Mức độ biểu hiện các triệu chứng rối nhiễu trầm cảm của học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội .... 12 Những lý do trên cho thấy rằng, việc nghiên cứu các triệu chứng trầm cảm và những yếu tố
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS Khúc Năng Toàn
HÀ NỘI – 2017
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan thực hiện đề tài này hoàn toàn độc lập, theo đúng hướng dẫn của Nhà trường và Giảng viên hướng dẫn
Tôi cam đoan số liệu trong kết quả nghiên cứu là trung thực, chính xác và được thực hiện tại địa điểm nghiên cứu
Học viên
Đỗ Bích Ngọc
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Khúc Năng Toàn đã tận tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS Hà Thành, THCS Bế Văn Đàn đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện
để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình và người thân đã ủng hộ, động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng trong học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các quý thầy, cô giáo, bạn bè góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Đỗ Bích Ngọc
Trang 55
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 BASC3 Behavioral Assessment Systems for
Children, Third Edition
3 ICD10 International Classification Diseases
4 DSM5 Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders)
Trang 66
MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích nghiên cứu 12
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 12
4 Giả thuyết khoa học 12
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 13
7 Phương pháp nghiên cứu 13
8 Đóng góp của đề tài 15
9 Cấu trúc luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA RỐI NHIỄU TRẦM CẢM Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 16
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm 16
1.1.1 Một số nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới 16
1.1.1 Một số nghiên cứu về trầm cảm ở Việt Nam 18
1.2 Khái quát về rối nhiễu trầm cảm 20
1.2.1 Khái niệm trầm cảm 20
1.2.2 Những biểu hiện triệu chứng của rối nhiễu trầm cảm 24
1.2.3 Phân loại trầm cảm 28
1.2.4 Các nguyên nhân gây rối nhiễu trầm cảm 30
1.2.5 Các tiêu chí chẩn đoán rỗi nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học 33
1.2.5.1 Các tiêu chí chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm theo DSM-5 33
1.2.5.2 Các tiêu chí chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm theo ICD10 35
Trang 77
1.3 Trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở 38
1.3.1 Đặc điểm phát triển độ tuổi của học sinh THCS 38
1.3.2 Những yếu tố độ tuổi liên quan đến rối nhiễu trầm cảm ở học sinh THCS 43 1.3.3 Đặc điểm của rối nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở 48
Tiểu kết chương 1 51
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.1 Tổ chức nghiên cứu 53
2.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm và trầm cảm ở học sinh THCS 53 2.1.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 54
2.1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 56
2.2 Phương pháp nghiên cứu 59
2.2.1 Các nguyên tắc phương pháp luận 59
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 61
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG RỐI NHIỄU TRẦM CẢM CỦA HỌC SINH THCS TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 64
3.1 Mức độ biểu hiện các triệu chứng rối nhiễu trầm cảm ở học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội 64
3.1.1 Tỷ lệ học sinh đáp ứng chẩn đoán trầm cảm theo mức độ biểu hiện triệu chứng 64
Trang 88
3.1.2 Mức độ biểu hiện các triệu chứng rối nhiễu trầm cảm của học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội 70 3.2 Các biểu hiện triệu chứng rối nhiễu trầm cảm và những rối nhiễu
liên quan ở học sinh THCS Hà Nội 83
Tiểu kết chương 3 Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
10 Tài liệu tham khảo 97
Trang 99
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ Danh mục bảng
Bảng 1: Tỷ lệ học sinh đáp ứng chẩn đoán trầm cảm theo mức độ biểu hiện triệu chứng 66 Bảng 2: Mức độ biểu hiện các rối nhiễu trầm cảm ở học sinh Trung Học Cơ
Sở trên địa bàn Hà Nội 71 Bảng 3: Khác biệt giới tính về mức độ biểu hiện các triệu chứng trầm cảm
ở học sinh THCS Hà Nội 78 Bảng 4: Khác biệt bậc học về mức độ biểu hiện các triệu chứng trầm cảm ở học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội 81 Bảng 5: Mức độ biểu hiện các triệu chứng trầm cảm của học sinh THCS Hà Nội theo các thang đo khác nhau 84 Bảng 6: Tương quan mức độ biểu hiện triệu chứng trầm cảm theo các thang
đo khác nhau 87 Bảng 7: Các biểu hiện triệu chứng rối nhiễu ở học sinh THCS trên địa bàn
Hà Nội 89
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 1: Khác biệt giới tính về tỷ lệ đáp ứng chẩn đoán theo mức độ biểu hiện triệu chứng 68 Biểu đồ 2: Khác biệt bậc học về tỷ lệ đáp ứng chẩn đoán trầm cảm theo mức độ biểu hiện triệu chứng 69
Trang 10Trầm cảm là một loại rối nhiễu về cảm xúc, được đặc trưng bởi một số triệu chứng như buồn chán, mất sự hung thú, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị bản thân, khó ngủ hoặc sự ngon miệng, khả năng làm việc kém và khó tập trung Trầm cảm có thể trở thành mãn tính hoặc tái phát và làm giảm khả năng của cá nhân trong thích ứng với cuộc sống, nhiều trường hợp trầm cảm
có thể dẫn tới nguy cơ tự sát ở người bệnh Các nghiên cứu cho thấy, trầm cảm có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên, tuổi có nguy cơ cao mắc phải thường là những người trẻ tuổi, đặc biệt là độ tuổi vị thành niên Báo cáo Sức khỏe vị thành niên Thế giới 2014 nêu rõ trầm cảm là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh tật và tàn tật ở độ tuổi vị thành niên (10 – 19 tuổi) Theo Viện hàn lâm Tâm thần Nhi khoa Mỹ, khoảng 2% trẻ nhỏ và 4 – 8% trẻ vị thành
Trang 11Một số nghiên cứu về trầm cảm ở trẻ vị thành niên ở Việt Nam đã cho thấy tỷ lệ khá cao học sinh tại các thành phố lớn mà cụ thể là Hà Nội – khu vực học sinh chịu áp lực lớn từ việc học hành thi cử và các mối quan hệ xã hội đáp ứng các tiêu chí chẩn đoán trầm cảm Nghiên cứu của Nguyễn Cao Minh và Đăṇg Hoàng Minh (2011), trên lứa tuổi 12 đến 16 ở một số tỉnh miền Bắc cho thấy, tỷ lệ trẻ có các dấu hiệu trầm cảm chiếm 6,6% Nghiên cứu của Nguyễn Bá năm 2003 trên 566 học sinh của 4 trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội: Phan Đình Phùng, Đinh Tiên Hoàng, Yên Hòa, Việt Nam –
