Như vậy, xuất phát từ đối tượng nghiên cứu trên, kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận trung tâm chi phí, từng
Trang 1PGS.TS NGUYỄN NĂNG PHÚC
123 BÀI TẬP VÀ LỜI GIẢI
112 CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ TRẮC NGHIÊM
Trang 5L Ờ I M Ở Đ Ầ U (Cho lần tái bản thứ hai)
Kế toán quản trị là một bộ phận không thể tách rời hệ thống kế toán của doanh nghiệp Nó cung cấp những thông tin đặc biệt quan trọng cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, giúp cho việc đề xuất các giải pháp nhằm duy trì sự phát triển và phát triển bền vững của doanh nghiệp Đẻ bổ sung vào kho tàng tài liệu tham khảo của kế toán quản trị, chúng tôi xin giới thiệu cùng độc giả cuốn sách: “Ke toán quản trị doanh nghiệp”
Cuốn sách được trình bày vói 9 chựơng:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán quản trị Chương II: Các phương pháp phân loại chi phí.
Chương III: Ke toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm Chương IV: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và
lợi nhuận
Chương V: Phân tích báo cáo bộ phận của doanh nghiệp.
Chương VI: Dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chương VII: Thông tin kế toán quản trị với việc ra các quyết
định ngắn hạn
Chương VIII: Thông tin kế toán quản trị với việc ra các quyết
định dài hạn
Chương IX: Phân tích báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp.
Ngoài ra, cuốn sách này còn trình bày các nội dung sau:
- 123 Bài tập và lời giải Trong đó, có 66 bài tập từng chương và
57 bài tập tổng hợp của các chương
Trang 6- 112 Câu hỏi ôn tập và trắc nghiệm.
- Thông tư số 53/N/TT-BTC ra ngày 12 tháng 6 năm N của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Cuốn sách không chỉ sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu và tham khảo bổ ích cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ giảng dạy trong các trường đại học khối kinh tế, mà còn là tài liệu rất quan trọng và thiết thực cho quản trị doanh nghiệp
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do những hạn chế về thời gian và trình độ, cuốn sách không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Chúng tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý độc giả để lần xuất bản sau được tốt hom
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 04 năm 2014
PGS TS Nguyễn Năng Phúc
Trang 7Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LỶ LUẬN cơ BẢN
CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRI
1 THÔNG TIN KẾTOÁN QUẢN TRỊ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA Tổ CHỨC
1.1.1 TỔ chức là gì?
Là tập hợp các hoạt động mà mục tiêu là sản xuất ra một loại sản phẩm hàng hoá hoặc cung cấp một loại dịch vụ nào đó cho khách hàng
Vậy, tổ chức ở đây có thể là các Tổng Công ty, các Công ty, các doanh nghiệp, các Tập đoàn sản xuất, các phân xưởng, tổ đội sản xuất,
1.1.2 Chuỗi các giá trị:
Là tập hợp các hoạt động có mục tiêu hoặc cung cấp một thành phẩm cho khách hàng hoặc cung cấp thành phẩm hoặc bán thành phẩm cho một người trung gian nằm trong chuỗi giá trị lớn hơn.Như vậy, người ta có thể coi tổ chức như một tập họp các hoạt động trong một chuỗi giá trị
Trang 8Neu coi quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp nào đó là một chuỗi giá trị thì trong một chuỗi giá trị này gồm những yếu tố chính sau đây:
việc, như: Thiết kế sản phẩm, quá trình mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, nhận hàng, tuyển dụng nhân viên, đào tạo,
1.1.3.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh: Bao gồm các công việc,
như: Tiến hành sản xuất sản phẩm, di chuyển gia công chế biến sản phẩm, kiểm tra sản phẩm đưa sản phẩm nhập kho,
1.1.3.3 Hoạt động liên quan đến đầu ra: Bao gồm các công
việc, như: Vận chuyển hàng hoá, dịch vụ, bán hàng,
1.1.3.4 Hoạt động hành chính: Bao gồm các công việc, như:
Quản lý nhân sự, quản lý tài chính, các hoạt động nghiên cứu,
Như vậy, một chuỗi giá trị có mục đích là cung cấp một sản phẩm cho khách hàng, cho nên khi đánh giá trình độ quản lý cũng như sự vận hành của một chuỗi giá trị, theo lô gíc người ta có thể đánh giá chúng dưới góc độ của người tiêu dùng Hon thế nữa, người tiêu dùng cuối cùng cũng chính là mắt xích cuối cùng của một chuỗi giá trị, người ta có thể coi mỗi mắt xích trong chuỗi là khách hàng của một mắt xích trước đó, chẳng hạn: Phân xưởng dệt là khách hàng của phân xưởng sợi, thợ may là khách hàng của thợ cắt,
Nếu mỗi mắt xích trong chuồi giá trị đều tập trung dạt mục tiêu thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp có thể sẽ cung cấp cho khách hàng cuối cùng những sản phẩm mà họ muốn Bởi vậy, trong một chuỗi giá trị sẽ có những bộ phận đóng vai trò là nhà cung cấp, còn các bộ phận khác lại đóng vai trò là khách hàng Điều này khẳng định rằng, mục tiêu của khách hàng trong một chuỗi giá trị bao giờ cũng phải gắn với mục tiêu của cả tổ chức
1.1.4 Mục tiêu của tổ chức:
Trách nhiệm xác định các mục tiêu thuộc về Hội đồng quản trị
và các cán bộ cấp cao trong tổ chức Họ là người sẽ định ra phưong
Trang 9châm hoạt động của cả tổ chức và chính những phương châm hoạt động này sẽ trở thành cơ sở để đánh giá tất cả các hoạt động được thực hiện trong một tổ chức Bởi vậy, các mục tiêu đưa ra phải chính xác Vì, đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công của một tổ chức Mặt khác, khi xây dựng các mục tiêu cần chú trọng đến những mục tiêu quan trọng và có thể phân bớt quyền quyết định và trách nhiệm quyết định cho các cán bộ thuộc các cấp quản lý khác nhau trong một tổ chức.
