Căn cứ vào các bước ra quyết định, có thể nghiên cứu một số quyết định ngắn hạn dựa trên cơ sở phân tích những thông tin về chi phí thích hợp dưới đây:
7.4.1. Quyết định nên tự sàn xuất hay mua ngoài
Phần lớn các sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra bao gồm nhiều chi tiết hợp thành. Những chi tiết của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất có thể mua sẵn từ bên ngoài hoặc có thể tổ chức một bộ phận của doanh nghiệp để tự sản xuất. Như vậy, trong trường hợp trên, quản trị doanh nghiệp đứng trước sự lựa chọn một trong hai phương án: quyết định nên tự sản xuất hay mua ngoài, quyết định nào có lợi hơn.
Quyết định nên mua ngoài hay tự sản xuất các chi tiết hoặc cụm chi tiết, về cơ bản cần nghiên cứu và xem xét trên cả hai mặt chất lượng và sổ lượng. Giả sử, mặt chất lượng đã được đảm bảo theo đúng yêu cầu kỹ thuật, dù mua ngoài hay tự sản xuất. Do vậy, chỉ cần đi sâu vào việc nghiên cứu, xem xét về mặt số lượng của các chi tiết hoặc cụm chi tiết.
Việc lựa chọn quyết định về mặt số lượng các chi tiết của sản phẩm doanh nghiệp cần mua ngoài hay tự sản xuất đều phải dựa trên cơ sở chi phí sản xuất. Vậy, yếu tố cần xem xét để ra các quyết định được thể hiện qua chi phí cần để tự sản xuất hoặc chi phí cần để mua vào các loại chi tiết nào đó của sản phẩm. Xác định mức chênh lệch giữa chi phí tự sản xuất và chi phí mua ngoài. Song, quá trình xem xét quyết định nên tự sản xuất hay mua ngoài cần phải phân tích kết hợp trên nhiều mặt hoạt động sản xuất kinh doanh cơ hội kinh doanh, điều kiện kinh doanh,... Có như vậy, mới có thể có những quyết định đúng đắn và chính xác.
Đề làm sáng tỏ những vấn đề này, có thể nghiên cứu và xem xét các tình huống sau đây:
Bài tập 42:
Công ty Pox hiện đang sản xuất loại chi tiết M dùng để sản xuất sản phẩm chính của Công ty. Tổng số nhu cầu của chi tiết M cần sản xuất trong năm là 1000 đơn vị chi tiết. Chi phí để sản xuất ra 1000 đơn vị chi tiết M trong năm, Công ty dự tính như sau (đơn vị tính
lOOOđ)
K h o ản m u c chi p h í
Chi p h í ỉả n x u ấ t
Đơn vị chi tiết Tổng số
1. N guyên vật liệu trực tiếp 5 5 0 0 0
2. Lao đ ộn g trực tiếp 6 6 0 0 0
3. Biên ph í sản xu ãt ch u n g 1.2 1 2 00
4. Lương nhân viên g u ản lý, ph ục vụ phân xưởng sản xuát 1,6 1600
5. Khấu hao TSCĐ của phân xưởng sản xuất 3,2 3 2 0 0
6. Chi phí chun g phân bổ 4 4 0 0 0
Tổng cộng 21 2 1 0 0 0
Doanh nghiệp INDEX đang sản xuất chi tiết M. Nếu mua của doanh nghiệp này thì công ty chỉ phải mua với giá 20.000đ một chi tiết, doanh nghiệp này sẽ đảm bảo cung cấp đúng theo số lượng và chất lượng mà công ty yêu cầu.
Yêu cầu:
Hãy nghiên cứu và xem xét giúp quản trị công ty Pox nên quyết định mua ngoài hay tự sản xuất
Bài giải:
Theo tài liệu trên cho thấy, số lượng thành phẩm tiêu thụ không đổi, cho nên dù công ty mua ngoài hay tự sản xuất chi tiết M đều không ảnh hưởng gì đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Bởi vậy, quyết định nên chọn phương án tự sản xuất hay mua ngoài chi tiết M của quản trị công ty hoàn toàn phụ thuộc vào mức chênh lệch giữa tổng mức chi phí chi ra để tự sản xuất hay mua ngoài chi tiết M. Tổng mức chi phí nào thấp hơn sẽ là mục tiêu sổ một được lựa chọn để quản trị công ty ra quyết định.
