1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình thi pháp văn học dân gian

122 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Thi Pháp Văn Học Dân Gian
Tác giả Lê Đức Luận
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể loại văn học bao gồm: Các thể thơ như: lục bát, song thất lục bát, thất ngôn…; các loại thơ như: Đường thi, thơ tự do, trường ca, truyện thơ …; các thể loại văn xuôi: tiểu thuyết, tr

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1 Thi pháp học và đặc trưng thi pháp văn học dân gian 5 1.1 Thi pháp học, lịch sử và các trường phái nghiên cứu thi pháp 5

1.4 Vấn đề xác định ranh giới các thể loại văn học dân gian 25

Chương 2 Đặc trưng thi pháp các thể loại truyện kể dân gian 34

Trang 3

2.5.2 Thi pháp nhân vật 117

Trang 4

4.2 Đặc trưng thi pháp truyện ca 199

1 Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội: Nxb KHXH.,H

2 Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội: Nxb GD., H

3 Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội: Nxb VHTT., H

4 Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội: Nxb.ĐHQG Hà Nội

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Thi pháp văn học dân gian là một môn học trong hệ thống môn học thi pháp văn học Thi pháp văn học dân gian có nhiều điểm mà thi pháp văn học trung đại và văn học hiện đại kế thừa Lúc đương thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng có bài viết “Nhà thơ học gì ở ca dao” Các nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Bính đều vận dụng thể lục bát ca dao và tục ngữ vào tác phẩm của mình Vì vậy, học tập và nghiên cứu thi pháp văn học dân gian sẽ giúp ích cho sinh viên học tập và nghiên cứu thi pháp văn học nói chung và thi pháp văn học trung đại

và hiện đại nói riêng

Giáo trình phân bố bốn chương, chương 1 nêu những đặc trưng chung của thi pháp Văn học dân gian; chương 2, 3, 4 là các phần đi vào đặc trưng thi pháp của các thể loại văn học dân gian Chúng tôi chia thi pháp các thể loại văn học dân gian theo chức năng diễn xướng Trong chương 4, chúng tôi trình bày thêm thi pháp của thể loại chèo và tuồng mà tất cả các giáo trình thi pháp hiện hành chưa đề cập đến

Chúng tôi cố gắng biên soạn giáo trình thi pháp văn học dân gian với một khối lượng tri thức phổ quát cho tất cả sinh viên các ngành văn học, văn hóa học, Việt Nam học… Vì vậy giáo trình này có phần chuyên sâu, có phần giới thiệu khái quát để sinh viên các ngành khoa học xã hội

và nhân văn có thể vận dụng cho mình tùy theo ngành học Kiến thức thi pháp văn học dân gian được đưa vào giáo trình đã được cập nhập liên tục từ các thành quả nghiên cứu thi pháp của các nhà folklore Việt Nam và thế giới

Thi pháp văn học dân gian là thi pháp của các thể loại văn học dân gian Tuy nhiên có một

số tác phẩm dân gian vẫn chưa có sự thống nhất trong nghiên cứu thể loại Điều này dẫn đến những

ý kiến không đồng nhất, thậm chí đối lập giữa các nhà nghiên cứu folklore Chúng tôi cố gắng nêu

ra những vấn đề căn bản nhất trên cơ sở tham khảo những quan điểm của các nhà nghiên cứu tiền bối Cấu trúc dung lượng các chương khác nhau vì đặc trưng nghệ thuật, quy mô thể loại và số thể loại trình trình bày trong các chương khác nhau

Giáo trình của chúng tôi có thể có những vấn đề không đồng nhất với một số giáo trình thi pháp văn học dân gian khác Sự khác biệt này chủ yếu do giáo trình chúng tôi đi sau nên có thời gian nhìn lại, cập nhập những nghiên cứu mới mà các giáo trình ra đời trước chưa có Giáo trình chắc có một số thiếu sót nhất định, chúng tôi mong các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, sinh viên góp ý kiến để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn Giáo trình ra đời nhờ sự góp ý của đồng nghiệp

tổ văn học Việt Nam và giúp đỡ tận tình, có hiệu quả của khoa Ngữ Văn và trường Đại học Sư phạm- ĐHĐN để giáo trình này được hoàn thành Tôi cũng rất trân trọng cám ơn GS.TS Nguyễn Xuân Kính, TS Phạm Viết Toàn và các anh chị đồng nghiệp đã góp ý cụ thể, chi tiết để tôi có thể chỉnh sửa giáo trình được tốt hơn

TÁC GIẢ

Chương 1

Trang 6

THI PHÁP HỌC VÀ THI PHÁP VĂN HỌC DÂN GIAN

1.1 Thi pháp học và đặc trưng thi pháp văn học dân gian

1.1.1 Thi pháp học là gì?

Thi pháp là khái niệm Hán - Việt Thi là thơ, pháp là phương pháp, biện pháp, nghĩa là phương pháp nghệ thuật sáng tác thơ Thi pháp học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, biện pháp nghệ thuật thi ca Định nghĩa của nhà lí luận văn học Nga V Girmunxki tương

đối cô đọng và khái quát: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca với tư cách là một nghệ

thuật” Ban đầu thi pháp học chỉ nghiên cứu nghệ thuật của các sáng tác dưới hình thức thơ ca

nhưng về sau khi khoa học nghiên cứu văn học phát triển cùng với sự phát triển của loại hình văn học thì Thi pháp nghiên cứu đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm văn học nói chung Các định nghĩa

khác triển khai chi tiết hơn: viện sĩ V Vinogradov: “Thi pháp là khoa học về hình thức, các dạng

thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học”; Từ điển Bách khoa văn học giản yếu Nga định nghĩa: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẫm mĩ mà chúng

sử dụng”; M.B Khrapchenko cho rằng: “Thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá nghệ thuật bằng hình tượng”1 Như vậy, có thể thấy rằng thi pháp học quan tâm nghiên cứu:

a Cấu trúc tác phẩm nghệ thuật: Bao gồm cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc văn bản nghệ thuật

Về cấu trúc ngôn ngữ, thi pháp học quan tâm nghiên cứu âm điệu, nhịp điệu, đặc điểm từ vựng, cú pháp, cấu trúc ngữ nghĩa của văn bản tác phẩm Về cấu trúc văn bản, thi pháp quan tâm đến cấu trúc tác phẩm, các phương tiện liên kết, kết cấu tác phẩm, cách tổ chức hệ thống nhân vật, cốt truyện, ý thơ, tứ thơ

b Thế giới nghệ thuật: Bao gồm nhân vật, cốt truyện, các chi tiết nghệ thuật, không gian

và thời gian nghệ thuật, hình tượng tác phẩm

c Phong cách nghệ thuật: Bao gồm nghiên cứu giọng điệu văn học, phong cách tác giả, điểm nhìn của tác giả Đối với tác phẩm dân gian là phong cách địa phương, phong cách vùng…

d Loại thể văn học và thể loại văn học: Đây là cách nhìn vừa bên ngoài (hình thức), vừa bên trong (nội dung) Thể loại văn học bao gồm: Các thể thơ như: lục bát, song thất lục bát, thất ngôn…; các loại thơ như: Đường thi, thơ tự do, trường ca, truyện thơ …; các thể loại văn xuôi: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí…; các thể văn nhật dụng… Đối với văn học dân gian là các thể loại: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, sử thi, truyện ca, ngụ ngôn, truyện cười, giai thoại, ca dao, tục ngữ, câu đố, vè, đồng dao, các loại trò diễn và sân khấu dân gian như: chèo, tuồng, cải lương…

Căn cứ vào những phương diện nghiên cứu thi pháp mà chia thi pháp thành các lĩnh vực khác nhau:

- Xét về chỉnh thể văn học, có thể có thi pháp tác phẩm, thi pháp nhà văn, thi pháp văn học dân tộc, thi pháp văn học một thời đại thời kì lịch sử

- Xét về phương tiện, phương thức nghệ thuật có: thi pháp thể loại, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian thời gian, thi pháp ngôn từ…

- Xét về cách tiếp cận, thi pháp có 3 phạm vi nghiên cứu: thi pháp học đại cương (hay thi pháp học lí thuyết), thi pháp học chuyên biệt (hay thi pháp học miêu tả) và thi pháp học lịch sử

1Trần Đình Sử (2004), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, Trần Đình Sử giới thiệu và

tuyển chọn, Nxb KHXH, H., tr.18

Trang 7

Thi pháp khác với các bộ môn lí luận văn học, mĩ học… Lí luận văn học nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn học như xã hội học, triết học, tâm lí học, các trào lưu, phong cách thời đại…

Mĩ học nghiên cứu về cái đẹp trong đời sống và trong tác phẩm nghệ thuật Nói như vậy không có nghĩa là tách bạch giữa thi pháp với các bộ môn nói trên mà chỉ là sự phân biệt tính đặc thù của

nó Thi pháp vận dụng phương pháp và kết quả nghiên cứu của lí luận và mĩ học

1.1.2 Đặc trưng thi pháp

1.1.2.1 Thi pháp thể hiện quan niệm của tác giả về thế giới và con người

Mỗi thời đại có cách quan niệm về thế giới và con người khác nhau Thời Cổ đại, thời của

ca dao cổ tích, trai gái lí tưởng là trai anh hùng, gái thuyền quyên Tiêu chuẩn về cái đẹp của người phụ nữ là:

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua Năm thương cổ yếm đeo bùa

Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng Bảy thương nết ở khôn ngoan

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh Chín thương cô ở một mình Mười thương con mắt có tình với ai

Cái đẹp của người phụ nữ gắn với tiêu chuẩn: công, dung, ngôn, hạnh Cái đẹp của nhân vật cổ tích, điển hình là Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám, cô gái có dáng hình thon thả qua chi tiết đôi giày, đức hạnh qua chi tiết thương cha (trèo cau hái cau cúng bố), công việc làm khéo tay qua chi tiết têm trầu Ngày xưa, têm trầu là một việc làm thể hiện cả công việc lẫn đức hạnh của người con gái

Cái đẹp trong thơ Trung đại là cái đẹp gắn liền với giá trị tuyệt đối, vĩnh viễn, siêu phàm của vũ trụ, lấy cái đẹp của thiên nhiên làm tiêu chuẩn Đây là vẻ đẹp của Thuý Vân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Đến thời hiện đại của thơ mới không nhìn cái đẹp của con người qua lăng kính vũ trụ mà trái lại, vẻ đẹp của con người là chuẩn mực của cái đẹp vũ trụ Vì thế, thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trần thế, xác thịt Đây là hình ảnh trăng với vẻ đẹp trần thế:

Trăng, vú mộng của muôn đời thi sĩ Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy Trăng, hoa vàng lay lắt cạnh bờ mây Trăng, đĩa ngọc giữa mâm trời huyền bí Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây Trăng, vàng rượu khiến đêm mờ chuyếnh choáng

(Ca tụng - Xuân Diệu)2

Vẻ đẹp trong thơ hiện đại đã sát với đời thường Tuy nhiên, cái đẹp nền nã, cái đẹp chân quê mà tiêu biểu nhất là thơ Nguyễn Bính lại gần gũi với ca dao, cái vẻ mộc mạc đậm chất miền Trung trong thơ Tố Hữu

2 Lê Trường Phát (2000), Thi pháp văn học dân gian, Nxb GD., tr 6-7

Trang 8

-Hệ thống biểu tượng: nhân vật biểu tượng, hình ảnh biểu tượng

-Hệ thống hình tượng: hình tượng nhân vật người, hình tượng nhân vật thần

-Hệ thống hình ảnh: hình ảnh thiên nhiên vũ trụ, hình ảnh thực vật, hình ảnh độngvật, hình ảnh đồ dùng

-Hệ thống cốt truyện: hệ thống cốt truyện của toàn bộ các thể loại, hệ thống cốt truyện của từng thể loại

-Hệ thống cấu trúc ngôn ngữ: hệ thống ngôn ngữ nhân vật, hệ thống ngôn ngữ kể chuyện,

hệ thống ngôn ngữ miêu tả, hệ thống ngôn ngữ theo thể loại

-Hệ thống các chi tiết nghệ thuật: hệ thống chi tiết về hành động nhân vật, hệ thống chi tiết

về sự kiện, hệ thống chi tiết về tình huống, hệ thống chi tiết về miêu tả nhân vật

1.1.3 Đặc trưng thi pháp VHDG

1.1.3.1 Khái niệm thi pháp VHDG

Theo Chu Xuân Diên thì: “Thi pháp VHDG là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện, về cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người…” 3 Quan niệm này quá chung chung, không phân biệt nét đặc thù của thi pháp văn học dân gian mà là đặc trưng thi pháp nói chung Lê Trường Phát thì cho rằng

“Thi pháp VHDG là thi pháp của những thể loại VHDG”.4 Quan niệm này còn sơ lược và chưa rõ, vậy thi pháp các thể loại văn học dân gian là gì, tác giả chưa đưa ra cụ thể

Cách quan niệm trên chưa nêu bật đặc trưng riêng của VHDG, theo tôi: Thi pháp VHDG

là toàn bộ các đặc điểm hình thức nghệ thuật sáng tác diễn xướng dân gian của tập thể nhân dân vừa có đặc điểm ngôn từ văn học, vừa có đặc điểm văn bản thực hành giao tiếp, là loại hình văn học phản ánh bằng ngôn ngữ giới hạn trong những khuôn mẫu định sẵn mang phong cách dân tộc, phong cách khu vực và địa phương rõ rệt, được thể hiện trong một hệ thống thể tài riêng biệt, đặc thù

Đặc trưng thi pháp văn học dân gian có những điểm chính sau đây:

- Sự kết hợp giữa ngôn từ văn học và ngôn từ giao tiếp Ngôn từ văn học là ngôn từ nghệ thuật được trau chuốt với những hình ảnh có tính biểu tượng Ngôn từ giao tiếp là ngôn từ khẩu ngữ với lối nói đối đáp trực tiếp không được chọn lọc trau chuốt

- Loại hình nghệ thuật sử dụng các kiểu cấu trúc điển hình, mô tip có sẵn Cấu trúc điển hình thường là cấu trúc cố định có giá trị biểu cảm cao Mô tip có sẵn gồm mô tip nhân vật, mô tip tình huống, mô tip sự kiện, mô tip hành động, mô tip các kiểu không gian và thời gian…

- Phong cách dân tộc và địa phương rõ nét Phong cách dân tộc là phong cách toàn dân, có tính phổ quát Phong cách địa phương là phong cách riêng của khu vực và tỉnh thành, có thể chỉ lưu truyền và thực hành trong phạm vi hẹp ở từng địa phương

- Hệ thống thể tài đặc thù Thể tài bao gồm thể loại và đề tài phản ánh Thể loại của những tác phẩm dân gian chỉ có ở loại hình văn học này, VHV không có mà nếu có thì cũng kế thừa từ VHGD Các thể loại ngụ ngôn, truyện cười, gia thoại sau này VHV cũng có nhưng kế từ VHDG còn các thể loại khác như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, câu đố, tục ngữ, ca dao, vè, đồng dao thì VHV hoàn toàn không có Ca dao mới là một dạng phổ theo ca dao cổ truyền Đề tài thể hiện

