ở mỗi gia đình thời hậu chiến, còn có những ảnh hưởng lớn lao của phong trào hợp tác hoá ở miền Nam

1.2.2.2 Những tác động của phong trào hợp tác hoá ở miền Nam

Trang 35

Sau năm 1975, Nhà nước ta đã tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung trên cả nước Đối tượng của công cuộc cải tạo

xã hội chủ nghĩa vẫn nhằm vào kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể Theo “Tiến trình

lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc (Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản 2009):

“Trong nông nghiệp, từ cuối năm 1978 đến cuối năm 1980, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được đẩy mạnh ở các tỉnh phía Nam Tính đến tháng 7 – 1980, toàn miền đã xây dựng được 1518 hợp tác xã nông nghiệp, 9350 tập đoàn sản xuất, thu hút 35,6% tổng số hộ nông dân vào con đường làm ăn tập thể.”

Một thực tế xảy ra là: Ở miền Nam, những năm mới giải phóng, tư tưởng nóng vội muốn tiến hành nhanh việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, đã xảy ra tình trạng dùng mệnh lệnh ép buộc nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, vào các tập đoàn sản xuất một cách ồ ạt Việc quản lý yếu kém, trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu, đã không đem lại năng suất, sản lượng sản phẩm cao Các nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ trong các hợp tác xã nông nghiệp chưa được chú ý

Lịch sử nước ta đã ghi lại những sự không thành công của việc tổ chức hợp tác

Đối với Dạ Ngân, đó là “Cơn tập đoàn hoá đã làm cho ruộng nương tiêu điều,

vô chủ hết” [52, 28] Và đây nữa “Chuyện tập đoàn trườn qua như cơn bão, ruộng đất bị xới tung, nhổ bưng cả tình làng nghĩa xóm một thời” [46, 29]

Ở Câu chuyện nhiều năm, việc tổ chức tập đoàn hoá, hợp tác hoá thiếu hiệu

quả, để lại hậu quả lâu dài, đã là nỗi niềm ưu tư thường trực trong tâm tưởng của nhà

văn Dưới cái nhìn của Dạ Ngân, Chị vẫn nghiêm minh nhìn nhận “Cùng với thuỷ

tặc, một cơn lũ khác, cơn lũ tập đoàn hoá, hợp tác hoá đã tràn qua thôn xóm, cuối cùng, không ít nhà nông bên kia sông Tiền đã làm một cuộc ra đi vô định” và “Ăn độn là nỗi nhục chưa từng có với dân miền Tây, có phải vậy mà dân nghèo bỏ xứ, còn

kẻ ở thành thị thì rủ nhau vượt biên ào ào.”

Đề cập đến vấn đề ấy trong tác phẩm, Dạ Ngân một lần nữa lại như muốn cày xới mặt trái của xã hội Điều đó dường như để nói lên rằng: Sau những thành quả rực

Trang 36

rỡ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, sự quản lý kinh tế của những người lãnh đạo đã không thành công, những năm sau giải phóng Điều đó, cần phải được đổi thay sớm

Những tác động không đem lại hiệu ứng tốt trong đời sống nhân dân của phong

trào hợp tác hoá ở miền Nam tiếp tục xuất hiện trong Gia đình bé mọn, dưới góc

nhìn của Dạ Ngân “Để dân miền Tây ăn độn thì đúng là trời còn phải chịu thua mấy

ông hợp tác hoá!” [59, 39] Rồi tiếp tục phải gánh chịu thiên tai, cuộc sống của

những người nông dân lại phải thêm nhiều cơ cực “Sau trận lụt lịch sử năm ngoái, kẻ

chèo người dong buồm là dừa nước vừa đi vừa đổi cả tư trang, bàn ghế và tủ thờ để lấy gạo, chờ cơn sốt tập đoàn hoá hợp tác hoá qua đi ”

Miền Nam cần nhanh chóng qua đi những ngày ấy, những ngày của những cơn sốt tập đoàn hoá

Thế miền Bắc những ngày sau thống nhất đã có những nét riêng gì?