Ngoài ra, để xem xét vấn đề trên một cách toàn diện, quản trị công ty trước hết cần phải xem xét các nguồn lực và các phương tiện được sử dụng trong quá trình sản xuất chi tiết M, có phương án sử dụng nào khác hay không. Nếu có, thì ngoài việc so sánh với chi phí mua vào của chi tiết M, còn phải xét đến những điều kiện khác của phương án sử dụng, như: chi phí cơ hội, điều kiện phương tiện kỹ thuật, lao động... Giả sử công ty không có phương án sử dụng nào khác, trong trường hợp này quá trình phân tích thông tin thích hợp được tiến hành, như sau:
- Các chi phí khấu hao TSCĐ của phân xưởng sản xuất và chi phí chung phân bổ là: (3200 + 4000) = 7200 (nghìn đồng) sẽ không thay đổi dù chi tiết M tự sản xuất hay mua ngoài. Như vậy, chúng là những thông tin không thích hợp cho việc ra quyết định.
- Các khoản chi phí còn lại là chi phí thích hợp và chúng sẽ được xem xét trình bày trong bảng phân tích sau đây: (Đơn vị tính: nghìn đồng)
K h o ả n m ụ c ch i p h í
Q uyết định
Sản xuát M ua ngoài
1. Chi ph í n gu yên vật liệu trực tiếp 5000 0
2. Chi phí nh ân cô n g trực tiếp 60 00 0
3. B iên p h í sản xu ất ch u n g 1200 0
4. Lương n h ân viên qu ản lý, p h ục vụ phân xưởng 1600 0
5. Chi ph í m ua ngo ài 0 20 0 0 0
Tổng cộ n g 13800 20 0 0 0
Từ kết quả tính toán ở biểu trên cho thầy: Nếu công ty tự sản xuất chi tiết M thì công ty sẽ tiết kiệm được tổng mức chi phí sản xuất là 6200 (nghìn đồng) (20000 - 13800) so với mua ngoài.
Tuy nhiên, trong trường hợp công ty tận dụng mọi nguồn lực, tài lực sẵn có sử dụng sản xuất chi tiết M, nhưng lại có thể chuyển sang sản xuất chi tiết khác, hoặc cho thuê, hoặc sử dụng vào mục đích khác có lợi hơn, lợi nhuận hàng năm có thể mang lại lớn hơn 6200
(nghìn đồng) thì quản trị công ty lại quyết định nên mua ngoài chi tiết M là thượng sách. Vì kết quả kinh tế cao hon.
7.4.2. Quyết định nên tiếp tục sân xuất hay là bán bán thành phẩm, chi tiết của doanh nghiệp.
Quyết định nên bán ngay bán thành phẩm hay nên tiếp tục sản xuất thường được xem xét trong các trường hợp trên cùng một quy trình công nghệ sản xuất ra nhiều chi tiết, nhiều bán thành phẩm hoặc trên cùng một quy trình công nghệ, các chi tiết, bán thành phẩm có thể bán ngay hoặc tiếp tục chế biến rồi mới bán. Bởi vì, mỗi loại bán thành phẩm này có giá trị sử dụng riêng. Chẳng hạn, đối với công ty Dệt May, quy trình công nghệ sản xuất của nó, có thể là: từ bông ->
dệt thành sợi -> dệt thành vải hạ máy -> nhuộm -> in hoa -> vải thành phẩm -> cắt -> may -> thành phẩm cuối cùng.
Như vậy, công ty Dệt May có thể bán sợi, hoặc có thể bán vải hạ máy hoặc bán vải thành phẩm, hoặc đến công đoạn cắt, còn may thuê gia công,... Hoặc, đến mỗi công đoạn, công ty có thể bán một phần bán thành phẩm, số còn lại tiếp tục chế biến thành sản phẩm cuối cùng rồi mới bán. v ẩ n đề đặt ra là quản trị doanh nghiệp nên bán ở công đoạn nào (sợi hay vải hạ máy,...), hoặc nên tiếp tục chế biến rồi mới tiêu thụ (vải thành phẩm, thành phẩm cuối cùng). Những quyết định có nội dung như trên được gọi là những quyết định nên bán ngay hay nên tiếp tục hoàn thành thành phẩm.
Nguyên tắc chung để quyết định là dựa vào kết quả so sánh giữa thu nhập tăng thêm với chi phí tăng thêm do tiếp tục chế biến. Điều đó được thể hiện ờ những mục tiêu sau đây:
- Nếu thu nhập tăng thêm lớn hơn chi phí tăng thêm thì sẽ quyết định tiếp tục chế biến rồi mới tiêu thụ.