3 Chu Xuân Diên, Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”, Tạp chí Văn học, Số 5, 1981, tr.19-26

4 Lê Trường Phát (2000), Thi pháp Văn học dân gian, Nxb GD, H

Trang 9

trong VHDG chủ yếu đề tài tình yêu, gia đình, phong tục tập quán Đề tài tình yêu lứa đôi trong VHV mãi đến thời kì 1930-1945 mới có trong Thơ Mới và tác phẩm của Tự Lực văn đoàn, rồi im tiếng cho đến những năm sau 1975 bắt đầu xuất hiện trở lại Phong tục tập quán là vấn đề thể hiện đậm đặc trong VHDG, trong VHV cũng có nhưng không phổ quát

- Sử dụng các biểu tượng văn hóa Biểu tượng văn hóa là các hình ảnh biểu trưng về phong tục tập quán, tín ngưỡng, ẩm thực, tình yêu và hôn nhân…

- Nhân vật chức năng Nhân vật trong tác phẩm VHDG là dạng nhân vật thể hiện một quy ước, một quan niệm về con người theo một chuẩn mực nhất định chứ không mang tính cách cá nhân Nhân vật chức năng thường là đại diện cho một loại người, một thành phần giai cấp trong

xã hội phong kiến Mỗi thể loại có một số nhân vật chức năng riêng mang đặc trưng của thể loại

đó Như vậy, nhân vật chức năng của thần thoại khác nhân vật truyền thuyết và nhân vật các thể loại khác

1.1.3.2 Điểm tương đồng và khác biệt với văn học viết

a Điểm tương đồng với văn học viết (VHV)

Nhà thi pháp Folklore Krapxop đưa ra khái niệm thi pháp chung cho văn học: “Thi pháp với tư cách là một tổ hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật của các tác phẩm ngôn từ bao gồm: Những đặc điểm của cấu trúc tác phẩm; Hệ thống những phương tiện phản ánh…để xây dựng cuộc sống, những hình tượng về con người và tái tạo những hiện tượng khác nhau của thực tại; Những chức năng tư tưởng-thẩm mĩ của cấu trúc tác phẩm và các phương tiện thể hiện tác phẩm”.5

Đây là những đặc trưng nghệ thuật mà những loại hình văn học nào cũng có VHDG ngoài những yếu tố nghệ thuật hình thể, âm nhạc, diễn xuất thì yếu tố cơ bản nhất vẫn là nghệ thuật ngôn

từ Vì thế, quan điểm trên không chỉ đúng cho VHV mà còn đúng cho cả VHDG

b Điểm khác biệt với văn học viết

Đây là nét đặc trưng riêng của thi pháp VHDG Có thể thấy những nét riêng của thi pháp VHDG như sau:

-VHDG không có thi pháp phong cách tác giả mà chỉ có phong cách địa phương và vùng Phong cách tác giả chỉ có trong VHV, ngược lại VHV lại không có phong cách địa phương, vùng

-Thi pháp thể loại mang tính đặc thù: các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, giai thoại, ca dao, đồng dao, vè, tục ngữ, câu đố, chèo, tuồng… không có trong hệ thống thể loại VHV

- Đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ kể Đây là đặc trưng riêng của tác phẩm VHDG

mà VHV dù có chăng cũng không phải là phổ quát

- Hệ đề tài: chú trọng đề tài tình yêu, hôn nhân, phong tục tập quán, tín ngưỡng Văn học viết, các đề tài trên xuất hiện không tập trung và hệ thống như VHDG

- Tư tưởng: Từ nguyên thủy đến hiện đại, sự hợp lưu các tư tưởng…VHDG là loại hình văn học ra đời đầu tiên của xã hội loài người nên nó thể hiện những tư tưởng của người nguyên thủy, trong khi đó VHV chỉ ra đời từ thời văn học trung đại Mặt khác, VHDG là loại hình phát triển không ngừng theo thời gian nên nó mang các tư tưởng tôn giáo và tư tưởng thời trung đại và hiện đại Các tư tưởng này không biểu hiện rạch ròi mà đan xen nguyên hợp trong tác phẩm dân gian Hình thành triết lí dân gian bên cạnh tư tưởng triết học của các tôn giáo

1.2 Lịch sử nghiên cứu thi pháp

1.2.1 Nghiên cứu thi pháp ở nước ngoài

1.2.1.1 Thi pháp thời Cổ đại, Trung đại

5 Nguyễn Xuân Kính (1991), Thi pháp học và việc nghiên cứu văn học nghệ thuật dân gian, Tạp chí Văn hóa dân gian, số tháng 3, H

Trang 10

Thi pháp là môn học cổ xưa nhất của ngành nghiên cứu văn học Ban đầu thi pháp chỉ dùng cho nghiên cứu thi ca Người mở đầu cho việc nghiên cứu thi pháp là Aristoteles, thời Cổ đại Hy

Lạp (384-322 TCN) trong cuốn sách có tên là Poetics (Nghệ thuật thi ca) Công trình thi pháp đầu

tiên này gồm 26 chương, thể hiện trong 5 phần: Phần 1: nhận định chung về thơ ca, các loại hình thơ ca, cơ sở tâm lí và lịch sử của chúng; Phần 2: bi kịch; Phần 3: anh hùng ca; Phần 4: những ý kiến tản mạn về các vấn đề khác liên quan đến thơ ca; Phần 5: so sánh anh hùng ca với bi kịch Công trình của Arixtoteles không chỉ mở đầu cho khoa nghiên cứu thi pháp học mà còn cho lí luận văn học, mĩ học, triết học

Ở La mã Cổ đại cũng đã hình thành khuynh hướng nghiên cứu nghệ thuật thơ ca Nhà thơ Virgile (tên la tinh là Publius Virgilius Maro), thi sĩ Rôma cổ đại, tác giả tập sử thi nổi tiếng Ênêít (70-19 TCN) đã phân chia ngôn ngữ thi ca thành 3 phong cách diễn đạt: a Phong cách cao quý: gồm ngôn ngữ dùng trong anh hùng ca để ca ngợi chiến công của các vị tướng, b Phong cách vừa gồm những ngôn từ miêu tả lao động nông nghiệp, c Phong cách thấp gồm những ngôn từ dùng trong đời sống hàng ngày

Ở Trung Hoa Cổ đại nổi tiếng với công trình “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp vào cuối

đời (khoảng giữa năm 496-501) Cuốn sách này bàn đến mục đích chức năng văn học, nguồn gốc của cái đẹp, những tiêu chuẩn đối với tác phẩm văn học và những yêu cầu đối với nhà văn Ngoài

ra còn có tác giả Bạch Cư Dị với “Thư gửi Nguyên Chẩn”, Viên Mai với “Tùy viên thi thoại”

Ở Châu Âu thời Trung đại, nước Pháp có Boa Lô (1636-1711), trong cuốn “Nghệ thuật

thơ”, ông đã trình bày quan điểm nghệ thuật thơ bằng văn vần gồm 4 khúc ca: khúc ca thứ nhất

nói về tài năng và sự lao động kiên trì của nhà thơ; khúc ca thứ hai trình bày các quy tắc sáng tác các thể loại thơ nhỏ; khúc ca thứ ba bàn về các thể loại thơ lớn: anh hùng ca, bi kịch; khúc ca thứ

tư đề cập đến đạo đức, động cơ sáng tác của người nghệ sĩ Nhà phê bình văn học Đức: Gotthold Ephraim Lessing (1729-1781) là nhà triết học, nhà văn người Đức, người đầu tiên đưa ra khái niệm thời gian nghệ thuật, xác định thơ ca là loại nghệ thuật triển khai theo thời gian Ngoài ra còn có các nhà lí luận khác của Đức như: Johann Christoph Friedrich Schiller (1759-1805), Goethe (1749-1832), Immanuel Kant (1724-1804), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) Đóng góp lớn nhất cho quan điểm mĩ học lịch sử trong cách nhìn nghệ thuật là Hegel, có cách nhìn biện chứng

về các hình thức và phạm trù nghệ thuật, mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống

1.2.1.2 Thi pháp học hiện đại với các trường phái

a Trường phái hình thức 6

Thuyết hình thức hình thành và phát triển thành chủ nghĩa hình thức Nhà mĩ học người Đức Johann Friendrich Herbart (1776-1841) là người mở đầu cho chủ nghĩa hình thức mĩ học đã phản đối trường phái duy tâm siêu hình bằng cách tập trung vào cấu trúc hình thức của cái đẹp Sang thế kỷ XIX và XX, chủ nghĩa hình thức của Herbart được nhiều nhà nghiên cứu hưởng ứng như Robert Zimmermann, Konrad, R Bayer, E Souriau, Henri Focillon, Roman Jakobson, Emil Uttitz và Max Dessoir …Emil Uttitz và Max Dessoir cho rằng phải nghiên cứu các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học, nghiên cứu hình thức của tác phẩm nghệ thuật Chủ nghĩa hình thức yêu cầu nghiên cứu tác phẩm văn học phải nghiên cứu các phương thức, các yếu tố cấu thành nó Còn Focillon thì coi phong cách là phạm trù của tác phẩm nghệ thuật

Trong trường phái hình thức thì đáng chú ý là trường phái hình thức Nga Trường phái này

ra đời bằng việc sáng lập Hội nghiên cứu ngôn ngữ thi ca vào năm 1916 nhưng phải đến tháng 10/1919 mới trở thành như một tổ chức chính thức với chủ tịch là V Shklovski và thư ký là J

Tynianov, xuất bản công trình Thi pháp học, Tuyển tập về lí thuyết ngôn ngữ thi ca B Eikhenbaum

trong tiểu luận: “Lí luận về phương pháp hình thức” cho rằng chủ nghĩa hình thức nhằm tôn vinh

6 Lê Đức Luận (2011), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb Đại học Huế

Trang 11

sự tự trị và tính cụ thể của văn học R Jakobson, chủ tịch câu lạc bộ ngôn ngữ Moskva, là người

đứng đầu phái hình thức Nga sau này B Tomachevski với tiểu luận Hệ chủ đề đã nghiên cứu các thủ pháp cốt truyện và A Veselovsky trong tiểu luận Thi pháp cốt truyện V Shklovski triển khai

việc nghiên cứu các thủ pháp nghệ thuật của văn xuôi một cách cặn kẽ Ông cho rằng nhiều tác phẩm tự sự là một tổ hợp kết cấu vòng tròn và kết cấu bậc thang, thủ pháp dồn nén, thủ pháp song song, thủ pháp đóng khung và thủ pháp xâu chuỗi Trường phái hình thức Nga còn có các tên tuổi như: Girmunxki, Vinogradop, B Eikhenbaum, Tynianop…Họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của trường phái ngôn ngữ học Geneve mà người đứng đầu là F de Saussure và hiện tượng học với E Hussen Trường phái này đặc biệt chú ý đến các thủ pháp nghệ thuật thơ ca Đặc biệt là E.M.Meletinsky với cuốn “Thi pháp của huyền thoại” đã tổng kết các quan điểm, trường phái nghiên cứu về huyền thoại và nêu lên những quan điểm khá sâu sắc của mình về huyền thoại Cuốn sách này rất đắc dụng cho việc nghiên cứu các tác phẩm VHDG, đặc biệt là các tác phẩm sáng tác theo phong cách huyền thoại

b Trường phái phê bình mới

Đây là trường phái hình thức trong lí luận phê bình văn học, xuất hiện vào những năm 20

ở Anh, những năm 30 ở Mĩ và cực thịnh vào những năm 50 của thế kỷ XX Nhà phê bình L.A

Richars (Anh) với các công trình nổi tiếng: “Nguyên lí phê bình văn học” (1925), “Phê bình thực

dụng” (1926): vận dụng ngữ nghĩa học và tâm lí học vào phê bình văn học Nhà thơ kiêm phê bình

văn học Thomas Stearns Eliot (26 tháng 9 năm 1888 – 4 tháng 1 năm 1965) (Mĩ) cũng có quan điểm nghiên cứu về sự vận động của ngôn từ trong tác phẩm văn học Đóng góp của trường phái này là nghiên cứu ngôn ngữ và thủ pháp hình thức, nghiên cứu thể loại và loại hình, đặc biệt là đi sâu vào phân tích ngữ nghĩa và những vấn đề tâm lí trong sáng tác văn học Tuy nhiên, nhược điểm của các nhà nghiên cứu trường phái này là xem tác phẩm hoàn toàn khép kín, đối lập với mọi yếu

tố ngoại tại, nghĩa là không quan tâm đến những yếu tố tác động đến việc sáng tác

c Trường phái hiện tượng học

Đây là trường phái thiên về triết học chủ quan, đặt khách quan vào hàng thứ yếu, đi sâu

vào thế giới hiện tượng, coi hiện tượng học là “khoa học của ý thức nhân loại”, khám phá thế giới

tồn tại trong ý thức con người Trường phái này manh nha từ thế kỷ XIX với Zanbert, Brentano và hoàn thành bởi Husert Đặc biệt cực thịnh vào những năm 40, 50 của thế kỉ XX với đại diện của những nhà phê bình Geneve: G Poulet, J Rousset; các nhà phê bình Pháp: Jean Pierve, R Barthes; nhà phê bình Mĩ Paul de Man; nhà mĩ học Ba Lan R Ingarden Đặc điểm hiện tượng học là xem

xét “tác phẩm như một hiện tượng”, khám phá thế giới nội tại trong tác phẩm với các phạm trù

phổ quát: không gian, thời gian, thế giới văn hoá, thế giới sống, thế giới sáng tạo Hiện tượng học cũng nghiên cứu tính bản thể của văn học Tác phẩm là một cấu tạo nhiều tầng lớp: Lớp ngữ âm, lớp ngữ nghĩa được coi là lớp trung tâm, lớp khách thể được tái hiện (người, sự kiện được hư cấu), lớp đồ hoá: khách thể bộc lộ qua một số mặt, còn một số mặt khác không xác định do người đọc

cụ thể hoá Đóng góp của trường phái này là gợi ý cho thi pháp học trong việc khám phá thế giới của sáng tác nghệ thuật nhưng vì tách rời tác phẩm khỏi thực tại nên nặng về miêu tả giản đơn, ít phán đoán, đánh giá.7

d Trường phái thi pháp cấu trúc, kí hiệu học

Mở đầu là chủ nghĩa cấu trúc, người dẫn đường cho trường phái này là Ch S Peirce (1839- 1914) ở Mĩ và F de Saussure (1857-1913) ở Châu Âu Chủ nghĩa cấu trúc là trường phái vận dụng ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học Họ cho rằng văn học nghệ thuật, giống như ngôn ngữ, cũng

là những hệ thống kí hiệu Khi phân biệt vai trò của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ văn học,Yu.M Lotman có lí khi cho rằng: “Văn học nói bằng ngôn ngữ đặc biệt được xây chồng lên