1.1.5 Cơ cấu tổ chức:
Là xác định trách nhiệm của từng người, từng bộ phận quản
lý, xác định rõ các phương thức phân chia quyền lực trong tổ chức Chẳng hạn, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của quản trị doanh nghiệp, của từng phòng ban chức năng, từng phần hành kế toán,
7.1.6 Kiểm soát tổ chức:
Là hoạt động đánh giá trình độ hoạt động của một chuỗi giá trị
so với các mục tiêu mà tổ chức đã đề ra
1.1.7 Kiểm soát quá trình:
Là hoạt động nhằm đánh giá, xem xét khả năng khai thác một quá trình nhất định nào đó, hay của cả một chuỗi giá trị có thoả mãn mong đợi của khách hàng hay không Mục đích của kiểm soát quá trình chính là để quản lý, đánh giá và cải thiện các quá trình khác nhau mà một tổ chức sử dụng để cung cấp các sản phẩm cho khách hàng Vì vậy, yêu cầu của khách hàng chính là yếu tố thước đo trong một hoạt động kiểm soát quá trình
Chìa khoá cho sự thành công của một quá trình chính là dịch vụ, chất lượng và giá cả Các biện pháp mà một tổ chức sử dụng để đánh giá sự thành công dựa trên cơ sở của ba yếu tố trên được gọi là chỉ số thành công mang tính quyết định
1.1.8 Xác định độ thành công:
Là hoạt động nhằm đo mức độ thành công hay gọi là mức độ đạt
Trang 10yêu cầu của môt hoạt động hoặc của toàn bộ một chuỗi giá trị Các chỉ số đánh giá độ thành công của tổ chức chỉ ra hai loại tín hiệu:
- Tín hiệu cảnh báo: Là những tín hiệu cảnh báo rằng có một vấn
đề nào đó đang tác động xấu đến hoạt động của tổ chức Vì vậy, các tín hiệu này giúp cho quản trị trong các tổ chức phát hiện và tìm mọi biện pháp khắc phục những vấn đề yếu kém đang xẩy ra hoặc sẽ xẩy
ra Đây cũng chính là khởi điểm, giúp tìm ra những nguyên nhân và cách giải quyết những tiêu cực trong một quy trình nào đó hay của
cả một chuỗi giá trị trong một tổ chức Chẳng hạn: Lượng hàng bán
ra giảm, dẫn đến doanh thu giảm, dẫn đến lợi nhuận giảm
- Tín hiệu thăm dò: Là những tín hiệu cung cấp các bằng chứng trực tiếp hay gián tiếp lý giải bản chất của những vấn đề mà tổ chức đang gặp phải trong một quy trình nào đó hay cả chuỗi giá trị trong một tổ chức, hoặc là những tín hiệu có thể gợi một phương cách giải quyết một vấn đề nào đó mà tổ chức đang bị hạn chế Chẳng hạn: Thăm dò dư luận của khách hàng về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.9 Tiêu chuẩn đánh giá độ thành công:
Sau khi xác định các chỉ sổ đánh giá độ thành công và thiết lập một hệ thống áp dụng để đo mức thành công bằng cách so sánh độ thành công thực hiện được với các tiêu chuẩn đã định hoặc với độ thành công tiêu chuẩn đã được xây dựng trước đó cho một hoạt động, một tổ chức
Chênh lệch giữa độ thành công thực tế với độ thành công tiêu chuẩn là vấn đề tiềm ẩn
Vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị cần phải xem xét vấn đề tiềm
ẩn này có thực sự tồn tại hay không? Nếu có tồn tại thì tìm cách giải quyết nào để thực hiện?
1.1.10 Quản lý hoạt động:
Là xem xét các hoạt động đang diễn ra trong một chuỗi giá trị của tổ chức, lập kế hoạch xoá bỏ bớt các hoạt động không cần thiết
Trang 11và tập trung nâng cao mức thành công của các hoạt động cần thiết nhằm đưa các hoạt động của tổ chức tiếp cận được các mục tiêu đã định Bởi vậy, để quản lý hoạt động cần phải có một hệ thống thông tin dựa trên các hoạt động đó.
7.7.77 Hệ thống thông tin kế toán quản trị trong quản lý:
Những người làm kế toán quản trị phải thấu hiểu nguồn gốc và tầm quan trọng các mục tiêu của tổ chức Điều đó chính là do người làm kế toán quản trị phải cung cấp những thông tin để đánh giá trình
độ của tổ chức dựa trên cơ sở các mục tiêu đó Bởi vậy, việc thiết kế một hệ thống kế toán quản trị có hiệu quả nhằm cung cấp hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc dự báo, tổ chức điều hành, kiểm sát và ra các quyết định quản lý là mục tiêu cơ bản của kế toán quản trị doanh nghiệp
1.2 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾTOÁN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 7.2.7 Khái niệm vể kế toán quản trị
Khi nền kinh tế đã phát triển, mục tiêu số một của mọi nhà doanh nghiệp là lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này, trước hết mọi doanh nghiệp phải có đầy đủ ba yếu tố của quá trình kinh doanh Đó là: Lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Nhưng, khi có đầy đủ ba yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh thì quá trình sản xuất kinh doanh ẩy cũng chưa thể tiến hành được mà phải có hoạt động quản lý
Hoạt động quản lý là chủ thể tác động vào khách thể để biến từng bộ phận chấp hành trong doanh nghiệp tiếp cận được những mục tiêu đã định Đẻ tác động vào khách thể, trước hết chủ thể của doanh nghiệp phải dựa vào một hệ thống thông tin kinh tế Hệ thống thông tin kinh tể của doanh nghiệp được chia thành ba loại: Thông tin chỉ đạo, thông tin thực hiện và thông tin liên hệ
Thông tin thực hiện là một dạng thông tin mô tả trạng thái thực
tế của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã và đang diễn ra Nguồn để tạo ra thông tin thực hiện là ba loại hạch
Trang 12toán: Hạch toán thống kê, hạch toán kế toán và hạch toán nghiệp vụ
kỹ thuật
Do nhu cầu ngày càng cao về số lượng cũng như là chất lượng thông tin nhằm đáp ứng cho mọi nhu cầu quản lý nền kinh tế ngày càng phát triển, hạch toán kể toán được phân thành hai loại: Ke toán tài chính và kế toán quản trị
Vậy, kế toán quản trị là một công cụ chuyên ngành kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, tổng họp và truyền đạt các thông tin hữu ích, giúp cho quản trị doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá và ra các quyết định trong quản lý
Từ khái niệm trên cho thấy, kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời hệ thống kế toán doanh nghiệp, cần nhấn mạnh rằng: Đối tượng sừ dụng thông tin của kế toán quản trị là các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp Bởi vậy, nhu cầu thông tin của các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp
sẽ quyết định phạm vi thông tin của kế toán quản trị Vì thế, việc thu thập, xử lý, thiết kế thông tin của kế toán quản trị phải xuất phát từ yêu cầu của từng đối tượng quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp
1.2.2 Vai trò của kế toán quản trị trong hệ thống quản lý doanh nghiệp
Do nhiệm vụ của quản trị doanh nghiệp là ra các quyết định nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển liên tục bền vững của doanh nghiệp, đồng thời quản trị doanh nghiệp thường xuyên kiểm soát được việc ra các quyết định đó thì quản trị doanh nghiệp cần phải được cung cấp đầy đủ những thông tin của kế toán quản trị Bởi vậy, trong hệ thống quản lý doanh nghiệp, kế toán quản trị có những vai trò chủ yếu sau đây:
- Cung cấp những thông tin cần thiết giúp quản trị doanh nghiệp làm căn cứ để xây dựng kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra giam sát việc thực hiện kế hoạch
Trang 13Như vậy, kế toán quản trị có vai trò hết sức lớn trong việc cung cấp những thông tin nền tảng, giúp quản trị doanh nghiệp có những căn cứ khoa học vững chắc cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh tế - tài chính một cách chính xác và toàn diện.
