Do vậy kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp phải được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, các định mức chi phí, dự toán chi phí đã x
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ TRỌNG LỢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Nha Trang - năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ TRỌNG LỢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 “ là công
trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả đề tài
Lê Trọng Lợi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự chân thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến TS Phan Thị Dung cô giáo hướng dẫn khoa học đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tôi đã tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các báo cáo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu…
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Kinh tế, Khoa đào tạo sau Đại học Trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt
là sự hợp tác giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần của Ban giám hiệu trường Cao đẳng nghề Du lịch – Thương mại Nghệ An, sự giúp đỡ và động viên từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác
Tuy đã có nhiều cố gắng và nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu, nhưng chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, bạn bè đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài tiếp tục góp ý, giúp đỡ để luận văn ngày càng được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 KTTC: Kế toán tài chính
2 KTQT: Kế toán quản trị
3 BHXH: Bảo hiểm xã hội
4 BHYT: Bảo hiểm y tế
5 BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
6 KPCĐ: Kinh phí công đoàn
7 TSCĐ: Tài sản cố định
8 CPXD: Cổ phần xây dựng
9 CT2: Công trình 2
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp giá trúng thầu sau thuế – quốc lộ 8A Hà Tĩnh 54
Bảng 2.2 Biểu chi tiết giá dự thầu công trình Quốc lộ quốc lộ 8A Hà Tĩnh 55
Biểu 3.1 Phiếu đề nghị cấp nhiên liệu 68
Biểu 3.2 Phiếu báo nhiên liệu còn lại trong xe/máy 70
Biểu 3.3 Bảng tổng hợp nhiên liệu còn lại trong xe máy tại công trình 71
Biểu 3.4: Bảng tổng hợp chi phí theo ứng xử của chi phí 72
Biểu 3.5: Tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo công trình 74
Biểu 3.6: Tæng hîp chi phÝ nh©n c«ng trùc tiÕp theo c«ng tr×nh 75
Biểu 3.7: Tæng hîp chi phÝ m¸y thi c«ng theo c«ng tr×nh 76
Biểu 3.8: Tæng hîp chi phÝ s¶n xuÊt chung theo c«ng tr×nh 78
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu của Tổng Công ty 40
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 4 45
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại các công ty hạch toán độc lập 46
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ v
MỤC LỤC vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 4
1.1 QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP .4
1.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó đến tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp .4
1.1.2 Quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 6
1.1.3 Sự cần thiết của kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp .7
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP .9
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất, giá thành trong tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất , giá thành sản phẩm xây lắp 9
1.2.1.1 Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 9
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 10
1.2.1.3 Giá thành sản phẩm xây lắp 16
1.2.1.4.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp 17
1.2.2 Xây dựng định mức chi phí và lập dự toán chi phí sản xuất 18
1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất .18
1.2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 20
1.2.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp 23
1.2.3.1 Tổ chức hạch toán ban đầu: 23
1.2.3.2 Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán .25
1.2.3.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán quản trị .26
1.2.3.4 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành 27
Trang 91.2.3.5 Phân tích mối quan hệ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong các doanh
nghiệp xây lắp 28
1.3 MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN PHẨM
XÂY LẮP .29
1.4 MỘT SỐ MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM .32
1.4.1 Mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 32
1.4.2 Mô hình tổ chức kế toán tài chính độc lập với kế toán quản trị (kế toán tĩnh - áp dụng tại Pháp) 33
1.4.3 Những bài học cho Việt Nam trong xây dựng và vận dụng mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất .35
Chương 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 38
2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 38
2.1.1 Khái quát chung về tổng công ty Xây Dựng Công Trình Giao Thông 4 38
2.1.1.1 Một số thông tin chung về Tổng Công ty 38
2.1.1.2 Lịch sử hình thành phát triển của Tổng Công ty 38
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tổng Công ty 40
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp 49
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 50
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất 50
2.2.1.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 50
2.2.1.2 Chi phí nhân công trực tiếp: 51
2.2.1.3 Chi phí máy thi công 51
2.2.1.4 Chi phí sản xuất chung 51
2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 52
2.2.3 Đánh giá chung về công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 56
2.2.3.1 Đối tượng tập hợp chi phí trong các doanh nghiệp là từng công trình 56
Trang 102.2.3.2 Đối tượng tính giá thành tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây
dựng công trình giao thông 4 được quy định như sau: 56
2.2.3.3.Phương pháp tập hợp chi phí tại các doanh nghiệp thường áp dụng 57
2.2.4 Tổ chức thu thập thông tin thực hiện về chi phí sản xuất 57
2.2.4.1 Tổ chức quản lý các khoản mục chi phí và chứng từ hạch toán ban đầu trong điều kiện thực hiện cơ chế khoán 57
2.2.4.2 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán để tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp 60
2.2.4.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp 62 2.2.4.4 Tổ chức lập báo cáo kế toán 62
2.2.4.5 Kiểm soát thực hiện dự toán và phân thích thông tin phục vụ ra quyết định kinh doanh .62
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 .63
2.3.1 Kết quả đã đạt được 63
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu 64
Chương 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TÓAN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 67
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện 67
3.1.1 Về chứng từ kế toán 67
3.1.2 Về hạch toán chi phí vào các khoản mục chi phí 69
3.1.3 Về phân loại và phân bổ chi phí 72
3.1.4 Về xác định chi phí dở dang và tính giá thành sản phẩm 73
3.1.5 Về xây dựng hệ thống định mức 79
3.1.6 Về báo cáo nội bộ 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC a
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Ngành xây dựng cơ bản là ngành tạo ra bộ xương sống của nền kinh tế, là ngành kinh tế mũi nhọn then chốt trong một thể thống nhất và hoàn chỉnh của các ngành kinh tế khác nhau Để ngành xây dựng thực sự tăng lên cả về quy mô, tốc độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc dân, nhà quản lý phải sử dụng đồng bộ, hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế tài chính nói chung và kế toán – công cụ quan trọng nhất nói riêng
Trong nền kinh tế thị trường hệ thống kế toán được phân thành hai bộ phận là
kế toán tài chính và kế toán quản trị.Tuy nhiên trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay mới làm quen với kế toán tài chính qua việc cung cấp các thông tin trên hệ thống báo cáo tài chính Kế toán quản trị cung cấp những thông tin chi tiết, không chỉ là thông tin quá khứ, thông tin thực hiện mà còn bao gồm các thông tin về tương lai Kế toán quản trị có vai trò quan trọng trong công tác quản trị nội bộ doanh nghiệp và được thể hiện qua tất cả các khâu, từ lập kế hoạch dự toán đến thực hiện kiểm tra giúp các nhà quản trị ra quyết định quản lý Trong các doanh nghiệp xây lắp kế toán quản trị chi phí sản xuất là mội nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán quản trị của doanh nghiệp Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất phải tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, trình độ và yêu cầu quản lý chi phí của doanh nghiệp Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay còn mới mẻ, nhận thức và tổ chức còn nhiều bất cập