- Nếu thu nhập tăng thêm nhỏ hơn chi phí tăng thêm thì quản trị doanh nghiệp sẽ quyết định bán ngay bán thành phẩm, không tiếp tục quá trình chế biến.
Để làm rõ vấn đề trên, có thể nghiên cứu và phân tích bài tập dưới đây:
Bài tập 43:
Có tài liệu về một công ty Dệt May, chi phí sản xuất tập hợp được ở ba công đoạn sản xuất liên tục, từ nguyên liệu bông cho 1000 mét vải trong năm, như sau: (đơn vị tính: nghìn đồng)
C h ỉ tiê u
Các lo ạ i b á n th à n h p h ẩm
Sợi Vải hạ m áy Vải th àn h phẩm
1. D oanh thu tiêu thụ 25 0 0 0 3 5 0 0 0 5 0 0 0 0
2. Giá vốn hàng bán 10000 11 0 0 0 1 3 0 0 0
3. Lợi nhuận gộ p 15000 2 4 0 0 0 3 7 0 0 0
4. Lợi nhuận tă n g thêm 9 0 0 0 15 00 0
5. Chi p h í tă n g thêm 10 00 2 0 0 0
6. Lợi nhuận tă n g th êm do ch ế biến thêm 8 0 0 0 13 00 0
Từ kết quả tính toán ở trên cho thấy: nên tiếp tục chế biến sợi thành vải hạ máy thì khi bán vải hạ máy công ty sẽ thu lợi lớn hơn là 8000 (nghìn đồng) so với bán sợi, nhưng nếu tiếp tục các công đoạn chế biến vải hạ máy (vải mộc) thành vải thành phẩm, khi tiêu thụ vải thành phấm thu lợi nhuận lớn hơn so với vải hạ máy là 5000 (nghìn đồng). Vậy, quản trị doanh nghiệp nên quyết định sản xuất vải thành phẩm rồi mới bán thì có lợi hơn.
7.43. Quyết định trong trường hợp nâng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị hạn chế
Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp có thể được xác định bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Thông thường, năng lực sản xuất có thể xác định bằng chỉ tiêu khối lượng sản phẩm sản xuất. Nhưng, khi đã tính toán các hạn chế, có thể xác định năng lực sản xuất bằng yếu tố bị hạn chế nhất. Trên cơ sở đó, quản trị doanh nghiệp sẽ có những phương án cụ thể để tăng quy mô năng lực sản xuất sao cho có lợi nhất. Đồng thời, quản trị doanh nghiệp phải có phương án
sử dụng năng lực sản xuất hiện có sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Chẳng hạn, trong điều kiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có giới hạn, nhưng doanh nghiệp lại nhận được rất nhiều đom đặt hàng của khách hàng với số lượng và chủng loại mặt hàng rất đa dạng. Trước tình hình này, quản trị doanh nghiệp cần phải lựa chọn như thế nào để sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Có thể dẫn ra một trong hai trường hợp cụ thể sau đây:
a. Trường hợp chỉ có một yếu tố sản xuất bị giới hạn.
Trong trường hợp chỉ có giới hạn một yếu tổ sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp dựa vào lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm và phải đặt chỉ tiêu này trong mối quan hệ với điều kiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp có giới hạn đó. Tất cả là vì mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp: tận dụng tối đa mọi năng lực sản xuất hiện có (có giới hạn) để đạt được tổng mưc lợi nhuận cao nhất trong kinh doanh.
Có thể nghiên cứu bài tập sau đây để làm sáng tỏ vấn đề trên:
Bài tập 44:
Một công ty Sứ chuyên sản xuất bát và đĩa. Năng lực sản xuất của doanh nghiệp huy động ở mức tối đa bằng 200.000 giờ máy hoạt động. Để sản xuất ra một chiếc bát phải sử dụng hết 2h máy. Giá bán một bát là lO.OOOđ. Biến phí một bát là 5.500đ. Để sản xuất ra một chiếc đĩa phải sử dụng hết 20 phút giờ máy. Giá bán một đĩa là 2000đ, biến phí của một đĩa là 1.200đ. Nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm bát và đĩa đều như nhau và đều phải tận dụng hết công suất mới đủ thoả mãn nhu cầu đó.
Yêu cầu:
Trong điều kiện có giới hạn về công suất giờ máy hoạt động, quản trị doanh nghiệp nên chọn sản xuất loại sản phẩm nào để đạt được tổng mức lợi nhuận là cao nhất.