- Kế toán quản trị cung cấp những thông tin cần thiết giúp quản trị doanh nghiệp đánh giá mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chủng Trên cơ sở đó, có những căn cứ xác thực để ra các quyết định kinh doanh hợp lý và có hiệu quả Đặc biệt, giúp quản trị doanh nghiệp có thể đánh giá kết quả của từng trung tâm trách nhiệm về chi phí trong doanh nghiệp
- Kế toán quản trị cung cấp hệ thống tài liệu dự toán sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện các dự toán ngân sách doanh nghiệp, giúp quản trị phát hiện ra những khả năng tiềm tàng và tìm mọi biện pháp để huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các kỳ tiếp theo, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Với chức năng là chọn lọc và ghi chép số liệu, phân tích các số liệu, lập các báo cáo kết quả kinh doanh, kế toán quản trị có vai trò rất lớn đối với công tác quản lý trong nội bộ doanh nghiệp Có thể khái quát mô hình chung về quy trình quản trị doanh nghiệp và quy trình của kế toán quản trị, như sau:
1.2.2.1 Quy trình quản trị doanh nghiệp:
Với chức năng quản lý doanh nghiệp, quy trình quản trị doanh nghiệp được thực hiện theo trình tự sau đây:
- Lập kế hoạch: Đây là bước đầu tiên đối với các nhà quản trị doanh nghiệp
Hàng năm, quản trị doanh nghiệp phải thiết lập kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - kinh tế - tài chính, kế hoạch đầu tư nhằm huy động tối đa mọi nguồn nhân tài vật lực vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế những rủi ro trong kinh doanh để đạt được tổng mức lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp
Trang 14- Tổ chức thực hiện kế hoạch: Để thực hiện chức năng này, quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần một lượng thông tin rất lớn Đặc biệt
là những thông tin phát sinh hàng ngày để kịp thời điều chỉnh, tổ chức thực hiện, như: Thông tin về giá bán sản phẩm, thông tin về giá cả các yếu tố đầu vào, thông tin về năng suất, chất lượng sản phẩm,
- Kiểm tra giám sát:
Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch, quản trị doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch đã đặt ra Qua việc kiểm tra, giám sát này giúp quản trị doanh nghiệp phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu của công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Trên cơ sở đó, tìm mọi biện pháp khắc phục để hướng đến các mục tiêu đã được đặt ra
- Ra quyết định: Việc ra các quyết định là chức năng rất cơ bản
và thường xuyên của quản trị doanh nghiệp Song, vấn đề không phải là đơn giản ở chồ: Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường xẩy ra những tình huống rất phức tạp, việc lựa chọn để ra các quyết định hợp lý, có hiệu quả là một vấn đề hết sức khó khăn Và đặc biệt càng khó khăn hơn nếu quản trị doanh nghiệp không được cung cấp đầy đủ những thông tin của kế toán quản trị.Với những chức năng trên của quản trị doanh nghiệp, quy trình quản trị doanh nghiệp lại được lặp lại theo chu kỳ của quá trình sản xuất kinh doanh và lẽ đương nhiên chu kỳ sau sẽ tiến bộ hơn chu kỳ trước
1.2.2.2 Quy trình của kế toán quản trị.
Với chức năng là thu thập, xử lý và cung cấp thông tin, quy trình của kế toán quản trị được thể hiện theo trình tự sau đây:
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu: Để cung cấp cho quản trị doanh nghiệp lượng lớn các thông tin một cách có hệ thống, kế toán quản trị trước hết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu thông tin một cách đầy
đủ, chính xác và toàn diện Đây chính là những căn cứ quan trọng
Trang 15nhất giúp quản trị doanh nghiệp có cơ sở để xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra giám sát tình hình thực hiện kế hoạch và ra các quyết định kinh doanh.
- Dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh: Trên cơ sở của kế hoạch kinh tế tài chính, kế toán quản trị tiến hành xây dựng các dự toán ngân sách về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán nhàm cung cấp cho quản trị doanh nghiệp phát huy các nguồn lực vào quà trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Thu thập, xử lý các thông tin thực hiện: Đây là chức năng rất
cơ bản nhằm thu thập và xử lý số liệu thực tế của kế toán quản trị Để đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách của doanh nghiệp, kế toán quản trị phải tiến hành thu thập và xử lý những số liệu phản ánh tình hình thực tế bằng hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán Mặt khác,
kế toán quản trị phải thường xuyên thu thập và xử lý những thông tin hàng ngày, trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp quản trị doanh nghiệp kịp thời xử lý mọi tình huống nhằm đảm bảo quản lý doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tể cao
- Lập báo cáo kế toán quản trị: Trên cơ sở thu thập và xử lý các thông tin thực hiện, kế toán quản trị phải lập hệ thống báo cáo, nhằm cung cấp đầy đủ nhất, chính xác nhất, toàn diện nhất cho quản trị doanh nghiệp, giúp họ có căn cứ để lập kế hoạch, tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, ra các quyết định đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Với những chức năng trên của kế toán quản trị, quy trình của kế toán quản trị lại được lặp lại ở chu kỳ sản xuất kinh doanh lần sau và tất nhiên ở chu kỳ sau, quy trình kế toán quản trị sỗ được hoàn thiện hơn
Như vậy, quy trình quản trị doanh nghiệp và quy trình kế toán quản trị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm thúc đẩy mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn phát triển
Trang 161.3 ĐỐI TƯỢNG CỦA KẾTOÁN QUẢN TRỊ - so SÁNH GIỮA KẾTOÁN QUẢN TRỊ VỚI KẾTOẮN TÀI CHÍNH
1.3.1 Đối tượng của kế toán quản trị
Khi đã trở thành một môn khoa học độc lập, kể toán quản trị có đối tượng nghiên cứu riêng Đối tượng nghiên cửu của kế toán quản trị là các quá trình khai thác sự hình thành và phát sinh các loại chi phí khác nhau nhằm hướng đến việc thực hiện các mục tiêu đã được xác định để giúp quản trị doanh nghiệp điều hành, quản lý doanh nghiệp có hiệu quả nhất
Như vậy, xuất phát từ đối tượng nghiên cứu trên, kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, quản lý tài sản, vật tư tiền vốn, công nợ Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định đầu tư ngắn hạn và đầu
tư dài hạn, lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh, nhằm phục
vụ cho việc điều hành, kiểm tra và ra các quyết định kinh tế
1.3.2 So sánh giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính:
Mặc dù đều có chức năng cung cấp thông tin nhưng mục tiêu của kế toán quản trị khác với mục tiêu của kế toán tài chính nên giữa
kế toán quản trị và kế toán tài chính lại có sự giống nhau và khác nhau rõ rệt
1.3.2.1 Sự khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính:
Mặc dù đều có nguồn gốc hình thành từ hạch toán kế toán nhưng giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính lại có những điểm khác biệt
cơ bản sau đây:
a v ề đối tượng sử dụng thông tin:
Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính là bản thân doanh nghiệp và các đối tượng ngoài doanh nghiệp, như: Ngân hàng,
Trang 17nhà cho vay, nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, các cổ đông Còn đổi tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị chỉ cung cấp cho bản thân doanh nghiệp, như: Quản trị doanh nghiệp, các phòng ban chức năng, các phân xưởng, tổ đội sản xuất, Đặc biệt thông tin kế toán quản trị không cung cấp ra ngoài doanh nghiệp.
Như vậy, những thông tin của kế toán quản trị chỉ được sử dụng cung cấp trong nội bộ doanh nghiệp, không được cung cấp ra bên ngoài doanh nghiệp
b v ề đặc điểm của thông tin:
Đặc điểm thông tin của kế toán tài chính là phản ánh quá khứ Nghĩa là các nghiệp vụ kinh tế mà kế toán tài chính phản ánh đã phát sinh, đặt trọng tâm là thông tin quá khứ, phản ánh không linh hoạt và theo một nguyên tắc chặt chẽ Nhưng, đặc điểm thông tin của kế toán quản trị lại đặt trong tâm hướng đến tưcmg lai nhiều hơn Điều đó là
vì, ngoài việc cung cấp những thông tin thực hiện, quá khứ, kế toán quản trị cần phải cung cấp những thông tin dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải hết sức linh hoạt theo yêu cầu sử dụng thông tin của các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp
c v ề kỳ lập báo cáo:
Đổi với kế toán tài chính, kỷ lập báo cáo theo định kỳ: Hàng năm, giữa niên độ Còn đối với kế toán quản trị, việc lập báo cáo là thường xuyên, có thể là hàng ngày, hàng tuần, mười ngày, hàng tháng, hàng quý, Bởi vì, kế toán quản trị thường phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của từng cấp quản lý khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp Cho nên, bất kể thời gian nào, nếu quản trị doanh nghiệp cần nắm về vấn đề nào đó trong hoạt động kinh doanh thì kế toán quản trị phải cung cấp những thông tin một cách kịp thời và đầy đủ
d v ề chủng loại báo cáo
Đối với kế toán tài chính, chủng loại báo cáo được cố định ở bốn loại báo cáo Đó là:
Trang 18- Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Còn đối với kế toán quản trị không cố định ở loại báo cáo nào Chủng loại báo cáo của kế toán quản trị rất linh hoạt, có thể nói là nhiều và rất cụ thể Bởi vì, thông tin của kế toán quản trị chỉ phục
vụ trong nội bộ doanh nghiệp Ngoài phục vụ thông tin cho quản trị doanh nghiệp, thông tin kế toán quản trị phải cung cấp cho các cấp quản lý khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp
e v ề tính nguyên tắc:
Hệ thống kế toán tài chính phải tuân thủ theo một nguyên tắc đã được quy định thống nhất từ Trung ương đển địa phương trong mọi thành phần kinh tế Ở bất kỳ một quốc gia nào cũng vậy, hệ thống kế toán tài chính được quy định rất nghiêm ngặt về hình thức, trình tự
xử lý, quy trình công việc kể toán tài chính cho đến việc lập hệ thống báo cáo tài chính đều được quy định chặt chẽ để đảm bảo tính thống nhất, tính pháp lý của thông tin Đối với kế toán quản trị hoàn toàn không chịu bất kỷ một sự ràng buộc nào Hệ thống thông tin của kế toán quản trị là hết sức linh hoạt, đáp ứng mọi yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Điều quan tâm nhất của các nhà quản trị đối với thông tin kế toán quản trị là có hữu ích hay không?
Trên đây đã trình bày sự khác nhau cơ bản giữa kế toán quản trị
và kế toán tài chính và chính những điểm khác nhau này đã khẳng định kế toán quản trị ra đời là một tất yếu khách quan
1.3.2.2 Sự giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
Mặc dù có sự khác nhau về mục tiêu, nhưng kế toán quản trị và
kế toán tài chính lại có những điểm giống nhau cơ bản sau đây:
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đều quan tâm đến tài sản, nguồn vốn, tình hình lưu chuyển tiền tệ, công nợ và báo cáo kết quả kinh doanh
Trang 19- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán.