Ba Lan đã xác nhận 8,8% học sinh có dấu hiệu trầm cảm Bên cạnh đó rất nhiều các báo cáo khoa học tại hội thảo Tâm lý học đường lần thứ 4 do Liên hiệp phát triển tâm lý học đường quốc tế (CASP-I) và trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức ngày 14 và 15-8 năm 2016 tại Hà Nội cho thấy tại Việt Nam số lượng trẻ em trong độ tuổi học sinh mắc rối loạn lo
âu và trầm cảm có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây
Trang 1212
Những lý do trên cho thấy rằng, việc nghiên cứu các triệu chứng trầm cảm
và những yếu tố liên quan đến loại rối nhiễu này ở học sinh trung học cơ sở
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giải quyết các vấn đề sức khỏe tinh thần học đường ở Việt Nam hiện nay Trong khuôn khổ hạn hẹp về thời gian và
các điều kiện nghiên cứu, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Rối nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá những biểu hiện triệu chứng trầm cảm và một số rối nhiễu liên quan ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nôi, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa và hỗ trợ tâm lý đối với học sinh ở nhóm độ tuổi này
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Các biểu hiện triệu chứng liên quan đến rối nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội
b Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 120 học sinh, 120 phụ huynh và 24 giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
- Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội có biểu hiện triệu chứng trầm cảm tương đối cao
- Có sự khác biệt về loại triệu chứng và mức độ biểu hiện của các triệu chứng trầm cảm ở học sinh trung học cở sở trên địa bàn Hà Nội tùy theo bậc học, địa bàn sinh sống, giới tính và học lực
- Các triệu chứng trầm cảm và mức độ biểu hiện của các triệu chứng này
ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội có mối liên hệ khác
Trang 1313
nhau với các triệu chứng rối nhiễu tâm lý khác có liên quan đến trầm cảm ở học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về trầm cảm ở học sinh nói chung
và học sinh trung học cơ sở nói riêng
- Khảo sát thực trạng rối nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội; đánh giá mức độ các triệu chứng rối nhiễu và xác định các rối nhiễu liên quan
- Đề xuất một số biện pháp nhằm ngăn ngừa các triệu chứng trầm cảm và tăng cường sự hỗ trợ của nhà trường, gia đình đối với những học sinh
có các triệu chứng của rối nhiễu trầm cảm
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
a Giới hạn nội dung nghiên cứu
Có nhiều vấn đề liên quan đến trầm cảm nói chung và thực trạng trầm cảm ở học sinh trung học nói riêng Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung đánh giá mức độ biểu hiện của những triệu chứng trầm cảm và một
số rối nhiễu khác có liên quan đến trầm cảm ở học sinh một số trường trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội
b Khách thể nghiên cứu
Do những hạn chế về điều kiện và thời gian nghiên cứu, đề tài này được tiến hành trên 120 học sinh, 120 phụ huynh và 24 giáo viên thuộc 3 trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS Hà Thành, THCS Bế Văn Đàn trên địa bàn Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Trang 1414
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về trầm cảm, học sinh trung học, nguy
cơ trầm cảm và các biểu hiện triệu chứng trầm cảm ở học sinh THCS để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
▪ Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu nhằm thu thập các thông tin cá nhân (tình hình học tập, các mối quan hệ, gia đình, lựa chọn nghề ) của học sinh
▪ Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các biểu hiện của học sinh thông qua hoạt động học ở trên lớp, mối quan hệ với bạn bè và gia đình
▪ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng thang đo BASC3 (Behavioral Assessment Systems for Children, Third Edition) để sàng lọc các triệu chứng rối nhiễu hành vi và cảm xúc của học sinh Sử dụng thang đo các triệu chứng trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory – BDI-2 ) để đánh các biểu hiện và mức độ của từng biểu hiện triệu chứng trầm cảm ở học sinh trung học
BASC3 là hệ thống sàng lọc các rối nhiễu hành vi, cảm xúc dành cho trẻ
em được thực hiện thông qua đánh giá của giáo viên, phụ huynh và bản thân học sinh Bảng hỏi BASC3 dành cho giáo viên bao gồm 165 mục hỏi; bảng hỏi dành cho phụ huynh gồm 173 mục hỏi; và bảng hỏi dành cho học sinh gồm 189 mục hỏi Kết quả sàng lọc bằng BASC3 cho phép nhận biết các triệu chứng của hầu hết các rối nhiễu hành vi, cảm xúc, cũng như các vấn đề học tập của học sinh
Thang đo trầm cảm của Beck (BDI-2) gồm 21 mục tương ứng với 21 triệu chứng lâm sàng cơ bản của rối loạn trầm cảm, bao gồm: buồn, bi quan, sự thất bại trong quá khứ, mất vui, cảm giác tội lỗi, cảm giác bị trừng phạt, tự ghét mình, tự chỉ trích, tự tử, khóc, cảm giác bồn chồn, mất hứng, thiếu quyết đoán, cảm giác vô dụng, thiếu năng lượng, thay đổi về giấc ngủ, cáu kỉnh,
Trang 1515
thay đổi về ăn uống, khó tập trung chú ý và những thay đổi về ham muốn tình dục Từng triệu chứng trầm cảm được đánh giá theo 4 mức, tùy theo tần xuất biểu hiện hoặc mức độ nghiêm trọng của triệu chứng Nghiệm thể (người trả lời) được yêu cầu đọc cẩn thận tất cả các mục và chọn ra một câu mô tả sát nhất cảm nhận của mình về bản thân mình trong phạm vi 15 ngày gần nhất( tính cả ngày trả lời)
7.3.Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả thu thập được qua điều tra thực trạng được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS Các phương pháp thống kê mô tả (vd, trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất) và thống kê suy luận (vd, t-test, ANOVA) được sử dụng để phân tích số liệu, đánh giá thực trạng và kiểm định giả thuyết
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rối nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 1616
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA RỐI NHIỄU TRẦM CẢM Ở
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm
1.1.1 Một số nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới
Thuật ngữ rối loạn trầm cảm được dùng đầu tiên trong học thuyết thể dịch của Hypocrate Tiếp đó, Pinet mô tả trầm uất là một trong bốn loại loạn thần Đến năm 1896, Kraepelin đã thống nhất các quan điểm xếp 2 trạng thái trầm cảm và hưng cảm trong một bệnh lý chung và đặt tên là loạn thần hưng trầm cảm (psychose maniaco – depressive) [10]
Sang thế kỷ XX rối loạn trầm cảm được nghiên cứu và hoàn thiện về khái niệm bệnh họcvà hình thái Trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ
10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới trầm cảm được xếp trong nhóm các rối loạn cảm xúc, mục F30 - F39
Trong lĩnh vực tâm lý học nói chung và tâm lý học trị liệu, tâm lý học lâm sàng, tâm bệnh học nói riêng, trầm cảm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, như xã hội, hành vi và nhận thức, liên nhân cách… Các nghiên cứu chủ yếu tập trung theo các hướng như nghiên cứu thực trạng, khảo sát trên một lượng lớn dân số để có số liệu thống kê cụ thể về thực trạng trầm cảm; và nghiên cứu thực nghiệm về các liệu pháp tâm lý chữa trị trầm cảm
Đã có nhiều công trình khảo sát trên diện rộng ở một số nơi trên thế giới
về thực trạng rối nhiễu trầm cảm Ở Canada, theo Scott B Patten (2006), tỷ
lệ trầm cảm chung được xác định vào khoảng 12,2%, Tỷ lệ nữ, được chẩn đoán trầm cảm (5%) cao hơn so với nam giới (2,9%) Tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm tuổi từ 15 đến 25 tuổi Trầm cảm nặng không liên quan đến trình độ học vấn nhưng có liên quan đến tình trạng bệnh mãn tính (4,9% so với người không có bệnh là 1,9%), thất nghiệp (4,6% so với
Trang 17người già trên 60 tuổi khu vực nông thôn là 6%, ở khu vực đô thị là 3,6%
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguyên nhân của trầm cảm như: Lewinsohn và cộng sự (1979) đã chỉ ra rằng trầm cảm là kết quả của tỉ lệ thấp các củng cố xã hội tích cực; lý thuyết về sự tuyệt vọng tập nhiễm Seligman cho rằng trầm cảm bắt nguồn từ việc người ta được học rằng môi trường sinh
lý và xã hội nằm ngoài khả năng kiểm soát của cá nhân; hay dohậu quả của
sự nuôi dưỡng trong sự ghẻ lạnh và cách ly môi trường (Carnelly, Pietomonaco và Jaffe, 1994) Tuy nhiên đặc biệt phải kể đến Beck Aaron
T (1997)đã thiết lập mô hình nhận thức về nguyên nhân trầm cảm với 3 nhân
tố chính: suy nghĩ tiêu cực về bản thân, về người khác và về tương lai; quá trình xử lý thông tin sai lệch; hình ảnh về bản thân bị bóp mép Trên cơ sở đó, Beck A.T dùng liệu pháp nhận thức tác động làm thay đổi nhận thức cũng như chỉnh sửa quá trình xử lý thông tin bị sai lệch để đưa cá nhân thoát khỏi trầm cảm Như vậy, theo ông, cái cốt lõi của trầm cảm chính là những suy nghĩ, nhận thức tiêu cực, Mặc dù Beck A.T đã bỏ qua một số yếu tố quan trọng khác trong trầm cảm như cảm xúc, nhưng mô hình nhận thức của ông được rất nhiều nhà tâm lý học chấp nhận và phát triển thêm Đóng góp rất lớn khác của Beck, A.T là xây dựng thang đo trầm cảm (viết tắt là BDI) được xuất bản đầu tiên vào năm 1961 Đây là bảng câu hỏi gồm nhiều lựa chọn đo lường mọi phương diện của trầm cảm: cơ thể, nhận thức, cảm xúc và hành vi
Trang 18có hiệu quả tính trầm cảm và mức độ trầm cảm ở thanh thiếu niên cũng như
cá rối loạn khác có liên quan đến vấn đề tự sát thiếu niên cũng như các rối loạn khác có liên quan đến vấn đề tự sát
Tóm lại, các nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới đã cho thấy một tỷ lệ khá lớn (2,6 – 8%) dân số mắc chứng trầm cảm Đây là một loại rối nhiễu khá phổ biến, có thể xuất hiện ở bất kì lứa tuổi nào, ở bất cứ ai Đặc biệt lứa tuổi thanh thiếu niên được xác định là giai đoạn độ tuổi tương đối nhạy cảm với loại rối nhiễu cảm xúc này Trầm cảm lứa tuổi thanh thiếu niên có thể liên quan đến các rối nhiễu tâm lý khác và có dẫn đến nhiều nguy cơ khác nhau ở trẻ
1.1.1 Một số nghiên cứu về trầm cảm ở Việt Nam
Ở nước ta, trầm cảm thường được các phương tiện truyền thông nhắc đến như là một hiện tượng xã hội Nhiều nghiên cứu về trầm cảm cũng đã được tiến hành ở những vùng dân cư khác nhau, với những độ tuổi và ngành nghề khác nhau Nghiên cứu của Nguyễn Văn Siêm (2010) tại xã Quất Động, Thường Tín, Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm trong nhóm dân số
trên 15 tuổi ở địa phương này là 8,35% [27]
Nghiên cứu của Hồ Ngọc Quỳnh (2009) trên nhóm sinh viên điều dưỡng
và y tế công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tỷ lệ mắc trầm cảm ở
Trang 1919
sinh viên y tế công cộng lên tới 17,6%, ở sinh viên điều dưỡng là 16,5%; trầm cảm ở nhóm sinh viên này liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận
thức về bản thân
Khá nhiều nghiên cứu về trầm cảm ở lứa tuổi thanh thiếu niên đã được thực hiện ở nhiều địa phương khác nhau: Tại thành phố Đã Nẵng, nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Thọ (1998-2000) cho thấy lo âu – trầm cảm chiến 10 – 21% trong số những học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần Tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của bác sỹ Cao Văn Tuân (2002) cho biết tình trạng trầm cảm ở lứa tuổi thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ 5 – 7%, trong khi đó theo TS Hoàng Cẩm Tú, tỷ lệ này là 10%, theo TS, Ngô Thanh Hồi, tỷ lệ này chiếm hơn 15% Trong khi đó tại Hà Nội, theo công trình nghiên cứu của Đặng Thanh Tùng “Trầm cảm ở thanh thiếu niên và một số yếu tố tâm lý xã hội có liên quan” (2002) nghiên cứu tại 3 trường THPT trên địa bàn Hà Nội với 377 khách thể (THPT Trần Phú, THPT Ngọc Hồi, THPT Phan Đình Phùng) đã chỉ ra rằng có tới >18% học sinh bị mắc trầm cảm Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Đạt, tỷ lệ học sinh trung học phổ thông Hà Nội bị trầm cảm trong năm học 2001 – 2002 ở mức độ trung bình (8,8%) Trong đó có 6,7% trầm cảm nhẹ; 1,7% trầm cảm vừa; 0,5% trầm cảm nặng [7]
Như vậy, đã có khá nhiều các nghiên cứu về trầm cảm nói chung và trầm cảm ở học sinh nói riêng, được tiến hành ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu được tiến hành ở các tỉnh thành phía Nam hoặc các địa phương lân cận Hà Nội Các nghiên cứu tập trung nhiều hơn vào độ tuổi học sinh THPT Tỷ lệ trầm cảm được xác định hết sức đa dạng tùy theo địa bàn nghiên cứu và độ tuổi và mức độ rối nhiễu Nghiên cứu của chúng tôi tập trung đánh giá các biểu hiện triệu chứng trầm cảm của học sinh THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 20“Trầm là chìm xuống, mất hào hứng, sôi nổi; tính khí buồn bã, chán chường,
bi quan”, còn “nhược là suy yếu, uể oải, không muốn cử động, chân tay mỏi mệt, mặc dù không có bệnh gì rõ rệt” GS.TS Nguyễn Đăng Dung và bác sĩ Nguyễn Văn Siêm đã định nghĩa về trầm cảm như sau: “Trầm cảm là trạng thái giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động Trong các cơn điển hình, có biểu hiện ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần Bệnh nhân có khí sắc buồn rầu, ủ rũ, giảm hứng thú và quan tâm, thấy tương lai ảm đạm, tư duy chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự cho mình là hèn kém, giảm sút lòng tự tin, thường hoang tưởng bị tội, dẫn đến tự sát, giảm vận động, ít nói, thường nằm hoặc ngồi lâu ở một tư thế, kèm theo sự rối loạn các chức năng sinh học (mất ngủ, chán ăn, mệt mỏi…) [6]
