1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã an khê, tỉnh gia lai

109 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Công Tác Giáo Dục Pháp Luật Cho Học Sinh Ở Các Trường Trung Học Cơ Sở Trên Địa Bàn Thị Xã An Khê, Tỉnh Gia Lai
Tác giả Nguyễn Xuân Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Nguyên Du
Trường học Trường Đại học Quy Nhơn
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố An Khê
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân là một cán bộ quản lý giáo dục, tôi luôn mong muốn được nghiên cứu để tăng thêm sự hiểu biết về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh, qua đó đóng góp công sức của mình trong

Trang 1

NGUYỄN XUÂN PHƯỢNG

QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.14.01.14

Người hướng dẫn: PGS.TS VÕ NGUYÊN DU

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Phượng

Trang 3

Để hoàn thành luận văn “Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai”

tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS,TS Võ Nguyên Du – Giảng viên khoa Khoa học xã hội và nhân văn, trường Đại học Quy Nhơn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới phòng Nội vụ, phòng Giáo dục và đào tạo thị xã An Khê, các trường THCS trên địa bàn thị xã đã cung cấp cho tôi nguồn số liệu chính xác và cập nhật giúp tôi hoàn thành các bản thống kê, làm nguồn minh chứng cho đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên, nhân viên trường THCS Mai Xuân Thưởng, thị xã An Khê – nơi tôi công tác -

đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy

cô giáo, các chuyên gia và các bạn đồng nghiệp

An Khê, ngày 28 tháng 2 năm 2021

Tác giả

Nguyễn Xuân Phượng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản sử dụng để nghiên cứu đề tài 10

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 10

1.2.2 Pháp luật , pháp luật xã hội chủ nghĩa 11

1.2.3 Giáo dục pháp luật 11

1.2.4 Quản lý công tác giáo dục pháp luật ở trường THCS 12

1.3 Lý luận chung về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS 13

1.3.1 Quan điểm chung về giáo dục pháp luật cho học sinh THCS 13

1.3.2 Mục tiêu giáo dục pháp luật 14

Trang 5

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật 19

1.4.2 Quản lý nội dung, chương trình giáo dục pháp luật 20

1.4.3 Quản lý các phương thức giáo dục pháp luật 20

1.4.4 Quản lý các lực lượng trong giáo dục pháp luật 21

1.4.5.Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả của giáo viên trong hoạt động giáo dục pháp luật 22

1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến quản lý giáo dục pháp luật ở trường trung học cơ sở 22

Tiểu kết chương 1 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI 26

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng: 26

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu thực trạng: 26

2.1.2 Nội dung nghiên cứu, khách thể khảo sat 26

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu: 27

2.2 Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội, giáo dục của thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai 28

2.2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế 28

2.2.2 Đặc điểm giáo dục của thị xã An Khê: 29

2.3 Thực trạng giáo dục pháp luật ở các trường THCS thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai 35

2.3.1 Kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục pháp luật 35

2.3.2 Kết quả thực hiện nội dung, chương trình giáo dục pháp luật 37

2.3.3 Thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục pháp luật 39

2.3.4 Kết quả kiểm tra, đánh giá giáo dục pháp luật 41

Trang 6

Khê, tỉnh Gia Lai 45

2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật 45

2.4.2.Thực trạng quản lý nội dung, chương trình giáo dục pháp luật ở trường THCS 46

2.4.3.Thực trạng quản lý các hình thức giáo dục pháp luật ở trườngTHCS 48

2.4.4 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục pháp luật của giáo viên 49

2.4.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai 51

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG: 52

2.5.1 Mặt mạnh 52

2.5.2 Hạn chế 52

2.5.3 Nguyên nhân 53

Tiểu kết chương 2 54

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI 55

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THCS thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai 55

3.1.1.Phải đảm bảo quán triệt đầy đủ các quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục 55

3.1.2 Phải đảm bảo tính mục đích GDPL cho học sinh 55

3.1.3 Phải đảm bảo tính thực tiễn 56 3.1.4 Đảm bảo tính thiết thực và khả thi 57

Trang 7

3.2.1.Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL, GV và HS về tầm quan

trọng của công tác GDPL cho HS trong nhà trường 57

3.2.2.Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực GDPL cho đội ngũ CBQL, giáo viên 59

3.2.3 Đa dạng các nội dung và hình thức GDPL trong nhà trường 60

3.2.4.Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng GDPL trong nhà trường 65

3.2.5.Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá GDPL và thi đua, khen

thưởng 68

3.2.6 Đảm bảo các điều kiện hỗ trợ quản lý công tác GDPL 71

3.4 Khảo nghiệm tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 74

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

1 KẾT LUẬN 81

2 KHUYẾN NGHỊ 83

2.1 Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã An Khê 83

2.2 Đối với các trường THCS 83

2.3 Đối với cha mẹ học sinh 84

2.4 Đối với các tổ chức xã hội trên địa bàn thị xã 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

Trang 8

VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ

Trang 9

Bảng 2.1: Quy mô trường lớp trong 3 năm học gần đây: 30

Bảng 2.2: Thống kê số lượng học sinh THCS đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp thị xã, cấp tỉnh 30

Bảng 2.3: Thống kê xếp loại hạnh kiểm học sinh THCS trong 3 năm qua: 31

Bảng 2.4: Số lượng đội ngũ CBQL, GV, NV các trường THCS năm học 2019-2020 31

Bảng 2.5: Trình độ đào tạo của đội ngũ CBQL, các trường THCS 32

Bảng 2.6: Thống kê cơ sở hạ tầng trường THCS 34

Bảng 2.7.: Kết quả nhận thức về mục tiêu giáo dục pháp luật 35

Bảng 2.8: Kết quả thực hiện các nội dung giáo dục pháp luật 37

Bảng 2.9: Mức độ và hiệu quả sử dụng các hình thức GDPL 39

Bảng 2.10: Kết quả kiểm tra, đánh giá giáo dục pháp luật cho HS THCS 41

Bảng 2.11: Thực trạng các lực lượng tham gia giáo dục pháp luật 43

Bảng 2.12: Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh THCS thị xã an khê 45

Bảng 2.13: Quản lý nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh THCS thị xã An Khê 47

Bảng 2.14: Quản lý hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh THCS thị xã An Khê 48

Bảng 2.15: Mức độ thực hiện các phương thức đánh giá kết quả giáo dục pháp luật cho học sinh THCS 50

Bảng 2.16: Kết quả các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục pháp luật 51

Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp 74

Bảng 3.2: Ý Kiến đánh giá về tính hợp lý của các biện pháp 75

Bảng 3.3: Ý kiến đánh giá về tính khả thi của các biện pháp 76

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Pháp luật là sự thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, thể hiện ý chí của nhân dân lao động, là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước Pháp luật chỉ có thể phát huy có hiệu quả để điều chỉnh các quan hệ xã hội khi mọi người có ý thức tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền - Nhà nước của dân,

do dân và vì dân, đảm bảo Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những mục tiêu cơ bản của Đảng ta Vì vậy việc trang bị tri thức pháp luật, hình thành ý thức pháp luật để phát triển toàn diện nhân cách con người, tìm tòi các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để đạt hiệu quả cao là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đặc biệt là nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục và đào tạo, các nhà trường phổ thông

Đối với các em học sinh, ý thức tuân thủ pháp luật và sự hiểu biết pháp luật là một nội dung quan trọng hình thành nên nhân cách Trong nhà trường, cùng với kiến thức văn hóa, kiến thức pháp luật giúp các em nâng cao hiểu biết

và dần dần có thói quen tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật, biết thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của công dân, xây dựng một môi trường xã hội có kỷ cương, nề nếp “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”

Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, Đảng ta đã xác định “Giáo dục

và đào tạo là quốc sách hàng đầu” nhằm đào tạo lớp người mới làm chủ tương lai của đất nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII chỉ rõ: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam là nhằm xây dựng những con người mới có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ, sức khỏe, có tính tổ chức kỷ luật để kế thừa xây dựng đất nước” [4, tr 151]

Trang 11

Trong thời gian qua, đặc biệt là gần đây, tình trạng học sinh nói chung

và học sinh Trung học cơ sở (THCS) nói riêng vi phạm pháp luật khá nhiều, thậm chí có những vụ việc nghiêm trọng, thể hiện sự xuống cấp về đạo đức trong tầng lớp thanh thiếu niên Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu: “Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ” [5 tr 172, 173]

Để pháp luật đi vào đời sống thực sự có hiệu quả thì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (GDPL) đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là đối với thanh thiếu niên trong các trường học, vì hầu hết thanh thiếu niên vi phạm đều chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về pháp luật Tuy nhiên vẫn còn có những quan niệm cho rằng công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường là không cần thiết, chưa thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác này Trong nhà trường, hiện chưa có một chương trình giáo dục pháp luật như một môn học Kiến thức giáo dục pháp luật được lồng ghép trong các môn học hoặc các hoạt động ngoại khóa của học sinh Công tác tuyên truyền chưa có chiều sâu nên hiệu quả và sức tác động tới học sinh bị hạn chế Nhận thức của nhiều học sinh về các vấn đề pháp luật vì thế còn khá mơ hồ, xem nhẹ Hậu quả là thời gian gần đây có rất nhiếu vấn nạn học đường xảy ra như nạn bạo lực học đường, nghiện game, ma túy, hay những vụ “hiếp dâm” mà chính bản thân nạn nhân và tội phạm đều mắc vòng lao lý vì thiếu hiểu biết

Bên cạnh đó, vì những lý do khác nhau, nhiều bậc phụ huynh cũng chưa chú trọng nhiều đến việc giáo dục cho con em kiến thức về pháp luật, có chăng chỉ dừng lại ở những lời nhắc nhở mà chưa có động thái nào hướng dẫn cho con em về pháp luật như luật an toàn giao thông, luật hôn nhân gia đình, tuổi được kết hôn và các hành vi vi phạm pháp luật, Nguyên nhân là phụ huynh nghĩ con em mình chưa lớn nên chưa cần giáo dục pháp luật

Thực tế công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS

Trang 12

trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong những năm qua còn bộc lộ nhiều lúng túng, bất cập Một trong những nguyên nhân chính của thực trạng nêu trên là do công tác quản lý, chỉ đạo công tác này ở các trường THCS chưa tốt, chưa được quan tâm một cách thỏa đáng

Bản thân là một cán bộ quản lý giáo dục, tôi luôn mong muốn được nghiên cứu để tăng thêm sự hiểu biết về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh, qua đó đóng góp công sức của mình trong việc quản lý, chỉ đạo hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh trong các nhà trường được tốt hơn

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai” để nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế, bất cập

Trang 13

Nếu xây dựng được cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh thì có thể đề xuất được biện pháp quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai một cách hợp lý, khả thi, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục của các nhà trường trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học

sinh ở các trường THCS

5.2 Khảo sát thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng

công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thị

xã An Khê, tỉnh Gia Lai

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành khảo sát đối với các cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) và học sinh ( HS) các trường THCS trên địa bàn trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai với số lượng cụ thể:

- Số trường chọn khảo sát: 8/8 trường (100% trường THCS của thị

xã An Khê)

- CBGV: 193 người Trong đó: + CBQL: 17 người

+ GV: 176 người

- HS: 100 HS

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh

ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong 3 năm học gần đây (từ năm 2017 – 2018 đến năm 2019 - 2020 )

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin khoa học, các tài liệu về những quan điểm xung quanh vấn đề

7.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Nhằm phân tích và tổng hợp các tài liệu khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu vấn đề

7.1.2 Phương pháp phân loại tài liệu

Nhằm sắp xếp các tài liệu khoa học, văn bản chỉ đạo thành hệ thống lý luận logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra

Mục đích: Thu thập ý kiến về thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường THCS trên địa bàn trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai

Các phiếu điều tra - phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường THCS trên địa bàn thị xã về thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh

7.2.3 Phương pháp khảo nghiệm

Sử dụng nhằm mục đích khảo nghiệm tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp quản lý do đề tài đề xuất

Trang 15

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn

Thông qua việc phỏng vấn, trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một số đối tượng cụ thể (CBQL, GV hoặc HS) để thu thập thêm thông tin về thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai

Các CBQL, GV được lựa chọn phỏng vấn đã tính đến dịa bàn mà trường THCS của họ đóng chân, đảm bảo có cả trường ở vùng thuận lợi và trường ở vùng khó khăn

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý số liệu thu được trong đề tài

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý công tác giáo dục pháp luật cho

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm Công tác này đòi hỏi ứng dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học như: Luật học, Tâm lý học, Xã hội học… Những năm gần đây, một số cơ quan quản lý, nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung

và phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục nói riêng

Quản lý giáo dục pháp luật trong nhà trường phổ thông là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được cả xã hội quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này

đã được công bố, như: "Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản

lý hành chính nhà nước hiện nay", Luật án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1996 ;

"Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ tư pháp, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Luận án tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo, (1996); "Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", Vụ Phổ biến Giáo dục pháp luật (1997), Nxb Thanh niên, Hà Nội,

Bộ Tư pháp có Bộ tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ công tác phổ biến giáo dục pháp luật…