7 Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, H tr.95-101

Trang 12

trên ngôn ngữ tự nhiên với tính cách là một hệ thống cấp hai …Điều đó có nghĩa nói lên rằng văn học có hệ thống kí hiệu và qui tắc kết hợp kí hiệu của nó, chỉ thuộc về nó, dùng để truyền đạt những thông báo đặc thù không thể truyền đạt bằng những phương tiện khác Tất cả những nghệ

thuật khác, giống như văn học, cũng có những ngôn ngữ đặc thù” Lotman trong cuốn Cấu trúc

của văn bản nghệ thuật đã đề ra thuật ngữ mã nghệ thuật, rằng: “mô hình nghệ thuật là một bộ mã,

trong đó mã hoá những thông báo nào đó, một bộ mã có ý nghĩa tổng quát do bản chất bên trong của nó” Có ý kiến xem kí hiệu có tính ước lệ, theo L Ginzburg: “Hình tượng nghệ thuật luôn luôn

có tính chất tượng trưng, có tính đại diện, nó là kí hiệu đơn nhất của cái khái quát, là đại diện cho những tầng sâu rộng của kinh nghiệm con người, của tính chất dân tộc, tính chất tâm lí Nhà nghệ

sĩ sáng tạo ra những kí hiệu để thể hiện tư tưởng”8 Khrapchenco đề cập đến tín hiệu thẩm mĩ và hình tượng nghệ thuật tổng hợp, ông cho rằng giữa chúng có điểm chung là tính độc đáo nhưng khác nhau cơ bản giữa chúng là: trong khi kí hiệu thẩm mĩ có đặc tính hướng về tính cố định của

ý nghĩa còn hình tượng nghệ thuật có tính nhiều nghĩa Tuy nhiên, bản thân kí hiệu nói chung và

kí hiệu thẩm mĩ cũng có tính hai mặt của nó Tính hai mặt của kí hiệu thể hiện trong sự tượng trưng của tính hiệu Tượng trưng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực của cái phi lí, nhưng đồng thời nó cũng là phương thức khái quát thực tại Ông cũng cho rằng không được qui trọn những kí hiệu thẩm mĩ vào tượng trưng Theo quan điểm kí hiệu toàn cục, ở tác phẩm nghệ thuật, bản thân những kí hiệu thẩm mĩ và cả ngôn ngữ nghệ thuật, bất cứ phương tiện và phương pháp nào của sự thể hiện các kí hiệu đều có tính chất qui ước Những hiện tượng thẩm mĩ có được

ý nghĩa khách quan không phải do mối quan hệ của chúng với thực tại mà chỉ nhờ ở chức năng giao tiếp của chúng, do một sự qui ước xã hội vốn tự phát nảy sinh Tính qui ước của kí hiệu thẩm

mĩ là do bản chất nội tại của nó quyết định Là sự biểu thị những sự vật, hiện tượng, tư tưởng, nó chỉ có thể hoạt động với đầy đủ sức sống trong trường hợp những tầng lớp xã hội nào đó, hoặc ít

ra là một nhóm người nào đó hiểu và thừa nhận nó Tuy nhiên không phải tất cả hiện tượng nghệ thuật đều thể hiện dưới các kí hiệu thẩm mĩ có tính qui ước Tính qui ước chỉ phổ quát trong các tác phẩm văn học dân gian và một số tác phẩm văn học Trung đại, trong tác phẩm văn học Hiện đại có nhiều hình tượng thẩm mĩ là hình mẫu của hiện thực cuộc sống Đặc điểm quan trọng nhất của kí hiệu thẩm mĩ là cơ cấu cảm xúc của nó Trong khi nhiều kí hiệu khác mang cách biểu đạt trung tính thì kí hiệu thẩm mĩ bao hàm trong cấu trúc của nó một hệ số cảm xúc nhất định Theo quan điểm của thi pháp học lịch sử thì sự vận dụng những kí hiệu trong văn học và nghệ thuật, mức độ tính kí hiệu của chúng trong các thời kì lịch sử khác nhau là không như nhau Vận dụng phương pháp cấu trúc trong nghiên cứu văn học, năm 1928, V Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích Cũng năm đó, R Jakobson và J Tynianop đã đề ra việc vận dụng

lí thuyết cấu trúc vào văn học: Khoa học văn học phải là khoa học về hệ thống, tìm quy luật nội tại của văn học, chức năng các yếu tố văn học, kết hợp đồng đại với lịch đại, nghiên cứu ngôn ngữ văn học, nghiên cứu loại hình cấu trúc văn học và loại hình diễn biến văn học Nghiên cứu cấu trúc chiều sâu theo mô hình ngôn ngữ tạo sinh là đóng góp mới của trường phái cấu trúc giai đoạn sau Nó khắc phục hạn chế của lí thuyết cấu trúc chỉnh thể, khép kín đồng đại của giai đoạn trước

Vận dụng phương pháp cấu trúc trong nghiên cứu văn học, năm 1928, V Propp nghiên

cứu cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích Trong công trình Hình thái học truyện cổ

tích xuất bản năm 1928, Propp đã nghiên cứu và phân loại truyện cổ tích theo chức năng của nhân

vật và ông gọi đó là chức năng tự sự Ông giải thích “Hình thái học có nghĩa là học thuyết về hình thức…Không những khảo sát về hình thái học mà cả về cấu trúc lôgic hoàn toàn đặc biệt của nó.”

Sự xuất hiện thực sự của chủ nghĩa cấu trúc phải từ năm 1955 khi nhà nhân chủng học người Pháp Claude Lévi-Strauss trong công trình “Nghiên cứu cấu trúc thần thoại”

8Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, Sđd, tr 61-79

Trang 13

Chủ nghĩa cấu trúc thường chú ý đến sự kết hợp, quan hệ đối lập, phương diện đồng đại Trước hết là sự lựa chọn và kết hợp Các nhà cấu trúc học cho tác phẩm văn học là một sinh mệnh,

là một cấu trúc của nhiều yếu tố Như vậy, ở đây có sự lựa chọn đối với từng yếu tố và cả sự kết hợp giữa các yếu tố với nhau Những yếu tố làm nên chất liệu và sự kết hợp các yếu tố tạo thành một cấu trúc Thứ hai là vấn đề đối lập và bổ sung Thường muốn khai thác một ý nhấn mạnh trong tác phẩm, người ta tìm đến phép bổ sung của tác giả Phép bổ sung có những dạng chính như: song hành, trùng điệp, hô ứng Song hành là hai yếu tố song song tồn tại trong tác phẩm mà nhờ đó phẩm chất của mỗi yếu tố vốn đã được xác lập còn được xác định thêm trong mối quan hệ song song với yếu tố kia Trùng điệp là bổ sung lặp lại yếu tố cũ để tăng sức biểu cảm Hô ứng có phần giống trùng điệp nhưng triển khai ở đầu và cuối tác phẩm Hô ứng là cái này gọi cái kia theo sự lặp lại hay phản ứng cộng hưởng nối tiếp Sự đối lập ngược với song hành và hô ứng nhưng lại có giá trị đối chiếu giữa hai hình ảnh, hoàn cảnh, tâm trạng cao hơn Về đồng đại và lịch đại là sự kết hợp phân tích ngang và phân tích dọc cấu trúc tác phẩm Sự phân tích đồng đại lại làm nổi rõ sự tiến triển lịch đại ngay cả khi yếu tố cũ được lặp lại nguyên vẹn mà ý nghĩa đã khác vì nó nằm trong tiến trình các yếu tố mới

Nghiên cứu cấu trúc các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm có tác dụng làm nổi bật kết cấu,

sự tổ chức các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm Cấu trúc tác phẩm có nhiều cấp độ: cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc kết cấu, cấu trúc hình tượng, cấu trúc nhân vật Cấu trúc kết cấu như cấu trúc tăng tiến, cấu trúc vòng tròn, cấu trúc song hành, cấu trúc đối lập…Cấu trúc ngôn ngữ bao gồm cấu trúc âm vị, cấu trúc hình vị, cấu trúc từ, cấu trúc câu, cấu trúc đoạn văn, khổ thơ, cấu trúc văn bản…Nghiên cứu cấu trúc thường áp dụng hữu hiệu trong các tác phẩm dân gian Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt là cuốn sách nghiên cứu theo hướng này.9

Người xây dựng kí hiệu học Paris là Algirdas Julien Greimas (1917-1992) Charles Sanders Peirce chia kí hiệu ra làm 3 phạm trù cơ bản: chỉ hiệu (index), hình hiệu (icons) và tượng trưng (simbol) Mucaropxki xem tác phẩm là kí hiệu (cái biểu đạt), hình tượng ý nghĩa (cái được biểu đạt) chỉ được bộc lộ trong quan hệ với người đọc Tác phẩm nhìn theo kí hiệu gồm 3 mặt: chức năng, qui chuẩn và giá trị Vận dụng kí hiệu học cần đến ngữ nghĩa học và dụng học trong đó phương diện tạo nghĩa đóng vai trò quan trọng Nói đến phương diện ý nghĩa là nói đến cấu trúc

mở, biến đổi, không khép kín và bất biến Những nhà kí hiệu học nổi tiếng thuộc về trường phái

xã hội lịch sử của Liên Xô cũ chủ trương kí hiệu của văn bản gắn chặt chẽ với mối liên hệ xã hội của văn bản Những tên tuổi của những nhà kí hiệu học nổi tiếng của Liên Xô cũ là: M Bakhtin,

V I Vanop, Ju Lotman.10

Khrapchenko đề cập đến tín hiệu thẩm mĩ và hình tượng nghệ thuật tổng hợp, ông cho rằng giữa chúng có điểm chung là tính độc đáo nhưng khác nhau cơ bản giữa chúng là: trong khi kí hiệu thẩm mĩ có đặc tính hướng về tính cố định của ý nghĩa còn hình tượng nghệ thuật có tính nhiều nghĩa Tuy nhiên, bản thân kí hiệu nói chung và kí hiệu thẩm mĩ cũng có tính hai mặt của nó Tính hai mặt của kí hiệu thể hiện trong sự tượng trưng của tính hiệu Tượng trưng có thể đưa người đọc, người xem vào lĩnh vực của cái phi lí, nhưng đồng thời nó cũng là phương thức khái quát thực tại Ông cũng cho rằng không được qui trọn những kí hiệu thẩm mĩ vào tượng trưng Theo quan điểm

ký hiệu toàn cục, ở tác phẩm nghệ thuật, bản thân những kí hiệu thẩm mĩ và cả ngôn ngữ nghệ thuật, bất cứ phương tiện và phương pháp nào của sự thể hiện các kí hiệu đều có tính chất qui ước Những hiện tượng thẩm mĩ có được ý nghĩa khách quan không phải do mối quan hệ của chúng với thực tại mà chỉ nhờ ở chức năng giao tiếp của chúng, do một sự qui ước xã hội vốn tự phát nảy sinh Tính qui ước của kí hiệu thẩm mĩ là do bản chất nội tại của nó quyết định Tuy nhiên không

9 Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại học Huế

10 Lê Đức Luận (2011), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb Đại học Huế

Trang 14

phải tất cả hiện tượng nghệ thuật đều thể hiện dưới các kí hiệu thẩm mĩ có tính qui ước Tính qui ước chỉ phổ quát trong các tác phẩm văn học dân gian và một số tác phẩm văn học trung đại, trong tác phẩm văn học hiện đại có nhiều hình tượng thẩm mĩ là hình mẫu của hiện thực cuộc sống Đặc điểm quan trọng nhất của kí hiệu thẩm mĩ là cơ cấu cảm xúc của nó Trong khi nhiều kí hiệu khác mang cách biểu đạt trung tính thì kí hiệu thẩm mĩ bao hàm trong cấu trúc của nó một hệ số cảm xúc nhất định Theo quan điểm của thi pháp học lịch sử thì sự vận dụng những kí hiệu trong văn học và nghệ thuật, mức độ tính kí hiệu của chúng trong các thời kì lịch sử khác nhau là không như nhau Khi phân biệt vai trò của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ văn học, Yuri Lotman có

lý khi cho rằng: “Văn học nói bằng ngôn ngữ đặc biệt được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tính cách là một hệ thống cấp hai …Điều đó có nghĩa nói lên rằng văn học có hệ thống kí hiệu

và qui tắc kết hợp kí hiệu của nó, chỉ thuộc về nó, dùng để truyền đạt những thông báo đặc thù không thể truyền đạt bằng những phương tiện khác Tất cả những nghệ thuật khác, giống như văn học, cũng có những ngôn ngữ đặc thù”.11

Biểu tượng được xây dựng từ hình ảnh là dạng có thể xem là hệ thống cấp hai, hình ảnh là tín hiệu của biểu tượng và biểu tượng là tín hiệu của văn hóa Chẳng hạn, mưa là một hiện tượng

tự nhiên, ngôn ngữ biểu đạt nó bằng từ “mưa” trong trạng thái hoạt động, “hạt mưa” trong bản thể

tự nhiên Vào văn học, “mưa” sử dụng cả ngôn ngữ tự nhiên lẫn ngôn ngữ biểu tượng Câu tục ngữ

“Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa” thì “mưa” là một hiện tượng tự nhiên, là một hình ảnh hiện thực, chưa phải là một tín hiệu văn hóa Nhưng với bản thể “hạt mưa” được so sánh với “thân em” thì nó chính là biểu tượng thân phận:

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

Hệ thống ký hiệu trong tác phẩm văn học phải được hiểu là hệ thống các biểu tượng, các hình ảnh, các môtip biểu trưng cho một ý nghĩa nào đó Môtip có thể là các cấu trúc điển hình, cố định theo một cơ chế tạo nghĩa nhất định Có loại motip đơn thuần xét về cấu trúc nhưng cũng có loại motip biểu tượng Như vậy, về mặt nào đó, phân tích kí hiệu trong tác phẩm cũng chính là phân tích các môtip và cấu trúc của nó Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ là nghiên cứu tín hiệu bậc hai, nghĩa là tìm ra tính biểu tượng của tín hiệu ngôn ngữ Ca dao là thể loại thể hiện rất rõ tín hiệu thẩm mĩ vì thể loại này phản ánh hiện thực bằng biểu tượng.12

e Trường phái thi pháp học lịch sử

Thi pháp học lịch sử nghiên cứu thi pháp của từng thời kì lịch sử, từng khu vực, dân tộc

Nó vận dụng quan điểm lịch sử và so sánh lịch sử vào nghiên cứu văn học Trường phái này bắt đầu từ Nga với nhà thi pháp học lịch sử nổi tiếng: A N Vexelopxky (1838-1906) Ông nghiên

cứu “Sự tiến hoá của ý thức nghệ thuật và các hình thức của nó” M.B Khrapchenko (1983) khẳng