Do đặc điểm nhu cầu vốn lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, thời gian thi công kéo dài, phân bổ ở xa khu vực kinh tế – xã hội tập trung nên công tác quản lý chi phí không phải là việc đơn giản Vì vậy việc áp dụng các hình thức quản lý chi phí dưới góc độ kế toán quản trị là việc làm cần thiết, nhất là khi đã có những biểu hiện của các
bộ phận thực hiện chức năng của kế toán quản trị trong các đơn vị phòng ban tại cùng một doanh nghiệp
Xuất phát từ những nhận thức trên tôi nhận thấy việc nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp là vấn đề cần thiết và
Trang 12có tính thực tiễn cao trong tình hình hiện nay và đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu
là “ Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp
thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 “
2.Tổng quan các nghiên cứu liên quan:
Tham khảo một số tài liệu liên quan đến công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp xây lắp như: Xây dựng kế toán quản trị trên webketoan, đề tài Hoàn thiện mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây lắp của Nguyễn Thị Thu Thủy – Khối kế toán trường Học Viện Tài Chính
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 từ năm 2009-2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
- Nguồn thông tin sơ cấp: Phỏng vấn các chuyên gia, và các doanh nghiệp thuộc Tổng Công Ty Xây Dựng Cổng Trình Giao Thông 4
- Nguồn thông tin thứ cấp: Được lấy từ phòng kế toán Các đội sản xuất, các công trình của các doanh nghiệp thuộc Công Ty Xây Dựng Cổng Trình Giao Thông 4
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê:
Dùng để thổng kê số liệu về chi phí cấu thành lên giá thành sản phẩm xây lắp
- Phương pháp chuyên gia:
Phỏng vấn một số chuyên gia về kế toán quản trị chi phí sản xuất
Trang 13Dùng để tổng hợp các số liệu về chi phí sản xuất
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp nói chung và tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 nói riêng để từ đó đưa ra những phương hướng hoàn thiện mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất phù hợp, hiệu quả nhất cho các doanh nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4
Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó đến
tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Xây dựng cơ bản là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo, hiện đại hoá, khôi phục các công trình nhà máy, xí nghiệp, đường xá cầu cống, nhà cửa…nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống của xã hội Chi phí cho đầu tư xây dựng
cơ bản chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách nhà nước cũng như ngân sách của doanh nghiệp
Sản xuất xây lắp là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp Tuy nhiên đây
là ngành sản xuất công nghiệp đặc biệt Sản phẩm xây lắp cũng được tiến hành một cách liên tục từ khâu thăm dò, điều tra khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trình khi hoàn thành Sản xuất xây lắp có tính dây chuyền, giữa các khâu của hoạt động sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khâu ngừng trệ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các khâu khác
Hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù chi phối cách thức quản lý doanh nghiệp cũng như chi phối đến nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức kế toán nói chung và tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm nói riêng
Hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp có những đặc điểm cơ bản là:
Thứ nhất: Sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, riêng lẻ:
Sản phẩm sản xuất xây lắp không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào, mỗi sản phẩm đều có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau, riêng biệt theo từng hợp đồng giao nhận thầu xây lắp của bên giao thầu Từ đặc điểm này, việc tổ chức quản lý và tổ chức kế toán quản trị nhất thiết phải có dự toán, quá trình sản xuất phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo Điều này
Trang 15giúp cho các doanh nghiệp xây lắp có thể tổ chức kế toán quản trị tương đối chính xác
về giá trị công trình, từ đó lên kế hoạch về tài chính cũng như giám sát các chi phí phát sinh đối với từng công trình
Mặt khác, do mỗi sản phẩm xây lắp có tính chất đơn chiếc và được sản xuất theo các hợp đồng giao nhận thầu xây lắp nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở các địa điểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của từng công trình cũng khác nhau Vì vậy
kế toán phải tính chi phí sản xuất cho từng công trình riêng biệt
Thứ hai: Sản phẩm xây lắp chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có hợp đồng giao
nhận thầu của chủ đầu tư, do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp thường không thể hiện rõ nét Sản phẩm xây lắp được bán theo giá dự toán của chủ đầu tư Các sản phẩm hoàn thành bàn giao không nhập kho Điều kiện sản xuất thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo từng địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng Người lao động, phương tiện thi công luôn di chuyển từ công trình này sang công trình khác Đặc điểm này là một khó khăn cho tổ chức sản xuất, nảy sinh nhiều chi phí do khâu di chuyển lực lượng sản xuất như chi phí điều động nhân công, chi phí điều chuyển máy…đòi hỏi kế toán phải xác định và phản ánh chính xác chi phí này và tổ chức phân
bổ chi phí hợp lý
Thứ ba: Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn thường vượt quá giá trị vốn lưu động của
doanh nghiệp, thời gian thi công tương đối dài làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình
và vốn sản xuất của doanh nghiệp bị đọng lâu dài tại các công trình dở dang Chính vì vậy các doanh nghiệp cần lựa chọn phương án có thời gian thi công hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, đồng thời khi lập kế hoạch, các doanh nghiệp xây lắp phải cân nhắc thận trọng về yêu cầu vật tư, tiền vốn, nhân công, quản lý theo dõi các khoản mục chi phí trong quá trình sản xuất thi công nhằm đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm vốn
Do thời gian thi công kéo dài nên kỳ tính giá thành không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định tuỳ thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng công trình thể hiện qua phương pháp lập dự toán và thanh toán giữa bên giao thầu
và nhận thầu Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước là điểm dừng kỹ thuật hợp lý Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá
Trang 16thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắn tình hình quản lý thi công của từng thời kỳ nhất định
Thứ tư: Hoạt động xây lắp thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi
điều kiện môi trường, thiên nhiên và do đó việc thi công xây lắp ở mức độ nào đó mang tính chất thời vụ Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ, đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường thời tiết thuận lợi Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng thi công, có thể phát sinh các khối lượng công trình phải phá đi làm lại và các thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ sao cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí hạ giá thành
Thứ năm: Sản phẩm xây lắp thường có thời gian sử dụng lâu dài nên mọi sai lầm
trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại Sai lầm trong sản xuất xây lắp vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình
Thứ sáu: Để nhận được công trình các doanh nghiệp xây lắp phải trải qua đấu
thầu Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng để từ
đó có được mức giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp và khả năng trúng thầu
1.1.2 Quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Từ những đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp nói trên cho thấy công tác quản lý chi phí cho từng công trình là rất khó khăn Tuy nhiên các doanh nghiệp xây lắp cũng cần biết các hao phí vật chất mà doanh nghiệp đã bỏ vào quá trình sản xuất Chính vì vậy, quản trị tốt chi phí sản xuất, xác định giá thành hợp lý , kịp thời, chính xác, đầy đủ luôn được xem là vấn đề quan trọng trong tổ chức công tác
kế toán nói chung và tổ chức kế toán quản trị nói riêng của mỗi doanh nghiệp xây lắp Chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng của doanh nghiệp xây lắp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu lợi nhuận và các kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp phải được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, các định mức chi phí, dự toán chi phí đã xây dựng, phân tích nguyên