Theo Tiến sĩ, Bác sĩ Hoàng Cẩm Tú: “Trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc biểu hiện sự buồn rầu, chán nản, thất vọng quá mức bình thường làm
ức chế toàn bộ các quá trình hoạt động tâm thần Rối loạn đặc trưng bởi khí sắc trầm, giảm hoặc mất mọi quan tâm thích thú, mất năng lượng, dễ mệt mỏi, hoạt động giảm, khó tập trung chú ý, tư duy chậm, kèm theo mặc cảm tội lỗi, giảm giá trị hoặc hoang tưởng bị tội lỗi, chán đời … và đi kèm các triệu chứng cơ thể khác như rối loạn giấc ngủ, ăn…” [24]
Theo từ điển tâm lý học của Tiến sĩ Vũ Dũng cho rằng trầm cảm là “trạng thái xúc cảm xuất hiện trên cơ sở cảm xúc âm tính, thay đổi động cơ, trí tuệ
Trang 2121
(gắn với nhận thức) và sự thụ động nói chung của hành vi”, bao gồm một số biểu hiện về cảm xúc, nhận thức và hành vi như: cảm xúc nặng nề, đau khổ và
u uất, hứng thú, say mê, nỗ lực ý chí giảm, xuất hiện cảm giác tội lỗi, bất lực,
vô vọng; tự đánh giá giảm sút; chậm chạp, mệt mỏi Như vậy, tác giả đã xem trầm cảm là một trạng thái tâm lý về mặt xúc cảm và nó ảnh hưởng đến hành
vi, nhận thức, xét trầm cảm trong cấu trúc toàn vẹn của 3 khía cạnh tâm lý con người: nhận thức – hành động – tình cảm
Các nhà tâm thần học trước đây mô tả trầm cảm là một giai đoạn u sầu điển hình (melancholia) Rối loạn phản ánh sự ức chế nặng nề các mặt hoạt động tâm thần, song chủ yếu là tam chứng cổ điển: khí sắc giảm, buồn; các quá trình tư duy bị chậm lại; sự ức chế tâm thần vận động nhiều khi đến sững
sờ, bất động
S.Freud cho rằng trầm cảm là một quá trình tương tự như đau buồn Khi quá đau buồn, cá nhân có thể thoái lui về giai đoạn môi miệng của sự phát triển, như là một cơ chế phòng vệ chống lại những nỗi buồn quá lớn Phản ứng như thế, nhìn chung chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng nếu cá nhân tiếp tục trong một thời gian dài sẽ dẫn đến tự căm ghét bản thân và trầm cảm [11]
Lewinsohn và cộng sự (1979) đã chỉ ra rằng trầm cảm là kết quả của tỉ lệ thấp các củng cố xã hội tích cực Cá nhân tự tách mình ra khỏi các liên hệ xã hội, điều này có thể tạo ra củng cố khác, trong đó cá nhân được tán thưởng nhờ những hành vi có trầm cảm của mình Tuy nhiên, giai đoạn này lại thường đi kèm với sự thu hẹp về chú ý (tần suất tán thưởng có giá trị từ phía môi trường giảm đi) và khí sắc
Lý thuyết về sự tuyệt vọng tập nhiễm Seligman cho rằng trầm cảm bắt nguồn từ việc người ta được học rằng môi trường sinh lý và xã hội nằm ngoài khả năng kiểm soát của cá nhân Nhiều nghiên cứu đã tìm ra sự tuyệt vọng do
Trang 2222
học tập/tập nhiễm ở con người biểu hiện những triệu chứng tương tự như những bệnh nhân trầm cảm bệnh lí, bao gồm việc thiếu động cơ hoạt động, bi quan và quá trình tiếp thu bị phá vỡ
Beck (1997) đưa ra ý kiến rằng trầm cảm bắt nguồn từ nhận thức sai lệch trước những sự kiện ảnh hưởng tới chúng ta Ứng với những sự kiện này là ý nghĩ tiêu cực tự động Đó là sự khái quát hóa thái quá, sự trừu tượng hóa có chọn lọc và những suy nghĩ không dứt khoát Chúng có vẻ tức thời, hợp lý và trên thực tế thường được chấp nhận Tuy nhiên, chúng ta lại giải thích sai các
sự kiện và vì thế ảnh hưởng đến niềm tin về bản thân, sự kiện hoặc cá nhân khác có ảnh hưởng đến chúng ta và tương lai của chúng ta
Thuyết liên cá nhân đề cập đến những khía cạnh hành vi của người bị trầm cảm, bao gồm tổng thể mối quan hệ giữa người trầm cảm với người khác Những người trầm cảm có mạng lưới giao tiếp xã hội thưa thớt và coi chúng như là nguồn nâng đỡ Sự nâng đỡ xã hội giảm sút có thể làm yếu đi năng lực của cá nhân trong việc phản ứng với những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống, và làm cho cá nhân dễ cảm ứng với trầm cảm (Billings, Cronkite
và Moos 1983) Người trầm cảm cũng có thể tiếp nhận được những phản ứng tiêu cực từ phía người khác (Coyne, 1976)
Theo Andrew M.Colman định nghĩa: “Trầm cảm là một trạng thái buồn
bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoặc mất sự thỏa mãn, hài lòng trong hoạt động trước đậy” Ông nhấn mạnh thêm trong trường hợp trầm cảm nghiêm trọng, nghĩa là vượt sang mức bệnh lý, có thể xảy ra “chứng biếng ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ (đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc tối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, những ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự tử Nó xuất hiện như nhiều triệu chứng của rối loạn tâm thần
Trang 2323
Năm 1975 Nhà tâm lý học Martin Seligman cho rằng, trầm cảm phần lớn
là phản ứng đối với tình trạng không tự lực đã học tập trước đó
Theo quan điểm của các nhà phân tâm học thì cho rằng trầm cảm là kết quả của sự giận dữ về chính bản thân mình Theo quan điểm này, con người cảm thấy có trách nhiệm với những điều xấu xảy ra cho mình và khiến sự giận
dữ của mình hướng nội [11]
Theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) về các rối loạn tâm thần và hành vi, trầm cảm là một hội chứng bệnh lý của cảm xúc biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ Các triệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý
nghĩa lâm sàng nhất trong việc chẩn đoán [21]
Theo WHO: “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi
sự buồn bã, mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung” “Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hàng ngày Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử Ở mức độ nhẹ, bệnh có thể được hỗ trợ chữa trị không cần thuốc Mức độ vừa và nặng, người bệnh cần
hỗ trợ điều trị bằng thuốc kết hợp liệu pháp tâm lý”
Tóm lại: Từ các định nghĩa ở trên, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu
tài liệu, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về rối nhiễu trầm cảm như sau: Rối nhiễu trầm cảm là một loại rối nhiễu cảm xúc được đặc trưng bởi sự suy giảm về khí sắc, giảm hứng thú, và suy giảm năng lượng dẫn tới sự mệt mỏi và suy giảm hoạt động Các triệu chứng suy giảm này thường tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định (tối thiểu là 2 tuần, theo DSM-5) và
Trang 2424
làm đình trệ các hoạt động chức năng (vd, sinh hoạt, học tập, lao động, giao tiếp ) của cá nhân
1.2.2 Những biểu hiện triệu chứng của rối nhiễu trầm cảm