định: Thi pháp học lịch sử gắn liền thi pháp với tư duy nghệ thuật khám phá sáng tạo Theo ông, nội dung của thi pháp học lịch sử là “nghiên cứu sự tiến hoá của các phương thức, phương tiện chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng, chức năng xã hội và thẩm mĩ của chúng, số phận lịch sử của các khám phá nghệ thuật” Đối tượng quan trọng của thi pháp học lịch sử là thể loại văn học, thi pháp của một trào lưu văn học Điểm nổi bật của thi pháp học lịch sử là không chỉ xem xét quá trình tiến hoá của hình thức nghệ thuật mà còn phát hiện mối quan hệ giữa hình thức nghệ thuật

và đời sống lịch sử và truyền thống văn hoá Theo Khrapchenco, nghiên cứu thi pháp lịch sử “gồm

có 4 bộ phận quan trọng nhất như sau: hướng thứ nhất là nghiên cứu thi pháp học lịch sử phổ quát, hướng thứ hai là nghiên cứu thi pháp của văn học dân tộc, hướng thứ ba là thi pháp các nhà văn

11 Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, Sđd, tr.63-64

12 Lê Đức Luận, Tín hiệu thẩm mĩ về tình yêu trong ca dao người Việt, Kỉ yếu hội thảo Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Dân Trí, H., 2019, tr.1348-1357

Trang 15

xuất chúng, nghiên cứu đóng góp của họ vào sự phát triển thi pháp học văn học dân tộc và văn học thế giới, hướng thứ tư là nghiên cứu sự tiến hoá của các thể loại, các phương tiện thể hiện nghệ thuật cũng như số phận các khám phá khác nhau trong lĩnh vực thi pháp”13

Về đại thể có thể nói rằng, trong các trường phái thi pháp học hiện đại, trường phái thi pháp học cấu trúc kí hiệu học và thi pháp học lịch sử có sức thuyết phục nhất và đã đóng góp to lớn vào thành tựu nghiên cứu văn học

1.2.2 Nghiên cứu thi pháp tại Việt Nam

1.2.2.1 Nghiên cứu thi pháp học và thi pháp văn học viết

Ở Việt Nam, công trình có liên quan đến nghiên cứu văn học là bộ sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn (1726-1784) Trong chương về Nghệ văn chí đề cập đến nhiều luận điểm văn học, có thể qui thành 5 điểm: 1 Văn học có mục đích giáo dục tư tưởng Nội dung và hình thức thống nhất với nhau, nội dung là quyết định; 2 Thơ văn phải phản ánh hiện thực; 3 Hình thức văn nghệ cốt bình dị để nhiều người hiểu được Không nên cầu kì đẽo gọt, chỉ để tâm đến việc làm văn; 4 Muốn trở thành nhà văn phải học tập, sửa mình và tích luỹ vốn sống; 5 Tiêu chuẩn lựa chọn thơ văn vào các hợp tuyển.14

Tiếp theo là Phan Huy Chú (1782-1840), với bộ Lịch triều hiến chương loại chí, trong mục Văn tịch chí ông đã xây dựng trên cơ sở thư mục của Lê Quý Đôn “Nhưng Phan Huy Chú (PHC) không phải lấy lại công trình của Lê Quý Đôn (LQĐ) rồi bổ sung những phần thiếu sót mà chủ yếu dựa vào những chỉ dẫn của LQĐ, ông đọc lại tác phẩm, đánh giá cụ thể, rồi phân loại, và phần nào còn thiếu sót thì bổ sung Nghệ văn chí của LQĐ giới thiệu tất cả 115 bộ sách còn Văn tịch chí của PHC giới thiệu được 213 bộ sách Trong Nghệ văn chí của LQĐ chỉ nói tên sách, tác giả

và một vài chỉ dẫn sơ sài PHC thì bên cạnh những chỉ dẫn nhiều khi khá chi tiết, đối với phần lớn tác phẩm đều có lời bình luận đánh giá Cách đánh giá của ông ngắn gọn nhưng khá sắc sảo”15

Cuối thế kỉ XIX Việt Nam đã có cuốn Thi pháp nhập môn, Bàn về thi pháp Anamite của

Thế Tài Trương Minh Ký, nhà in Thương mãi Rey, Sài Gòn, 1889 Phan Kế Bính (1875-1921) với Việt Hán văn khảo (1938) “là một công trình nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật có giá trị về nghệ thuật văn chương, về văn học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam gồm tám tiết, trong đó dành năm tiết để nghiên cứu nguồn gốc, nguyên lí văn chương, các thể loại văn học, phương thức sáng tác, chức năng thẩm mĩ và tác dụng của nghệ thuật cũng như quan hệ mật thiết giữa văn chương và xã hội…”16

Tuy nhiên, nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam chỉ mới dừng

ở bình luận đánh giá có tính chất cảm nhận về một số nét nghệ thuật của một số tác phẩm văn chương theo quan điểm của nhà Nho thời ấy chứ chưa phải là những công trình nghiên cứu bài bản theo hướng nghiên cứu thi pháp

Cho đến năm 1932, ở Bến Tre xuất bản cuốn Thi pháp diễn giải: chỉ phép tắc làm thơ,

truyện, ngâm , phú Những công trình sơ khởi về phê bình, nghiên cứu, lí luận văn học được xuất

bản vào những năm 40 của thế kỷ XX như: Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh và Hoài Chân, Nhà văn hiện đại (1942-1943) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1944) của Dương Quảng Hàm, Văn học khái luận (1944), Giảng văn Chinh phụ ngâm (1949) của Đặng Thai

Mai Tuy nhiên “chưa có cuốn nào bàn chuyên sâu, tập trung về thi pháp” Ở Miền Nam trước

1975 tại các đô thị trên các tạp chí đã có những công trình giới thiệu thuyết cấu trúc (cơ cấu), như

của Trần Thái Đĩnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Thiện Đạo, Huỳnh Phan Anh Đặc biệt có cuốn Thi

13 Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, Sđd, tr.39-40

14 Dẫn theo sách “Từ điển văn học” tập II, Nxb KHXH, H Mục Vân đài loại ngữ do Phạm Tú Châu viết, tr 534

15 Dẫn theo sách “Từ điển văn học” tập II, Sđd, Mục Phan Huy Chú do Nguyễn Lộc viết, tr.197-198

16 Dẫn theo sách “Từ điển văn học” tập II, Sđd,tr 199-200

Trang 16

pháp và Phép làm thơ của tác giả Diên Hương… Những năm 60-70 của thế kỷ XX, việc nghiên

cứu thi pháp văn học đã tiến một bước đáng kể Hàng loạt những công trình nghiên cứu thi pháp

ra đời như: Thơ ca Việt Nam Hình thức và thể loại (1968, 1971) của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức, Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979) của Đặng Thanh Lê…

Sau năm 1975, tình hình nghiên cứu thi pháp văn học mới đi vào thực chất Người mở đầu

giới thiệu thi pháp học trên tạp chí Văn học là Vương Trí Nhàn với bài Chung quanh khái niệm

thi pháp trong khoa nghiên cứu văn học Xô-Viết hiện nay (1968, số 1) Những công trình nghiên

cứu thi pháp có giá trị đã xuất bản: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca (1983) của Bùi Công Hùng, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc, Về quan niệm

văn chương cổ Việt Nam (1985) của Phương Lựu, Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam (1987) của

Lê Trí Viễn, Ngôn ngữ thơ (1987) của Nguyễn Phan Cảnh, Thi pháp thơ Tố Hữu (1987) của Trần Đình Sử, Quá trình sáng tạo thơ (1988) của Bùi Công Hùng, Tinh hoa lí luận văn học cổ Trung

Quốc (1989) của Phương Lựu, Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (1991) của Mai

Ngọc Chừ, Con mắt thơ (1992) của Đỗ Lai Thuý, Thi pháp tiểu thuyết Lép Tôn-xtôi (1992) của Nguyễn Hải Hà, Từ kí hiệu đến thi pháp học (1992) của Hoàng Trinh, Truyện Nôm nguồn gốc và

bản chất thể loại (1993) của Kiều Thu Hoạch, Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học (1995)

của Phan Ngọc, Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) của Trần Ngọc Vương, Những thế giới

nghệ thuật thơ (1995) của Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Đường (1995) của Nguyễn Thị Bích Hải, Đặc trưng văn học Trung đại Việt Nam (1996) của Lê Trí Viễn, Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam (1996) của Nguyễn Bá Thành, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học Trung đại Việt Nam (1997) của Phương Lựu, Thơ Nôm Đường luật (1997) của Lã Nhâm Thìn, Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám 1945 (1997) của Lý Hoài Thu, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (1997) của Nguyễn Hữu Sơn-Trần Đình Sử-Huyền Trang-Trần Ngọc Vương-

Trần Nho Thìn-Đoàn Thị Thu Vân, Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998) của Hữu Đạt, Từ văn bản đến

tác phẩm văn học (1998) của Trương Đăng Dung, Ẩn dụ và thơ ca (1999) của Hà Công Tài, Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam (1999) của Trần Đình Sử, Nhà văn và sự sáng tác nghệ thuật (1999) của Hữu Đạt, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu (1999) của Tôn

Phương Lan; Quan niệm con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (1997), Lục bát và song thất lục bát-Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại (1998) của Phan Diễm Phương; Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1998) của Nguyễn Duy Bắc; Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990 (1998) của Lê Lưu Oanh; Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 (1998) của Phùng Ngọc

Kiếm; Núi băng và hiệp sĩ (1999) của Lê Huy Bắc; Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945

– 1995 (1999) của Vũ Văn Sĩ; Sử thi Ấn Độ – Mahabharata (2000) của Phan Thu Hiền; Thi pháp

truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan(2001) của Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Tú; Tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Gogon (2001) của Nguyễn Huy Hoàng; Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao (2001) của Trần Đăng Suyền; Thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam

Cao (2001) của Phạm Mạnh Hùng; Tìm hiểu thơ (2000) của Mã Giang Lân, Truyện ngắn những

vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại (2000) của Bùi Việt Thắng, Về thi pháp kịch (2000) của Tất

Thắng, Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan (2001) của Trần Đình sử-Nguyễn Thanh Tú, Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao (2002) của Trần Đăng Suyền, Giọng điệu thơ trữ tình (2002) của Nguyễn Đăng Điệp, Thi pháp thơ Huy Cận (2002) của Trần Khánh Thành, Thi pháp

Truyện Kiều (2002) của Trần Đình Sử, Từ văn học so sánh đến thi học so sánh (2002) của Phương

Lựu, Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu trong thơ tữ tình (2002); Lê Quang Hưng, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu (2002); Trần Khánh Thành, Thi pháp thơ Huy Cận (2002); Đào Ngọc Chương,

Trang 17

Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của E Hemingwey (2003); Hồ Thế Hà, Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (2004); Phan Thu Hiền, Thi pháp học cổ điển ấn Độ (2006);.…17

1.2.2.2 Thi pháp văn học dân gian

Những công trình đầu tiên nghiên cứu VHDG Việt Nam theo hướng tiếp cận thi pháp đáng

chú ý là Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số truyện cổ tích (1962), Nhận xét về

đặc điểm của câu mở đầu trong thơ ca dân gian (1966) của Đinh Gia Khánh, Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình (1968) của Đặng Văn Lung Theo GS Nguyễn Xuân Kính, ở Việt Nam,

thuật ngữ thi pháp VHDG được sử dụng khá muộn Năm 1980, trong bài báo Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ VHDG-VHV, Lê Kinh Khiên là một trong những người đầu tiên

nhắc đến khái niệm này Tiếp theo là Chu Xuân Diên trong bài báo Về việc nghiên cứu thi pháp

VHDG in trong Tạp chí Văn học, số 5, 198118

Đến những năm 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu thi pháp VHDG Việt Nam mới trở nên

phát triển Các tác giả đáng chú ý là Phan Đăng Nhật: Sử thi ÊĐê (1991); Nguyễn Xuân Kính: Thi

pháp ca dao (1992, tái bản 2004); Hoàng Tiến Tựu: Bình giảng ca dao (1992);Tăng Kim Ngân:

Cổ tích thần kì người Việt Đặc điểm cấu tạo cốt truyện (1994, tái bản 1997); Hà Văn Cầu: Tìm hiểu phương pháp viết chèo (năm 1969), Mấy vấn đề kịch bản chèo (năm 1979), Phong cách và thi pháp trong nghệ thuật cải lương (năm 1994); Trần Đức Các: Tục ngữ với một số thể loại văn học (1995); Nguyễn Thái Hoà: Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp (1997); Võ Quan Trọng: Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (1997); Bùi Mạnh Nhị: Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao dân ca trữ tình (1997); Phạm Thu Yến: Những thế giới nghệ thuật ca dao (1998); Nguyễn Thị Huế: Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam (1999); Đỗ Bình Trị: Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (1999);

Phan Thị Đào: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam (1999), Triều Nguyên: Tiếp cận ca dao bằng

phương pháp xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc (1999)

Những năm đầu thế kỉ XXI, việc nghiên cứu thi pháp VHDG tiếp tục có những phát hiện

mới Có thể kể đến là Lê Trường Phát: Thi pháp văn học dân gian (2000); Nguyễn Xuân Đức:

Những vấn đề thi pháp VHDG (2003); Vũ Anh Tuấn: Truyện thơ Tày, nguồn gốc, quá trình và thi pháp thể loại (2004); Đỗ Bình Trị: Truyện cổ tích thần kỳ Việt đọc theo hình thái học của truyện

cổ tích của V.Ja propp (2006)… Công trình gần gũi với thi pháp là cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2009, tái bản 2011) của Lê Đức Luận19

1.3 Những trường phái và phương diện nghiên cứu thi pháp

1.3.1 Những trường phái

1.3.1.1 Nghiên cứu thi pháp theo thuyết tâm lí học 20

Thuyết phân tâm là thuyết điển hình cho quan điểm phê bình tâm lí Thuyết này ra đời vào đầu thế kỷ XX do S Freud, Baudouin và O Rank khởi xướng Từ đầu thế kỷ XX, vào năm 1900,

bác sĩ tâm thần người Áo tên là Sigmund Freud (1856-1939) đã cho ra đời công trình Lí giải giấc

mơ khai sinh ra một phương pháp tâm lí mới được gọi là phương pháp tâm phân học Theo

Sigmund Freud, nhiệm vụ của nhà phê bình phân tâm học là lí giải tác phẩm văn học bằng các xung đột tâm lí vô thức của con người hoặc tái tạo lại đời sống tâm hồn của tác giả thông qua những điều tiết vô thức trong tác phẩm của anh ta Ông cho rằng bên dưới cái vô thức cá nhân của mỗi người đều có một tầng vô thức tập thể, đó là kí ức chủng loại Kí ức chủng loại là sự thể hiện hành động bản năng chủng loại Trong văn học dân gian, kí ức bản năng chủng loại thể hiện rất rõ

17Thi pháp học ở Việt Nam Nxb Giáo dục, 2010

18 Dẫn theo Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, Sđd, tr 56

19 Lê Đức Luận, Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, mã số: B2008-ĐN03-27, 2009

20 Lê Đức Luận (2011), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb Đại học Huế

Trang 18

trong các truyện kể Quan niệm của Jung đã dẫn đến một trào lưu phê bình “cố mẫu thần thoại” hay còn gọi là “phê bình huyền thoại” rất thịnh hành ở phương Tây nửa cuối thế kỉ XX Phương pháp này rất đắc dụng trong nghiên cứu văn học dân gian Sau này nó mở rộng cho cả việc nghiên cứu văn học nói chung Nó chủ trương đi tìm cố mẫu cho các hình tượng, môtíp trong văn học, đặc biệt là các cố mẫu văn hóa

