PHÂN LOẠI HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾTOẤN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Một phần của tài liệu Kế toán quản trị doanh nghiệp (Trang 243 - 248)

Q U YẾT ĐỊNH DÀI HẠN

9.2. PHÂN LOẠI HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾTOẤN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Thông thường có thể căn cứ vào các tiêu thức để phân loại hệ thống báo cáo kế toán quản trị sau đây:

9.2.1. Phân loại theo nội dung kinh tế

Theo cách phân loại này, báo cáo kế toán quản trị, bao gồm:

9.2.1.1. Báo cáo doanh thu chi phí và lợi nhuận

Đây là một loại báo cáo mà kế toán quản trị thường dùng nhiều nhất để phân tích giữa các kỳ với nhau, giữa các bộ phận với nhau trong cùng một doanh nghiệp. Báo cáo này có thể lập cho toàn doanh nghiệp, hoặc có thể chi tiết theo từng bộ phận phụ thuộc, theo từng hợp đồng sản xuất, hoặc theo từng nhóm mặt hàng, theo từng loại mặt hàng. Qua việc phân tích những báo cáo này, giúp quản trị các cẩp trong nộ bộ doanh nghiệp xác định rõ mức độ đóng góp kết quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, qua đó phát hiện ra những khả năng tiềm tàng và có những giải pháp tích cực nhằm đưa các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp theo phát triển tốt hơn nữa.

9.2.1.2. Báo cảo khối lượng hàng hóa mua vào, bán ra trong kỳ Loại báo cáo này, kế toán quản trị thường lập trong các dDa.ih nghiệp kinh doanh thương mại.

Có thể lập báo cáo khối lượng hàng hóa mua vào, bán ra trong kỳ theo từng đối tượng khách hàng, giá bán, chiết khấu và các hình thức khuyến mại khác. Tình hình thanh toán của từng đối tượng khách hàng khi giao dịch mua bán.

9.2.1.3. Báo cảo chi tiết khối lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp hoàn thành và tiêu thụ trong kỳ

Thông thường loại báo cáo này, kế toán quản trị dùng trong các doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, có thể lập theo từng loại sản phẩm, từng nhóm sản phẩm, từng bộ phận sản xuất sản phẩm trong kỳ, hoặc có thể lập cho toàn bộ doanh nghiệp nhằm cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong từng thời gian của niên độ kế toán. Giúp quản trị doanh nghiệp có những giải pháp thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, phấn đấu thực hiện tốt mọi nhiệm vụ kế hoạch trong kỳ.

9.2.1.4. Báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Loại báo cáo này, kế toán quản trị thường lập cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm. Có thể lập chi tiết theo từng đối tượng tính giá thành, chi tiết theo từng khoản mục. Trên cơ sở phân tích báo cáo này, quản trị các cấp trong nộ bộ doanh nghiệp có thể có những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm góp phần nâng cao tổng mức lợi nhuận cho doanh nghiệp.

9.2.1.5. Báo cảo chi tiết tăng giảm nguồn vốn (vốn) của doanh nghiệp

Loại báo cáo này rất cần thiết đối với quản trị doanh nghiệp. Nó cung cấp chi tiết từng khoản vốn và nguồn vốn tăng giảm trong kỳ, giúp quản trị doanh nghiệp tìm mọi biện pháp tăng nguồn vốn - là yếu tố tăng sức mạnh, tăng nguồn lực trong kinh doanh của doanh nghiệp.

9.2. ỉ. 6. Báo cảo chi tiết các khoản nợ phải thu, nợ phải trả Những báo cáo này thường tiềm ẩn tình hình rủi ro trong kinh doanh. Nếu doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn hay chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác nhiều thì đều không tốt. Bởi vậy, loại báo cáo này thường được lập chi tiết cho từng đối tượng, từng thời hạn thanh toán nhằm cung cấp cho quản trị doanh nghiệp những thông tin càng chi tiết bao nhiêu thì quản trị doanh nghiệp càng có những giải pháp tích cực bấy nhiêu để thúc đẩy quá trình thanh toán đúng hạn, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất tình hình rủi ro trong kinh doanh.

9.2.1.7. Báo cáo chi tiết hàng tồn kho

Đây là loại báo cáo mà quản trị doanh nghiệp cũng rất quan tâm. Bởi vì, hàng tồn kho càng nhiều chứng tỏ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu có những dấu hiệu kém phát triển. Do vậy, quản trị doanh nghiệp phải nắm được thường xuyên những thông tin về hàng tồn kho để xác định rõ những nguyên nhân ảnh hưởng tới tình hình tiêu thụ, như: nhu cầu của khách hàng, chất lượng sản phẩm, giá bán, tính chất kịp thời của việc cung ứng hàng hóa... Trên

cơ sở đó, quản trị doanh nghiệp có những giải pháp đẩy nhanh quá trình tiêu thụ.