Trước đây, trầm cảm thường được hiểu dưới góc độ những ức chế toàn bộ đối với hoạt động tâm thần Theo đó, các triệu chứng trầm cảm thường được
mô tả bao gồm, ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, và ức chế vận động Hiện nay, các biểu hiện triệu chứng của trầm cảm cũng thường được mô tả theo 3 nhóm
cơ bản, bao gồm các triệu chứng về giảm khí sắc, các triệu chứng về giảm quan tâm, hứngthú, và các triệu chứng suy giảm năng lượng Tuy nhiên, 3 nhóm triệu chứng này thường được mô tả dưới hình thức các triệu chứng lâm sàng cụ thể, bao gồm:
1.2.2.1 Khí sắc trầm:
Các biểu hiện giảm khí sắc là biểu hiện thường gặp nhất ở các trạng thái trầm cảm Mức độ của biểu hiện này thay đổi tuỳ theo mức độ trầm cảm Trong trường hợp điển hình bệnh nhân biểu hiện sự đau khổ, chán nản, buồn rầu một cách rõ ràng thông qua lời nói, thái độ và dáng điệu Khí sắc trầm thường gặp là uể oải, cảm giác khó chịu, bất an, với nét mặt ủ rũ Hoặc là biểu hiện một nét mặt có những nét đặc trưng như nếp nhăn ở khoé miệng, trán, cung lông mày đều cụp xuống, mắt luôn nhìn xuống hoặc đôi khi là nét mặt thờ ơ, vô cảm Sự bế tắc trong suy nghĩ với một nỗi buồn bao phủ mà không giải thích được có thể dẫn đến hành vi tự sát ở bệnh nhân trầm cảm Tuy nhiên có một số bệnh nhân vẫn giữ được nụ cười bên ngoài để che dấu khí sắc giảm, bởi có 10-15% số bệnh nhân phủ định cảm xúc của mình [10][19][23] Khi nghiên cứu rối nhiễu trầm cảm ở những người có bệnh lý dạ dày - ruột, Trần Hữu Bình thấy 87% biểu hiện khí sắc giảm.[4] Theo Đinh Thị Hoan nghiên cứu rối loạn trầm cảm người tiền mãn kinh thì rối loạn khí sắc chiếm
Trang 25vì vậy người bệnh thường né tránh, ngại các hoạt động xã hội, ngại giao tiếp với mọi người
1.2.2.3 Giảm năng lượng tâm thần:
Đây cũng là một triệu chứng đặc trưng của trầm cảm, các biểu hiện là người bệnh luôn uể oải, mệt mỏi, mất sinh lực, cảm thấy nặng nhọc khi làm việc kể cả một công việc trước đây người bệnh dễ dàng thực hiện Do vậy người bệnh làm việc kém hiệu quả Người bị rối nhiễu trầm cảm thường không hoàn thành công việc được giao phó hoặc bỏ dở công việc, hoặc rút lui
vì mình cảm thấy không thể đảm đương Triệu chứng này trong các công trình nghiên cứu về trầm cảm chiếm tỷ lệ cao từ 85-100% [19][23]
1.2.2.4 Biểu hiện lo âu:
Lo âu là một triệu chứng song hành với trầm cảm Bệnh nhân thường có cảm giác lo lắng, bồn chồn bất an, sợ hãi cho tình trạng sức khoẻ, các dự định
và tương lai của mình Bệnh nhân có thể có các biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật như cảm giác hồi hộp, khó thở, đánh trống ngực, mạch nhanh, đau
Trang 2626
đầu, run rẩy tay chân, cảm giác nóng rát trong bụng, co thắt dạ dày, vã mồ hôi, nôn mửa Bệnh nhân khó ngủ vì suy nghĩ nghiền ngẫm trong đêm, thức giấc lúc nửa đêm, ác mộng Sự lo âu tồn tại dai dẳng một cách vô lý, căng thẳng, chờ đợi điều không mong muốn xảy ra Nhiều khi có cơn hoảng sợ có thể có phản ứng tấn công người khác, hoặc nguy cơ hành vi tự sát
1.2.2.5 Ý tưởng và hành vi tự sát:
Khi bị rối loạn trầm cảm và không được điều trị thỏa đáng Nhiều bệnh nhân có suy nghĩ dai dẳng, không thể dứt ra được về cái chết [23][25] Người bệnh luôn có cảm giác xung quanh không có mình thì sẽ tốt hơn cho nên lập kế hoạch tự sát và thực hiện hành vi tự sát Nguy cơ tự sát gặp trong tất cả các giai đoạn bệnh nhưng cao nhất là ngay lúc mới điều trị Các nghiên cứu cho rằng 10% bệnh nhân trầm cảm tự sát trong vòng 12 tháng từ khi phát bệnh Người cao tuổi nguy cơ tự sát 18% với các bệnh nhân trầm cảm tái diễn, 15% chết do tự sát
1.2.2.6 Mất cảm giác ngon miệng, ăn ít hoặc sút cân:
Sự ngon miệng thường bị giảm sút, nhiều bệnh nhân họ có cảm giác bị ép phải ăn Họ ăn rất ít, thậm trí trong các trường hợp bệnh nặng bệnh nhân nhịn
ăn hoàn toàn Vì vậy bệnh nhân thường sút cân nhanh chóng (có thể sút vài cân trong vòng 1 tháng) [22]
1.2.2.7 Rối loạn giấc ngủ:
Mất ngủ nhưng có thể bệnh nhân ngủ quá nhiều Rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất trong giai đoạn trầm cảm chủ yếu là mất ngủ Các bệnh nhân thường mất ngủ giữa giấc (nghĩa là tỉnh ngủ vào lúc ban đêm và khó có thể ngủ tiếp) Mất ngủ đầu giấc (nghĩa là khó bắt đầu giấc ngủ) cũng có thể xuất hiện Mất ngủ là triệu chứng gây khó chịu rất nhiều ở bệnh nhân
1.2.2.8 Rối loạn hoạt động tâm thần vận động:
Trang 2727
Thay đổi tâm thần vận động bao gồm kích động (nghĩa là bệnh nhân luôn
đi đi lại lại, không thể ngồi yên), vận động chậm chạp (như nói chậm, vận động cơ thể chậm), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời, giọng nói nhỏ, số lượng ít, nội dung nghèo nàn, thậm chí câm Vận động tâm thần chậm cần đủ
rõ để những người xung quanh có thể nhận thấy chứ không phải chỉ là cảm giác cơ thể của bệnh nhân [25]
1.2.2.9 Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi
Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi là rất hay gặp trong giai đoạn trầm cảm chủ yếu Bệnh nhân cho rằng mình là kẻ vô dụng không làm nên trò trống gì Họ luôn nghĩ rằng mình là kẻ làm hỏng mọi việc, trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và xã hội Thậm chí bệnh nhân có mặc cảm tội lỗi liên quan đến các sai lầm nhỏ trước đây Nhiều bệnh nhân giải thích một cách sai lầm các hiện tượng thông thường hằng ngày như là khiếm khuyết của họ Bệnh nhân tự trách mình và không thể thành công, không đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp hoặc quan hệ với mọi người, không hoàn thành nghĩa vụ với gia đình [25]
1.2.2.10 Khó suy nghĩ tập trung hoặc ra quyết định
Đây là triệu chứng rất hay gặp khiến bệnh nhân khó chịu và phải đi khám bệnh Nhiều bệnh nhân than phiền khó suy nghĩ, khó tập trung chú ý vào một việc gì đó bệnh nhân cũng rất khó khăn khi cần đưa ra quyết định, họ cần phải cân nhắc nhiều thời gian với những việc thông thường Khó tập trung chú ý ở bệnh nhân thể hiện ở những việc đơn giản nhất, không thể đọc được một bài báo ngắn, không nghe hết một bài hát mà bệnh nhân vốn rất yêu thích, không thể xem hết một chương trình ti vi mà trước đây bệnh nhân rất quan tâm Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân thường là giảm trí nhớ gần Bệnh nhân có thể quên mình vừa làm gì, trong khi đó, trí nhớ xa (ngày sinh, quê quán, các sự việc
Trang 28có thể ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe tinh thần [6]
1.2.3 Phân loại trầm cảm
1.2.3.1 Phân loại theo mức độ
Sự phân loại này dựa vào 3 tiêu chí số các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm, mức độ nặng nề của các triệu chứng, mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống bệnh nhân