Vận dụng thuyết cố mẫu thần thoại sẽ lí giải rất nhiều trường hợp khó lí giải trong truyện

dân gian Trong truyện Sự tích Trầu Cau thể hiện một thực tế về mối tình tay ba mà chi tiết ôm

nhầm em chồng là dấu tích của gia đình mẫu quyền còn nằm trong tiềm thức người phụ nữ Người phụ nữ trong xã hội mẫu quyền có quyền lấy nhiều chồng, một lúc có thể lấy cả anh và em, hai anh em cùng chung một vợ Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng “ở truyện này, có thể người chồng chính

là người anh và người chồng phụ là người em”.21 Khi chuyển sang chế độ phụ quyền, người phụ

nữ trong tâm linh vẫn coi người em chồng như chồng mình Đây là sự rạn nứt đầu tiên của tình anh em trong xã hội phụ quyền đang còn tồn tại trong gia đình thị tộc mẫu quyền báo hiệu một sự xác lập gia đình phụ quyền Theo Nguyễn Xuân Lạc thì ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng “truyện có thể xuất hiện lần đầu tiên trong xã hội nguyên thuỷ vào giai đoạn mà người đàn

bà còn có nhiều chồng…”.22 Chi tiết ôm nhầm là một chi tiết mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Nó

là chi tiết về sự nhập nhằng giữa lí trí và tình cảm trong mối tình tay ba Trong gia đình phụ quyền giai đoạn sơ khai, đang là giai đoạn chuyển tiếp giữa chế độ mẫu quyền sang phụ quyền nên lí trí thì buộc người phụ nữ phải tuân theo nhưng tình cảm thì cô ta vẫn muốn yêu cả hai người Thậm chí khi người anh đã có vợ, người anh ít gần gũi với em như trước, người em hơi buồn thì người con gái, với bản chất bao dung có thể yêu người em hơn Có thể về lí trí thì người vợ không có chủ

ý ôm em chồng nhưng tâm thức dẫn đường Tuy nhiên, để hướng đến ý nghĩa nhân văn cao hơn,

ca ngợi sự trong sáng thủy chung của người vợ nên tác giả dân gian đã lý giải sự ôm nhầm đó bắt nguồn từ nguyên do là hai anh em giống nhau như đúc, đã vậy lại vào lúc chập choạng nên khó phân biệt.23

1.3.1.2 Nghiên cứu thi pháp theo thuyết xã hội học

Phương pháp xã hội học sáng tác nghiên cứu sự tác động của xã hội đến sáng tác văn học Phương pháp này thường lí giải tác phẩm bằng những sự kiện xã hội như: bối cảnh lịch sử xã hội của tác phẩm khi nó ra đời, địa vị xã hội của nhà văn và của nhân vật, quan hệ giai cấp cùng quan

hệ gia đình của nhà văn và nhân vật Trong công trình “Vì một xã hội học tiểu thuyết” xuất bản

năm 1964 tại Pari, Lucien Goldmann đã đề ra phương pháp cấu trúc phát sinh và từ đó cho rằng tính tập thể của sự sáng tạo văn học được hình thành bởi một điều là cấu trúc thế giới của tác phẩm

có tính chất đồng đẳng với cấu trúc tinh thần của một số tầng lớp xã hội, trong khi trên bình diện nội dung, tức là trên bình diện của sự sáng tạo lại thuộc về sự tự do sáng tạo của cá nhân nhà văn Ông thực hiện cắt lớp đối tượng bằng phương pháp phân định các nhóm dữ liệu vào những nhóm cấu trúc khác nhau Trong quá trình cắt lớp đối tượng, khâu làm sáng tỏ một cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm được gọi là quá trình tìm hiểu tác phẩm còn khâu đưa tác phẩm vào trong một cấu trúc rộng lớn hơn thì gọi là quá trình lí giải tác phẩm.24

Xã hội học sáng tác áp dụng vào nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian rất hữu hiệu khi nghiên cứu tâm lí cộng đồng trong sáng tác Tính chất tập thể dẫn đến sự phản ánh tâm thức cộng đồng Tâm thức cộng đồng bao gồm nhiều cấp độ: tâm thức làng xã, thâm thức địa phương, tâm thức vùng miền và cuối cùng là tâm thức dân tộc quốc gia

21 Vũ Ngọc Phan (1976), Qua những trang văn, Nxb Văn học, H., tr 245

22 Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Lạc (1995), Giảng văn Văn học dân gian, Nxb GD, H, tr 111

23 Lê Đức Luận (2010), Cảm nhận trầu cau từ tâm thức huyền thoại, Văn hóa nghệ thuật, số tháng 2

24 Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Sđd, tr.175-215

Trang 19

Tiếp nhận tác phẩm văn học tuỳ thuộc vào đặc điểm thời đại, giới tính, giai cấp, nghề nghiệp Mỗi thời đại có cách nhìn và đánh giá tác phẩm văn học khác nhau Đặc điểm về giới tính, giai cấp, nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến tiếp nhận Đây chính là tâm lí xã hội, tâm lí giai cấp, tâm lí nghề nghiệp, tâm lí lứa tuổi ảnh hưởng đến tiếp nhận văn học Những vấn đề này chính là

xã hội học tiếp nhận

Đối với tác phẩm dân gian, nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là đối tượng tiếp nhận nên có sự sáng tác lại cho phù hợp với tâm lí vùng miền, địa phương và có cách đánh giá khác nhau trong cùng một hiện tượng xã hội Ở tác phẩm dân gian, các dị bản thể hiện cả tâm lí học sáng tác và tâm lí học tiếp nhận Bài ca dao sau đây là một ví dụ điển hình cho vấn đề tâm lí tiếp nhận và sáng tác

Cùng một sự việc nói về anh chồng phụ bạc và thái độ của người vợ:

Nhớ khi anh bủng anh beo

Tay nâng chén thuốc tay đèo múi chanh

Bây giờ anh đã (khỏi) anh lành

Anh mê duyên mới anh tình phụ tôi

Nhưng đã có 5 phản ứng khác nhau, 5 thái độ tương ứng với 5 dị bản

Thái độ thứ nhất, kéo dài sự trách móc:

Có oản anh phụ tình xôi

Có cam phụ quýt, có người phụ ta

Có quán tình phụ cây đa

Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn

Có mực anh phụ tình sơn

Có kẻ đẹp giòn tình phụ nhân duyên

Có bạc anh tình phụ tiền

Có nhân ngãi mới anh quên em rồi

Thái độ thứ hai, đòi li dị và tìm cách trả đũa:

Đất xấu nặn chẳng nên nồi

Anh về lấy vợ để tôi lấy chồng

Anh về lấy vợ cách sông

Để tôi đi lấy con ông lái đò

Anh kêu đò thì đò chẳng có đưa

Tôi đang mắc cho con bú tôi chưa có chèo

Thái độ thứ ba, thách thức, tỏ ra mình cao giá:

Đất xấu nặn chẳng nên nồi

Anh về lấy vợ để tôi lấy chồng

Anh về lấy vợ cách sông

Để tôi lấy chồng giữa ngõ anh ra

Thái độ thứ tư, chia tay nhưng vẫn còn thương yêu:

Đất xấu nặn chẳng nên nồi

Chàng về lấy vợ để thiếp tôi lấy chồng

Chàng về lấy vợ cách sông

Để thiếp tôi lơ lửng lấy con ông lái đò

Phòng khi chàng có sang đò

Sông sâu nước cả có thiếp lo cho chàng

Thái độ thứ năm: Không muốn sống:

Trang 20

… Thà tôi xuống giếng cho rồi.25

Như vậy, cùng một sự việc xảy ra nhưng có 5 quan điểm về cách ứng xử, thể hiện các cách phản ánh hiện thực, đánh giá hiện thực của tác giả đồng thời là người thưởng thức tác phẩm dân gian Từ đây, người nghiên cứu có thể vận dụng lí thuyết nghiên cứu liên văn bản để tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của tác phẩm văn học trong sự soi chiếu với các tác phẩm cùng đề tài hay các

dị bản của nó.26

1.3.1.3 Nghiên cứu thi pháp theo thuyết luân lí

Nghiên cứu phê bình luân lí hay còn gọi nghiên cứu phê bình về vấn đề đạo đức con người đặt ra trong tác phẩm văn học Đây là loại hình nghiên cứu phê bình ra đời sớm nhất và vẫn tồn tại cho đến ngày nay Nó dùng các phạm trù đạo đức để đánh giá mọi hiện tượng văn học Theo Phương Lựu, loại hình phê bình luân lí có những đặc điểm sau:

- Tính trường tồn Suy cho cùng thì luân lí đạo đức là sản phẩm của một thiết chế xã hội

để điều tiết các mối quan hệ xã hội và duy trì sự trường tồn của chế độ xã hội đó Văn học phản ánh hiện thực thì ít hay nhiều cũng phản ánh các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực đạo đức cuộc sống Trong Văn học dân gian, đạo đức theo tiêu chuẩn thiện ác Đến văn học Trung đại ngoài quan niệm thiện ác còn gắn với đạo đức của người quân tử là trung quân ái quốc Vì vậy, văn học thời kì nào cũng phải được tiếp nhận và đánh giá dưới góc độ đạo đức

- Tính đa dạng Bản thân xã hội là đa dạng trong giai tầng, giới tính, dân tộc và quan niệm

về đạo đức được khúc xạ vào từng cá nhân là không đồng nhất Mặt khác đạo đức truyền thống và tiêu chuẩn đạo đức theo từng chế độ quy định không phải là đồng nhất hoàn toàn, thậm chí có điểm đối lập mà tư tưởng văn hoá thì chậm thay đổi hơn chế độ xã hội nên có sự song hành cùng lúc những lối sống và quan niệm đạo đức của quần chúng và giai cấp thống trị

- Tính đối lập Tính đối lập bắt nguồn và một đặc tính của tính đa dạng Có lúc tính đối lập lại bắt nguồn từ hệ ý thức giữa cái mới đang lên và cái cũ vẫn âm thầm duy trì Trong văn học là cuộc đấu tranh giữa tư tưởng đạo đức tiến bộ với tư tưởng đạo đức đã lỗi thời hay thực dụng, có khi đấu tranh ngay trong tự thân mỗi nhân vật Nhà nghiên cứu phê bình đứng trên quan điểm nào

để đánh giá nhân vật và tác giả của nó Mặt khác quan điểm đánh giá đạo đức trong các nhà nghiên cứu phê bình không phải là đồng nhất, thậm chí đối lập nhau.27

Trong Văn học dân gian, đạo đức theo tiêu chuẩn thiện ác Quan điểm thiện ác được mặc định theo giai cấp, địa vị xã hội theo hướng điển hình hóa Người giàu có, các bậc trên như quan lại, anh chị mặc định là những người ác còn người nghèo, các bậc dưới như em út, người mồ côi

là những người thiện Quan điểm đánh giá về đạo đức của Tấm trong hành động trả thù em của mình Đánh giá như thế nào khi hành động này có tính chất khác biệt với truyền thống nhân văn của người Việt Người ta thường đánh giá đạo đức nhân vật theo mối quan hệ gia đình và xã hội Trong văn học dân gian, các hình thái xã hội và tư tưởng đan cài vào nhau thì việc đánh giá đạo đức nhân vật không phải là chuyện dễ dàng Nghiên cứu đặc điểm giới về lối sống, vị thế xã hội trong ca dao là vấn đề cần thiết cho việc nghiên cứu nhân học văn hóa.28

1.3.2 Những phương diện nghiên cứu thi pháp VHDG

1.3.2.1 Nghiên cứu thi pháp VHDG theo miêu tả ngôn ngữ học

Theo từ điển tiếng Việt thì “hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất” Trong hệ

25 Lê Đức Luận (2003), Bàn thêm về thuộc tính văn học dân gian, Nguồn sáng dân gian, số 1 (6), H

26 Lê Đức Luận (2011), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb Đại học Huế

27 Phương Lựu (2004), Lý luận phê bình văn học, Nxb Đà Nẵng, tr.376-377

28 Lê Đức Luận (2019), Đặc điểm giới trong ngôn ngữ ca dao người Việt, Kỉ yếu hội thảo Văn học giới, Đại học Sư phạm Huế, Nxb Đại học Huế

Trang 21

thống, quan hệ giữa các thành phần, đơn vị là quan hệ loại hình, quan hệ chi phối, quan hệ cấp bậc Đây là quan điểm của nhà ngôn ngữ học Ferdinand De Saussure Hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với cấu trúc Mỗi hệ thống có một kiểu loại cấu trúc riêng hay những đơn vị cùng loại tập hợp thành hệ thống.29

Phương pháp hệ thống là đặt các hiện tượng văn học, các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học thành hệ thống, là khám phá những liên hệ bên trong của một tổng thể, nghiên cứu sự thống nhất về cấu trúc của các yếu tố tạo thành tác phẩm văn học Về một phương diện nào đó thì phương pháp hệ thống tương đồng với phương pháp cấu trúc như khám phá cấu trúc hay mối liên hệ bên trong của các yếu tố tạo nên hệ thống cấu thành một chỉnh thể nghệ thuật, bởi mối quan hệ chặt chẽ giữa hệ thống và cấu trúc, hệ thống nào thì cấu trúc đó Nhưng phương pháp hệ thống bao quát hơn phương pháp cấu trúc Phương pháp hệ thống bao quát tất cả các hiện tượng văn học: hệ thống trào lưu, hệ thống thể loại, hệ thống các biện pháp nghệ thuật, hệ thống các kiểu cấu trúc, hệ thống biểu tượng, hệ thống nhân vât, hệ thống cốt truyện, hệ thống hình ảnh… Phương pháp so sánh văn học cũng cần hệ thống để đặt các vấn đề văn học theo một tiêu chí nhất định Về mặt nào đó thì phương pháp hệ thống cũng cần đến phương pháp loại hình khi đề cập đến hệ thống các loại hình văn học và phương pháp so sánh lịch sử khi đặt hệ thống các thể loại trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc và thế giới

Phương pháp hệ thống và loại hình có những điểm gặp gỡ nhau Tuy nhiên, điểm khác nhau giữa phương pháp loại hình và phương pháp hệ thống, theo Nguyễn Văn Dân là trong khi phương pháp loại hình chú ý đến quan hệ cộng đồng giá trị thì phương pháp hệ thống lại chú ý đến quan hệ phân cấp và quan hệ nhân quả Nghiên cứu loại hình chỉ trong phạm vi một hệ thống còn nghiên cứu hệ thống thì có sự xâu chuỗi nhiều hệ thống có mối quan hệ qua lại, phân cấp lẫn nhau