Trang 17nhân phát sinh các khoản chi phí vượt định mức, vượt dự toán để có biện pháp quản lý thích hợp nhằm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Quản trị chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm là một nội dung quan trọng trong công tác quản trị của doanh nghiệp xây lắp Để thực hiện tốt chức năng quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp, kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp phải thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng các chỉ tiêu định mức chi phí và lập dự toán chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình
- Xác định các phương pháp phân bổ chi phí chính xác, phù hợp cho từng công trình, hạng mục công trình
- Hạch toán và cung cấp kịp thời những thông tin chi tiết, hữu ích về từng khoản mục chi phí phát sinh cho từng công trình, hạng mục công trình để nhà quản lý làm cơ
sở đưa ra những quyết định phù hợp về quản lý chi phí, kiểm tra, giám sát được tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra
1.1.3 Sự cần thiết của kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
Nhiệm vụ cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin tài chính cho những người ra quyết định Để thực hiện nhiệm vụ đó kế toán phải thực hiện các công việc như: ghi chép, phân loại , tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để tạo lập hệ thống thông tin
kế toán từ đó tính toán các chỉ tiêu thông tin theo yêu cầu quản lý trong và ngoài doanh nghiệp Công việc cuối cùng là cung cấp số liệu để ra quyết định
Để đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản lý ở các cấp phù hợp với mục đích sử dụng thông tin, hệ thống kế toán doanh nghiệp chia làm kế toán tài chính và kế toán quản trị
Những điểm giống nhau của KTTC và KTQT
Về bản chất kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống kế toán KTTC hay KTQT đều có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin kinh kế, tài chính trong doanh nghiệp
KTQT và KTTC đều cung cấp thông tin kế toán Kế toán quản trị sử dụng rộng
rãi các số liệu ghi chép của KTTC mặc dù nó vẫn được triển khai làm gia tăng thêm các số liệu này của KTTC
Trang 18KTTC và KTQT đều có trách nhiệm cung cấp thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp, kế toán tài chính liên quan đến quản lý trên toàn doanh nghiệp, còn kế toán
quản trị quản lý trên từng bộ phận cho đến người cuối cùng của tổ chức có trách nhiệm với các chi phí của doanh nghiệp
Những điểm khác nhau của KTTC và KTQT:
Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị chủ yếu phát
sinh từ việc chúng cung cấp thông tin phục vụ cho các đối tượng sử dụng khác nhau Những điểm khác nhau là:
Đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị
chủ yếu là các nhà quản trị trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính chủ yếu là các bộ phận bên ngoài doanh nghiệp không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm của thông tin: Thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm
trong tương lai và kế toán quản trị quan tâm nhiều đến tính linh hoạt, thích hợp và tốc
độ của thông tin hơn là độ chính xác tuyệt đối
Tính pháp lệnh: Báo cáo của kế toán tài chính có tính pháp lệnh cao Sổ sách báo
cáo tài chính ở mọi doanh nghiệp đều bắt buộc phải tuân theo chế độ thống nhất Ngược lại, báo cáo của kế toán quản trị là riêng có, phụ thuộc vào cách thiết kế của doanh nghiệp và có tác dụng đối với những mục tiêu để ra quyết định kinh doanh đúng đắn Mục đích và yêu cầu của kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp là phải tính toán được chi phí và giá thành cho từng công trình, hạng mục công trình, phân tích chi tiết được kết quả của từng công trình, hạng mục công trình đó, tập hợp các dữ liệu cần thiết để phác hoạ, lập kế hoạch sản xuất cho tương lai Ngoài ra, kế toán quản trị còn phải tính toán nhu cầu ngoài thị trường nhằm có kế hoạch ổn định giá trong quá trình sản xuất và đưa ra các biện pháp nhằm làm giảm chi phí theo hướng có lợi nhất
Từ đó, có thể nói kế toán quản trị hay cụ thể là kế toán quản trị chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm xây lắp là một công cụ, một phương pháp xử lý các dữ liệu về hoạt động của sản xuất và tính giá thành của các doanh nghiệp xây lắp nhằm đạt được các mục tiêu dưới đây:
Trang 19- Xác lập phương pháp phân chia thành phần chi phí của công trình, hạng mục công trình theo các khoản mục chi phí, chi tiết, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí theo từng khoản mục chi phí của từng công trình, hạng mục công trình -Thiết lập các dự toán chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình
- Kiểm soát tình hình thực hiện các dự toán chi phí và giải trình các nguyên nhân tạo ra chênh lệch giữa thực tế và dự toán
- Cung cấp các yếu tố cơ bản để làm sơ sở cho việc đưa ra các quyết định quản trị chi phí hợp lý
Từ những phân tích trên cho thấy sự cần thiết của kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp không chỉ ở góc độ thực tiễn mà cả mặt lý luận Nhu cầu này xuất phát từ vai trò quản trị của kế toán quản trị trong việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp
Về mặt lý luận: Do các doanh nghiệp xây lắp hiện nay chưa có nhận thức đúng về
vai trò, bản chất, sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, do vậy chưa
có một văn bản pháp lý nào về chế độ, thể lệ kế toán ghi nhận có một loại kế toán cần thiết cho quản trị doanh nghiệp là kế toán quản trị Mặc dù thông tin kế toán quản trị cung cấp xuất phát từ yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp và việc ghi chép
kế toán quản trị có tính độc lập và không hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc, chuẩn mực, văn bản quy định của Nhà nước về kế toán, song cần thiết phải có tài liệu hướng dẫn tổ chức kế toán quản trị cho các doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn: Cùng với nhận thức chưa đầy đủ về kế toán quản trị nên trên thực
tế các nhà quản trị chưa thấy rõ tác dụng to lớn của những thông tin phục vụ ra quyết định
để điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh một cách kịp thời hiệu quả mà những thông tin đó không chỉ là thông tin chỉ được trình bày trên báo cáo tài chính
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất, giá thành trong tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất , giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.1.1 Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS1), chi phí là các yếu tố làm giảm lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các khoản tiền chi ra hoặc giảm tài sản, hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không liên quan đến các khoản rút vốn Ngoài các chi phí phát sinh trong hoạt
Trang 20động kinh doanh thông thường, theo chuẩn mực kế toán quốc tế, các khoản lỗ và thiệt hại từ các hoạt động khác cũng được tính vào chi phí của doanh nghiệp
Kế toán tài chính trong doanh nghiệp xây lắp cho rằng chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ
ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Như vậy theo quan điểm này thì chi phí của doanh nghiệp phải được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và thu nhập, chỉ được xác định trên toàn doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch toán
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị có quan điểm riêng về chi phí sản xuất của doanh nghiệp đó là: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải được bù đắp bằng thu nhập của doanh nghiệp Theo quan điểm của kế toán quản trị, chi phí không ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu mà được ghi nhận ở thời điểm chi tiêu cho sản xuất xây lắp các công trình, hạng mục công trình Những khoản chi tiêu phát sinh trong doanh nghiệp nhưng không liên quan đến quá trình sản xuất xây lắp có nguồn vốn riêng bù đắp thì không tính vào chi phí của doanh nghiệp
Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong lĩnh vực hoạt động sản xuất xây lắp, nó là bộ phận cơ bản để hình thành giá thành sản phẩm xây lắp Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại có nội dung, công dụng và tính chất khác nhau, do đó việc nhận diện và phân loại chi phí cho các mục đích khác nhau theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp là cơ sở của các quyết định
đúng đắn trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
* Theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí để chia chi phí sản xuất xây lắp thành các yếu tố chi phí Các chi phí sản xuất có chung nội dung kinh tế được xếp vào một yếu tố chi phí, không phân biệt mục đích, công dụng của chi phí đó thế nào Toàn bộ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành:
- Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiện liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp
Trang 21- Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương (tiền công) và các khoản trích BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ tính trên tiền lương của công nhân sản xuất, công nhân
sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý ở các tổ, đội, bộ phận thi công
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là số tiền trích khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm khấu hao máy thi công và TSCĐ khác sử dụng cho hoạt động sản xuất và phục vụ sản xuất ở các tổ, đội, bộ phận thi công
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài sử dụng vào quá trình sản xuất xây lắp của doanh nghiệp
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất xây lắp ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố trên và được thanh toán bằng tiền Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí cho biết trong một kỳ doanh nghiệp đã chi ra bao nhiêu, cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, là căn cứ số liệu cung cấp để lập thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp, phục vụ cho việc phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí
* Theo mục đích và công dụng:
Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có mục đích công dụng giống nhau được xếp chung vào cùng một khoản chi phí không cần xét đến chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào Chi phí sản xuất xây lắp được phân chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí về các loại vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo) cần thiết sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất chế tạo sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí về tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất thường xuyên (phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm) của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp công trình bao gồm: chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy và phục vụ máy thi công, chi phí nhiên liệu và động lực dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí di chuyển, tháo lắp máy thi công…
Trang 22- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí trực tiếp khác ngoài các khoản chi phí trên phát sinh ở tổ, đội, công trường xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý đội, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công, khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của tổ, đội và chi phí khác liên quan tới hoạt động của tổ, đội
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành…
* Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí quan hệ trực tiếp đến từng đối tượng chịu phí (từng công trình, hạng mục công trình …) và được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí đó như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và một bộ phận chi phí sản xuất chung phát sinh gắn liền với công trình, hạng mục công trình
- Chi phí gián tiếp: Là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí, để xác định chi phí cho từng đối tượng cần phải dùng phương pháp phân bổ gián tiếp theo tiêu thức phân bổ thích hợp Trong doanh nghiệp xây lắp có một bộ phận chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình, kế toán doanh nghiệp sẽ dùng các tiêu thức phân bổ phù hợp như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp… để phân bổ các chi phí trên cho các công trình, hạng mục công trình cụ thể
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí
* Theo mối quan hệ với khối lượng hoạt động:
Cách phân loại chi phí này còn được gọi là phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí Theo cách phân loại này tổng chi phí được phân thành biến phí, định phí
và chi phí hỗn hợp
Trang 23- Biến phí (Chi phí biến đổi): Là những chi phí mà tổng số thay đổi tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động Do vậy, xét về mặt lý thuyết, sự biến động của chi phí trong mối quan hệ với khối lượng hoạt động có thể xẩy ra các trường hợp:
+ Tổng biến phí thay đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với khối lượng hoạt động thực hiện, còn biến phí tính cho một đơn vị khối lượng hoạt động thì không thay đổi Biến phí trong trường hợp này được gọi là biến phí tỷ lệ
+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng khối lượng hoạt động, vì vậy biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng cũng tăng lên Trường hợp này xẩy ra khi cường độ lao động vượt quá mức bình thường, hiệu lực của các yếu tố sản xuất giảm
đi hoặc có sự tăng thêm khối lượng sản phẩm, đòi hỏi phải tăng cường nhiều hơn các chi phí sản xuất
+ Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động, vì vậy biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng hoạt động giảm xuống Trường hợp này xẩy ra khi tăng khối lượng hoạt động đã tạo điều kiện để sử dụng tốt hơn các yếu tố của quá trình sản xuất
Trong xây lắp, biến phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công Một đặc điểm của ngành xây lắp là trong định mức do nhà nước quy định, chi phí sản xuất chung được tính theo tỷ lệ nhất định so với chi phí trực tiếp Vì vậy, một bộ phận của chi phí sản xuất chung cũng được coi là biến phí bao gồm: chi phí vật liệu phụ, lao động gián tiếp, chi phí nhiên liệu
- Định phí (Chi phí cố định hay chi phí bất biến): Là những chi phí mà tổng số
không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi còn chi phí tính cho một khối lượng hoạt động thì thay đổi Trong định phí lại có thể phân thành: định phí tuyệt đối, định phí tương đối, định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc
Trong quản trị doanh nghiệp cần phân biệt các loại định phí sau:
+ Định phí tuyệt đối: Là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi
của khối lượng hoạt động, do đó nếu khối lượng hoạt động thay đổi theo chiều tăng lên thì định phí trung bình đơn vị khối lượng hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại Ví dụ như: chi phí thuê đất và nhà xưởng làm lán trại thi công, chi phí khấu hao máy móc thiết bị tại công trường theo phương pháp đường thẳng, tiền lương cố định (trả theo thời gian) của nhân viên quản lý đội xây dựng…
Trang 24+ Định phí tương đối: Là định phí không thể thay đổi khi khối lượng hoạt động
thay đổi trong phạm vi phù hợp, nhưng sẽ thay đổi khi khối lượng hoạt động thay đổi vượt quá giới hạn nhất định Trường hợp này xẩy ra khi các yếu tố sản xuất tiềm tàng
đã khai thác hết, muốn tăng khối lượng hoạt động cần bổ sung đầu tư các khả năng sản xuất tiềm tàng mới Với trường hợp này, khối lượng sản xuất sản phẩm không phải là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến độ lớn của định phí sản xuất mà quy mô sản xuất cần thiết phải thay đổi khả năng trữ lượng và năng lực sản xuất
+ Định phí bắt buộc: Là định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng vì
chúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức cơ bản của một doanh nghiệp Định phí bắt buộc có bản chất sử dụng lâu dài nên khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định, các nhà quản trị doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng vì một khi đã quyết định thì doanh nghiệp phải gắn chặt với quyết định đó trong một thời gian khá lâu dài Mặt khác định phí bắt buộc lại có đặc điểm là không thể tuỳ tiện cắt bỏ trong một thời gian ngắn vì nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh lợi và mục đích lâu dài của doanh nghiệp Vì vậy, cho dù mức độ hoạt động có bị suy giảm hoặc bị đình trệ trong một thời kỳ nào đó thì nhà quản trị vẫn phải giữ nguyên định phí bắt buộc không được thay đổi nếu vẫn muốn theo đuổi và kỳ vọng đạt được mục đích lâu dài của doanh nghiệp mình
+ Định phí không bắt buộc : Là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng
bằng các quyết định của nhà quản trị Kế hoạch của các định phí tuỳ ý là ngắn hạn, thường là một năm và các định phí tuỳ ý này có thể cắt giảm được trong những trường hợp đặc biệt cần thiết Ví dụ: như chi phí quảng cáo về công trình mà doanh nghiệp đang xây dựng, chi phí đào tạo bồi dưỡng công nhân, nhân viên kỹ thuật công trình, chi phí nghiên cứu phát triển vật liệu xây dựng mới…