- Ke toán quản trị và kế toán tài chính đều có mối liên hệ trách nhiệm, quyền lợi vật chất, pháp lý của nhà quản trị doanh nghiệp.Chính những điểm giống nhau cơ bản giữa kế toán quản trị và
kế toán tài chính đã khẳng định rằng: Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời hệ thống kế toán của doanh nghiệp
1.4 NHIỆM VỤ CỦA KẾTOÁN QUẢN TRỊ
Để đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, kế toán quản trị có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
1.4.1 Thu thập, xử lý thông tín theo phạm vi, nội dung của kế toán quản
trị đã được xác định trong từng thời kỳ, phản ánh được từng thành phần chi phí bằng cách chia doanh nghiệp thành nhiều trung tâm trách nhiệm chi phí Tính toán và hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ
1.4.2 Xây dựng được các dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh cho các
mục tiêu hoạt động
1.4.3 Kiểm soát việc thực hiện và giải trình các nguyên nhân làm
chênh lệch giữa chi phí theo dự toán và theo thực tế
1.4.4 TỔ chức phân tích và cung cấp các thông tin cần thiết bằng hệ thống
báo cáo kế toán quản trị, giúp quản trị doanh nghiệp ra các quyết định kinh doanh hợp lý và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài việc áp dụng các phương pháp chung của kể toán, kế toán quản trị còn sử dụng một số phương pháp nghiệp vụ kỹ thuật riêng để cung cấp những thông tin cho quá trình quản lý doanh nghiệp sau đây:
Trang 201.5.1 Sử dụng kỹ thuật phân tích để cung cấp những thông tin có dạng đặc thù
Quá trình tập họp và xử lý thông tin, kế toán quản trị có sử dụng nhiều phương pháp phân tích, như: Phương pháp so sánh, phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng, phương pháp phân tổ, kết họp với kiến thức quản trị học nhằm cung cấp những thông tin hữu ích có dạng đặc thù nhằm đáp ứng mọi nhu cầu về thông tin cho quản trị doanh nghiệp
1.5.2 Sử dụng các cách phân loại chi phí khác nhau
Kế toán quản trị lựa chọn các cách phân loại chi phí phù họp nhằm đáp ứng nhu cầu các loại thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, như: Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, phân loại chi phí theo chức năng của chi phí,
1.5.3 Thìếtkế thông tin trên các báo cáo kế toán quản trị
Nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin hữu ích cho quản trị doanh nghiệp, những thông tin của kế toán quản trị được thiết kế trên các báo cáo phải được thể hiện dưới dạng so sánh được, đơn giản và
dễ hiểu
1.5.4 Trình bày các thông tin dưới dạng phán tích mô hình và đồ thị
Việc truyền đạt các thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp cũng cần phải được đơn giản, dễ hiểu và ngắn gọn
Ke toán quản trị sẽ trình bày các thông tin dưới dạng phân tích
mô hình và đồ thị cho phép tính toán và dự đoán một số quá trình chưa xẩy ra Căn cứ trên những dự kiện đã có và các mối quan hệ đã xác định được để từ đó cung cấp những thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch của quản trị doanh nghiệp
Ngoài ra, các thông tin đã được định lượng và thiết kế trên các báo cáo kế toán quản trị, còn trình bày và truyền đạt thông tin dưới dạng mô hình và đồ thị Bởi vì, đây là cách trình bày dễ hiểu, dễ thấy
và phản ánh rõ ràng nhất các mối quan hệ cũng như xu hướng biến
Trang 21động của các thông tin mà các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp hết sức quan tâm.
1.6 TỔ CHỨC CÕNG TÁC KẾTOẮN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP
1.6.1 Yêu cầu của tổ chức công tác kế toán quản trị
Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước không bắt buộc doanh nghiệp phải công khai các thông tin về kế toán quản trị Đây là công việc nội bộ của các doanh nghiệp Song,
để thực hiện đúng chức năng: Thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp thì việc tổ chức công tác kể toán quản trị phải đảm bảo các yêu cầu
cơ bản sau đây:
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin kế toán theo yêu cầu quản lý về chi phí của từng công việc, bộ phận, dự án, sản phẩm
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin thực hiện, các định mức, đơn giá, phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành
1.6.2 Nguyên tắc của việc tổ chức công tác kế toán quản trị
Việc tổ chức công tác kế toán quản trị phải chú trọng đến những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Tổ chức kế toán quản trị phải phù hợp với đặc điểm về tổ chức
và quản lý, quy trình công nghệ và loại hình sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
- Tổ chức công tác kế toán quản trị phải căn cứ vào những đặc điểm và yêu cầu của nền kinh tế thị trường đổi với từng doanh nghiệp
Trang 22để xác định những nội dung kế toán quản trị phù hợp với từng doanh nghiệp.
- Tổ chức công tác kế toán quản trị phải đảm bảo phù họp với yêu cầu và trình độ quản lý của từng doanh nghiệp Đồng thời, phải tính đến xu hướng phát triển của công tác quản lý và trình độ quản lý của từng doanh nghiệp
- Tổ chức công tác kế toán quản trị phải đảm bảo cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời với yêu cầu ra quyết định kinh doanh của từng cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, cũng như việc điều chỉnh kịp thời những biện pháp quản lý và kiểm soát kinh doanh của doanh nghiệp
- Tổ chức công tác kế toán quản trị phải có sự kết hợp hài hoà với hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp, tránh sự trùng lặp giữa
kế toán quản trị và kế toán tài chính
1.6.3 Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
Nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, bao gồm:
- Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị
Việc vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về lập, luân chuyển, quản lý và sử dụng chứng từ kế toán quản trị phải phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp Có thể cụ thể hoá và bổ sung các nội dung cần thiết của từng mẫu chứng từ kế toán đã được quy định, hoặc lập chứng từ riêng để phục vụ cho việc thu thập thông tin quản trị nội bộ doanh nghiệp Có thể sử dụng những chứng từ ban đầu, chứng từ thống kê trong điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ doanh nghiệp
- Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán quản trị:
Để đáp ứng cung cấp đầy đủ thông tin cho quản trị doanh nghiệp,
kế toán quản trị có thể chi tiết hoá (cấp 2, cấp 3, cấp 4 , ) hệ thống
Trang 23tài khoản kế toán tài chính hoặc kế toán quản trị có thể thiết kế chi tiết hệ thống tài khoản phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung cấp thông tin kế toán quản trị cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp.
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán quản trị:
Dựa vào hệ thống sổ kế toán do Bộ tài chính đã ban hành, kế toán quản trị có thể bổ sung các chỉ tiêu để phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp, kế toán quản trị có thể thiết
kế bộ sổ kế toán mới phù hợp hon với yêu cầu quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chi tiết, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và toàn diện
- Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị:
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chính là sản phẩm của chu trình kế toán quản trị, việc lập và phân tích hệ thống báo cáo kế toán quản trị là một khâu quan trọng, thiết yếu của quá trình tổ chức công tác kế toán quản trị
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp thường bao gồm hai loại báo cáo sau đây:
+ Báo cáo tình hình thực hiện
+ Báo cáo phân tích
Ngoài ra, kế toán quản trị còn lập các loại báo cáo khác nhằm phục vụ kịp thời các yêu cầu quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể của các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp
1.6.4 TỔ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp
nghiệp.
- Việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
phải phù hợp với những đặc điểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa
Trang 24bàn tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, với mức độ phân cấp quản lý kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.
- Tổ chức bộ máy kế toán quản trị phải gọn nhẹ, khoa học, hợp
lý và hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin cho quản lý doanh nghiệp
- Việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị của doanh nghiệp phải phù họp với quy mô, trình độ cán bộ, đặc điểm quản lý và phương tiện kỹ thuật hiện có của doanh nghiệp
1.6.4.2 Các hình thức tổ chức bộ máy kế toán quản trị.
Các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba hình thức tổ chức bộ máy kế toán quản trị sau đây:
- Hình thức kết hợp: Là hình thức tổ chức kết hợp giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính theo từng phần hành kế toán, như: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán bán hàng,
kế toán viên phụ trách phần hành kế toán nào thì sẽ thực hiện cả kế toán tài chính và kế toán quản trị của phần hành kế toán đó Ngoài
ra, để thu thập, phân tích các thông tin phục vụ cho việc lập dự toán
và phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quản trị doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần bố trí một cán bộ chuyên đảm nhận công việc này, hoặc bố trí kế toán tổng họp hoặc kế toán trưởng kiêm nhiệm
- Hình thức tách biệt: Là hình thức tổ chức thành một bộ phận
kế toán quản trị riêng biệt với bộ phận kế toán tài chính trong phòng
ké toán của doanh nghiệp Hình thức này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, như Tổng Công ty, Tập đoàn kinh tế,
- Hình thức hỗn hợp: Là hình thức kết hợp cả hai hình thức nêu trên Nghĩa là, kết họp cả hình thức tổ chức kết họp với hình thức tổ chức tách biệt
Trang 25tồ chức, kiểm soát tổ chức, kiểm soát quá trình, xác định độ thành công, tiêu chuẩn đánh giá độ thành công, quản lý hoạt động, hệ thống thông tin kế toán quản trị trong quản lý.
v ề khái niệm và vai trò của kế toán quản trị, phần này nhằm giải thích rõ khái niệm về kể toán quản trị và vai trò của kế toán quản trị với chức năng là quản lý doanh nghiệp
Trong phần trình bày đối tượng nghiên cứu của kế toán quản trị,
so sánh giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính đã làm rõ sự khác nhau và giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
Trình bày 4 nhiệm vụ chủ yếu của kế toán quản trị trong nền kinh tế thị trường
v ề các phương pháp nghiệp vụ kỹ thuật của kế toán quản trị đã trình bày rất cụ thể 4 phương pháp chủ yếu mang tính đặc thù của kế toán quản trị
Phần tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp đã tập trung trình bày những vấn đề chủ yếu, như: yêu cầu của tổ chức công tác kế toán quản trị, nguyên tắc của việc tổ chức công tác kế toán quản trị, nội dung tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
CÂU HỎI HÔN TẬP
1 Giải thích các phạm trù như: Tổ chức, chuỗi giá trị, hoạt động
2 Giải thích các phạm trù: Mục tiêu của tổ chức, cơ cấu tổ chức, kiểm soát tổ chức, kiểm soát quá trình Phân biệt sự khác nhau giữa kiểm soát tổ chức và kiểm soát quả trình
Trang 263 Giải thích các khái niệm về xác định độ thành công, tiêu chuẩn đánh giá độ thành công.
4 Trình bày và giải thích rõ khái niệm về quản lý hoạt động, hệ thống thông tin kế toán quản trị trong hệ thống
5 Trình bày khái niệm và vai trò của kế toán quản trị trong hệ thống quản lý doanh nghiệp
6 Trình bày đối tượng nghiên cứu của kế toán quản trị
7 Trình bày sự khác nhau và giống nhau giữa kế toán quản trị
và kế toán tài chính
8 Tại sao nói: kế toán quản trị ra đời là một tất yếu khách quan
9 Tại sao nọi: kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời hệ thống kế toán doanh nghiệp
10 Trình bày nhiệm vụ của kế toán quản trị
11 Trình bày các phương pháp nghiệp vụ kỹ thuật của kế toán quản trị
12 Trình bày nội dung chủ yếu của việc tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Trang 27Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI CH I PHÍ _ •
2.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ
2.7.7 Khái niệm về chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong kế toán tài chính, chi phí được coi là những khoản phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Trong kế toán quản trị, chi phí
có thể được coi là những khoản phí tốn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng cũng có thể coi là những khoản phí tổn ước tính để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cũng có thể được coi là những khoản chi phí mất đi khi lựa chọn phương án này thay cho một phương án khác, hoặc là những khoản chi phí chênh lệch khi so sánh hai phương án với nhau để lựa chọn một phương án tối ưu,
Song, dù đứng trên góc độ nghiên cứu nào đi chăng nữa, chi phí sản xuất cũng có thể hiểu một cách tổng quát là những hao phí về lao động sổng và lao động vật hoá cho sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định và được biểu hiện bằng tiền
2.7.2 Phân loại chi phí
Trong kế toán quản trị, chi phí sản xuất kinh doanh được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mục đích sử dụng thông tin của nhà quản trị trong từng doanh nghiệp Thông thường, các loại chi phí phát sinh và cách phân loại chi phí phụ thuộc vào loại hình tổ chức doanh nghiệp Do vậy, thấu hiểu cách phân loại chi phí và ứng
xử của từng loại chi phí là chìa khoá đưa ra những quyết định đúng
Trang 28đắn cho sự thành công của quá trình tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp.
Bởi vậy, việc phân loại chi phí trong kế toán quản trị có thể căn
cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau, như: Theo nội dung kinh tế của chi phí, theo công dụng kinh tế của chi phí, hay theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả kinh doanh với chi phí hoặc cũng có thể phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp, phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm (theo cách ứng xử của chi phí), hoặc theo nhiều tiêu thức phân loại chi phí khác, Các tiêu thức phân loại này, lần lượt sẽ được nghiên cứu kỹ trong kế toán quản trị
Căn cứ theo mục đích sử dụng thông tin khác nhau, chi phí trong
kế toán quản trị có thể phân loại theo ba cách sau đây:
- Phân loại chi phí để đánh giá hàng tồn kho và đo lường lợi nhuận
- Phân loại chi phí để ra các quyết định kinh doanh
- Phân loại chi phí để kiểm tra, đánh giá chi phí
2.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ ĐỂ ĐÁNH GIÁ HÀNG TỔN KHO VÀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN.