Về điểm này thì phương pháp hệ thống hỗ trợ cho phương pháp cấu trúc Phương pháp cấu trúc cho phép ta chia nhỏ đối tượng nghiên cứu thành các hệ thống cấp bậc Mỗi cấp bậc là một hệ thống riêng và dùng phương pháp hệ thống để định vị mối quan hệ của nó với cái trước nó và sau

nó trong mối quan hệ nhân quả Phương pháp hệ thống cho phép ta nghiên cứu một lúc nhiều hệ

thống mà phương pháp loại hình không thể làm được Chẳng hạn, khi nghiên cứu Cấu trúc ca dao

trữ tình người Việt, chúng tôi đã dùng phương pháp hệ thống không chỉ ở hệ thống câu mở đầu và

mà cả hệ thống câu kết thúc, không chỉ hệ thống văn bản 2 câu mà cả hệ thống trên 2 câu… Phương pháp loại hình gắn với thể loại, dưới nó là tiểu loại, không thể chia ra những đơn vị cấu tạo nhỏ hơn như phương pháp hệ thống và cấu trúc Phương pháp hệ thống và phương pháp cấu trúc dù có quan hệ mật thiết với nhau nhưng phương pháp hệ thống nghiên cứu những lĩnh vực bao quát hơn cấu trúc Phương pháp cấu trúc chỉ nghiên cứu vấn đề giới hạn trong hệ thống còn phương pháp hệ thống có thể nghiên cứu xâu chuỗi nhiều hệ thống, đặt những hiện tượng văn học vào hệ thống.Có hai hình thức ngôn ngữ trong tác phẩm là ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ văn vần Ngôn ngữ văn vần có thể là ngôn ngữ của tác phẩm thơ và tác phẩm chưa phải là thơ ví như các tác phẩm diễn ca, tục ngữ, câu đố, vè…Ngôn ngữ văn vần có cả trong các tác phẩm sử thi, truyện thơ văn học dân gian và truyện thơ văn học viết Có nhiều cách tiếp cận ngôn ngữ: ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ hình tượng, ngôn ngữ cấu trúc, phương thức tu từ, ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghề nghiệp… Tuỳ theo điểm nhìn nghiên cứu mà sử dụng cách tiếp cận phù hợp Về mức độ tiếp cận, có khi chỉ nghiên cứu một từ hay một ngữ của tác phẩm nhưng cũng có khi nghiên cứu toàn diện ngôn ngữ tác phẩm Như vậy là có cách nhìn điểm và có cách nhìn diện

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ý nghĩa của từ được nghiên cứu trong mối liên hệ hữu cơ với

sự vật hoặc khái niệm mà từ gọi tên và biểu hiện; ý nghĩa của từ được phát hiện thông qua việc

29 Ferdinand De Saussure (2017), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, Nxb KHXH

Trang 22

miêu tả những thực tế mà thuộc tính của chúng được phát hiện và minh hoạ bằng các ví dụ trong việc dùng từ ấy.”30 Chẳng hạn từ “hoa hồng” trong ca dao được minh định ý nghĩa khái niệm với

“hoa đào, hoa lý, hoa sen, hoa nhài”… Thuộc tính của nó được miêu tả và minh hoạ trong mối tương quan với các loài hoa khác Hoa hồng cùng với hoa đào tuy đẹp nhưng ít thơm, mau tàn, chóng phai còn hoa nhài không có cái đẹp rực rỡ nhưng hương thơm lâu bền:

Hoa hồng trông thật mĩ miều

Khoe hương buổi sáng, buổi chiều còn đâu Đào kia chưa thắm đã phai

Thoang thoảng hoa nhài mà được thơm lâu Đặc biệt, hoa sen có cái đẹp bền lâu, bất chấp sự khắc nghiệt của thiên nhiên:

Hoa sen hoa khéo giữ màu

Nắng hồng không nhạt, mưa dầu không phai31 Việc nghiên cứu vai trò của từ trong tác phẩm văn học thì thủ pháp trường nghĩa được sử dụng khá phổ biến trên các phương diện: trường đối vị, trường tổng hợp, trường kết hợp Nghiên cứu trường ngữ nghĩa trong các từ ngữ chỉ giới tính, tình yêu trong ca dao là một hướng nghiên cứu thú vị Đối chiếu so sánh các trường nghĩa trong mối quan hệ cặp đôi nam nữ, trai gái, trời đất, núi sông trong ca dao, tục ngữ….Xem xét các trừơng nghĩa của các từ gần nghĩa, đồng nghĩa trong

ca dao, tục ngữ…

Thủ pháp phân tích ngôn cảnh trong ngôn ngữ ở hai phương diện: ngôn cảnh tình huống

và ngôn cảnh văn hoá Phân tích ngôn cảnh tình huống trong tác phẩm văn học chính là phân tích hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ trong hội thoại giữa các nhân vật Cùng sử dụng một số từ ngữ giống nhau nhưng cách sử dụng khác nhau có thể đem đến những ý nghĩa khác nhau Cùng các từ: xuân,

hạ, thu, đông nhưng trong hoàn giao tiếp khác nhau thì có ý nghĩa khác nhau Một bài hát đối đáp phường vải ở Nghệ An, người con gái hát:

Cô Xuân mà đi chợ Hạ Mua cá thu về chợ hãy còn đông Trai nam nhi đối đặng thiếp theo không chàng về

Chàng trai đáp lại:

Trai thanh Nam ngồi hàng thuốc Bắc Gái Đông sàng cảm bệnh lầu Tây Hai ta tình nặng nghĩa dày Đối ra đáp được lúc này tính sao?

Đây là bài ca dao đối đáp chữ nghĩa mà các từ “xuân, hạ, thu, đông” chỉ các mùa trong một năm là các từ bên gái đưa ra để đối và bên trai đưa ra các từ “nam, bắc, đông, tây” chỉ phương hướng để đối lại Nhưng ở một bài ca dao khác cũng dùng các từ “xuân, hạ, thu, đông” để biểu lộ tâm tình:

Mùa xuân em đi chợ Hạ Mua cá thu về chợ hãy còn đông

Ai nói với anh em đã có chồng Tức mình em đổ cá xuống sông em về

Đây không còn là đối đáp chữ nghĩa mà người nói cố tình đưa ra các từ sắp xếp theo thứ

tự bốn mùa để ngầm nói tình yêu chúng mình đã trải qua bốn mùa, một năm rồi chứ không phải ngày một ngày hai, sao anh lại nghe người ta nói em đã có chồng để rồi hỏi em Em có chồng với

ai khi chúng mình đang yêu nhau, sao anh nông nổi cả tin như thế

30 Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, H., tr.26

31 Lê Đức Luận, Mùa xuân và hoa trong ca dao, Ngôn ngữ và Đời sống, số 4 (126), H., 2006

Trang 23

Đặt từ trong cấu trúc ngữ, cấu trúc câu sẽ làm rõ vai trò và ý nghĩa của nó trong văn cảnh Cùng một dạng cấu trúc cú pháp nhưng ngữ liệu khác nhau sẽ cho ta những ý nghĩa khác nhau, có thể là đồng nghĩa, trái nghĩa Phân tích khả năng thay thế và kết hợp từ ngữ trong cùng văn cảnh, cùng cấu trúc câu sẽ thấy được những giá trị ngữ nghĩa của chúng Trong quá trình ấy, thấy được

sự cải biến của các cấu trúc từ ngữ Cấu trúc thành ngữ và tục ngữ trong ca dao, tác giả dân gian

đã sử dụng chúng, thay đổi và thay thế cho phù hợp với hoàn cảnh đối đáp, nói năng Từ cấu trúc nguyên khối có thể thay đổi bằng cách tách cấu trúc hoặc thay đổi vị trí Cấu trúc nguyên khối trong câu ca dao sau:

Tâm sự này biết tỏ cùng ai Biết đâu cá nước chim trời là đâu

Cấu trúc “cá nước chim trời” đã được tách ra và đảo vị trí trong một lời khác:

Thiếp đây khác thể chim trời Chàng như cá nước biết mấy đời gặp nhau

Cũng có loại giữ nguyên mô hình cấu trúc nhưng thay từ gần nghĩa, thay đổi vị trí Câu ca dao:

Bõ công vượt bể băng ngàn

Bõ công bỏ sức tay mang khăn trầu

Ở bài ca dao khác, cấu trúc đảo vị trí và thay đổi từ tạo thành cấu trúc mới nhưng vẫn đồng nghĩa:

Phụ mẫu sinh được mấy người

Mà anh băng bể vượt vời tới đây

Với phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu tiếng Việt trong các tác phẩm văn học dân gian sẽ cần phải có sự khảo sát các yếu tố ngôn ngữ thuần Việt và ngôn ngữ Nam Á, Nam Đảo với yếu tố ngôn ngữ Hán Việt

Sử dụng lí thuyết ngữ dụng học để nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ trần thuật Từ ngôn cảnh giao tiếp, phân tích tình huống giao tiếp, tâm lý giao tiếp, các đoạn thoại trong giao tiếp Điều này không chỉ nghiên cứu ở địa hạt ngôn ngữ văn xuôi mà cả ngôn ngữ thơ Ca dao là sản phẩm của các cuộc thoại nên cần nghiên cứu cấu trúc hội thoại, tìm thấy yếu tố hội thoại không chỉ trong các bài có các vế đối đáp mà còn trong các bài chỉ một vế Điều này có thể thấy rõ trong bài ca dao “Xin áo”.32

1.3.2.2 Nghiên cứu thi pháp VHDG từ điểm nhìn văn hóa

Tất cả mọi vấn đề của khoa học xã hội nhân văn đều có liên quan đến văn hóa Văn học là một loại hình nghệ thuật gắn kết chặt chẽ với văn hóa Có thể nói, văn học là một hình thức biểu hiện văn hóa theo cách riêng – văn hóa được thể hiện bằng nghệ thuật ngôn từ, hay nói khác đi, văn học chứa đựng văn hóa M.Bakhtin, giáo sư văn học người Nga là một trong những người đề xướng tiếp cận văn học bằng văn hóa Năm 1968, trong lời giới thiệu viết cho cuốn sách Thơ Hồ Xuân Hương xuất bản bằng tiếng Nga, nhà Việt Nam học người Nga N Nicutin đã dựa theo cách nghiên cứu của M.Bakhtin để so sánh sự xâm nhập của văn hóa dân gian Việt Nam vào thơ Hồ Xuân Hương Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã dùng phương pháp nhân học-văn hóa học để lí giải thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương theo hướng văn hóa phồn thực Ở đây, Đỗ Lai Thúy đã đề cập đến văn hóa tính dục33, gọi theo Nguyễn Văn Dân là văn hóa tình dục có lẽ khái quát và tránh thái quá hơn

Cách thức tiếp cận tác phẩm văn học bằng điểm nhìn văn hóa là khảo sát những yếu tố văn hoá trong chi tiết nghệ thuật, trong hình tượng, biểu tượng của tác phẩm văn học Yếu tố văn hoá trong thể thơ và kết cấu Tính cách văn hoá biểu hiện qua lối sống, cách ứng xử, trong giới tính,

32 Lê Đức Luận (1998), Dạng tham thoại hẫng trong bài ca dao "Xin áo", Ngôn ngữ và Đời sống, số 2 (28), H

33 Đỗ Lai Thúy (1999), Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, Nxb VHTT, H

Trang 24

tuổi tác, địa phương Điều làm nên giá trị văn hoá biểu hiện qua ngôn ngữ tác phẩm, ngôn ngữ nhân vật Nghiên cứu giá trị văn hóa bao hàm cả những vấn đề giao thoa, ảnh hưởng của các giai đoạn văn hóa như văn hóa cổ đại, văn hóa trung đại, văn hóa hiện đại, văn hóa khu vực và sự tương đồng văn hóa của các nước trong khu vực hay các nước láng giềng

Văn học dân gian chính là văn hoá dân gian hay nói cách khác, văn học dân gian phản ánh văn hoá dân gian nên khi nghiên cứu văn học dân gian thì cần theo hướng nghiên cứu văn hoá học Các đề tài nghiên cứu văn hoá trong văn học như: Văn hoá ẩm thực trong ca dao, tục ngữ; Phong tục cưới xin trong ca dao, tục ngữ; Phong tục tang ma trong ca dao, tục ngữ; Phong tục sinh hoạt trong ca dao, tục ngữ; Mối quan hệ nhân sinh trong cổ tích; Trang phục và trang sức trong ca dao, tục ngữ; Tín ngưỡng đa thần trong văn học dân gian; Yếu tố Phật giáo, Đạo giáo trong cổ tích, ca dao; Yếu tố Nho giáo trong ca dao; Văn hoá nghề nghiệp trong ca dao; Phong tục làng quê trong vè; Văn hoá làng quê trong ca dao…

Theo điểm nhìn nghiên cứu văn hóa để khảo sát những yếu tố ngôn ngữ biểu hiện văn hóa

đô thị trong ca dao Hà Nội Yếu tố văn hóa đô thị được thể hiện qua các tiêu chí về nếp sống, sinh hoạt, nghề nghiệp, kinh tế thể hiện trong ca dao Từ góc nhìn văn hóa để xem xét và lý giải cội nguồn và điều kiện địa lý, chính trị, kinh tế hình thành một vùng văn hóa đô thị và được thể hiện trong ca dao ở mức độ nào Theo hướng nghiên cứu này, có thể khảo sát những yếu tố ngôn ngữ văn hóa thể hiện về phong tục người Việt xung quanh hình ảnh con lợn trong ca dao

Khai thác những vấn đề biểu tượng trong văn học, đặc biệt là trong văn học dân gian chính

là hướng nghiên cứu văn hoá Nghiên cứu biểu tượng qua hình ảnh các cây con, biểu tượng về con

hổ, con rồng có liên quan đến văn hoá, phong tục người Việt 34

1.3.2.3 Nghiên cứu thi pháp VHDG theo văn học so sánh

Theo Nguyễn Văn Dân, so sánh là để xác định sự vật về phương diện định tính, định lượng hoặc ngôi thứ trong mối tương quan với các sự vật khác So sánh thực chất là đối chiếu giữa hai đối tượng hoặc nhiều đối tượng để nhằm xác định rõ bản chất, đặc điểm của đối tượng cần đề cập đến So sánh được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như văn hóa, ngôn ngữ, văn học, triết học…Ngôn ngữ học đối chiếu đã trở thành một ngành nghiên cứu ngôn ngữ nhằm đối chiếu giữa hai hay nhiều ngôn ngữ cùng hoặc khác loại hình để xác định đặc trưng ngôn ngữ cần nghiên cứu So sánh được

sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn học So sánh văn học và văn học so sánh là hai vấn đề khác nhau về cấp độ So sánh văn học là một phương pháp phổ quát chung cho việc nghiên cứu văn học Không có lĩnh vực nghiên cứu văn học nào mà lại không cần đến so sánh Nhưng so sánh phải cần có nguyên tắc, phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu So sánh đồng dạng, đồng loại

để tìm thấy sự giống nhau, sự gần gũi và sự sáng tạo riêng So sánh khác loại, khác dạng để tìm thấy sự khác biệt và xâm nhập lẫn nhau Có so sánh lịch đại và so sánh đồng đại So sánh là một phương pháp trong nhiều phương pháp nghiên cứu văn học So sánh là một phương pháp nghiên cứu văn học và khi có sự giao lưu văn hoá mạnh mẽ giữa các quốc gia là điều kiện xã hội để hình thành bộ môn văn học so sánh

Sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành văn học so sánh là so sánh lịch sử gồm lịch đại, đồng đại So sánh quá trình phát triển của các thể loại VHDG, so sánh cốt truyện nhân vật có cùng mô tip ví như kiểu truyện Tấm Cám, truyện Thạch Sanh, mô tip biến hóa nhân vật, so sánh các biểu tượng văn hóa trong các tác phẩm VHDG Việt Nam và thế giới…

1.4 Vấn đề xác định ranh giới các thể loại văn học dân gian

1.4.1 Phân định các thể loại truyện kể

34 Lê Đức Luận, Biểu tượng Long – Rồng từ cội nguồn văn hoá giống nòi thể hiện trong truyền thuyết đến địa danh Thăng Long- Hà Nội, Ngôn ngữ và Đời sống, số171+172, H., Tháng 1,2/ 2010

Trang 25

Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn, khi xác định thể lại truyền thuyết đã viết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có cả những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm (chuyện nàng Tô Thị, chuyện Núi Vọng phu, v.v ), hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (chuyện Trầu Cau, ), hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác”35 Cách quan niệm truyền thuyết của nhóm tác giả này quá rộng, lấn sang các truyện thuộc thể loại cổ tích

Về phân loại truyền thuyết, Lê Chí Quế tạm chia truyền thuyết theo 3 loại: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa36 Hoàng Tiến Tựu thì chia truyền thuyết thành 4 giai đoạn lịch sử: truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc37 Đỗ Bình Trị đưa ra 2 cách phân loại truyền thuyết Cách thứ nhất vừa căn cứ theo lịch sử, vừa căn cứ vào phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm thì có 2 loại: những truyền thuyết về thời các vua Hùng, những truyền thuyết về sau thời vua Hùng Cách thứ hai không căn cứ vào đề tài thì có: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ

hệ, truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử38 Kiều Thu Hoạch cho rằng truyền thuyết có 3 loại lớn: truyền thuyết nhân vật (nhân vật anh hùng chống xâm lược, nhân vật anh hùng văn hóa, nhân vật anh hùng nông dân), truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phong vật (phong tục và sản vật)39 Quan điểm của Đặng Văn Lung trong cuốn: “Lịch sử và Văn học dân gian” hầu như xếp

những truyện về thần có liên quan đến cuộc sống con người đều là truyền thuyết Vì thế mà ông

cho truyền thuyết có nhiều loại: truyền thuyết lịch sử (Truyện Nam Man, Truyện An Dương Vương,

Truyện Trưng Trắc và Thi Sách…); truyền thuyết địa danh; truyền thuyết về vật tổ (Truyện Rồng, Truyện Điếu Điểu); truyền thuyết về vật thiêng (Thần Đồng cổ, Thuyền Đồng, Đá thần, Truyện Mộc Đa, Trâu thần, Ngựa thần…); Truyền thuyết về Shaman (phương thuật, biến hình); truyền thuyết về phong tục, luật lệ, làm ăn; truyền thuyết về nhận dạng (giao ngón chân).40

Chim-Giữa ba thể loại: thần thoại, truyền thuyết và cổ tích có chỗ đường ranh giới giao nhau

Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam cho có loại cổ tích lịch sử Giáo trình

Văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học sư phạm Hà Nội (1961-1962) và tái bản vào những

năm 1970 cũng cho có truyện cổ tích lịch sử Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia

Khánh và Chu Xuân Diên (1972-1973) cũng có loại cổ tích lịch sử Những cách phân loại cổ tích

có tiểu loại cổ tích lịch sử thể hiện một cách quan niệm rằng cổ tích phản ánh lịch sử và điều này thì gần gũi với chức năng truyền thuyết Có hiện tượng những tác phẩm giao điểm giữa hai thể

loại thần thoại và truyền thuyết như: Họ Hồng Bàng, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, Nỏ thần

Các truyện này theo Đinh Gia Khánh là thần thoại Theo chúng tôi, đây là những truyện truyền thuyết mang nhiều yếu tố huyền thoại Mặc dù các truyện này có nhân vật thần nhưng về cơ bản

vẫn là nhân vật có tính người, hoạt động như con người Truyện Nỏ thần, dù thần Kim Quy mang

màu sắc thần thoại nhưng nó nằm trong hệ thống truyền thuyết An Dương Vương nên nhân vật trung tâm vẫn là An Dương Vương Nếu cứ cho các truyện có thần vật là thần thoại thì các truyện

thuộc nhóm cổ tích thần kì cũng thần thoại vì loại truyện này có yếu tố thần Sơn Tinh Thủy Tinh

35 Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Xây dựng, H 1957, tr 60

36 Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H 1990, tr 62

37 Văn học dân gian Việt Nam, Tập II, Nxb Giáo dục, H 1990, tr.28

Trang 26

là hiện tượng thần thoại hóa truyền thuyết hoặc truyền thuyết xen vào thần thoại Truyện này chủ yếu là truyền thuyết phong tục thời Văn Lang về việc thi tài kén rể, cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai thủ lĩnh Núi và Nước Yếu tố thần thoại là sự giải thích hiện tượng mưa lũ xảy ra và cuộc đấu tranh chống lại thần nước của cư dân Lạc Việt

Các truyện: Sự tích Bánh chưng bánh dày, sự tích Dưa hấu, Sự tích Trầu cau các nhà nghiên cứu cũng có quan điểm khác nhau Hai truyện Sự tích Bánh chưng bánh dày, sự tích Dưa

hấu được cho là cổ tích thần kì 41 Vũ Kim Biên trong cuốn “Truyền thuyết Hùng Vương thần thoại

vùng đất tổ” đã cho các truyện: Trầu cau, Chử Đồng Tử (sách này có tên là Tiên Dung công chúa)

là truyền thuyết Ngay cả tên gọi cho cuốn sách cũng nhập nhằng hai thể loại: Thần thoại và truyền

thuyết 42 Truyện Trầu cau là truyện thuộc tiểu loại cổ tích hoá thân, nằm trong kiểu truyện lí giải phong vật Nhưng truyện Chử Đồng Tử là truyện khó xử lí Lâu nay các nhà nghiên cứu folklore

vẫn cho tác phẩm này là cổ tích thần kì Tuy nhiên, nếu xếp vào nhóm truyện có nhân vật bị bức

hại, bị đày đoạ, bị lừa đảo chiếm đoạt như kiểu truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế…thì không đúng Chử Đồng Tử là nhân vật mồ côi nghèo khổ nhưng không bị ai ức hiếp, cướp đoạt Cuộc

hôn nhân giữa chàng với công chúa Tiên Dung là sự ngẫu nhiên bất ngờ như một cuộc hôn nhân định mệnh Trước đó hai người không hề biết nhau, Tiên Dung thì nguyện không lấy chồng còn Chử Đồng Tử thì khó lấy được vợ vì quá nghèo Tình duyên của họ như có người sắp đặt để rồi nên vợ nên chồng Chử Đồng Tử là nhân vật có cơ duyên với đạo giáo nên được gặp đạo sĩ rồi được truyền dạy phép thuật Suýt nữa thì hai cha con đấu đầu nhau nhưng Tiên Dung và Chử Đồng

Tử nhờ phép thuật mà giải thoát Truyện này có một tên khác là Sự tích đầm Nhất Dạ hay bãi Tự

nhiên Phải chăng nó thuộc loại truyền thuyết địa danh hay cổ tích hoang đường lí giải về duyên

số và phép thuật của đạo giáo? Tiên Dung và Chử Đồng Tử sau này đều bay lên trời Ngay cả tên Tiên Dung cũng mang yếu tố đạo giáo, không phải là cái tên Mị Nương như tên gọi con gái vua thời kì này Việc bay lên trời này khác với nhân vật lịch sử sau khi chết cũng bay lên trời Cái tên địa danh cũng để lí giải dấu tích lâu đài và sự thăng thiên của Tiên Dung và Chử Đồng Tử Thời Hùng Vương, phương thuật và đạo giáo đã khá thịnh Tăng Cổn, viên quan đô hộ cùng đi với Cao

Biền trong Giao Chỉ ký (thế kỉ IX) đã ghi: Hùng Vương của thế kỉ VII tr C.n là một pháp sư, tóm

thâu được thần quyền và thế quyền trong tay.43 Các truyện Sự tích núi Ngũ Hành, Sự tích núi Vàng

thiên về lí giải địa danh chúng tôi cho là truyền thuyết thì cũng được xếp vào bộ phận cổ tích thần

Truyện cổ tích loài vật và truyện thần thoại về các loài vật đều có chung đối tượng phản

ánh Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những chỗ giao thoa Các truyện Cá gáy hoá rồng; Cuộc tu

bổ lại các giống vật; Rắn già rắn lột, người già người chui tuột vô săng thì Nguyễn Đổng Chi xếp

vào thần thoại còn Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 6 lại xếp vào cổ tích loài vật Trong các truỵên trên thì truỵên Cá gáy hoá rồng, Rắn già rắn lột, người già người chui tuột vô săng đã

gắn vào niềm tin vốn con người sống lâu không chết và cá chép là con vật thiêng và như vậy, theo chúng tôi vẫn nghiêng về thần thoại nhiều hơn Truyện cổ tích loài vật thường lí giải đặc tính, đặc điểm, gốc tích của con vật nhằm cung cấp cho người nghe những kiến thức về loài vật Còn truyện ngụ ngôn, nhân vật loài vật là nhân vật đóng vai nhằm ngụ ý về một bài học triết lí nhân sinh Tuy

nhiên, cũng có những trường hợp khó phân định như truyện Con công và con quạ, Con cóc là cậu

ông trời, Con nhện và con ruồi ở Tập 10 xếp vào truỵên ngụ ngôn Truyện Con cóc là cậu ông trời

41 Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 6, Truyện cổ tích thần kỳ, Nguyễn Thị Huế chủ biên, Nxb Khoa học

xã hội, H Tr 827-934

42 Vũ Kim Biên (2005), Truyền thuyết Hùng Vương thần thoại vùng đất tổ, Sở Văn hóa Thông tin Phú Thọ

43 Lê Đức Luận, Xã hội Hùng Vương thể hiện trong ngôn ngữ truyền thuyết và cổ tích, Ngôn ngữ và Đời sống, số 4

(138), H., 2007

Trang 27

có dấu hiệu của bài học về sự đoàn kết của các kẻ yếu cũng có thể thắng những thế lực mạnh

Truyện Không biết lượng sức mình có thể là truyện ngụ ngôn về sự bắt chước làm theo mà không biết lượng sức mình, một đồng dạng của truyện Cáo mượn oai hùm44 Truyện ngụ ngôn và truyện cười cũng có sự giao thoa, giữa chúng đều có yếu tố cười nhưng truyện ngụ ngôn lấy tiếng cười làm phương tiện còn truyện cười lấy tiếng cười làm mục đích Truyện cười chỉ nhằm cười cợt còn ngụ ngôn nhằm nêu bài học nhân sinh Có những truyện ngụ ngôn cười ra nước mắt nhưng không

phải mục đích gây cười mà chỉ là tình huống gây cười mà thôi Truyện Xẩm xem voi hay Thầy bói

xem voi, cảnh năm ông thầy bói cãi nhau rồi đánh nhau toạc đầu chảy máu làm người nghe cười

nhưng đó lại là truyện ngụ ngôn nêu lên bài học về cách đánh giá, nhận xét sự vật Truyện Treo

biển, tương tự với truyện này là truyện Đẽo cày giữa đường là dạng truyện ngụ ngôn nêu lên bài

học về bản lĩnh tiếp nhận ý kiến góp ý, phê bình Tuy nhiên truyện Treo biển lại được tác giả sách

Ngữ văn 6 tập Một cho là truyện cười45 Theo Triều Nguyên, giữa truyện cười và truyện cổ tích sinh hoạt có những điểm chung là có yếu tố gây cười vì thế mà có sự nhầm lẫn một số truyện cổ tích sinh hoạt là truyện cười.46

Hiện nay các giáo trình VHDG còn xếp chung các truyện như Trạng Quỳnh, Xiển Bột,

Trạng Lợn, Thủ Thiệm, Ông Ó, Ba Phi nằm trong truyện cười Theo Vũ Ngọc Khánh: “Khởi đầu,

truyện trạng phải là truyện kể về ông trạng người thật việc thật với những tiểu sử đặc sắc, học hành công phu, ứng xử giỏi trong chính trị ngoại giao Dần dần truyện được lưu truyền phát huy tác dụng Phải có người mới có truyện Nhưng khi đã có truyện thì người ta nhớ truyện chứ không nhất thiết nhớ đến người Chuyện thật sẽ thành giai thoại để mang thêm giá trị văn học thẩm mĩ nhiều hơn là giá trị sử liệu Có thể có chuyện của ông trạng này ghép cho ông trạng kia hay những truyện được thêm thắt Rồi có những người không đỗ vẫn được tôn là trạng”47 Hiện nay các ý kiến chưa thống nhất về thể loại truyện trạng, có 3 nhóm ý kiến:

- Xếp truyện trạng vào truyện cười Đó là các tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên

trong Văn học dân gian, Chu xuân Diên và Trần Gia Linh trong Từ điển văn học, Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nguyễn Ngọc Côn và Hoàng Tiến Tựu trong

Lịch sử văn học Việt Nam

- Xếp truyện trạng vào cổ tích sinh hoạt Tiêu biểu là Đỗ Bình Trị trong Nghiên cứu tiến

trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam

- Xếp truyện trạng vào giai thoại dân gian Vũ Ngọc Khánh trong các công trình: Truyện

trạng Việt Nam, Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam, Kho tàng giai thoại Việt Nam đề nghị

xếp các truyện Trạng vào giai thoại

Đặc điểm tính danh của nhân vật trạng gắn liền với quá trình sáng tạo folklore vừa rất chung vừa rất riêng của truyện trạng Nhân vật truyện trạng là nhân vật ở thế lưỡng phân: vừa nhân vật sáng tạo truyện vừa là nhân vật trung tâm của hệ thống truyện Thứ hai là truyện trạng có sử dụng phương thức phóng đại làm yếu tố tạo ra tiếng cười cho tác phẩm Thứ ba, vì thế, truyện trạng có yếu tố gây cười là lẽ đương nhiên V Guxep nói về tính hài của folklore “Trong folklore, tính hài của tình thế, của cảnh ngộ lấn át tính hài của tính cách Ở nhân vật hài được tách ra một nét nào đó, một đặc tính nào đó và tính chất tiêu cực này được cố tình cường điệu, tô đậm đến chỗ