Trang 17

- Về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung: Do truyền thống văn hoá cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam có những nét đặc thù nên phổ biến, giáo dục pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và đã được quan tâm nghiên cứu mà tiêu biểu là các Luận án Phó tiến sỹ luật học của Nguyễn Đình Lộc (nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Trần Ngọc Đường (nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng tổ chức nghiên cứu, xuất bản một số công

trình như: “Một số vấn đề về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”…

- Về phổ biến, giáo dục pháp luật của ngành giáo dục: Đặng Thị Thu

Huyền và nhóm nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu Đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” Mã số B2009-37-09-NV; Nguyễn Đình Đặng Lục đã tập trung nghiên cứu vấn đề “phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” thể hiện

ở Luận án Tiến sỹ Luật học của mình; Đinh Xuân Thảo cũng bảo vệ thành

công Luận án Tiến sỹ Luật học về vấn đề “giáo dục pháp luật ở các trường đại học, cao đẳng không chuyên luật” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã

số 2000-58-139 của Bộ Tư pháp đã tập trung vào vấn đề “Giáo viêngiảng dạy giáo dục công dân” Để quản lý, chỉ đạo thực tiễn, Vụ Pháp

chế Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Tư pháp biên soạn cuốn

“Cẩm nang công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”, đồng thời chủ trì phối

hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường”…

Bên cạnh các công trình nêu trên, nhiều luận văn thạc sỹ, nhiều bài báo

Trang 18

về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được công bố trên tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Giáo dục… của nhiều tác giả khác nhau

Nhìn chung, các công trình này đã đề cập đến hai nhóm vấn đề:

- Các vấn đề có tính lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung

- Các vấn đề cụ thể về một số khía cạnh của hoạt động giáo dục pháp luật như: Giáo dục pháp luật ở trường không chuyên luật; vấn đề đội ngũ giáo viên giáo dục công dân; vấn đề giáo dục pháp luật cho một số đối tượng cụ thể; vấn đề giáo dục pháp luật ở một số lĩnh vực pháp luật khác nhau; một số

kỹ năng thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật …

Tuy nhiên, việc nghiên cứu trước đây chưa có sự phối hợp, gắn kết có hiệu quả giữa các chuyên gia pháp luật và các chuyên gia về giáo dục Về nội dung, các nghiên cứu và các đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật cũng chỉ tập trung giải quyết một số vấn đề cụ thể, bức xúc trong từng giai đoạn như giảm thiểu tình trạng học sinh vi phạm an toàn giao thông, hút chích ma túy, hay tình trạng bạo lực học đường …

Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận sự cần thiết phải quan tâm đến công tác GDPL cho công dân nói chung, học sinh phổ thông nói riêng; còn các công trình, đề tài nghiên cứu nêu các nội dung, biện pháp, hình thức tổ chức GDPL để áp dụng trong các trường THCS thì chưa được quan tâm nghiên cứu một cách cụ thể, đầy đủ để có thể thực hiện có hiệu quả cao, đặc biệt là để có thể áp dụng phù hợp trong các trường THCS ở địa bàn thị

xã An Khê, tỉnh Gia Lai Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu các biện pháp của nhà trường để GDPL cho học sinh các trường THCS ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai nhằm đổi mới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các biện pháp GDPL cho học sinh trong nhà trường cho phù hợp với điều kiện hiện nay của thị xã An Khê nói riêng cũng như của đất nước ta nói chung

Trang 19

1.2 Một số khái niệm cơ bản sử dụng để nghiên cứu đề tài

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục

1.2.1.1.Khái niệm về quản lý

Quản lý là một loại hình hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người

Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề

ra.” [9; tr 8]

Như vậy, quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ không đồng cấp và có tính bắt buộc Quản

lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan, có khả năng thích nghi giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và ngược lại

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Quản lý và giáo dục tồn tại song hành với nhau Với tư cách là hệ lớn, phức tạp, hệ thống giáo dục cần có sự quản lý một các khoa học Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục có hai cấp độ: cấp vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) và cấp vi mô (quản lý nhà trường) Theo đó:

“Cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội (tính trội của hệ thống) sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn

biến động” [9; tr 10]

“Ở cấp vi mô: quản lý giáo dục đồng nghĩa với khái niệm quản lý nhà trường: quản lý giáo dục (ở cấp vi mô) được hiểu là hệ thống những tác động

Trang 20

tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha

mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực

hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [9; tr 12]

Qua các định nghĩa trên chúng tôi thấy, quản lý giáo dục dù ở cấp vĩ

mô hay cấp vi mô cũng đều có những nét bản chất tương đồng với nhau Chúng chỉ khác nhau về phạm vi của đối tượng quản lý Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về quản lý giáo dục của tác giả Trần Kiểm làm

cơ sở cho việc nghiên cứu Khái niệm quản lý giáo dục ở đây được hiểu là quản lý giáo dục ở cấp vi mô – quản lý nhà trường

1.2.2 Pháp luật , pháp luật xã hội chủ nghĩa

“Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

do nhà nước ban hành hoặc thứa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là yếu tố

đảm bảo sự ổn định và trật tự của xã hội.” [8; tr 161]

“ Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự chung

do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy nhà nước và phương thức tác động của nhà nước, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của nhà

nước nhằm xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa” [8; tr 162]

1.2.3 Giáo dục pháp luật

Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm "giáo dục pháp luật"

- Quan niệm thứ nhất, cho rằng: pháp luật là qui tắc xử sự có tính bắt

buộc chung Mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, do đó không cần đặt ra vấn đề giáo dục pháp luật

- Quan niệm thứ hai, tồn tại lâu dài ở nước ta coi giáo dục pháp luật

Trang 21

chỉ là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức

- Quan niệm thứ ba, coi giáo dục pháp luật đồng nhất với tuyên truyền,

giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật

Các quan niệm trên đều mang tính phiến diện, một chiều, chưa thấy hết đặc thù của giáo dục pháp luật

Trong luận văn này, khái niệm giáo dục pháp luật được sử dụng với

nghĩa: “Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành” [8; tr 32]

Kết quả của giáo dục pháp luật không chỉ ở chỗ đối tượng biết pháp luật quy định thế nào mà còn hiểu vì sao lại quy định như vậy để họ vận dụng pháp luật một cách chủ động, sáng tạo và chính xác

1.2.4 Quản lý công tác giáo dục pháp luật ở trường THCS

Quản lý công tác GDPL là tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDPL đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Đó chính là việc trang bị, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật; hình thành, tạo dựng lòng tin vào pháp luật; xây dựng thói quen vững chắc xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật (hình thành lối sống tuân theo pháp luật)