Trầm cảm nhẹ có hai trong các triệu chứng: khí sắc giảm, mất quan tâm
và thích thú, tăng mệt mỏi Ngoài ra có ít nhât hai trong các triệu chứng của trầm cảm: không có triệu chứng nào ở mức độ nặng và bệnh nhân khó tiếp tục công việc hàng ngày, nhưng có khả năng không ngừng công việc hoàn toàn Trầm cảm trung bình có hai trong các triệu chứng: khí sắc giảm, mất quan tâm và thích thú, tăng mệt mỏi Ngoài ra có ít nhất ba trong các triệu chứng còn lại của trầm cảm: không có triệu chứng nào ở mức độ nặng nhưng thể hiện rõ rệt và gặp nhiều khó khăn trong tiếp tục công việc xã hội, nghề nghiệp
và gia đình
Trầm cảm nặng có ba trong các triệu chứng: Khí sắc giảm, mất quan tâm
và thích thú, tăng mệt mỏi Ngoài ra có ít nhất bốn trong các triệu chứng còn
Trang 2929
lại của trầm cảm: các triệu chứng biểu hiện ở mức độ nặng và ít có khả năng hoạt động
1.2.3.2 Phân loại theo lứa tuổi
Liên quan đến các giai đoạn phát triển của cuộc đời con người, tùy theo giai đoạn mà việc dùng thuốc cũng phải cẩn thận vì chúng ta còn phải chú ý đến hoạt động chức năng của các nội tạng theo từng lứa tuổi
Trầm cảm trẻ em và thanh thiếu niên thì ít khi điển hình của một trầm cảm, có lúc trầm cảm được thể hiện qua rối loạn hành vi, lạm dụng các chất Trầm cảm ở người trưởng thành: lâm sàng thường điểm hình của trầm cảm
Trầm cảm sau sinh: sau sinh có một tỷ lệ bệnh nhân bị trầm cảm, nó liên quan đến yếu tố tâm lý và các rối loạn nội tiết sau sinh
Trầm cảm ở người lớn tuổi: Sự suy giảm các cơ quan trong cơ thể (đặc biệt cơ quan thần kinh) làm người lớn tuổi bị trầm cảm, đặc biệt khi các bệnh
cơ thể khác kèm theo làm hạn chế các hoạt động hàng ngày của bệnh nhân
1.2.3.3 Phân loại theo nguyên nhân
Trầm cảm nguyên phát: Đây là trầm cảm nội sinh, do nội tạng trong cơ thể bệnh nhân phát ra bệnh
Trầm cảm thứ phát: Trầm cảm thứ phát sau sang chấn tâm lý
Trầm cảm thứ phảt sau bệnh tâm thần: như trong trường hợp thứ phát sau các bệnh ám ảnh sợ
Trầm cảm thứ phát sau các bệnh nội khoa: có thể do bản chất bệnh nội khoa gây nên tình trạng trầm cảm hoặc do phản ứng tâm lý bị bệnh mà gây nên
Trầm cảm thứ phát sau khi dùng thuốc: có một số thuốc gây nên tình trạng trầm cảm
1.2.3.4 Phân loại theo biểu hiện lâm sàng
Trang 3030
Trầm cảm điển hình: khi bệnh nhân thể hiện tình trạng ức chế cả cảm xúc,
tư duy và hành vi tác phong, kèm theo một số triệu chứng cơ thể
Trầm cảm lo âu: khi các triệu chứng của trầm cảm và lo âu đều xuất hiện trong cùng thời điểm, những không có triệu chứng nào đủ nặng để chẩn đoán các rối loạn riêng biệt trầm cảm hay lo âu
Trầm cảm ẩn: các triệu chứng tâm thần trở nên thứ yếu, lúc này nổi bật các triệu chứng cơ thể như đau lưng đau khớp, đau đầu rụt cơ
Trầm cảm loạn thần: thường xuất hiện ở trầm cảm nặng, kèm theo các yếu
tố loạn thần, hoang tưởng ảo giác
Trầm cảm giả mất trí: thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi Trong bối cảnh bệnh các triệu chứng rối loạn nhận thức nổi bật, làm người ra khó phân biệt với tình trạng mất trí
Loạn khí sắc: khi cá triệu chứng trầm cảm không rõ rang và không đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán, bên cạnh đó nó không ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống
và thời gian triệu chứng kéo dài trên 2 năm
1.2.4 Các nguyên nhân gây rối nhiễu trầm cảm
Các nghiên cứu đã xác định nhiều yếu tố liên quan đến trầm cảm Chúng tôi xin tổng kết lại thành 5 nhóm nguyên nhân chính gây ra bệnh trầm cảm
1.2.4.1 Nguyên nhân sang chấn tâm lý
- Sang chấn tâm lý hay còn gọi là stress chính là nguyên nhân gây bệnh trầm cảm thường gặp [16] Nguyên nhân này có thể bị tác động từ bên ngoài như: căng thẳng trong sinh hoạt gia đình; những khó khăn quá tải trong công việc và học tập; những đòi hỏi vượt quá khả năng đáp ứng trong công việc và học tập; cá nhân có lòng tự trọng thấp, não trạng yếu, khi tiếp xúc căng thẳng trong cuộc sống họ dễ rơi vào tình trạng quá tải dẫn đến nguy cơ mắc trầm cảm cao; tổn thất mất mát quan trọng như sự qua đời của người thân, đổ vỡ
Trang 3131
hay bế tắc trong quan hệ tình cảm, những gánh nặng quá tải về mặt tài chính.; giao tiếp xã hội có vấn đề; mâu thuẫn giữa bệnh nhân và những người trong gia đình; một người thân trong gia đình đau nặng hoặc gặp tai nạn; người bạn đời thờ ơ, lãnh đạm, thiếu trách nhiệm; nhà cửa chật chội không có không gian riêng tư
Những stress nặng nề, quá sức chịu đựng khiến bệnh nhân rơi vào trầm cảm Tuy nhiên có những sang trấn nhẹ không đủ sức gây ra trầm cảm nhưng
vô tình bị tác động bởi một hành vi, một sự việc gì đó xảy ra cũng có nguy cơ khiến con người bị trầm cảm
Việc tiếp xúc kéo dài với căng thẳng tạo ra sự thay đổi đặc tính trong chức năng dẫn truyền thần kinh não bộ thường được mô tả như một sự “mất cân bằng hóa học.” Điều này là sự thay đổi trong các hệ thống truyền tin hóa học chịu trách nhiệm dẫn truyền thần kinh: serotonin (5HT), norepinephrine (NE),
và dopamine (DA) Trầm cảm có liên quan tới sự suy giảm dẫn truyền thần kinh trong các hệ thống này và các thuốc chống trầm cảm sẵn có hiện nay được cho là có tác dụng bằng cách đảo ngược những thâm hụt đó [27] Những thay đổi trong các hệ thống thần kinh này tạo ra các triệu chứng tâm lý và xôma đặc trưng của trầm cảm
1.2.4.2 Nguyên nhân di truyển
Mặc dù đã có một số bằng chứng phủ định, nhưng người ta vẫn luôn cho rằng yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến nguy cơ bị trầm cảm Chẳng hạn, McGuffin và cs (1996) đã tìm ra rằng 46% các cặp sinh đôi cùng trứng cùng
bị trầm cảm, trong khi ở các cặp sinh đôi khác trứng, tỉ lệ này là 20% Tương
tự, Wender và cs (1986) đã tiến hành một nghiên cứu trên 2 nhóm khách thể: Nhóm thứ nhất là họ hàng của những người con nuôi đã trưởng thành và từng
bị trầm cảm Thứ hai là nhóm con nuôi Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu các thông số về tuổi tác, tình trạng kinh tế - xã hội và khoảng thời
Trang 3232
gian những người con nuôi sống với mẹ ruột không bị trầm cảm So sánh tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm, thấy rằng ở nhóm khách thể thứ nhất, tỉ lệ bị trầm cảm nhiều gấp 8 lần và đã từng có ý định tự sát nhiều gấp 15 lần, so với họ hàng ruột của chính những người con nuôi này Không thấy có sự khác biệt giữa các nhóm khi xét đến những mức độ trầm cảm nhẹ [19]
1.2.4.3 Nguyên nhân bệnh thực thể ở não