1.2.2.3 Miền Bắc những ngày sau thống nhất

Trong những sáng tác của mình, Dạ Ngân đã có những niềm say mê những nét văn hoá cội nguồn Yêu thích chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam

người mình yêu đã từng sống ở đó, bởi Hà Nội là Thủ đô, với truyền thống văn hoá cội nguồn

Nhưng, sao có điều lạ, bao trùm Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, vẫn là một Hà

Nội với bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn, tất bật; một Hà Nội với nhiều điều đáng ngạc nhiên, dưới nét nhìn của một phụ nữ miền Nam

mấy ông lâm nghiệp đã cơ bản phá xong rừng” [59, 130] Nào là “Cả Hà Nội người

ta không đánh răng sao?” “Không sao, em súc miệng bằng nước muối cho chắc răng Mà muối cũng phân phối, phải tiết kiệm từng hột” [59, 132] Nào là “Xe đạp còn có biển đăng ký thì em hình dung, con người bị kiểm soát tới mức nào!” [59,

137] Tình yêu Hà Nội với tinh hoa văn hiến đã không giúp cô Tiệp xoá bớt đi những

cảm nhận không mấy đẹp về Hà Nội “Những chiếc muỗng chết cười Những cái

muỗng gọi là thìa ấy bị đục một cái lỗ tròn nhỏ ở chỗ đáng ra nó phải rất nguyên rất

Trang 37

lành để làm một cách trọn vẹn và tốt đẹp chức năng giúp cho người ta húp được nước phở” Những chiếc muỗng ấy hiện diện trong cửa hàng phở quốc doanh, là dấu

tích một thời của Hà Nội Đính, chàng nhà văn, người yêu của Tiệp đã có nhận xét

sắc sảo.“Người ta làm thế để chống ăn cắp Chỉ có những kẻ ăn cắp thành thần thì

mới nghĩ ra cách chống ăn cắp độc chiêu thế này!” [59, 142]

Là một thủ đô của một đất nước mới vừa ra khỏi chiến tranh, Hà Nội cần có thời gian để xây dựng Dưới mắt Tiệp, một người phụ nữ miền Nam, đã quen cách sống, nếp nghĩ khác, tất yếu, khi đến với Hà Nội, miền Bắc những lần đầu, đã có những cảm nhận lạ lẫm, về lối sống của người dân thủ đô, về sinh hoạt thường ngày

của họ Ngẫm cho cùng, đây cũng là một cách nhìn của Tiệp, với cư dân thủ đô, với một thời bao cấp khốn khó bộn bề Sự quan sát sắc sảo của Tiệp đã tạo nên những

trạng thái tình cảm đầy ấn tượng trong chị, đã dệt nên những trang viết về Hà Nội với những gam màu chưa được tươi sáng lắm “Buổi sáng giờ cao điểm, dân Hà

Nội giống một đàn kiến lầm lụi trên những chiếc xe đạp hoặc nội địa hoặc của Tàu hoặc khá hơn, của những người đi Đông Âu khuân về, dù có chút khác nhau về đẳng cấp ấp thì vẫn cứ là xe đạp có đeo biển hoặc không đeo biển, xám xịt và buồn thảm

” [54, 159]

kỳ bao cấp đã để lại trong anh một ấn tượng rất đậm về việc xếp hàng Không phải chỉ có ở Hà Nội người ta mới thường xếp hàng ở chỗ quy định cho đám đông Cả nước vẫn đã xếp hàng trong thời kỳ bao cấp Thế nhưng , hàng dãy dài của những vật dụng hỏng ấy được thay cho con người để người ta khỏi phải xếp hàng ngay chỗ ấy thì chỉ có ở Hà Nội mới có Điều quan trọng là, Đính đã khái quát một cách rất sâu sắc về dãy xếp hàng ấy Dãy gạch vỡ, nón mê… ấy, dưới sự ngẫm suy sắc sảo của Đính, có thân phận, dấu ấn, ước vọng diện mạo, linh hồn Quả đây là một phát hiện

xã hội học về Hà Nội thời kỳ này, Đính đã trả lời “Anh sẽ vẽ một dãy loằng ngoằng

những gạch vỡ, nón mê, làn cũ, chổi cùn, dép sứt, can nhựa hỏng, áo rách… đó là những vật hình rất hay được dùng để thay thế con người trong dãy xếp hàng ở chỗ

Trang 38

người ta quy định cho đám đông, anh nghĩ nếu đứng riêng trong một cái phông thật tĩnh thì cái dãy ấy rất sinh động, chúng có thân phận, có dấu ấn, có ước vọng, có linh hồn, chúng có diện mạo của những người như anh, như em gái anh, như bạn bè, như các con anh sau này”

sinh, là những vòi nước công cộng với những người lao động đôi khi khiếm nhã…

“Tất cả nói rằng, Hà Nội được nông thôn hoá một cách rất là hiệu quả” [59, 163]