Để đánh giá hàng tồn kho và đo lường lợi nhuận, kế toán quản trị chia chi phí sản xuất kinh doanh thành hai loại:
Ví dụ: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đang trong quá trình chế
Trang 29biến sản phẩm của doanh nghiệp, chi phí nằm trong sản phẩm tồn kho, chi tiêu thụ.
2.2.2 Chì phí kết thúc
Là loại chi phí liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ hiện tại, không có khả năng tạo ra thu nhập trong tưcmg lai cho doanh nghiệp Những khoản chi phí này được phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và là co sở để xác định lãi (lỗ) trong kinh doanh của doanh nghiệp
Việc xác định chi phí kết thúc và chi phí chưa kết thúc là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với kế toán tài chính trong việc xác định lợi nhuận và đánh giá tài sản của doanh nghiệp Theo quy định hiện hành, việc đánh giá hàng tồn kho của doanh nghiệp chỉ bao gồm chi phí sản xuất sản phẩm Còn những khoản chi phí ngoài sản xuất, như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp không được tính cho hàng tồn kho Những khoản chi phí ngoài sản xuất được xem là chi phí thời kỳ
2.2.3 Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
2.2.3.1 Chi phí sản phẩm
Là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất ra sản phẩm hay
là khoản chi phí gắn liền với quá trình mua hàng hoá về để bán và nó chỉ được thu hồi khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ Khi sản phẩm hàng hoá chưa được tiêu thụ thì những khoản chi phí này nằm trong các sản phẩm hàng hoá tồn kho của doanh nghiệp
Chi phí sản phẩm, bao gồm các loại:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
Như vậy, chi phí sản phẩm là những khoản chi phí tạo thành thực thể của sản phẩm hay nằm trong các yếu tố cấu thành giá vốn hàng bán của hàng hoá mua vào trong kỳ hạch toán của doanh nghiệp
Trang 302.23.2 Chi phỉ thời kỳ
Là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán Vì vậy, chi phí thời kỳ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh, cần nhấn mạnh rằng, chi phí thời kỳ rõ ràng không phải
là những khoản chi phí tạo thành thực thể của sản phẩm hay nằm trong các yếu tố cẩu thành giá vốn của hàng hoá mua vào để bán mà
là những khoản chi phí hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất sản phẩm và hàng hoá mua vào
Chi phí thời kỳ, bao gồm các khoản:
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ có sự khác nhau rõ rệt Sự khác nhau đó được biểu hiện ở chỗ: Chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ nào thì được tập hợp và tính ngay vào kỳ phát sinh đó Do đó, chúng
có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh Trái lại, chi phí sản phẩm chỉ phải tính ở kỳ mà sản phẩm đó được tiêu thụ, không phải tính ở kỳ mà chúng phát sinh
Có thể so sánh hai loại chi phí trên bằng một sơ đồ sau đây:
Sơ đổ 1 : So sánh chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Trang 31Bài tập 1:
Một Công ty TNHH “Hoàng Gia” mới thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/6/N Kết quả hoạt động 6 tháng đầu tiên của Công ty Hoàng Gia kinh doanh bị lồ (theo báo cáo kết quả kinh doanh lập ngày 31/12/N) Kết thúc niên độ kế toán năm, Giám đốc Công ty hy vọng kết quả kinh doanh của Công ty Hoàng Gia 6 tháng cuối năm N sẽ có lãi nhưng đã thất vọng khi nhận được báo cáo kết quả kinh doanh do một kế toán ít kinh nghiệm lập Báo cáo kết quả kinh doanh 6 tháng cuối năm N của Công ty Hoàng Gia đã được trìnhbày, như sau: (Đon vị tính: Triệu đồng)
1 Doanh thu bán hàng: 500
2 Các chi phí hoạt động, bao gồm:
- Tiền lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp : 20
- Khấu hao tài sản cố định dùng vào sản xuất : 56
3 Kết quả: Lỗ 21
Sau khỉ xem xét, Giám đốc Công ty không nhất trí với kết quả này và yêu cầu kế toán kiểm tra lại báo cáo kết quả kinh doanh và
Trang 32cho biết một số thông tin khác có liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, như sau:
80% tiền thuê phương tiện, 80% chi phí bảo hiểm tài sản và 90% chi phí phục vụ được phân bổ cho phân xưởng sản xuất, số còn lại phân bổ cho bộ phận ngoài sản xuất Tiền thuê phương tiện được tính vào chi phí bán hàng, chi phí bảo hiểm tài sản, chi phí phục vụ tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp
Trị giá các loại tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ, như sau:
C h ỉ tiê u Đ ẩu kỳ Cuối kỳ
Trang 33-T ồn cuối kỳ : 20,2
- Tổng chị phí nguyên vật liệu trực tiếp : 166
1.3 Chi p h í sản xuất chung:
- Khấu hao tài sản cổ định dùng vào sản xuất : 56
Tổng cộng chi phí sản xuất chung : 199,6
1.4 Tổng chi ph í sản xuất.
1.8 Chi p h í quản ỉỷ doanh nghiệp
Trang 34- Chi phí bảo hiểm tài sản : 1,2
2 Lập lại bảng kê chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong kỳ.
3 Phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào hệ thống tài khoản của Công ty
Trang 354 Lập lại báo cáo kết quả kinh doanh 6 tháng cuối năm N
(đơn vị tính: Triệu đồng)