Nếu não đã từng bị chấn thương, viêm não hay u não… thì người bệnh có nguy cơ cao bị mắc bệnh trầm cảm do cấu trúc não bị tổn thương, có dấu hiệu rối loạn, khả năng chịu đựng stress kém Chỉ cần một chút căng thẳng nhỏ cũng sẽ gây ra các rối loạn về cảm xúc của người bệnh
Nếu mắc bệnh trầm cảm do nguyên nhân này thì cần phải xác định được chính xác nguyên nhân gây căng thẳng của người bệnh mới có thể điều trị được trầm cảm [19]
1.2.4.4 Nguyên nhân sử dụng các chất gây nghiện hoặc các chất tác động tâm thần
Hầu hết tất cả các chất gây nghiện như rượu, thuốc lá, ma túy… đều có chung đặc điểm là gây kích thích sảng khoái hưng phấn tạm thời, nhưng sau
đó các chất này khiến cho hệ thần kinh bị ảnh hưởng lớn, khiến người bệnh dễ
đi vào trạng thái trầm cảm, cơ thể mệt mỏi, uể oải, trí lực giảm sút, gây ra ức chế các hoạt động tâm thần
1.2.4.5 Nguyên nhân nội sinh
Nếu mắc bệnh trầm cảm do nguyên nhân này thì việc điều trị sẽ rất khó khăn và phức tạp Nguyên nhân nội sinh là do rối loạn hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh trong não như Serotoin, Noradrenalin… [19]
Nguyên nhân nội sinh thường dẫn đến bệnh trầm cảm nặng Bệnh nhân thường nung nấu ý định tự sát và gây ra hành vi tự sát kèm theo những rối
Trang 3333
loạn khác về thần kinh như hoang tưởng, cảm giác tội lỗi, nghe thấy giọng nói thúc dục tự sát
Loại trầm cảm do nguyên nhân nội sinh rất khó điều trị và bệnh có nguy
cơ tái phát cao
1.2.5 Các tiêu chí chẩn đoán rỗi nhiễu trầm cảm ở học sinh trung học
1.2.5.1 Các tiêu chí chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm theo DSM-5
Theo DSM-5, việc chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm phải dựa vào các tiêu chí liên quan đến các biểu hiện triệu chứng, ảnh hưởng chức năng và các tiêu chí loại trừ Dưới đây là các tiêu chí cụ thể và mức độ chẩn đoán:
A Ít nhất 5 trong những triệu chứng sau, xuất hiện cùng lúc, kéo dài 2 tuần làm thay đổi so với hoạt động trước đó; ít nhất một trong các triệu chứng phải là: (1) khí sắc trầm cảm, (2) mất hứng thú hoặc mất vui
Ghi chú: các triệu chứng này không phải do một bệnh khác gây nên
(1) Khí sắc trầm cảm gần như suốt ngày, hầu như mỗi ngày được khai báo bởi bệnh nhân (ví dụ: cảm thấy buồn hay trống rỗng, tuyệt vọng) hoặc thông quan quan sát của người khác (ví dụ: khóc) Chú ý: ở trẻ em và thành thiếu niên có thể biểu lộ việc dễ bực tức
(2) Giảm sút rõ về thích thú hoặc thú vui trong tất cả, hầu như tất cả các hoạt động hầu như suốt ngày, gần như mỗi ngày (được nhận thấy bởi bệnh nhân hoặc thông qua quan sát của người khác)
(3) Giảm cân đáng kể không phải do ăn kiêng hoặc tăng cân (ví dụ: thay đổi trọng lượng cơ thể quá 5% trong 1 tháng) hoặc tăng hay giảm cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày Ghi chú: ở trẻ em có thể không đạt mức tăng cân như dự đoán
(4) Mất ngủ hay ngủ nhiều hầu như mỗi ngày
Trang 3434
(5) Kích động hay chậm chạp tâm thần vận động hầu như mỗi ngày (được nhận thấy bởi người khác chứ không phải chỉ là cảm giác của bệnh nhân về việc bứt rứt hoặc chậm chạp bên trong cơ thể)
(6) Mệt mỏi hoặc mất năng lượng hầu như mỗi ngày
(7) Cảm giác bị mất giá trị hoặc cảm giác tội lỗi quá mức hoặc không thích hợp (có thể đạt đến mức hoang tưởng) hầu như mỗi ngày (không chỉ là việc tự trách móc hoặc có cảm giác tội lỗi do bị bệnh)
(8) Giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung chú ý hoặc thiếu quyết đoán hầu như mỗi ngày (do bệnh nhân khai báo hoặc được quan sát bởi người khác)
(9) Ý nghĩ về cái chết tái diễn (không chỉ là sợ chết), các ý tưởng tự tử tái diễn nhưng không có kế hoạch tự tử, hoặc có mưu toan tự tử hoặc có kế hoạch
tự tử cụ thể
B.Các triệu chứng này gây ra sự đau khổ đáng kể về mặt lâm sàng hoặc làm biến đổi hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác
C Các triệu chứng không phải do các tác động sinh lý trực tiếp của một chất hoặc do một bệnh khác gây nên
Chú ý: Tiêu chuẩn A-C đại diện cho một giai đoạn trầm cảm chủ yếu Chú ý: Phản ứng trước những mất mát lớn (ví dụ: mất người thân, bị phá sản, tổn thất do thiên tai, bệnh nan y hoặc tàn tật cũng có thể xuất hiện cảm giác buồn dữ dội, trầm tư, mất ngủ, mất cảm giác ngon miệng, giảm cân như
mô tả theo tiêu chuẩn A, tình trạng này cũng giống như một giai đoạn trầm cảm Tuy nhiên, các triệu chứng trên và một giai đoạn trầm cảm là những phản ứng tự nhiên của con người trước những mất mác lớn cần được xem xét cẩn thận Vì thế, cần phải đưa ra các đánh giá lâm sàng dựa trên tiểu sử cá
Trang 35Chưa bao giờ xuất hiện một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ trước đó
Chú ý: Loại trừ này không được áp dụng nếu tất cả các cơn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ này do lạm dụng một chất kích thích hoặc là do tác động sinh lý của một bệnh khác gây nên
XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ
Mức độ nặng nhẹ của trầm cảm được xác định bằng: số lượng các triệu chứng, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và mức độ ảnh hưởng đến các chức năng xã hội và nghề nghiệp
Nhẹ: Nếu có rất ít triệu chứng của trầm cảm, các triệu chứng đảm bảo tiêu
chuẩn chẩn đoán là: hiện diện, cường độ của các triệu chứng là đau buồn nhưng dễ quản lý, các triệu chứng trên dẫn đến sự suy giảm nhẹ trong hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp
Trung bình: Số lượng triệu chứng, cường độ của các triệu chứng, sự suy
giảm trong hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp nằm trong khoảng giữa của mức độ “nhẹ” và “nặng”
Nặng: Số triệu chứng vượt quá mức yêu cầu để chẩn đoán, cường độ của
các triệu chứng là đau buồn rất nhiều và khó quản lý
1.2.5.2 Các tiêu chí chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm theo ICD10
Theo Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10), việc chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm dựa vào sự phán đoán lâm sàng, trên cơ sở số lượng, loại,
Trang 3636
mức độ trầm trọng của triệu chứng hiện có ICD – 10 đã chỉ ra 7 triệu chứng
cơ bản của rối nhiễu trầm cảm và phân biệt giữa các giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng
Tiêu chí chẩn đoán rối nhiễu trầm cảm:
Có 3 triệu chứng chủ yếu là:
(1)Khí sắc trầm
(2)Mất mọi quan tâm và thích thú
(3)Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động Thường mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ
Có 7 triệu chứng phổ biến khác:
(1)Giảm tập trung chú ý
(2)Giảm tự trọng và lòng tự tin
(3)Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
(4)Nhìn tương lai ảm đạm và bi quan
(5)Có ý tưởng và hành vi tự sát