Quản lý công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường THCS là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên của Hiệu trưởng và chủ thể quản lý đến các hoạt động giáo dục học sinh THCS đạt được mục đích, hiệu quả giáo dục Cụ thể là trang bị cho học sinh THCS một trình độ tri thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng

và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật

Trang 22

1.3 Lý luận chung về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THCS

1.3.1 Quan điểm chung về giáo dục pháp luật cho học sinh THCS

Giáo dục pháp luật cho học sinh THCS cũng như giáo dục pháp luật nói chung, về bản chất là tạo lập cái đức trong mỗi con người Xét trên mọi phương diện, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục công dân, giáo dục pháp luật là những yếu tố quan trọng tạo nên nhân cách của mỗi con người Giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật chính là học cách cư xử của công dân với cộng đồng, với Nhà nước, với xã hội phù hợp với từng giai đoạn lịch sử xã hội

Để nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà

trường, năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn tài liệu Cẩm nang phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học cơ sở Cẩm nang

nhằm giúp học sinh trung học cơ sở có những hiểu biết, nhận thức cơ bản về pháp luật; nhận biết hành vi tích cực được làm, được khích lệ, động viên; các hành vi tiêu cực, bị pháp luật nghiêm cấm, các hành vi vi phạm pháp luật bị

xã hội lên án; hậu quả pháp lý bất lợi từ việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (cả hậu quả, tác hại đối với xã hội, với bản thân, với gia đình và những người xung quanh); cách phòng ngừa để không còn bị vi phạm Từ đó nâng cao ý thức tự giác, xác định được trách nhiệm của bản thân và của những người xung quanh; phát hiện, thông tin kịp thời cho người có thẩm

quyền để xử lí đối với các hành vi vi phạm

Các nội dung pháp luật cần phổ biến, giáo dục trong cẩm nang được truyền tải thông qua các vụ việc, tình huống pháp lý cụ thể đang diễn ra hằng ngày mà học sinh thường tiếp xúc để giúp các em nhận thức rõ đâu là hành vi tích cực được phép thực hiện hoặc phải thực hiện, đâu là hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật để từ đó hạn chế hoặc không thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật Cẩm nang giúp cho các nhà trường thực hiện rất hiệu quả

Trang 23

công tác GDPL cho HS

Căn cứ pháp lý để thực hiện công tác GDPL có thể kể đến những văn bản chính sau đây:

- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/ QH 13 của Quốc hội

- Nghị định 28/2013/NĐ – CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phổ biến GDPL

- Kế hoạch số 115/KH – BGD ĐT ngày 27/2/2020 của Bộ GD&ĐT về

kế hoạch công tác phổ biến GDPL năm 2020

Đối với các trường học ở thị xã An Khê, cần phải lưu ý thực hiện những văn bản chính sau:

- Chỉ thị 09/CT – UBND ngày 17/3/2017 của UBND tỉnh Gia Lai về việc tăng cường công tác phổ biến GDPL

- Công văn số 483/SGD ĐT – CTTT ngày 29/3/2017 của Sở GD&ĐT Gia lai về tăng cường công tác phổ biến GDPL trong các cơ sở giáo dục

- Kế hoạch số 573/KH – UBND ngày 27/3/2018 của UBND tỉnh Gia Lai về công tác phổ biến GDPL cho thanh thiếu niên giai đoạn 2018 – 2020

- Kế hoạch số 24/KH – UBND ngày 12/4/2018 của UBND thị xã An Khê về Kế hoạch tăng cường phổ biến GDPL nhằm nâng cáo ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên

- Và các văn bản chỉ đạo về công tác phổ biến GDPL trong các nhà trường của Phòng GD&ĐT An Khê

1.3.2 Mục tiêu giáo dục pháp luật

Giáo dục pháp luật là việc sử dụng những hình thức khác nhau để tác động có hệ thống và thường xuyên lên ý thức của con người nhằm trang bị cho họ những kiến thức nhận định, để từ đó họ có những nhận thức đúng đắn

về pháp luật, tôn trọng và xử sự theo yêu cầu của pháp luật

- Về kiến thức:

Trang 24

Trang bị cho học sinh THCS tương đối có hệ thống những tri thức cơ bản và cần thiết, phù hợp với độ tuổi về Nhà nước, về pháp luật, về nghĩa vụ, quyền con người, quyền công dân Trên cơ sở đó giúp học sinh hình thành niềm tin, tình cảm đúng đắn về pháp luật; định hướng cho các em sống và làm việc theo pháp luật trong tương lai

Để giúp cho học sinh có tri thức, hiểu biết về pháp luật, phải chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, đặc biệt là phương pháp dạy học các môn học có liên quan, nhất là môn Giáo dục công dân Bên cạnh đó cần trang bị cho các

em hệ thống những tri thức, giá trị đạo đức, giá trị làm người

- Về thái độ:

Trên cơ sở trang bị tri thức, hiểu biết về pháp luật để xây dựng cho học sinh ý thức tôn trọng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và đấu tranh với những biểu hiện vi phạm pháp luật trong xã hội

- Về kỹ năng::

Kỹ năng biểu hiện sống và làm việc theo pháp luật là mục tiêu cuối cùng và cơ bản nhất của GDPL, đặc biệt là hình thành các thói quen tuân thủ pháp luật như: Thói quen tuân thủ và tôn trọng pháp luật, thói quen điều chỉnh thái độ và hành vi trên cơ sở pháp luật, thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật…

1.3.3 Nội dung, chương trình giáo dục pháp luật cho học sinh

Để phù hợp với độ tuổi, chương trình giáo dục pháp luật đối với học sinh THCS về cơ bản gồm những nội dung sau:

- Giáo dục về quyền trẻ em

- Quyền bảo vệ tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

- Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và gia đình

- Quan hệ hôn nhân và gia đình

- Kiến thức về an toàn giao thông

Trang 25

- Phòng chống tệ nạn xã hội, bạo lực học đường

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

- Giáo dục ý thức pháp luật, đây là nội dung rất cơ bản

Nội dung trong chương trình GDPL bao gồm những hiểu biết, nhận thức cơ bản về pháp luật; nhận biết hành vi tích cực được làm, được khích lệ, động viên; các hành vi tiêu cực, bị pháp luật nghiêm cấm, các hành vi vi phạm pháp luật bị xã hội lên án; hậu quả pháp lý bất lợi từ việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, cách phòng ngừa để không còn bị vi phạm

1.3.4 Phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật trong trường THCS

- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động

Đưa học sinh vào các hoạt động thực tiễn, thông qua việc phân tích, xử

lý tình huống cụ thể để tập dượt, hình thành ở học sinh thái độ, hành vi và thói quen tuân thủ pháp luật

- Nhóm phương pháp kích thích hành vi

Là nhóm phương pháp tác động vào động cơ, tình cảm của học sinh nhằm tạo nên tính tích cực hoạt động và khả năng điều chỉnh hành vi, khắc phục những hạn chế, sai lệch trong hành vi pháp luật Nhóm này gồm khen thưởng, trách phạt, thi đua