Những chi tiết ấy trong Gia đình bé mọn đã tạo ấn tượng rất đậm trong lòng

bạn đọc về một Hà Nội những ngày sau khi đất nước thống nhất Điều ấy phải chăng

cũng từ quan niệm về văn chương của Dạ Ngân: “Cày xới không nương nay mặt trái

của xã hội” Để những băn khoăn ấy của chị hướng về Hà Nội những ngày đã qua sẽ

đàng hoàng hơn

1.2.3 Tiếng nói trân trọng cảm thương thân phận “bé mọn” của con người”

1.2.3.1 Thân phận con người nói chung trong và sau chiến tranh: bé mọn

Nhân vật trong sáng tác của Dạ Ngân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong

nghèo; những nhà văn nhìn đời sắc sảo thích dịch chuyển, những nhân viên thừa hành trong guồng máy chính quyền thời hậu chiến; và cả những người lính của chế độ

cũ tiếp nối cuộc đời mình sau chiến tranh… Những nhân vật ấy, đa dạng về hình hài, hết sức khác nhau về tính cách, phong thái, ứng xử

sáng tác của Dạ Ngân luôn gặp những trắc trở, khó khăn, nghịch cảnh, cả trong

và sau chiến tranh Những phận người ấy, rất nhỏ bé trước cuộc đời này Nó như

một chiếc tam bản, nhỏ bé giữa dòng sông xiết, nó như một hạt bụi giữa khoảng không gian bao la, nó như những chiếc vòng tròn lặng im, toả rộng nối các đời người

Truyện ngắn Một khúc sông là một trong những sáng tác thành công của chị

Bời là một đại đội trưởng kháng chiến, có vợ là một nữ pháo thủ chiến đấu anh dũng

Trang 39

một thời Cả hai vợ chồng đều là thương binh Sau giải phóng, anh về đất cũ, tiếp nối nghề của cha mình, làm nghề chở đất mướn để nuôi năm miệng ăn Anh đã có cái nết

của người cha xưa “Không làm lấy để ăn tiền, công xá dễ chịu, không từ chối đất mỡ,

lên đất gọn hơ, và có khi nhà chủ nhờ cũng không nề hà” [52, 26] Thế nhưng, chính

những chuyến tam bản đem đất về, khi nước sông đang xiết, lại thêm lũ lục bình dày đặc vướng đường Trong những nỗ lực hết sức của Bời, giữa dòng nước xiết, Bời chỉ còn kịp thoát thân, và đành nhìn theo chiếc tam bản của mình bỏ mình dưới dòng nước hung hãn

Dạ Ngân đã đau đáu về thân phận về người nông dân quê mình như thế, dẫu người nông dân ấy đã một thời góp xương máu của mình cho kháng chiến, cho sự nghiệp độc lập dân tộc, cho sự hồi sinh của một quốc gia Viết về thân phận con người trong và sau chiến tranh, nhà văn nữ của đồng bằng sông Cửu Long của chúng

ta như muốn nhắn gởi một nỗi niềm: Làm sao để những người nông dân Nam Bộ

bớt khổ, thoát nghèo, để họ vươn lên, đứng vững trên đôi chân của chính mình, trên mảnh đất cha ông mình và cả chính bản thân mình đã từng đứng, từng sống, chiến đấu; để họ luôn vững một niềm tin khi nghĩ về cuộc đời họ và cuộc đời con cháu họ, ngày mai

Ở một cảnh đời khác, Dạ Ngân đã bùi ngùi ghi lại, trong truyện ngắn Muỗi

anh đẹp anh giòn anh lừng lững như một cây gỗ quý được thời cuộc đánh bóng”

trong chiến tranh; thì ngày nay, số phận đã biến anh thành “nó đã bị vất lên cạn, một

khúc gỗ gầy gò, mốc nẻ trong trò lơ đễnh của số phận” [56,103] Điều ấy bởi vì đâu?

Một sự lý giải của nhà văn với nhiều tiếc nuối, ngậm ngùi Tâm trạng của một con người, người sĩ quan của một tiểu đoàn quân giải phóng, trước một trận đánh với nhiều mất mát, hy sinh của đồng đội Có ai thấu hiểu nỗi tiếc thương của Lĩnh khi biết tin những người bạn của anh ở các ban chỉ huy đại đội không còn một ai Anh đã

quá đau xót, thiếu bình tĩnh, lơ là trong vai trò của một vị chỉ huy “Anh xông vào

ngửa mặt lên trời khóc như bộng, để mặc cho quân mình lia tiểu liên vào đồng hàng

Trang 40

binh” Phải chăng, với cương vị chỉ huy trận đánh, anh đã vi phạm chính sách tù binh? Anh Lĩnh của một thời huy hoàng đã tự lột súng, ra quân, và cũng không về quê nữa Nhà văn đã dẫn dắt người đọc suy nghĩ nhiều về hành động ấy của Lĩnh