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ : 500
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: 65,4
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh : 23
5 Nhận xét, đánh giá phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh trước và sau khi lập lại.
Phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh sau khi lập lại chính xác hơn Vì, có đầy đủ thông tin hơn, như:
- Giá trị các loại tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ
- Các khoản chi phí phát sinh được chi tiết cho sản xuất và ngoài sản xuất
- Các loại chi phí phát sinh được tập hợp cho từng khoản mục tính giá thành một cách rõ ràng hơn, chính xác hơn
Trang 36Giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp thường được xác định bằng công thức sau đây:
Giá trị hàng tổn kho = ỵ (Số lượng hàng tốn kho X đơn giá hàng tồn kho)
Số lượng hàng tồn kho được xác định trên cơ sở được đo đếm thực tế hoặc trên cơ sở hồ sơ kiểm kê tồn kho thường xuyên
Đơn giá hàng tồn kho, bao gồm: Giá hoá đơn + các khoản chi phí và vận chuyển, bảo quản, bốc xếp và các khoản chi phí khác trừ các khoản chiết khấu được thưởng
Do đơn giá hàng tồn kho là yếu tố rất cơ bản cần được xem xét khi ước giá hàng tồn kho, nên việc lựa chọn phương pháp ước giá thích hợp sẽ phải xét đến sự ảnh hưởng trực tiếp của các phương pháp đó tới giá vốn hàng bán và như vậy, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận thu được trong kỳ của doanh nghiệp
Để đánh giá hàng tồn kho, thông thường có ba phương pháp ước giá sau đây:
- Phương pháp nhập trước, xuất trước
- Phương pháp nhập sau, xuất trước
- Phương pháp bình quân gia quyền
Trang 37Yêu cầu:
Xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đưa vào sản xuất sản phẩm theo các phương pháp trên cho cả ba trường họp: Đon giá ổn định, đon giá tăng lên, đon giá giảm xuống
Bài giải:
Từ số liệu ở biểu trên, có thể tính toán và xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đưa vào sản xuất sản phẩm theo 3 phưong pháp với giá phí cho cả ba trường hợp: Đon giá ổn định, đon giá tăng lên, đon giá giảm xuống theo biểu sau đây:
B Mức giá tăn g lên
-G iá trị N VL tổn c u õ ik ỳ 2.10 0 2.051 2.00 0
- Giá trị N V I đưa v à o sản xuất 7.13 0 7 1 7 8 7.23 0
c Mức giá giảm x u ố n g
-G iá trị N VL tốn c u ó ik ỳ 1.880 1.933 2.00 0
- Giá trị N VL đưa v à o sản xuất 6.820 6 7 6 6 6.70 0
Từ kết quả tính toán ở trên, có thể rút ra những nhận xét sau đây:
- Khi mức giá ổn định: Mọi phưong pháp ước giá đều cho cùng một kết quả
- Khi mức giá tăng lên: Phưong pháp nhập sau xuất trước cho giá phí đưa vào sản xuất trong kỳ là cao nhất, giá trị nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ là thấp nhất, do đó lãi cũng thấp nhất
- Khi mức giá giảm xuống: Phưong pháp nhập sau xuất trước cho giá phí đưa vào sản xuất là thấp nhất và giá trị nguyên vật liệu tồn kho là cao nhất Còn phương pháp nhập trước xuất trước trong trường hợp này thì ngược lại
Trang 38Từ sự phân tích trên cho thấy: Việc đánh giá và lựa chọn phương pháp ước giá hàng tồn kho có thể nói không có phương pháp ước giá hàng tồn kho nào được xem là tốt nhất Cả ba phương pháp: Nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước và bình quân gia quyền phù hợp với các tình huống khác nhau Do các phương pháp ước giá khác nhau có tác động khác nhau tới việc xác định thu nhập và định giá tài sản nên việc cân nhắc để áp dụng phương pháp nào là thích hợp phải được xem xét trên hai góc độ:
- Ý nghĩa đối với việc xác định thu nhập của doanh nghiệp
- Ý nghĩa đối với việc đánh giá tài sản
2.3 PHÂN LOẠI CHI PHÍ ĐỂ RA CÁC QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị của các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí Bởi vì, mỗi đồng chi phí bỏ ra đều ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy, việc cung cấp những thông tin hữu ích về chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh hợp lý là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn trong công tác cải tiến quản lý kinh tế của doanh nghiệp Đe phục vụ thông tin cho việc ra các quyết định, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu thức sau đây:
2.3.7 Phân loại chi phí theo chức nâng hoạt động
Với cách phân loại này giúp quản trị doanh nghiệp thấy rõ vị trí, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, nó còn là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm của doanh nghiệp và cung cấp những thông tin một cách
có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành:
Trang 392.3.1.1 Chi phí sản xuất:
Là loại chi phí chế tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, bao gồm 3 khoản mục chi phí cơ bản:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK621)
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí nguyên vật liệu được chia thành 2 loại: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hay còn gọi là chi phí tách biệt - loại chi phí này chỉ liên quan đến một loại sản phẩm nào đó Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp là loại chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, không thể tách trực tiếp cho từng sản phẩm hoặc cho từng loại sản phẩm và do đó, phải tập hợp vào chi phí sản xuất chung để phân bổ
- Chi phí nhân công trực tiếp (TK622)
Dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí nhân công của doanh nghiệp cũng chia thành 2 loại: Chi phí nhân công trực tiếp là loại chi phí cũng giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nó có thể tách biệt cho từng loại sản phẩm Cho nên, có thể tính trực tiếp cho từng sản phẩm hoặc từng loại sản phẩm Chi phí nhân công gián tiếp
là loại chi phí không trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, nhưng
nó lại không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí lao động gián tiếp cũng không thể tách trực tiếp cho một sản phẩm nào đó Cho nên, nó cũng phải tập hợp vào tài khoản chi phí sản xuất chung để phân bổ
- Chi phí sản xuất chung (TK627)
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí sản xuất chung cũng bao gồm rất nhiều loại chi phí mà không có liên quan trực tiếp đến một sản phẩm hay một loại sản phẩm, hay một công việc cụ thể nào Cho nên, nó phải được tập hợp để phân bổ cho từng sản phẩm, từng loại công việc
2.3.1.2 Chi phí ngoài sản xuất
Là những chi phí ngoài khâu sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, bao gồm 2 khoản mục chi phí cơ bản:
Trang 40- Chi phí bán hàng (TK641).
- Chi phí quản lý doanh nghiệp (TK642)
Ngoài việc phân chia chi phí sản xuất thành 3 khoản mục chi phí
cơ bản như trên, kế toán quản trị còn chia chi phí sản xuất thành 2 loại: Chi phí ban đầu và chi phí chuyển đổi
-'Chi phí ban đầu: Là khoản chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm Đó là sự kết hợp giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Chi phí ban đầu là những căn cứ để lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu, cần thiết để sản xuất ra một loại sản phẩm nhất định
- Chi phí chuyển đổi: Là những khoản chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên vật liệu từ dạng thô thành dạng sản phẩm của doanh nghiệp Đó là sự kết hợp giữa chi phí nhân công trực tiếp với chi phí sản xuất chung Chi phí chuyển đổi cũng là những căn cứ để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết phục vụ chế biến một lượng nguyên vật liệu nhất định thành sản phẩm của doanh nghiệp
Bài tập số 3:
Một doanh nghiệp chuyên sản xuất ghế đệm, giường đệm Có tài liệu sau đây thu thập được về tình hình sản xuất ghế, giường đệm trong tháng 8/N, như sau: (ĐVT: l.OOOđ)
1 Chi phí nguyên vật liệu, bao gồm:
- Gỗ dổi
- Gỗ lim
15.00015.000
1.000