Ngoài những loại báo cáo trên, kế toán quản trị còn căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng cấp quản lý trong nộ bộ doanh nghiệp, trong từng giai đoạn cụ thể, có thể lập các báo cáo kế toán quản trị khác nhằm cung cấp đầy đủ những thông tin cho các nhà quản lý lao động, như: báo cáo tình hình sử dụng lao động, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thu nhập của cán bộ công nhân,...

9.2.2. Cân cứ vào các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh Theo cách phân loại này, báo cáo kế toán quản trị bao gồm:

9.2.2.1. Báo cáo quá trình cung cấp dự trữ

- Báo cáo tình hình cung cấp dự trữ nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ.

- Báo cáo tình hình cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

- Báo cáo tình hình cung cấp về lao động, chất lượng lao động, thiết bị sản xuất, v.v...

9.2.2.2. Báo cáo quá trình sản xuất kinh doanh

- Báo cáo về khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ.

- Báo cáo về doanh thu tiêu thụ.

- Báo cáo về chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm.

- Báo cáo về tình hình sử dụng lao động, chất lượng sản phẩm.

- Báo cáo tăng giảm vốn chủ sở hữu.

- Báo cáo về tình hình các khoản phải thu, các khoản phải trả,...

9.2.23. Bảo cáo về kết quả kỉnh doanh

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: có thể lập theo các cách phân loại chi phí khác nhau, có thể lập theo từng bộ phận hay toàn doanh nghiệp.

- Báo cáo tình hình phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.

9.2.3. Cân cứ vào địa điềm lập báo cáo

Theo tiêu thức này, báo cáo kế toán quản trị bao gồm:

- Báo cáo lập cho toàn doanh nghiệp, như:

+ Báo cáo khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ của toàn doanh nghiệp trong kỳ.

+ Báo cáo doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp trong kỳ.

+ Báo cáo tình hình tăng giảm nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp.

+ Báo cáo tình hình nợ phải thu và nợ phải trả của toàn doanh nghiệp.

- Báo cáo lập cho bộ phận, như:

+ Báo cáo kết quả hoạt kinh doanh lập theo từng bộ phận: theo phân xưởng sản xuất, theo quy trình công nghệ, theo dây chuyền sản xuất hoặc theo loại sản phẩm,...

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lập theo từng đơn đặt hàng, cho tiêu dùng trong nước hay cho xuất khẩu.

+ Báo cáo chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm cho từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

9.2.4. Càn cứ theo thời gian lập báo cáo

Theo tiêu thức phân loại này, báo cáo kế toán quản trị bao gồm:

- Báo cáo lập cho thời gian dài thường gọi là báo cáo dài hạn, như: các báo cáo dự toán theo thời gian trên 1 năm về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các báo cáo phân tích và tổng hợp trong thời gian 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Báo cáo lập cho thời gian ngắn hạn: loại báo cáo này thường được lập trong thời gian dưới 1 năm, như: báo cáo tình hình về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý,...

9.2.5. Căn cứ theo kỳ lập báo cáo

Theo tiêu thức phân loại này, báo cáo kế toán quản trị có thể bao gồm:

- Báo cáo thực hiện: là các báo cáo phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm...

- Báo cáo dự toán: là các báo cáo về các dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp, như: báo cáo dự toán về tiêu thụ sản phẩm, báo cáo dự toán về sản xuất sản phẩm, báo cáo dự toán về tình hình cung cấp, dự trữ, sử dụng nguyên vật liệu, báo cáo dự toán về chi phí nhân công trực tiếp, báo cáo dự toán về chi phí sản xuất chung, báo cáo dự toán về giá vốn hàng bán, báo cáo dự toán về kết quả kinh doanh, báo cáo dự toán về thanh toán tiền m ặt,...

Ngoài các cách phân loại trên, kế toán quản trị còn bao gồm các loại báo cáo, như: báo cáo tổng hợp, báo cáo phân tích, báo cáo chi tiết,... Tất cả các loại báo cáo của kế toán quản trị ở trên đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau nhằm cung cấp một cách đầy đủ nhất bức tranh về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian đã qua và của kỳ kinh doanh sắp tới.

Một phần của tài liệu Kế toán quản trị doanh nghiệp (Trang 243 - 248)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(479 trang)