“Không ai biết vì sao anh bỏ ngũ rồi lẫn trốn, những cái chết ám ảnh hay tâm trạng thù ghét súng đạn và sợ hãi giết chóc?” [56, 108] Tiểu đoàn trưởng Lĩnh “vùng vẫy, bậm trợm, bất cần” của một thời; giờ đã trở thành “một con chó hết thời”, “người anh hùng ngã ngựa”, “cái chân sai vặt ở cả những nơi không có tiền công” [56,

110] Sự tiếc nuối của Quý, người bạn thời xa xưa của Lĩnh, hay cũng chính là sự tiếc

nuối của chính người cầm bút, để Lĩnh không “làm một con số không trước mắt mọi

người” [56, 111] Sự kỳ lạ ấy trong con mắt của Quý, cũng là sự trớ trêu của số phận

một con người Một con người đã đánh mất chính bản thân mình sau những phút lơ là khi ở cương vị chỉ huy mà cương vị ấy luôn đòi hỏi sự tỉnh táo, dẫu trong những phút giây gay go nhất của hoàn cảnh, thời binh lửa

phế binh Thuận với cái bàn chân gỗ của Nhìn từ phía khác, sau cuộc chiến, họ đã

trải qua những ngày tháng khác của cuộc đời Họ cũng có những yêu thương, họ cũng

có những chờ đợi, chờ đợi một hình bóng, một tình yêu, rồi họ cùng hoà chung trong dòng chảy của cuộc đời, trong dòng chảy chung của lịch sử dân tộc, theo một chặng đường mới

Bàng bạc trong sáng tác của Dạ Ngân, những phận người với nhiều khổ đau,

nhiều bất hạnh Nhưng người đọc cũng dễ nhận ra dưới tầng sâu của những câu

chữ u hoài của chị, là những ánh sáng của một ngày mai

1.2.3.2 Thân phận người phụ nữ trong và sau chiến tranh: càng bé mọn

* Trong tình yêu:

Ở truyện ngắn Xuân nữ, Dạ Ngân đã có những cảm nhận khác về thân phận

người phụ nữ trong tình yêu Một Chị Xuân giữa những tháng năm lửa đạn, vẫn rất

đẹp nhưng sao tình duyên cứ mãi lận đận “Chị như một món quà giữa khung cảnh

hoang tàn và bị dồn đuổi sau Tết Mậu Thân”, “lần đầu tiên tôi thấy những người đàn

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), Đổi mới văn học về sự phát triển, Tạp chí Văn học số 4/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học về sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Phan Thị Vàng Anh (1995), Khi người ta trẻ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người ta trẻ
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
3. Phạm Thanh Ba (1989), Về một chặng đường văn xuôi (lược thuật hội thảo của Hội đồng văn xuôi mở rộng, Báo văn nghệ số 12, 13/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một chặng đường văn xuôi
Tác giả: Phạm Thanh Ba
Năm: 1989
4. D iệp Quang Ban (Chủ biên), Hoàng Văn Trung (2006), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: D iệp Quang Ban (Chủ biên), Hoàng Văn Trung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
5. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn.H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
6. Nguyễn Bính (1939), Tương tư, thơ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội (Tái bản 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương tư
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1939
7. Nguyễn Minh Châu (1981), Đôi điều về truyện ngắn, Văn Nghệ Quân đội (số 8,1981) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1981
8. Nguyễn Minh Châu (1983), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nxb tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb tác phẩm mới
Năm: 1983
9. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Báo Văn nghệ số 49,50/1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
10. Nguyễn Minh Châu (1989), Cỏ lau, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏ lau
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1989
11. Trương Chính, Đặng Đức Siêu (1978), Sổ tay văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trương Chính, Đặng Đức Siêu
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1978
12. Hoàng Thị Kim Cúc (2008), Phong cách truyện ngắn Dạ Ngân, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Dạ Ngân
Tác giả: Hoàng Thị Kim Cúc
Năm: 2008
13. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu Văn học , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
14. Trần Ngọc Dung (2006), Đời sống thể loại văn học sau 1975 , N ghiên cứu Văn học số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại văn học sau 1975
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 2006
19. Dương Thị Lệ Giang (2005), Những nét đặc sắc trong tản văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét đặc sắc trong tản văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tác giả: Dương Thị Lệ Giang
Năm: 2005
20. Lê Bá Hán – Trần ĐÌnh Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007 ), Từ điển Thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ Văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1995), Lý luận văn học– vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học– vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
26. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam (2005), Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2005
27. Cao Thị Huệ (2006), Sáng tác của Dạ Ngân, Luận văn Thạc sĩ ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Dạ Ngân
Tác giả: Cao Thị Huệ
Năm: 2006
28. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w