- Chi phí hỗn hợp: Là chi phí mà bản thân nó gồm cả hai yếu tố biến phí và định
phí Trong mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, song khi vượt qua ngưỡng đó thì nó lại thể hiện đặc tính của biến phí, ví dụ như chi phí điện thoại, chi phí tiền lương khoán cho Ban điều hành… Vì vậy, chi phí hỗn hợp mang đặc tính của cả hai loại định phí và biến phí nên khi lập dự toán chi phí thì cần tách chi phí hỗn hợp thành hai bộ phận riêng biệt định phí và biến phí bằng cách
sử dụng phương pháp phân tích chi phí như phương pháp cực đại, cực tiểu, phương pháp bình phương bé nhất
Trang 25Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho các nhà quản trị có thể hoạch định kế hoạch, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch và ra các quyết định cần thiết Cách phân loại này giúp cho các nhà quản trị có thể nhìn nhận và khai thác hết khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp mình Bên cạnh đó việc phân biệt chi phí của doanh nghiệp ra thành biến phí và định phí còn giúp các nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí
+ Đối với biến phí: Phương pháp chính là tiết kiệm tổng biến phí và biến phí đơn vị + Đối với định phí: Cần phấn đấu nâng cao hiệu lực của định phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
* Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
Căn cứ vào thẩm quyền các cấp ra quyết định chi phối đến chi phí, chi phí sản xuất được chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó có thẩm
quyền ra quyết định
- Chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó
không có thẩm quyền chi phối ra quyết định
Việc phân biệt chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được có ý nghĩa quan trọng đối với việc lập báo cáo kết quả bộ phận Về nguyên tắc khi xác định kết quả của từng bộ phận cá biệt trong doanh nghiệp chỉ tính đến các chi phí bộ phận
đó kiểm soát được
* Theo yêu cầu của việc lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh:
Theo cách phân loại này, chi phí được phân ra thành:
- Chi phí cơ hội: Là chi phí lớn nhất mà doanh nghiệp phải bỏ khi chọn phương
án hành động này thay vì phương án và hành động khác Ngoài ra các chi phí sản xuất
đã được tập hợp, phản ánh trên hệ thống sổ kế toán, trước khi chọn các phương án, nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội do những yếu tố kinh doanh đó có thể sử dụng theo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho họ
- Chi phí chênh lệch: Là những chi phí có ở phương án này nhưng không có hoặc
chỉ có ở một phần của phương án khác, chi phí chênh lệch là một căn cứ quan trọng để lựa chọn phương án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh
Trang 26- Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu bất kể đã lựa
chọn phương án nào hay hành động nào Do đó chi phí chìm có ở mọi phương án nên không có tính chênh lệch và không phải xét đến khi so sánh lựa chọn phương án, hành động tối ưu
Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí đều có tác dụng riêng nhưng chúng luôn hỗ trợ, tác động, bổ sung cho nhau để phục vụ yêu cầu quản lý chung của doanh nghiệp sao cho đạt hiệu quả cao nhất
1.2.1.3 Giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn tộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hoá và chi phí khác thể hiện bằng tiền mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình theo quy định
Sản phẩm xây lắp có thể là khối lượng công việc hoặc giai đoạn công việc có dự toán riêng, có thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành Khác với doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt, mỗi hạng mục công trình, công trình, hay khối lượng xây lắp khi đã hoàn thành đều có giá thành riêng
Để thấy rõ bản chất kinh tế của giá thành sản phẩm, cần phân biệt giữa giá thành sản phẩm với chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất biểu hiện sự hao phí còn giá thành sản phẩm biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất và quá trình chi phí Giá thành và chi phí là hai mặt thống nhất của cùng một quá trình vì vậy chúng giống nhau về chất Giá thành và chi phí sản xuất đều bao gồm các loại chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về lượng
Chi phí sản xuất thể hiện những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một kỳ (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí đó có liên quan đến sản phẩm đã hoàn thành hay chưa Giá thành sản phẩm là chi phí tính cho một công trình, hạng mục công trình hay khối lượng công việc xây lắp hoàn thành theo quy định Giá thành sản phẩm xây lắp còn có thể bao gồm cả chi phí sản xuất của khối lượng dở dang đầu kỳ và không bao gồm chi phí của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được chuyển sang kỳ sau
Trang 271.2.1.4.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong xây lắp cần phân biệt các loại giá thành công tác xây lắp sau:
- Giá thành dự toán: Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp
công trình, hạng mục công trình Giá thành dự toán được xác định theo định mức và khung giá quy định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị
dự toán công trình ở phần thu nhập chịu thuế tính trước (Thu nhập chịu thuế tính trước được tính theo định mức quy định)
Giá thành dự toán của
- Lãi định mức
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định từ những điều kiện cụ thể của
mỗi doanh nghiệp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn gía áp dụng trong doanh nghiệp dựa vào năng lực thực tế của doanh nghiệp xây lắp Giá thành kế hoạch được xác định nhằm định ra mục tiêu tiết kiệm chi phí so với giá thành dự toán và là căn cứ để doanh nghiệp xây lắp xác định giá bỏ thầu trong việc đấu thầu công trình
Giá thành kế hoạch của
toán theo kế hoạch
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở đặc điểm kết
cấu công trình, phương pháp tổ chức thi công theo các định mức chi phí đã đạt được của doanh nghiệp xây lắp ở thời điểm bắt đầu thi công công trình Vì vậy, giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức và chi phí đạt được trong quá trình thi công Giá thành định mức được tính toán trước khi tiến hành sản xuất thi công công trình, là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp xây lắp, là thước đo chuẩn để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất xây lắp, giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã thực hiện trong quá trình hoạt động thi công công trình nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí
thực tế đã phát sinh và tập hợp trong kỳ của công trình, hạng mục công trình Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được khi kết thúc quá trình thi công xây lắp Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp
Trang 28trong việc tổ chức và sử dụng các công nghệ để thực hiện quá trình sản xuất thi công,
là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp 1.2.2 Xây dựng định mức chi phí và lập dự toán chi phí sản xuất
Lập dự toán chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống kế toán quản trị doanh nghiệp, nó là một khâu trong chu kỳ hoạch định, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản trị doanh nghịêp Quá trình dự toán chi phí sản xuất ở doanh nghiệp rất phức tạp, bởi lẽ đó là mối quan hệ với định mức chi phí, là sự liên kết các mục tiêu ở từng khâu của quá trình kinh doanh Việc dự toán chi phí sản xuất đúng hay không, có liên kết phù hợp và sát với khả năng, điều kiện của doanh nghiệp hay không, sẽ chi phối rất nhiều đến các quyết định kinh doanh và mục tiêu chung của doanh nghiệp Việc lập dự toán chi phí sản xuất phải căn cứ vào định mức chi phí Định mức chi phí sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu dự toán chi phí cho từng đơn vị dự toán ( từng đơn vị sản phẩm sản xuất ) còn dự toán được lập cho toàn bộ sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong kỳ Như vậy dự toán và định mức chi phí sản xuất có quan hệ mật thiết với nhau ảnh hưởng lẫn nhau Nếu định mức chi phí xây dựng không hợp lý, không sát với thực tế thì dự toán được lập trên cơ sở đó sẽ không có tính khả thi cao, giảm tác dụng kiểm soát thực tế
1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất
Xây dựng định mức chi phí phải tuân theo nguyên tắc chung là phải tìm hiểu xem xét một cách khách quan nghiêm túc toàn bộ tình hình thực tế thực hiện chi phí sản xuất đối với mỗi đơn vị sản phẩm về mặt hiện vật của những kỳ trước, đánh giá chất lượng sản phẩm và các vấn đề liên quan đến năng suất và hiệu quả lao động của doanh nghiệp Sau đó kết hợp với những thay đổi về thị trường, thay đổi về điều kiện kinh tế