Bài giải:
Có thể đặt mục tiêu của việc lựa chọn quyết định tối ưu ở trên thành hai trường hợp sau đây:
* Trường họp 1: Chỉ so sánh lợi nhuận góp của hai sản phẩm bát và đĩa, như sau: (đơn vị tính: nghìn đồng).
C h ỉ tiê u B á t Đ ĩa
1. Giá bán 10 2
2. Biến ph í 5,5 1,2
3. Số dư đ ảm ph í 4,5 0,8
4. Tỷ lệ lợi nhuận gó p (tỷ lệ % ) 45 ► 40
Từ kết quả tính toán ở trên cho thấy: Nếu chỉ căn cứ vào lợi nhuận góp thì quản trị công ty nên chọn sản xuất sản phẩm Bát có lợi hơn. Vì, sản phẩm Bát có lợi nhuận góp cao hơn so với sản phẩm Đĩa.
Trường hợp 2: Neu xem xét lợi nhuận góp trong mối liên hệ với năng lực hoạt động giờ máy có giới hạn, có thể lập biểu tính toán dưới đây (Đơn vị tính nghìn đồng):
C h ỉ tiê u B át Đ ĩa
1. Số dư đảm ph í 4.5 0.8
2. Số giờ sản xuất (giờ m áy) 2 1/3
3. Lợi n h uận gó p cho m ộ t giờ m áy hoạt đ ộn g 2.25 2.4
4. Tỷ lệ lợi nhuận g ó p củ a m ột giờ m áy ( % ) 225 240
Tổng lợi n h uận gó p của 2 0 0 .0 0 0 giờ m áy 4 5 0 .0 0 0 4 8 0 .0 0 0
Từ kết quả tính toán ở trên cho thấy: Khi xem xét lợi nhuận góp trong mối quan hệ với năng lực hoạt động giờ máy tối đa thì quản trị doanh nghiệp nên chọn sản xuất sản phẩm đĩa có tổng mức lợi nhuận cao hơn sản phẩm bát là 30.000 (nghìn đồng).
Qua bài tập trên đã lý giải ràng, nếu chi xem xét chỉ tiêu lợi nhuận góp riêng lẻ thì chưa thể có kết luận chính xác mà phải xem xét lợi nhuận góp trong mối liên hệ với những yếu tố có giới hạn thì
mới đảm bảo có quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn các phương án tối ưu trong kinh doanh.
b. Trường hợp có nhiêu yếu tố bị giới hạn cùng một lúc.
Trong trường họp, năng lực sản xuất của doanh nghiệp bị hạn chế bởi nhiều yếu tố cùng một lúc, như: giờ máy hoạt động, mức tiêu thụ sản phẩm bị hạn chế, vốn hạn chế,... Để dí đến quyết định phải lựa chọn sản xuất theo một cơ cấu sản phẩm như thế nào mới đem lại hiệu quả cao nhất trong kinh doanh, có thể sử dụng phương pháp phương trình tuyến tính để tìm ra phương án tối ưu. Phương pháp phương trình tuyến tính được tiến hành qua 4 bước sau đây:
Bước 1: Xác định hàm mục tiêu và biểu diễn hàm mục tiêu dưới dạng phương trình đại sổ.
Bước 2: Xác định các điều kiện giới hạn và biểu diễn chúng thành dạng phương trình đại số.
Bước 3: Xác định vùng sản xuất tối ưu trên đồ thị.
Bước 4: Căn cứ vào vùng sản xuất tối ưu, với phương trình hàm mục tiêu, xác định phương trình sản xuất tối ưu.
Hàm mục tiêu có thể là mức lợi nhuận tối đa, mức chi phí tối thiểu, hoặc tổng lợi nhuận góp tối đa,...
Bài tập 45:
Doanh nghiệp Sứ HD, chuyên sản xuất ấm chén. Năng lực sản xuất của doanh nghiệp huy động ở mức tối đa trong năm bằng 200.000 giờ máy hoạt động. Để sản xuất ra một ấm phải sử dụng hểt 2 giờ máy. Giá bán 1 ấm là lO.OOOđ. Biến phí một ấm là 5.500đ. Đe sản xuất ra một chén phải sử dụng hết 20 phút giờ máy. Giá bán 1 chén là 2.000 đ. Biến phí 1 chén là 1.200đ.
Yêu cầu:
Xác định số lượng sản phẩm sản xuất là hợp lý để doanh nghiệp đạt được mục tiêu là lợi nhuận cao nhất trong kinh doanh.