Hình thức GDPL cho học sinh THCS

Thực tiễn cho thấy tồn tại hai hình thức cơ bản sau:

Trang 26

Dạy học trên lớp: Việc giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường THCS

được thực hiện thông qua nhiều con đường, trong đó dạy học môn GDCD là một con đường quan trọng

Nội dung môn giáo dục công dân đã chứa đựng các kiến thức pháp luật song tổ chức dạy học sao cho hiệu quả là một vấn đề rất quan trọng Ngoài các phương pháp thuyết trình, nêu vấn đề trong quá trình dạy học, có thể sử dụng các phương pháp sau:

- Thực hiện các dự án thực tiễn

Trong quá trình dạy học pháp luật cho HS ở trường THCS, có thể tổ chức cho các em xây dựng và thực hiện các dự án tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong cộng đồng (VD như: tuyên truyền pháp luật đường bộ, Luật hôn nhân và gia đình, )

Đây là loại hoạt động đòi hỏi HS phải kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, biết vận dụng kiến thức pháp luật vào thực tiễn cuộc sống; HS phải thực hiện với tính tự lực cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá kết quả thực hiện dự án Việc xây dựng và thực hiện các dự án nhỏ này giúp HS tham gia tích cực, chủ động và tự giác tham gia vào quá trình dạy học pháp luật

- Tranh luận trong quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học pháp luật, có thể tổ chức cho HS được bày tỏ thái độ đồng tình hoặc phản đối đối với một số ý kiến, quan điểm, hành vi, việc làm có liên quan đến các quy định của pháp luật hoặc việc thực hiện pháp luật; sau đó tổ chức cho 2 nhóm tranh luận với nhau để bảo vệ hay bác

bỏ các ý kiến, quan điểm, hành vi, việc làm đó Quá trình tranh luận về các vấn đề có liên quan đến bài học pháp luật như vậy sẽ giúp HS củng cố vững chắc hơn các kiến thức pháp luật đã học; đồng thời còn giúp các em phát triển

tư duy phê phán, khả năng trình bày, lập luận logic và kĩ năng giao tiếp

Trang 27

- Phân tích các trường hợp điển hình

Đây là hình thức GV đưa ra (hoặc yêu cầu HS nêu) các trường hợp điển hình, các hiện tượng, sự kiện trong đời sống thực tiễn của nhà trường, địa phương, đất nước có liên quan đến nội dung bài pháp luật và tổ chức cho HS cùng nghiên cứu, xem xét, phân tích, đánh giá dựa trên các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn của GV Hình thức hoạt động này có ưu thế trong việc gắn bài học với thực tiễn cuộc sống của HS; giúp các em hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về các quy định của pháp luật; đồng thời giúp các em phát triển tư duy phân tích, phê phán, óc sáng tạo, lòng tự tin và sự hứng thú trong học tập

Ngoài giờ lên lớp

- Tổ chức ngoại khóa để xử lí tình huống pháp luật

Đây là hình thức hoạt động GV đưa ra những tình huống pháp luật cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày và yêu cầu HS xác định cách giải quyết, xử lí tình huống đó

Mỗi tình huống pháp luật có cấu trúc gồm hai phần: Phần mô tả tình huống và phần câu hỏi, yêu cầu xử lí

Việc tổ chức cho HS xử lí các tình huống pháp luật sẽ có tác dụng phát triển ở HS kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, giúp các em có thể ứng phó tích cực và phù hợp với các quy định của pháp luật trong các tình huống

đa dạng của cuộc sống

- Học sinh tập tư vấn pháp luật

GV có thể phân công một số HS nghiên cứu kĩ một nội dung của tình huống pháp luật, sau đó các em này sẽ đóng vai các ”luật sư” để tuyên truyền, phổ biến và tư vấn, giải đáp các câu hỏi của các bạn HS trong lớp đặt ra về nội dung pháp luật đó

- Tổ chức tìm hiểu việc thực hiện pháp luật ở địa phương

Khi dạy pháp luật cho HS THCS, có thể tổ chức cho HS tiến hành điều

Trang 28

tra tìm hiểu việc thực hiện các quy định của pháp luật trong cộng đồng địa phương Ví dụ: tìm hiểu việc thực hiện quyền trẻ em ở địa phương, việc thực hiện pháp luật, luật Hôn nhân và gia đình ở địa phương,

Tóm lại, các hình thức hoạt động dạy học pháp luật rất phong phú, đa dạng Trên đây chỉ là một số hình thức chủ yếu, ngoài ra, còn có một số hình thức hoạt động khác Tuy nhiên, các hoạt động dạy học pháp luật phải được thiết kế đan xen nhau một cách hợp lý trong tiết học, để vừa bảo đảm thực hiện được mục tiêu bài học, vừa gây được hứng thú học tập cho HS

1.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường học

- Thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm tra - thanh tra, bao gồm kiểm tra - thanh tra của cấp trên và của lãnh đạo nhà trường về mọi hoạt động trong trường

- Đảm bảo các kênh thông tin (hai chiều, nhiều chiều) và xử lý thông tin phục vụ các hoạt động nhà trường và phục vụ công tác quản lý nhà trường

1.4 Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường THCS

1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật

- Xây dựng mục tiêu GDPL: GDPL nói chung và trong nhà trường nói riêng là hướng tới việc cung cấp tri thức pháp luật cho người học, thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học

- Triển khai thực hiện mục tiêu GDPL cho học sinh là làm cho quá trình GDPL vận hành đồng bộ, theo đúng hướng để đạt mục tiêu đã đề ra nhằm nâng cao chất lượng GDPL cho học sinh Muốn vậy, phải làm sao cho các đối tượng của quá trình GDPL (cả chủ thể và khách thể) nắm vững mục tiêu GDPL của nhà trường, có thái độ ủng hộ và quyết tâm phấn đấu thực hiện

- Cải tiến, hoàn thiện, đổi mới mục tiêu GDPL: Để phù hợp điều kiện thực tiễn đối với từng khối lớp, từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể thì mục

Trang 29

tiêu GDPL cần phải cải tiến, hoàn thiện và đổi mới để công tác GDPL ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

1.4.2 Quản lý nội dung, chương trình giáo dục pháp luật

- Xây dựng nội dung, chương trình GDPL cụ thể cho học sinh theo từng khối lớp và chung toàn trường Nội dung cần đảm bảo sao cho vừa bao quát, vừa cụ thể, việc xây dựng chương trình phải phù hợp với từng đối tượng khác nhau

- Triển khai thực hiện nội dung, chương trình GDPL: Xây dựng kế hoạch cụ thể, khả thi để quá trình giáo dục đảm bảo thực hiện đầy đủ nội dung GDPL đã xác định, bao gồm nội dung tuyên truyền, nội dung giảng dạy trên lớp và các hoạt động ngoại khóa về GDPL