kỹ thuật để điều chỉnh bổ sung định mức chi phí cho phù hợp với điều kiện mới và yêu cầu mới Có nghĩa là kết quả đạt được ở kỳ trước là căn cứ để dự đoán tương lai để xây dựng định mức chi phí cho kỳ tương lai phù hợp và sát với thực tế hơn Định mức chi phí là chỉ tiêu phản ánh mức hoạt động hiệu qủa cho kỳ dự toán sắp thực hiện
Định mức chi phí thường chia làm hai loại: Định mức lý tưởng và định mức thực tế
- Định mức lý tưởng được xây dựng trong điều kiện sản xuất kinh doanh hoàn hảo nhất về máy móc, thiết bị sản xuất, sự lành nghề của lao động và các điều kiện khác cũng hoàn hảo, không có sự gián đoạn trong thời gian sản xuất Thực tế điều đó
là khó đáp ứng được, do vậy định mức lý tưởng không có tính thực tế và không được
Trang 29áp dụng trong thực tế Định mức lý tưởng chỉ có ý nghĩa xem xét tham khảo khi đánh giá định mức thực tế
- Định mức thực tế là định mức được xây dựng chặt chẽ trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế và có khả năng đạt được Đối với nhà quản trị doanh nghiệp định mức thực tế là cơ sở khoa học đánh giá, so sánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh ở từng bộ phận phát hiện những chỗ không bình thường kém hiệu quả để có biện pháp khắc phục Hệ thống định mức chi phí trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm:
+ Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Để tính định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải tính được định mức giá
và định mức lượng của nguyên vật liệu
Lượng nguyên vật liệu tiêu chuẩn của một loại sản phẩm thường được các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm của doanh nghiệp tính toán trên cơ sở công nghệ sản xuất, điều kiện sản xuất có tính đến mức hao hụt cho phép
Định mức giá một đơn vị nguyên vật liệu bằng giá mua cộng với chi phí thu mua Định mức này do nhân viên kỹ thuật kết hợp với kế toán giá thành xác định
Định mức chi phí nguyên vật liệu
nguyên vật liệu
X
Định mức giá nguyên vật liệu + Định mức chi phí nhân công trực tiếp
Để tính được định mức chi phí nhân công trực tiếp cần tính được mức giá nhân công trực tiếp và định mức lượng nhân công trực tiếp tham gia sản xuất một đơn vị sản phẩm
Định mức giá nhân công trực tiếp bao gồm cả lương cơ bản, phụ cấp theo lương
và các khoản ngoài lương mà công nhân được hưởng
Định mức lượng thời gian nhân công trực tiếp sản xuất một đơn vị sản phẩm được xác định dựa trên công nghệ sản xuất sản phẩm và mức độ kỹ thuật của các công đoạn sản xuất Khi đã xác định được định mức giá nhân công trực tiếp và định mức lượng thời gian nhân công trực tiếp sẽ xây dựng được định mức chi phí lao động trực tiếp
Trang 30Định mức chi phí
Định mức giá lao động trực tiếp x
Định mức lượng lao động trực tiếp
+ Định mức chi phí sản xuất chung:
Định mức chi phí sản xuất chung xác định trên định mức biến phí và định mức định phí sản xuất chung
Định mức biến phí sản xuất chung: Được xây dựng theo định mức giá và định
mức lượng thời gian cho phép Định mức giá phản ánh biến phí của đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ Định mức thời gian phản ánh số giờ hoạt động được chọn làm căn
cứ phân bổ chi phí sản xuất chung cho một đơn vị sản phẩm
tương tự như định mức biến phí sản xuất chung
Việc lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp phải dựa trên nhiều nguồn thông tin có tính căn cứ được sử dụng một cách đồng bộ như: thông tin về kinh tế và tài chính trong nước và trên thế giới, quan hệ cung cầu hàng hoá, quan hệ tài chính với các bên hữu quan, sự đồng bộ trong điều hành các hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức và chất lượng thông tin kế toán của niên độ tài chính
đã qua cùng với khả năng phân tích, dự toán của người quản lý…cụ thể căn cứ các yếu
tố như:
- Bối cảnh kinh tế tổng quát của thị trường mà doanh nghiệp xây lắp đang hoạt động được cơ quan chuyên môn về dự báo kinh tế công bố
- Chính sách giá cả (đơn giá xây dựng, giá chuẩn…)
- Mức độ cạnh tranh trên thị trường xây lắp
- Định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, các định mức nội bộ do Tổng công ty, công ty xây dựng dựa trên các định mức mà Nhà nước ban hành phù hợp với tình hình thực tế thi công cho từng công trình
Trang 31- Mối quan hệ giữa chi phí – lợi nhuận (định mức lợi nhuận)…
Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm:
* Tổng dự toán công trình: Là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây
dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công
- Chi phí thiết bị bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và các trang thiết
bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình, chi phí vận chuyển, bảo quản, bảo dưỡng tại hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình
- Chi phí khác bao gồm chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư (điều tra, khảo sát, tư vấn đầu tư, tuyên truyền quảng cáo công trình), chi phí ở giai đoạn thực hiện đầu tư, chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng
- Chi phí dự phòng là chi phí để dự trù vốn cho các khối lượng phát sinh do thay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, khối lượng phát sinh không lường trước được, dự phòng do yếu tố trượt giá trong quá trình thực hiện dự án
* Dự toán xây lắp cho từng hạng mục công trình:
Dự toán xây lắp hạng mục công trình được xác định trên cơ sở khối lượng các loại công tác xây lắp tính toán từ bản vẽ kỹ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản (định mức xây lắp chi tiết) do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành hoặc đơn giá công trình (định mức công trình) đối với những công trình được lập đơn giá riêng, định mức các chi phí tính theo tỷ lệ % do Bộ Xây Dựng ban hành và các chế độ chính sách của nhà nước có liên quan, bao gồm:
Trang 32- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng xây lắp, định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chênh lệch về vật liệu (nếu có)
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được
lập căn cứ vào khối lượng công tác xây lắp,định mức thời gian xây dựng và định mức
theo đơn giá giờ công trực tiếp
- Dự toán chi phí sử dụng máy thi công: Được lập dựa trên cơ sở dự toán khôí
lượng công tác xây lắp, định mức chi phí máy thi công và hệ số điều chỉnh chi phí máy
thi công
- Dự toán chi phí sản xuất chung: Đây là một khoản mục chi phí gián tiếp đối với
từng công trình, hạng mục công trình nên thông thường dự toán chi phí sản xuất chung tính cho các công trình, hạng mục công trình được căn cứ vào định mức chi phí chung theo quy định hiện hành của Nhà nước (đối với trường hợp dự án chỉ có một hạng mục xây lắp) Còn đối với dự án có nhiều hạng mục xây lắp thì sau khi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án sẽ phân bổ chi phí chung của toàn bộ dự án cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phí trực tiếp của từng hạng mục công trình
Trang 33- Dự toán giá thành sản phẩm xây lắp: được căn cứ vào dự toán các khoản mục
chi phí như: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí phân công trực tiếp, dự toán chi phí máy thi công, dự toán chi phí sản xuất chung
1.2.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
Để thực hiện được quá trình kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp với mô hình kết hợp kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng một bộ máy, bộ
phận kế toán phải thực hiện các nội dung cơ bản như: tổ chức hạch toán ban đầu; tổ
chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán; tổ chức hệ thống sổ kế toán quản trị, tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị và phân tích mối quan hệ doanh thu – chi phí – lợi nhuận
1.2.3.1 Tổ chức hạch toán ban đầu:
Bên cạnh việc sử dụng hệ thống chứng từ bắt buộc để phục vụ kế toán tài chính,
xử lý và cung cấp các thông tin cho việc lập báo cáo tài chính, để phục vụ cho mục đích kế toán quản trị, các doanh nghiệp xây lắp có thể thiết kế thêm các chứng từ chi tiết phù hợp, phản ánh đầy đủ các yếu tố, nội dung để phục vụ cho việc thu nhận, xử lý
và hệ thống hoá thông tin thực hiện phục vụ cho việc lập báo cáo quản trị theo yêu cầu
quản lý của doanh nghiệp
Đối với kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, do đặc thù mỗi doanh nghiệp xây lắp có thể thực hiện nhiều công trình, hạng mục công trình cùng một lúc, trong đó mỗi công trình, hạng mục công trình có thể được thực hiện bởi nhiều đơn