Vấn đề xác định số lượng sản phẩm sản xuất hợp lý của doanh nghiệp ở đây là bộ ấm chén cao nhất. Nếu tách rời bộ ấm chén thì khó có thể đạt đuợc một cơ cấu sản phẩm hợp lý để đạt được tổng mức lợi nhuận cao nhất trong kinh doanh. Nếu xét riêng từng loại sản phẩm thì lợi nhuận góp của một giờ máy sản xuất ấm là 2.250đ, còn lợi nhuận góp của một giờ máy sản xuất chén là 2.400đ. Rõ ràng, nếu tách riêng thì sản xuất chén có lợi hơn vì lợi nhuận góp lớn hơn là 150đ (2.400 - 2.250). Song, trên thực tế, người ta tiêu thụ ấm chén theo bộ. Giả sử một bộ ấm chén theo cơ cấu là: 1 ấm và 6 chén.
Để xác định số lượng sản phẩm sản xuất hợp lý (số lượng ấm chén hợp lý), có thể xác định bằng hai cách sau đây:
Cách 1: - Nếu sản xuất một ấm hết 2 giờ máy.
- Nếu sản xuất 6 chén hết 2 giờ máy.
- Nếu sản xuất một bộ ấm chén hết 4 giờ máy.
Vậy, số bộ ấm chén mà công ty sản xuất được tối đa trong năm là 50.000 bộ (200.000/4).
Đây là cơ cấu sản phẩm bộ ấm chén mà doanh nghiệp có thể sản xuất được tối đa trong năm là 50.000 bộ. Và như vậy, công ty có thể đạt được tổng mức lợi nhuận là cao nhất trong năm.
Cách 2: Neu gọi số ấm cần sản xuất trong năm là X Gọi số lượng chén cần sản xuất trong năm là Y Với điều kiện: X,Y: là nguyên dương.
Theo bài ra, có các phương trình sau đây:
Phương trình 1: 2X + 1/3Y = 200.000 (1) Phương trình 2: Y= 6X (2)
Đặt bộ ấm chén theo cơ cấu sản phẩm: cứ 1 ấm có 6 chén.
Giải hệ phương trình:
2X + 1/3 Y = 200.000(1) Bài giải:
Y= 6X (2)
Bằng phương pháp thế, tính được: X = 50.000 (ấm) Y = 300.000 (Chén)
Như vậy, tối đa trong năm, công ty Sứ HD có thể sản xuất được 50.000 bộ ấm chén với lợi nhuận thu được trong năm là tối đa.
Bài tập 46: Một công ty sản xuất hai loại sản phẩm X và Y. Có tài liệu về tình hình sản xuất sản phẩm X và Y trong năm như sau:
C h ỉ tiêu S ả n p h ẩ m X S ả n p h ẩ m Y
1. Lợi nhuận gópđơn vị sản ph ẩm (n g h ìn dó ng) 6 9
2. Mức tiêu hao N VL cho m ộ t đơn vị sản phẩm (tấn) 4 2
3. Sõ giờ m áy sử d ụ n g cho m ộ t đơn vị sản phẩm (giờ) 5 9
Trong năm, doanh nghiệp chỉ mua được 21 tấn nguyên vật liệu.
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp chỉ đạt ở mức công suất tối đa là 32 đơn vị giờ máy hoạt động (có thể là 32.000 giờ máy hoạt động chẳng hạn). Thị trường chỉ chấp nhận mỗi năm doanh nghiệp chỉ tiêu thụ được 3 đơn vị sản phẩm Y (có thể là 3.000 sản phẩm Y chẳng hạn).
Yêu cầu:
Hãy nghiên cứu và xem xét giúp quản trị doanh nghiệp lựa chọn cơ cấu sản phẩm X và Y để doanh nghiệp đạt được tổng mức lợi nhuận cao nhất trong kinh doanh.
Bài giải:
Từ những số liệu ở trên, doanh nghiệp phải sản xuất theo cơ cấu sản phẩm X và Y như thế nào để đạt được lợi nhuận tối đa trong kinh doanh. Vận dụng phương pháp phương trình tuyến tính, có thể lần lượt thực hiện qua các bước sau đây:
Bước 1: Chọn hàm mục tiêu là lợi nhuận cao nhất trong kinh doanh. Nhưng, theo tài liệu trên không thể tính được tổng mức lợi nhuận cao nhất có thể đạt được, phải thông qua chỉ tiêu tổng lợi