- Cải tiến, hoàn thiện, đổi mới nội dung, chương trình GDPL: Nội dung, chương trình GDPL được điều chỉnh thường xuyên từng khối lớp, từng năm học và từng giai đoạn

1.4.3 Quản lý các phương thức giáo dục pháp luật

- Xây dựng các phương thức GDPL: Xây dựng hình thức và phương pháp GDPL nhằm làm cho việc tổ chức và triển khai các hoạt động GDPL diễn ra một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo thực hiện nội dung GDPL để đạt mục tiêu

- Triển khai thực hiện phương thức GDPL: Việc lựa chọn hình thức và phương pháp GDPL phải được dựa trên mục tiêu và nội dung đã xác định, đồng thời phải đảm bảo đúng nguyên tắc GDPL Tổ chức tuyên truyền pháp luật, thực hiện giảng dạy và tổ chức các hoạt động ngoại khóa đảm bảo nội dung GDPL

- Cải tiến, hoàn thiện, đổi mới phương thức GDPL nhằm tránh sự khô cứng, nhàm chán trong các hoạt động GDPL Cần đổi mới hình thức hoạt động đa dạng, phong phú nhằm thu hút học sinh tham gia

Trang 30

1.4.4 Quản lý các lực lượng trong giáo dục pháp luật

Quản lý cơ sở vật chất:

- Quản lý cơ sở vật chất gồm các nội dung chủ yếu sau: phân tích thực trạng; đánh giá nhu cầu; xây dựng kế hoạch sử dụng, bảo quản, bổ sung, tu sửa, mua sắm mới; chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học, công năng phòng học bộ môn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Quản lý tài chính

Nguồn tài chính cho trường phổ thông, bao gồm:

+ Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và giao thực hiện để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường

+ Nguồn tài chính ngoài Ngân sách là nguồn kinh phí mà Nhà nước cho phép các trường được huy động trực tiếp trong khuôn khổ thực hiện xã hội hoá nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho trường và được sử dụng theo quy định

để thực hiện mục tiêu của nhà trường

Nguồn nhân lực trong nhà trường

Nội dung quản lý nhân lực - nhân sự luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý nói chung và quản lý nhà trường nói riêng Quản lý nhân lực - nhân sự thông qua việc tuyển dụng, bố trí sử dụng đúng người, đúng việc là một động lực quan trọng, quyết định chất lượng dạy học và giáo dục Bên cạnh đó quản lý học sinh và quản lý lớp học cũng là một nội dung quản lý đặc thù của quản lý nhà trường

- Nguồn nhân lực của trường phổ thông là lực lượng giáo viên, cán bộ, nhân viên với năng lực chuyên môn của từng người tham gia vào các hoạt động của nhà trường

Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong tập thể

sư phạm nhà trường làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, là

Trang 31

nhân tố quyết định chất lượng đào tạo nói chung và công tác GDPL nói riêng của nhà trường

Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch quản lý sử dụng cơ sở vật chất, tài chính và đội ngũ CB – GV – NV hiệu quả, phát huy tối đa những thuận lợi, khắc phục khó khăn để công tác GDPL đạt kết quả tốt nhất

1.4.5 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả của giáo viên trong hoạt động

giáo dục pháp luật

- Mục đích kiểm tra, đánh giá GDPL để đảm bảo việc triển khai thực hiện được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng thời đối chiếu kết quả đạt được với mục tiêu nhằm rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy quá trình GDPL phát triển đạt hiệu quả

- Triển khai thực hiện: Kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu quả của từng hoạt động ngoại hóa, kiểm tra chất lượng bộ môn GDCD, số học sinh vi phạm pháp luật từng lớp, từng năm học…

- Cải tiến, hoàn thiện và đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá nhằm tăng cường kỷ cương, nền nếp hoạt động trong nhà trường, nâng cao ý thức trách nhiệm của GV, khuyến khích GV, HS nâng cao chất lượng GDPL, kịp thời điều chỉnh các hoạt động GDPL phù hợp với yêu cầu, điều kiện thực tế đặt ra, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho các năm sau

1.5 Các yếu tố ảnh hướng đến quản lý công tác giáo dục pháp luật ở trường trung học cơ sở

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDPL ở trường THCS Đó

là các yếu tố về môi trường giáo dục, cơ chế quản lý, đặc điểm của chủ thể quản lý (các thầy cô giáo và lực lượng giáo dục) và đối tượng quản lý (học sinh, cơ sở vật chất, tài chính ) Nhưng nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDPL ở trường THCS có thể chia thành hai nhóm yếu tố chính sau đây:

Trang 32

- Yếu tố khách quan:

+ Điều kiện kinh tế của phụ huynh, của địa phương nơi trường THCS đóng chân, các điều kiện đảm bảo như cơ sở vật chất, nguồn tài chính của nhà trường…có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý hoạt động GDPL cho học sinh Vì các điều kiện đó tạo nên cảnh quan sư phạm, cung cấp các phương tiện cho các hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh, tạo các điều kiện cần thiết để nhà trường và học sinh có thể tổ chức thực hiện được những hoạt động GDPL theo mục tiêu của nhà trường

+ Đặc điểm tình hình xã hội, tình hình an ninh trật tự của địa phương, các trào lưu của thanh thiếu niên trong từng giai đoạn… đều ảnh hưởng không nhỏ đến công tác GDPL của nhà trường

+ Tập quán, thói quen của nhân dân và học sinh của mỗi địa phương (nhất là những địa phương có nhiều làng dân tộc thiểu số) cũng là những yếu

tố ảnh hưởng nhiều đến công tác GDPL

+ Trình độ nhận thức và đặc điểm tâm lý của học sinh THCS: Học sinh THCS có những đặc điểm riêng rất đặc biệt Đặc trưng của lứa tuổi này (từ 11 – 15 tuổi) là sự phát triển “nhảy vọt” về thể trạng sinh lý lien quan đén hiện tượng dậy thì, phát dục khiến cho đời sống tâm lý chuyển từ trẻ nhỏ sang người lớn, từ thơ ấu sang trưởng thành Từ đó các em mong muốn khẳng định các giá trị về phẩm chất, năng lực của mình, mong muốn được tham gia những công việc như người lớn Cần lưu ý ở lứa tuổi này, do sự diễn biến nhanh, không đồng đều của thời kỳ dậy thì, phát dục nên cũng dễ dẫn đến những trạng thái tâm lý thất thường như từ e thẹn, nhút nhát đến hung hăng, khoác lác; từ nhiệt tình hăng hái đến lạnh nhạt, thờ ơ và dễ bị kích động Trong xã hội hiện đại, trẻ có khuynh hướng dậy thì, phát dục sớm, phát triển thể lực Nếu như bị các luồng thông tin có tính chất tiêu cực chưa được kiểm soát tác động sẽ dễ dẫn đến những hiện tượng “khủng hoảng” tâm lý trong