vị thi công khác nhau mà yêu cầu quản trị đặt ra là cần phải có các thông tin chi tiết về từng khoản mục chi phí của từng công trình, hạng mục công trình hay của từng bộ phận, đơn vị thi công Mặt khác trong các doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng cơ chế khoán thi công giữa doanh nghiệp với các xí nghiệp trực thuộc, giữa xí nghiệp với các tổ đội thi công, vì vậy, tại các doanh nghiệp xây lắp có thể tổ chức chứng từ ban đầu theo các cách khác nhau, cụ thể:
* Nếu đơn vị nhận khoán không tổ chức kế toán riêng ( hạch toán phụ thuộc):
- Tại đơn vị nhận khoán: Đơn vị nhận khoán thu thập, kiểm tra, phân loại ban
đầu các chứng từ về các chi phí sản xuất kinh doanh cho từng công trình, hạng mục công trình (trường hợp đơn vị nhận khoán thi công nhiều công trình một lúc) và chuyển về phòng kế toán để xử lý, ghi sổ và báo cáo
Trang 34- Tại đơn vị giao khoán: Có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ , xử lý các
chứng từ về chi phí sản xuất kinh doanh cho từng đơn vị nhận khoán theo từng công trình cụ thể như:
+ Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : tổ chức chứng từ tập hợp chi phí theo
từng yếu tố chi phí, ngoài ra còn tổ chức tập hợp theo địa điểm phát sinh chi phí (công trình, hạng mục công trình), theo đối tượng có liên quan (bộ phận, tổ đội, đơn vị thi công)
+ Đối với chi phí nhân công trực tiếp: tổ chức chứng từ tập hợp chi phí theo
từng đối tượng chịu phí có liên quan (công trình, hạng mục công trình thi công), trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được như lương phụ, phụ cấp… thì có thể tổ chức tập hợp chung, sau đó lựa chọn các tiêu thức thích hợp như chi phí tiền công định mức, giờ công định mức, giờ công thực tế… để phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan
+ Đối với chi phí máy thi công: Có thể tổ chức chứng từ tập hợp chi phí theo
từng công trình, hạng mục công trình hoặc cũng có thể tập hợp chung rồi căn cứ vào chi phí định mức, bảng giá định mức ca máy để phân bổ gián tiếp cho các công trình, hạng mục công trình
+ Đối với chi phí sản xuất chung: Trong kế toán quản trị loại chi phí sản xuất này
thường được tổ chức tập hợp chứng từ theo từng địa điểm phát sinh chi phí Trong trường hợp dự án chỉ có một hạng mục xây lắp thì cần tổ chức chứng từ tập hợp chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình, còn đối với dự án có nhiều hạng mục xây lắp thì tổ chức chứng từ tập hợp chi phí chung cho từng hạng mục xây lắp theo tỷ trọng chi phí trực tiếp của từng hạng mục công trình
* Nếu đơn vị nhận khoán đã phân cấp quản lý kinh tế, tài chính và hạch toán độc lập thì:
- Tại đơn vị nhận khoán: Tiến hành thu thập toàn bộ các chứng từ phục vụ công
tác hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh, kiểm tra, phân loại, xử lý các chứng từ tương tự như trường hợp đơn vị giao khoán trong trường hợp đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc
- Tại đơn vị giao khoán: Tiến hành thu thập, kiểm tra, xử lý các chứng từ có liên
quan đến công nợ phải thu, phải trả nội bộ, tình hình thanh toán đối với từng đơn vị nhận khoán theo từng công trình, hạng mục công trình cụ thể
Trang 351.2.3.2 Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán
Việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh chi tiết chi phí nhằm hệ thống hoá và cung cấp thông tin chi tiết về chi phí phải dựa vào hệ thống tài khoản kế toán sử dụng trong kế toán tài chính để mở các tài khoản chi tiết – tài khoản cấp 2,3,4…, cần thiết Tuỳ thuộc và yêu cầu và trình độ quản lý, cần thông tin chi tiết đến mức độ nào mà doanh nghiệp mở tài khoản chi tiết cho phù hợp Việc thiết kế tài khoản trong kế toán quản trị phải đảm bảo đơn giản, tiện lợi cho công tác kế toán
Do đặc thù của doanh nghiệp xây lắp là mỗi doanh nghiệp xây lắp có thể thực hiện nhiều công trình, hạng mục công trình cùng một lúc, trong đó mỗi công trình, hạng mục công trình có thể được giao khoán thực hiện thi công bởi nhiều đơn vị thi công khác nhau Để tổ chức kế toán chi tiết chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp phục vụ cả cho yêu cầu quản trị, doanh nghiệp xây lắp sử dụng các tài khoản sau:
* Tại đơn vị giao khoán:
- Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc: Đơn vị giao khoán có trách nhiệm
tổ chức hạch toán tổng hợp, hạch toán chi tiết toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành, bàn giao Vì vậy tại đơn vị giao khoán được sử dụng các tài khoản: TK 621, 622, 623, 627, 154, 632
+ Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng yếu tố chi phí và theo từng công trình, hạng mục công trình xây lắp
+ Tài khoản 622, 623, 627 được mở chi tiết theo từng tổ đội, đơn vị thi công và theo từng công trình, hạng mục công trình xây lắp
+ Tài khoản 154, 632 được mở chi tiết theo đơn vị, tổ đội thi công, theo từng công trình và hạng mục công trình xây lắp
Ngoài ra kế toán đơn vị giao khoán còn phải mở TK 141.1 – tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ chi tiết chi từng đơn vị thi công theo từng công trình, hạng mục công trình cụ thể phản ánh các khoản tạm ứng cho đơn vị nhận khoán để thực hiện giá trị khối lượng khoán xây lắp nội bộ và quyết toán giá trị tạm ứng được duyệt
- Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán độc lập: tại đơn vị giao khoán không mở các
tài khoản chi phí TK 621, 622, 623, 627 cho các công trình, hạng mục công trình đã giao khoán mà đơn vị giao khoán chỉ mở TK 154 chi tiết cho các công trình, hạng mục công trình khi nhận được giá trị khối lượng xây lắp của công trình đơn vị nhận khoán
Trang 36bàn giao Ngoài ra đơn vị còn phải mở TK 1361 phản ánh khoản phải thu về giá trị xây lắp giao khoán nội bộ
* Tại đơn vị nhận khoán:
- Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc: Đơn vị nhận khoán không mở các
tài khoản hạch toán chi phí mà chỉ theo dõi chi tiết về tình hình nhập – xuất – tồn vật
tư, về tình hình thanh toán lương và các khoản chi phí khác phát sinh
- Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán độc lập: Kế toán đơn vị nhận khoán mở các
tài khoản chi phí TK 621, 622, 623, 624, 154 tương tự như đơn vị giao khoán (trường hợp bộ phận nhận khoán hạch toán phụ thuộc) Ngoài ra kế toán đơn vị nhận khoán còn phải mở thêm TK 3361 để phản ánh cung cấp thông tin về khoản phải trả về giá trị khối lượng xây lắp nhận khoán nội bộ
Việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh chi tiết chi phí, giá thành công trình hạng mục công trình theo yêu cầu quản trị như trên vừa đảm bảo cung cấp thông tin chi tiết theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu giữa thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế toán biểu hiện cụ thể trong từng doanh nghiệp xây lắp
1.2.3.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán quản trị
Hệ thống sổ kế toán trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm 2 loại sổ:
Sổ kế toán tổng hợp để ghi chép phản ánh các chỉ tiêu kinh tế tài chính ở dạng tổng quát (sổ kế toán tổng hợp được mở cho các tài khoản cấp 1)
Sổ kế toán chi tiết ghi chép chi tiết số liệu được ghi ở sổ kế toán tổng hợp nhằm
hệ thống hoá thông tin kế toán cụ thể từng công trình, hạng mục công trình, theo từng
bộ phận, đơn vị, đội thi công phục vụ cho quản trị doanh nghiệp
Như vậy hệ thống sổ kế toán theo mô hình kết hợp phục vụ cho kế toán quản trị chính là hệ thống sổ kế toán chi tiết của kế toán tài chính Tuỳ theo yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết phục vụ cho việc xử lý thông tin theo yêu cầu quản trị mà kế toán quản trị có thể thiết kế các sổ chi tiết chi phí Tuy nhiên các sổ kế toán chi tiết này phải đảm bảo theo dõi được chi tiết từng khoản mục chi phí, yếu tố chi phí kết hợp với việc nhận dạng chi phí biến đổi và chi phí cố định từng công trình, hạng mục công trình…, phân tích chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình xác định phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để phục vụ yêu cầu quản lý chi phí,
Trang 37đáp ứng yêu cầu xác định đúng đắn giá thành của từng công trình, hạng mục công trình theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp
Sổ kế toán chi tiết chi phí được lập trên nguyên tắc::
- Những chi phí có liên quan trực tiếp đến từng công trình, hạng mục công trình khi phát sinh sẽ được phản ánh trực tiếp và sổ kế toán chi tiết tương ứng cho từng công trình, hạng mục công trình đó
- Đối với những chi phí có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình
mà không thể tập hợp trực tiếp được thì khi phát sinh được tập hợp chung Định kỳ phân bổ chi phí này do các công trình, hạng mục công trình liên quan