(6)Rối loạn giấc ngủ
(7)Ăn không ngon miệng
Thời gian tồn tại các triệu chứng ít nhât là 2 tuần để làm chẩn đoán
Mô tả đặc điểm lâm sàng:
Theo những tiêu chuẩn chẩn đoán nêu trên, đặc điểm trong mô tả lâm sàng có thể biểu hiện:
Khí sắc giảm thay đổi ít từ ngày này sang ngày khác và thường không tương ứng với hoàn cảnh, cơn càng về sau càng rõ Ở thanh thiếu niên có thể biểu hiện không điển hình như lo âu, buồn phiền kích động đôi khi có thể nổi bật hơn trầm cảm Có những nét thêm vào như cau có, lạm dụng rượu, tác phong kịch tính, những ám ảnh và ám ảnh sợ hoặc lo âu nghi bệnh
Trang 3737
Mất quan tâm hay ham thích trong những hoạt động thường ngày mà trước đây gây thích thú Không có phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh thường có thể làm cho vui thích
Rối loạn giấc ngủ: hay thức giấc về buổi sáng, trước giờ thường thức dậy trước đây là 2 tiếng hoặc hơn
Trạng thái trầm cảm thường xấu hơn vào buổi sáng
Chậm chạp về tâm lý vận động, hoặc đôi khi ngược lại, là kích động
Ăn mất ngon miệng rõ rệt, sút cân trên 5% trong 1 tháng Mất dục năng rõ rệt
Mô tả lâm sàng giai đoạn trầm cảm:
Mô tả mức độ nặng nhẹ của rối loạn trầm cảm dưới đây chỉ được sử dụng cho một giai đoạn trầm cảm đơn độc, đầu tiên Các giai đoạn trầm cảm có thêm của bệnh nhân về sau này được xếp ở mục F33, rối loạn trầm cảm tái diễn.(Tuy nhiên, phân loại mức độ nặng, vừa, nhẹ vẫn dựa theo tiêu chuẩn này):
Không có hoặc có ít triệu chứng cơ thể mức độ nhẹ
- Giai đoạn trầm cảm vừa:
Có 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu cộng với 3 hoặc 4 trong 7 triệu chứng phổ biến khác
Có 2 – 3 triệu chứng cơ thể mức độ vừa
Trang 3838
Thời gian tối thiểu là 2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc gia đình Cũng có thể có hoặc không có các triệu chứng cơ thể
- Giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần:
Buồn chán, chậm chạp nặng hoặc kích động trầm cảm Mất tự tin hoặc cảm thấy vô dụng hoặc có tội lỗi Có thể có hành vi tự sát
Tiêu chuẩn xác định: có cả 3 trong 3 triệu chứng chủ yếu cộng với ít nhất
4 trong 7 triệu chứng phổ biến khác và một số phải đặc biệt nặng
Thời gian ít nhất 2 tuần
Người bệnh ít khả năng tiếp tục được công việc xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình
- Giai đoạn trầm cảm nặng kèm theo các triệu chứng loạn thần:
Đáp ứng với các tiêu chuẩn trầm cảm nặng nêu trên, có các triệu chứng loạn thần như: hoang tưởng, ảo giác phù hợp với cảm xúc Có thể có sững sờ trầm cảm
1.3 Trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở
1.3.1 Đặc điểm phát triển độ tuổi của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở được xác định bao gồm những em có độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14,15 tuổi Đây là thời kỳ các em đang theo học từ lớp
6 đến lớp 9 ở trường trung học cơ sở Đây là thời kỳ phát triển hết sức phức tạp, thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành [8][12][1]Về mặt thể chất, tuổi thiếu niên được xem là giai đoạn bứt phá lần hai trong cuộc đời Sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí của thiếu niên có đặc điểm là tốc độ phát triển
cơ thể nhanh, mạnh mẽ nhưng không cân đối, đồng thời xuất hiện yếu tố mới
mà ở lứa tuổi trước chưa có (sự phát dục) Tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự cải tổ thể chất – sinh lí của tuổi thiếu niên là các hoocmon, chế độ lao động và dinh dưỡng Sự phát dục và những biến đổi trong sự phát triển thể
Trang 39Về điều kiện sống, ở độ tuổi THCS, các em đã được gia đình thừa nhận như một thành viên tích cực; được cha mẹ, anh chị giao cho những những nhiệm vụ cụ thể; được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình Những thay đổi đó đã động viên, kích thích học sinh THCS hoạt động tích cực, độc lập tự chủ Hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinh THCS cũng có nhiều thay đổicả về nội dung phương pháp và hình thức học tập Tất cả những thay đổi đó là điều kiện rất quan trọng làm cho hoạt động nhận thức và nhân cách của học sinh THCS có sự thay đổi về chất so với các lứa tuổi trước Trong xã hội, học sinh THCS cũng thừa nhận như một thành viên tích cực, được giao một số công việc nhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhau Về phía mình, học sinh THCScũng rất thích làm công tác xã hội vì: Các
em có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn được mọi người thừa nhận; các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn Do tham gia công tác xã hội, mà quan hệ của học sinh THCS được mở rộng, các em được tiếp xúc với nhiều người, nhiều vấn đề của xã hội, do đó tầm hiểu biết được mở rộng, kinh nghiệm cuộc sống phong phú lên, nhân cách của các em được hình thành và phát triển [31][8]
Trang 4040
Về học tập, việc học tập ở trường trung học cơ sở là một bước ngoặc quan trọng và phức tạp hơn một cách đáng kể Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những có sở của các khoa học, học tập có phân môn gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao Quan hệ giữa giáo viên và học sinh THCS “xa cách” hơn so với bậc tiểu học Các em được học với nhiều giáo viên Các giáo viên có cách dạy và yêu cầu khác nhau đối với học sinh, có trình độ nghề nghiệp và phẩm chất, uy tín khác nhau Sự thay đổi này tạo ra những khó khăn nhất định cho các em nhưng nó cũng tạo điều kiện cho các em phát triển dần phương thức nhận thức người khác Thái độ tự giác đối với học tập ở tuổi thiếu niên cũng tăng lên rõ rệt và được phân hóa giữa các môn Thái độ đối với môn học do nội dung môn học và sự đòi hỏi phải mở rộng tầm hiểu biết chi phối Ở đa số thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập”
đã được mở rộng ; ở nhiều em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học, say mê học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của thiếu niên bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống
Học sinh THCS có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, các em cũng có nhiều tiến
bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ, có những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy,kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ, ghi nhớ ý nghĩa phát triển Các em thường phản đối các yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu, từng chữ có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình Hoạt động tư duy của học sinh THCS cũng có những biến đổi cơ bản, ngoài tư duy trực quan – hình tượng, các em cần đến sự phát triển tư duy trừu