Trang 33

quá trình học tập, rèn luyện nhân cách học sinh ở lứa tuổi vị thành niên này Đây chính là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến công tác GDPL của nhà trường

- Yếu tố chủ quan:

+ Nhận thức, thái độ của CB – GV – NV nhà trường (nhất là Hiệu trưởng) về công tác GDPL là yếu tố quan trọng mang tính chất quyết định đến kết quả GDPL của mỗi nhà trường

+ Năng lực chỉ đạo triển khai các hoạt động GDPL của Hiệu trưởng, năng lực tổ chức các hoạt động GDPL của các lực lượng giáo dục trong nhà trường (các tổ chức, cá nhân trong nhà trường)

Tiểu kết chương 1

Giáo dục pháp luật trong các nhà trường phổ thông, nhất là ở bậc THCS, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách toàn diện, chuẩn bị không chỉ về mặt tri thức mà còn cả kỹ năng sống, ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật cho đối tượng này, để các em trở thành người công dân tốt trong xã hội

Chương 1 của luận văn đã khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề, làm rõ được những khái niệm cơ bản và có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Có thể có nhiều con đường GDPL cho học sinh THCS Trong đó có thể thông qua dạy học môn Giáo dục công dân và các môn học khác có nội dung liên quan Ngoài ra có thể sử dụng nhiều hình thức và phương pháp dạy học khác Có thể chia thành hai hình thức là dạy học trên lớp và ngoài giờ lên lớp

Quản lý GDPL ở trường THCS có thể được hiểu là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích của các chủ thể quản lý đến các hoạt động giáo dục học sinh THCS để đạt được mục đích GDPL, đó là trang bị cho học

Trang 34

sinh một trình độ tri thức pháp lý nhất định, từ đó học sinh có ý thức đúng đắn

về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật

Nội dung quản lý GDPL có thể tiếp cận theo nội dung quản lý bao gồm: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phương pháp và quản lý kiểm tra đánh giá việc GDPL trong nhà trường

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDPL ở trường THCS Đó là các yếu tố về môi trường giáo dục, cơ chế quản lý, đặc điểm của chủ thể quản

lý (các thầy cô giáo và lực lượng giáo dục) và đối tượng quản lý (học sinh, cơ

sở vật chất ) Chương 1 đã tập trung phân tích và làm rõ tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan đến công tác giáo dục pháp luật và quản lý giáo dục pháp luật trong nhà trường THCS Nắm được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này sẽ chúng ta có thể hiểu rõ hơn đặc điểm và yêu cầu quản lý GDPL ở trường THCS Trên cơ sở đó có thể xây dựng được các giải pháp phù hợp, nâng cao chất lượng hoạt động này ở các trường THCS hiện nay

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu thực trạng

Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác GDPL cho HS ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu cụ thể Trên cơ sở đó xây nhựng những biện pháp phù hợp và khả thi nhất để việc quản lý công tác GDPL cho học sinh THCS thị xã An Khê đạt kết quả tốt hơn

2.1.2 Nội dung nghiên cứu, khách thể khảo sát

Nội dung nghiên cứu: Chúng tôi đã tập trung nghiên cứu đặc điểm,

tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục của thị xã An Khê; Thực trạng GDPL ở các trường THCS thị xã An Khê ; Thực trạng quản lý GDPL ở các trường THCS thị xã An Khê

Khách thể khảo sát: Để có cơ sở đánh giá thực trạng quản lý giáo dục

pháp luật ở các THCS thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai, chúng tôi đã tiến hành

khảo sát như sau:

- Số trường THCS được khảo sát: 8/8 trường

- Địa bàn khảo sát: Trường nội thị có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi 4 trường; trường vùng xã có điều kiện kinh tế ít thuận lợi hơn: 4 trường (trong đó có 01 trường thuộc xã khó khăn)

- Khách thể khảo sát: Tổng số khách thể tham gia khảo sát là: 293 người (193 CBGV và 100 học sinh) Trong đó gồm:

Trang 36

+ Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường THCS : 17 người + Giáo viên các trường THCS : 176 người

+ Học sinh : 100 người

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu thực trạng, chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra, nghiên cứu sản phẩm và khảo nghiệm

Quan sát cụ thể hệ thống băng rôn, áp phích tuyên truyền GDPL, quan sát việc học sinh chấp hành luật an toàn giao thông, nề nếp của học sinh…để có những nhận xét đánh giá ban đầu về công tác GDPL của nhà trường

Phỏng vấn trực tiếp CBQL, GV và HS bằng những câu hỏi có nội dung hướng đến mục đích cần nghiên cứu

Nghiên cứu hồ sơ sổ sách về GDPL của các nhà trường; kết quả chất lượng bộ môn GDCD, hồ sơ và kết quả tổ chức các hoạt động ngoại khóa của nhà trường và các đoàn thể trong nhà trường về công tác GDPL

Điều tra, khảo nghiệm bằng hệ thống các phiếu trưng cầu ý kiến Phiếu trưng cầu ý kiến được chia làm hai nhóm :

- Nhóm thứ nhất gồm: Hiệu trưởng, giáo viên (bao gồm tổ trưởng chuyên môn, giáo viên môn GDCD, Tổng phụ trách Đội, Tổ trưởng tổ Tư vấn tâm lý học đường, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên khác)

Đây là chủ thể thực hiện hoạt động quản lý, giáo dục pháp luật

Trang 37

2.1.4 Xử lý số liệu, tư liệu

- Cách tính: Đối với phiếu được cho bằng điểm, mỗi ý được đánh giá

từ 1 đến 5 điểm Tính tổng điểm của từng ý rồi chia cho tổng số phiếu khảo sát thu được trị số trung bình X i của ý đó Tính trung bình cộng của các X i

thì thu được trị số trung bình X

Thị xã An Khê được chia tách và thành lập từ năm 2003 theo

Nghị định số 155/2003/NĐ-CP ngày 9 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ,

nằm trên Quốc lộ 19, nối liền duyên hải miền Trung với các tỉnh Tây Nguyên

và Đông Bắc Campuchia

Thị xã được xác định là đô thị quan trọng phía Đông tỉnh Gia Lai, là cửa ngõ giao lưu, giao thương giữa tỉnh Gia Lai với các tỉnh Duyên hải Miền Trung; có nhiều lợi thế trong trao đổi liên vùng về kinh tế - xã hội, thu hút người lao động đến làm ăn sinh sống

Các đơn vị hành chính: Thị xã An Khê có 11 đơn vị hành chính cấp xã (05 xã, 06 phường) với tổng số 60 thôn, làng, tổ dân phố (21 thôn, 04 làng, 35

tổ dân phố)