1.2.3.4 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành
Báo cáo kế toán quản trị là sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán quản trị nên việc tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị quyết định đến chất lượng, hiệu quả của thông tin do kế toán quản trị cung cấp Tuỳ theo sự phân cấp quản lý và yêu cầu quản
lý từng chỉ tiêu để có thể xác định nội dung và thiết kế mẫu biểu kế toán, lựa chọn phương pháp lập báo cáo phù hợp Báo cáo quản trị về chi phí trong doanh nghiệp xây lắp phải được thiết kế thành dạng thông tin nhiều chiều và phù hợp với yêu cầu sử dụng thông tin của các cấp quản lý, khi xây dựng báo cáo phải đảm bảo những yêu cầu
cơ bản sau đây:
- Các thông tin trên báo cáo phải được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống ra quyết định
- Các chỉ tiêu báo cáo phải có liên quan chặt chẽ, lô gíc
- Các chỉ tiêu số liệu thực tế, dự toán, định mức phải so sánh được với nhau để giúp nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng thông tin thực hiện được chức năng kiểm soát các hoạt động
- Hình thức kết cấu các báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tuỳ thuộc và tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể
Cụ thể trong các doanh nghiệp xây lắp có thể xây dựng các báo cáo như:
- Báo cáo cung cấp thông tin cho xây dựng kế hoạch
Báo cáo nhằm phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí nhằm cung cấp thông tin một cách có hệ thống toàn bộ các mục tiêu kế hoạch chi phí giá thành
- Báo cáo đánh giá trách nhiệm của quản lý: nhằm kiểm tra đánh giá các trung
tâm trách nhiệm là : trung tâm chi phí, trung tâm kinh doanh và trung tâm đầu tư Với
Trang 38trung tâm chi phí trách nhiệm báo cáo của trung tâm này là báo cáo biến động giữa chi phí thực hiện so với dự toán và thường có ba cấp: tổ thi công, đội thi công và doanh nghiệp với các cấp quản lý tương ứng là tổ trưởng, đội trưởng và giám đốc phụ trách sản xuất
- Báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá: Đây chính là các
báo cáo chi phí được các doanh nghiệp xây lắp nhằm kiểm tra tình hình thực hiện dự toán chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp Các báo cáo này phải được lập riêng cho từng đơn vị nội bộ để kiểm soát tình hình thực hiện chi phí dự toán của bộ phận theo kết cấu tương ứng với phương pháp xây dựng dự toán của bộ phận đó Bên cạnh đó, đối với những chi phí chiếm tỷ trọng lớn
và ẩn chứa nhiều loại định mức khác nhau như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần phải lập riêng báo cáo những chi phí đó
+ Báo cáo chi phí sản xuất kinh doanh xây lắp (theo công trình, hạng mục công trình, theo các khoản mục và yếu tố chi phí, theo chi phí cố định và chi phí biến đổi) + Báo cáo giá thành sản phẩm xây lắp
+ Báo cáo kết quả kinh doanh bộ phận dạng số dư đảm phí…
- Báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Tuỳ theo nhu cầu
thông tin của từng cấp độ quản trị mà có thể thiết kế các báo cáo:
+ Báo cáo phương hướng, trọng tâm kinh doanh
+ Báo cáo định mức chi phí
+ Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí
+ Báo cáo sản lượng hàng năm
+ Báo cáo giá thành công trình, hạng mục công trình
1.2.3.5 Phân tích mối quan hệ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong các doanh nghiệp xây lắp
Thông tin kế toán thu thập có thể rất nhiều và đa dạng, để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý, kế toán quản trị cần phải lựa chọn những thông tin thích hợp trên cơ sở đó tổ chức phân tích theo yêu cầu của quản lý Tổ chức phân tích các thông tin là một nội dung của công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm: phân tích thông tin thực hiện, phân tích thông tin dự toán, đặc biệt là việc phân tích mối quan hệ doanh thu – chi phí – lợi nhuận Mối qua hệ giữa ba nhân tố này được thể hiện qua phương trình kinh tế cơ bản sau:
Trang 39Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Việc ghi nhận, xem xét các yếu tố chi phí, doanh thu có thể xảy ra một trong hai trường hợp sau đã được quy định rõ ràng trong chuẩn mực kế toán số 15 về hợp đồng xây dựng cụ thể:
- Nếu trong trường hợp xây dựng nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu và chi phí của công trình theo hợp đồng đó được ghi nhận tương ứng với phần phân công việc đã hoàn thành cho nhà thầu tự xác định
- Nếu trong hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh thu và các chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận Chi phí bao gồm chi phí cố định, chi phí biển đổi và chi phí hỗn hợp
Để phân tích mối quan hệ C-V-P kế toán sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Số dư đảm phí = Doanh thu – Chi phí biến đổi
Số dư đảm phí là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi chi phí biến đổi tạo nên doanh thu đó Phần số dư đảm phí sau khi đã trang trải cho phần định phí trong kỳ
sẽ thu được lãi thuần của đơn vị
Số dư đảm phí chỉ ra cho doanh nghiệp thấy khi khối lượng công tác xây lắp thay đổi sẽ làm cho doanh thu thay đổi, sự thay đổi đó ảnh hưởng như thế nào đến lãi thuần
Tỷ lệ số dư đảm phí = Tổng doanh thu / Tổng số dư đảm phí
Điểm hoà vốn: Là điểm mà tại đó doanh thu tiêu thụ vừa đủ bù đắp chi phí hoạt
động Là điểm mà tổng số dư đảm phí bằng tổng định phí hoạt động
Như vậy, nếu nhà quản trị nắm vững mỗi quan hệ giữa doanh thu – chi phí – lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác các khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc ra các quyết định lựa chọn gói thầu (từng công trình, hạng mục công trình) hay quyết định điều chỉnh về hoạt động kinh doanh xây lắp như giá
bỏ thầu, nhận thầu từng công trình, hạng mục công trình, các khoản chi phí bỏ ra…nhằm tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp
1.3 MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY LẮP Quá trình phát triển kế toán tài chính và kế toán quản trị trong nền kinh tế thị trường cho ta thấy kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai loại hình kế toán được
Trang 40tách biệt nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng khác nhau Để có được các thông tin tách biệt này thì công tác tổ chức kế toán của doanh nghiệp phải thực hiện đồng thời cả nhiệm vụ của kế toán tài chính và kế toán quản trị
Để tổ chức kế toán quản trị phù hợp với loại hình của từng doanh nghiệp đặc biệt
là với doanh nghiệp xây lắp, trước hết các nhà quản lý cần phải xem xét đến 4 nhân tố
cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức kế toán quản trị tại doanh nghiệp, các nhân tố đó là:
- Loại hình kế toán áp dụng:
Đây là nhân tố cơ bản có tính quyết định đến mô hình tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp Trong các loại hình kế toán cơ bản thì hai loại hình kế toán được
áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới đó là kế toán tĩnh ( như Pháp, Đức ) và
kế toán động ( như Mỹ, Anh…)
- Loại hình kinh doanh, quy mô, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp
Kế toán quản trị theo dõi chi tiết, cụ thể từng mặt từng hoạt động của doanh nghiệp, chính vì vậy mà chức năng kinh doanh khác nhau ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp – doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại dịch vụ – có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức kế toán quản trị doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp sản xuất, với chức năng kinh doanh chính là sản xuất sản phẩm, vì vậy kế toán quản trị trong loại hình doanh nghiệp này đặt trọng tâm chủ yếu là cung cấp thông tin cụ thể về các yếu
tố sản xuất, chi phí sản xuất và tổng sản phẩm Còn với doanh nghiệp thương mại chức năng kinh doanh mua bán các loại hàng hoá dịch vụ, bộ phận kế toán quản trị đặt trọng tâm cung cấp thông tin cụ thể về quá trình mua hàng, bán hàng, dự trữ hàng hoá…
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng thì việc tổ chức kế toán quản trị rất phức tạp, đòi hỏi phải có trình độ cao thì mới có thể đánh giá được trách nhiệm, trình độ quản lý của từng bộ phận, từng trung tâm trong doanh nghiệp
- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, loại hình sản xuất
Doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì phải kiểm soát được thông tin về từng giai đoạn công nghệ nên phức tạp hơn nhiều so với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất đơn giản, không chia nhỏ nhiều công đoạn hoặc nếu doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc hàng loạt sẽ tổ chức kế toán quản trị khác với doanh