Cơ cấu kinh tế của thị xã đang có xu hướng chuyển dịch từ nông

Trang 38

nghiệp sang Thương mại - dịch vụ và công nghiệp Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể hàng năm Nền kinh tế của thị xã tăng trưởng khá, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 12,20%/năm

Giai đoạn 2016-2020, thị xã đã bố trí vốn đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực giáo dục là 73,493 tỷ đồng, gồm 23 chương trình, dự án Trong đó, tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, ưu tiên đầu tư cho các xã thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới và xây dựng trường chuẩn quốc gia Việc huy động các nguồn lực thực hiện xã hội hóa lĩnh vực giáo dục đào tạo triển khai thực hiện có hiệu quả

Hiện nay, thị xã An Khê đang được đầu tư mọi mặt để phát triển trở thành đô thị loại 3, xứng đáng là vùng động lực phía Đông của tỉnh Gia Lai

Do đó, cơ sở hạ tầng của thị xã (trong đó có CSVC của ngành giáo dục) được chú trọng đầu tư xây dựng

2.2.2 Đặc điểm giáo dục của thị xã An Khê

Trên địa bàn hiện nay có 28 trường công lập các cấp học Trong đó, có 26/28 trường đạt chuẩn quốc gia; 04 trường mầm non tư thục, 65 nhóm lớp với 1.405 trẻ

Trên địa bàn thị xã hiện có đủ và đa dạng hóa các loại hình và bậc học:

01 trường Cao đẳng nghề, 04 trường THPT

Trong những năm gần đây, số học sinh THCS mang tính ổn định cao,

số lượng học sinh trong ba năm gần nhất chênh lệch không nhiều Hàng năm,

tỉ lệ thu hút HS sau khi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học tại các trường tiểu học trên địa bàn vào lớp 6 luôn đạt trên 99%

Số liệu trường lớp trong 3 năm học gần đây như sau:

Trang 39

Bảng 2.1: Quy mô trường lớp trong 3 năm học gần đây

Năm học trường Số Số lớp Số học sinh Tăng, giảm so với năm học trước

2017-2018 8 125 4982 Tăng 2 lớp với 81HS

2018-2019 8 125 5011 Tăng 0 lớp với 29 HS

2019-2020 8 127 5062 Tăng 2 lớp với 51 HS

Nguồn: Báo cáo Tổng kết các năm học 2017-2018,

2018-2019 và 2019-2020 của Phòng GD&ĐT thị xã An Khê

Chất lượng giáo dục của thị xã ngày được nâng cao, đặc biệt là giáo

dục mũi nhọn Hàng năm, kết quả xét công nhận tốt nghiệp THCS đều đạt

trên 99%; Tỉ lệ học sinh trúng tuyển vào lớp 10 THPT hàng năm tăng cao

Giáo dục mũi nhọn bậc THCS được phòng GD&ĐT An Khê đặc biệt

chú trọng và đạt kết quả khá cao Nhiều năm liền được xếp thứ hai trong kỳ

thi học sinh giỏi cấp tỉnh (chỉ xếp sau Thành phố Pleiku)

Bảng 2.2: Thống kê số lượng học sinh THCS đạt giải trong các kỳ

thi học sinh giỏi cấp thị xã, cấp tỉnh

Năm học

Giải HSG cấp thị xã Giải HSG cấp tỉnh

TS giải

Giải nhất

Giải nhì

Giải nhất

Giải nhì

Nguồn: Báo cáo Tổng kết các năm học 2017-2018,

2018-2019 và 2019-2020 của Phòng GD&ĐT thị xã An Khê

Hạnh kiểm của học sinh THCS thị xã An Khê nhìn chung là tốt, đa số

các em có đạo đức tốt, chấp hành nghiêm túc nội quy trường lớp, không có

hành vi vi phạm pháp luật nặng tới mức phải xử lý Tuy nhiên vẫn còn một

số em chưa ngoan, còn vi phạm nội quy, thường xuyên bị nhắc nhở phê bình

Trang 40

Bảng 2.3: Thống kê xếp loại Hạnh kiểm học sinh THCS

trong 3 năm qua:

Nguồn: Báo cáo Tổng kết các năm học 2017-2018,

2018-2019 và 2019-2020 của Phòng GD&ĐT thị xã An Khê

* Đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên

thừa(+), thiếu(-)

Biên chế

thừa(+), thiếu(-)

Biên chế

thừa(+), thiếu(-)

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đặng Quốc Bảo (1998), Một số khái niệm quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý Giáo dục TW1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1998
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2016
[3]. Bộ giáo dục và Đào tạo (2019), Chỉ thị số 31/2019 về tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 31/2019 về tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2019
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2006
[6]. Võ Nguyên Giáp (chủ biên) 1997, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[7]. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kì CNH- HĐH, NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kì CNH- HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[8]. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục. NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1986
[9]. Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2011), Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật XHCN, NXB Chính trị - hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật XHCN
Tác giả: Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị - hành chính
Năm: 2011
[10]. Trần Kiểm, Những vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
[14]. Quốc Hội (2016), Luật số 102/2016/QH 13, Luật trẻ em, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 102/2016/QH 13, Luật trẻ em
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2016
[15]. Quốc Hội (2019), Luật giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [16]. Quốc Hội (2020), Luật số 57/2020/QH 14, Luật thanh niên, NXBChính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục," Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [16]. Quốc Hội (2020), "Luật số 57/2020/QH 14, Luật thanh niên
Tác giả: Quốc Hội (2019), Luật giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [16]. Quốc Hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2020
[21]. Viện khoa học pháp lý - Bộ tư pháp (1998), Nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ tư pháp
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1998
[22]. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1995), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề phổ biến giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề phổ biến giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1995
[23]. Vụ phổ biến giáo dục pháp luật (Bộ tư pháp), (2003) , Kỷ yếu hội thảo phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên, công nhân trong tình hình mới, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên, công nhân trong tình hình mới
Nhà XB: NXB Thanh niên
[24]. Vũ Thị Hồng Vân , Phương pháp giảng dạy pháp luật trong các trường không chuyên luật, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy pháp luật trong các trường không chuyên luật
Nhà XB: NXB Giáo dục
[11]. Lênin V.I (1970), toàn tập, tập 32, Nxb Sự thật, Hà Nội [12]. Lênin V.I (1971), toàn tập, tập 36, Nxb Sự thật, Hà Nội [13]. Lênin V.I (1980), toàn tập, tập 30 Nxb Tiến bộ Matxcơva Khác
[19]. Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 37/2018 TT ngày 14/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2018 đến năm 2022 Khác
[20]. Thủ tướng Chính phủ (2009) Phê duyệt đề án "Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường&#34 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w