44 Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 7, Truyện cổ tích loài vật, Truyện cổ tích sinh hoạt, Nguyễn Thị Huế

chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, H tr 30-133

45Lê Đức Luận (2006), Từ ngôn ngữ thông tin quảng cáo đến việc xử lý tình huống trong truyện Treo biển, Thế

giới trong ta, Số 57+58, H

46 Triều nguyên (2010), Sự khác biệt giữa truyện cười và cổ tích sinh hoạt có yếu tố gây cười, Sông Hương

47 Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam, Sở giáo dục Thanh Hóa xuất bản, 1991, tr.212

Trang 28

phi lý”48 Thứ tư, truyện trạng bao giờ cũng tạo tình huống có vấn đề để khẳng định tính cách của nhân vật truyện

Công trình Mĩ học folklore của V.E Guxep có nhắc đến một số công trình nghiên cứu về giai thoại như: Những tìm tòi trong văn học giai thoại của N.F Xumtxoc, Đặc trưng tư tưởng và

nghệ thuật của giai thoại dân gian Nga của V.M.Xidelnikov in năm 1964 Ở Việt Nam vào các

thời nhà Lê đến nhà Nguyễn trong các sách Hán Nôm ghi chép khá nhiều giai thoại xung quanh

các nho sĩ như Công dư tiệp ký (1755) của Vũ Phương Đề (Ghi nhanh lúc rỗi việc công) nhưng

không dùng chữ giai thoại Truyện kể với tên gọi giai thoại hoặc có tính chất giai thoại xuất hiện trong khoảng những năm 1930-1945 nhưng phải đến năm 1965 mới có cuốn sách sưu tập giai thoại

với tên gọi Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch do Trần Thanh

Mại viết giới thiệu Theo Kiều Thu Hoạch thì “Mục đích của truyện cười là gây cười thì mục đích của giai thoại văn học lại chỉ để mua vui, chỉ nhằm đưa tới cho mọi người cái cảm giác sảng khoái, thú vị, một sự giải trí trí tuệ, thông minh, dí dỏm qua thơ văn và bằng thơ văn Một truyện cười sở

dĩ được gọi là truyện cười chính là do tính gây cười tạo nên Một giai thoại sở dĩ được gọi là giai thoại chính là do tính lí thú tạo nên Nói riêng về giai thoại văn học thì khi nói đến tính lí thú là nói một cách toàn diện, đó là tính lí thú ở cả bản thân thơ văn trong giai thoại cũng như tính lí thú

ở tình huống của giai thoại”49 Giới folklore thế giới đã không đồng tình với quan điểm một thời

đã qua, coi sáng tác folklore chỉ là sáng tạo của người lao động, của người mù chữ Trần Quốc Vượng đã đồng tình với quan điểm của một nhà nghiên cứu folklore người Pháp “là dân gian, cái

gì không phải là chính thống”50 Theo V.E Guxep: “Chúng tôi tách giai thoại khỏi cổ tích sinh hoạt và đặc biệt khỏi cổ tích trào phúng vì nó có một số đặc điểm cho phép xem nó như một thể loại độc lập Chúng tôi gọi là giai thoại tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước (saitirique ou humoristique) được xây dựng trên một tình tiết có một sự tăng tiến tới điểm cao (culmination), biểu hiện rõ rệt và kết thúc bất ngờ Những giai thoại có thể kết chuỗi xung quanh một nhân vật quen thuộc với đại chúng (populaire), có thể là nhân vật lịch sử hoặc tưởng tượng ”51

Kiều Thu Hoạch chủ biên cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 11, Giai thoại

văn học Việt Nam quả là lúng túng khi phân loại giai thoại văn học Tác giả chia thành hai loại:

Giai thoại về các tác gia (357 truyện) và giai thoại khuyết danh (84 truyện) Đã là giai thoại dân gian kể về nhân vật nào đó, nhà văn nhà thơ nào đó thì không thể gọi là tác gia Dùng thuật ngữ

“tác gia” thường để chỉ các tác giả văn học lớn” chứ không thể chỉ nhân vật giai thoại Vả lại có những “tác gia” chỉ xuất hiện với tư cách là nhân vật lịch sử thì không phải là nhân vật văn học như Lý Công Uẩn, Nguyên phi Ỷ Lan Lại có những truyện thuộc về một phần truyện Trạng

cũng được xếp vào giai thoại văn học như Chó khôn chớ cắn càn, Tú Cát-bọ hung, Thơ tạ thành

hoàng, Da trắng vỗ bì bạch, Dòm nhà Bảng nhãn, Thơ tức cảnh mót lúa, Bài văn hai nghĩa, Thừa giấy vẽ voi, Tráo thơ giáo thụ trong truyện Trạng Quỳnh Các truyện: Thơ điên cuồng ngu ngộ, Đít thớt đầu chày, Tổng đốc cay mũi, Ba quan bốn chó, Vào huyện đường họa thơ nằm trong

truyện Xiển Ngộ Các truyện: Bài thơ gỡ thể diện, Câu hò hay bảy mười một, Cây không trái gái

không chồng nằm trong truyện Nguyễn Kinh Các truyện: Thơ tập Kiều gỡ bí, Tấm vóc giá một chinh, Thơ nịnh sư nằm trong truyện Tú Xuất Thiết tưởng đây chỉ là những mẫu chuyện thể hiện

tài trí của nhân vật giai thoại

Truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử có rất nhiều điểm khác nhau:

48 Mỹ học folklore, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Đà Nẵng, 1999, tr 572-573

49 Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 11, Giai thoại văn học Việt Nam, Khải luận, Nxb KHXH, 2004

,tr.25-31

50 Folklore Việt Nam-trữ lượng và viễn cảnh, Tạp chí NCVHNT số 5-1990

51 V.E Guxep (1999), Mĩ học folklore, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Đà Nẵng,tr 233

Trang 29

- Về qui mô tác phẩm, giai thoại thường phải hết sức ngắn gọn Một giai thoại hấp dẫn cần phải có lời kể, lời thoại thật ngắn gọn Đây là yếu tố làm tăng kịch tính và độ căng cho câu chuyện Tuy nhiên, truyền thuyết không có nhu cầu được kể ngắn gọn

- Về hình thức thể hiện, giai thoại bắt buộc phải có lời thoại, tức có đối đáp giữa các nhân vật Không có lời thoại, câu chuyện dù thú vị đến đâu cũng không thể thành giai thoại Trong khi

đó, không ít truyền thuyết rất hấp dẫn mà chẳng cần có lời thoại nào

- Về ngôn ngữ kể, giai thoại thường đề cao tính trí tuệ của lời thoại Một giai thoại được xem là hay cần phải có lời thoại hay, giàu chất trí tuệ (riêng ở giai thoại văn học, thủ pháp chơi chữ còn được xem là dấu hiệu đặc trưng của tiểu loại) Khác giai thoại, truyền thuyết lại đề cao tính biểu cảm của lời kể Một truyền thuyết hay cần phải có cốt truyện hay, lời kể gây được nhiều xúc động

- Về giọng kể, giai thoại thường pha giọng dí dỏm, hài hước, phê phán Truyền thuyết luôn mang giọng điệu trang trọng, thành kính, phù hợp với thái độ đánh giá lịch sử Những từ ngữ sau

đây thường hiện diện trong truyền thuyết nhưng không bao giờ thấy trong giai thoại: “để ghi nhớ

tấm lòng nhân hậu…; để ghi nhớ câu chuyện thương tâm…; nhân dân trong vùng rất thương nhớ…;… nhưng tên tuổi ông được lưu danh muôn đời trong lịch sử, trên bia miệng… ”

- Về sự kiện, tình tiết trong tác phẩm, giai thoại gắn với không gian, thời gian sinh hoạt đời thường, hàng ngày Còn truyền thuyết luôn gắn với không gian thiêng, thời gian thiêng, liên quan đến vận mệnh nhân vật và dân tộc Trong truyền thuyết, cho dù một dòng sông, con rạch bình thường cũng gắn liền với công đức, sự hi sinh dũng liệt của những người yêu nước, các tình tiết,

sự kiện, cho dù gần với sinh hoạt đời thường cũng gắn liền với một thời khắc lịch sử nào đó, có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời nhân vật lịch sử

- Về những sự kiện lịch sử, giai thoại sử dụng nó không nhằm mục đích phản ánh, đánh

giá lịch sử Nó không được kể như “cái đương là” mà phần lớn chỉ được nhắc nhở qua những lời

đàm tiếu, sự luận bàn công - tội của vua chúa hay của giới quan lại, đại thần Sự hiện diện của chúng chỉ nhằm phác họa rõ hơn bản chất và cách đối nhân xử thế của các nhân vật lịch sử Riêng với truyền thuyết, sự kiện lịch sử được xem là phần trung tâm, là cái lõi của tác phẩm Thủ tướng

Phạm Văn Đồng từng nhận xét, truyền thuyết “thường có cái lõi là sự thật lịch sử” Nguyễn Xuân Lạc còn nhấn mạnh “chính cái nội dung lịch sử lại là đặc điểm nổi bật của thể loại văn học dân

gian này”52 Còn Hồ Quốc Hùng xem truyền thuyết là “ký ức cộng đồng về quá khứ”53 Chúng tôi nghĩ, đây cũng là một cách nói, khẳng định vị trí, vai trò của sự kiện lịch sử trong truyền thuyết

- Về nhân vật, giai thoại chỉ tập trung kể chuyện sinh hoạt đời thường, chuyện “thâm cung

bí sử” của những nhân vật vốn nổi tiếng Một giai thoại, dù đã có tình huống lý thú, lời thoại lí thú nhưng nếu được gán vào một nhân vật nổi tiếng thì tính lí thú của nó càng tăng thêm bội phần Không ít giai thoại văn học đã được lịch sử hóa, có lẽ cũng từ quan niệm này Còn đó, giai thoại

về các hoàng tử con vua Gia Long: Nguyễn Phúc Phổ ngổ ngáo, Nguyễn Phúc Đài tham lam, Nguyễn Phúc Quân xấc xược … Rồi chuyện các đại thần: tướng Lê Văn Quân chết rồi vẫn bị đánh

100 gậy, Tả quân Lê Văn Duyệt bị san mộ, Tham tri Nguyễn Tri Phương bị vua nghiêm phê, Tiến

sĩ Phan Thanh Giản bảy lần bị trách phạt…

Riêng truyền thuyết, ngoài những anh hùng dân tộc như Trương Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân … tác phẩm có thể chỉ kể về những người xuất thân bình thường hoặc vô danh Đơn cử, đó là chuyện mười tám nghĩa binh phò Trương Định, chuyện ông lực điền Phòng Biểu - tướng tài của Thiên Hộ Dương, chuyện Bà Điều, Bà Đỏ – nghĩa quân thân

52 Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường, Nxb Giáo Dục, H., tr.66

53 Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại, Nxb Trẻ – Hội Nghiên cứu & Giảng dạy Văn học TP.HCM, 2003, tr.10

Trang 30

tín của Nguyễn Trung Trực, chuyện tướng cướp hoàn lương Sáu Hải - người đánh mõ trung thành của Thủ Khoa Huân …

- Về cách miêu tả, giai thoại thường đưa cuộc đời nhân vật đi từ chỗ bí ẩn trở về gần gũi

với mọi người Nó có xu hướng kéo nhân vật xuống đời thường Có thể kể, đó là chuyện hỉ nộ hàng

ngày của vua Gia Long, chuyện ăn uống của bà Từ Dụ (đời sau quen gọi là Từ Dũ – thân mẫu vua

Tự Đức) … Ngược lại, truyền thuyết đưa nhân vật đi từ chỗ bình thường hóa thành thiêng liêng,

bất tử Nó theo xu hướng nâng nhân vật lên ngưỡng đề cao, tôn thờ Ví dụ, chuyện ông Dương

Văn Hạnh, phó xã trưởng đất Lý Nhơn, vì giấu tung tích Trương Định mà bị chặt đầu nên nhân dân tôn thành Ông thần không đầu; chuyện Bà Bầy, vì ủng hộ nghĩa quân Thiên Hộ Dương mà bị giặc bắt tra tấn, hãm hiếp đến chết nên được nhân dân thương tiếc, lấy tên bà đặt cho một vàm sông - vàm Bà Bầy …

- Về chức năng tác phẩm, giai thoại nhằm tạo cảm giác lí thú, từ đó có thể rút ra bài học triết lý nhân sinh Còn truyền thuyết lại nhằm đánh giá lịch sử, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn, tôn thờ, ngưỡng mộ của nhân dân với người có công đức Sự khác biệt này từng được Lã Duy Lan lưu

ý: “Giai thoại không thể hiện sự ngưỡng mộ như truyền thuyết mà chỉ thể hiện một vài khía cạnh

riêng tư, đặc biệt của nhân vật đó mà thôi” 54

- Về thái độ tiếp nhận, khi nghe một giai thoại, mọi người có thể tin hoặc không tin Ứng

Hòe, Nguyễn Văn Tố từng chú giải: “giai thoại là chuyện vặt, chuyện dật sử, có cái không đáng

tin”55 Thế nhưng, khi nghe một truyền thuyết, ai nấy đều luôn có niềm tin Nói theo Trần Thị An,

“hạt nhân quan trọng nhất trong thể loại truyền thuyết đó là niềm tin vào sự hiện diện của cái kỳ

ảo trong đời sống …”56 Niềm tin trong truyền thuyết thường khiến mọi người có nhu cầu gắn nó với một chứng tích văn hóa nào đó Để củng cố niềm tin, mọi người có nhu cầu gắn truyền thuyết với một chứng tích văn hóa nào đó (lăng mộ, địa danh, lễ hội…) Ở sự tiếp nhận giai thoại, nhu cầu này không có.57

Những truyện cho là giai thoại văn học lại là một phần của truyền thuyết nhân vật lịch sử

Giai thoại Tay lái đò hay chữ kể về Đỗ Thuận đối đáp với sứ nhà Tống nằm trong truyền thuyết

về Lê Đại Hành Giai thoại Bị trói vẫn làm thơ kể về Lý Công Uẩn khi còn ở chùa Cổ Pháp nằm trong truyền thuyết về Lý Công Uẩn Giai thoại Tay cầm nửa vầng trăng kể về Nguyên phi Ỷ Lan với câu hát cắt cỏ nằm trong truyền thuyết về Lý Thánh Tông Riêng truyện Tay cầm nửa vầng

trăng, chỉ một câu hát có phần ngẫu hứng lại được cho là giai thoại văn học thì quả chưa ổn.58

1.4.2 Phân biệt các thể loại hát nói

Đồng dao khác ca dao Đồng dao có cách thức hát và đối tượng phục vụ riêng, vì thế mà thi pháp sáng tác của nó khác với ca dao mà lâu nay các nhà nghiên cứu thường dùng chung cho phần lời của các câu hát dân gian, chủ yếu là của người lớn Ca dao là những sáng tác dành cho người lớn nên giọng điệu, nội dung lời ca phù hợp với tâm trạng, suy nghĩ của người lớn Đồng dao là những sáng tác dành cho trẻ em nên giọng điệu và nội dung phù hợp với lứa tuổi nhi đồng

Ca dao phổ biến trong phạm vi rộng, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, lại được sáng tác bài bản, thậm chí có tính “trường qui” của các nhà Nho bình dân nên giá trị nghệ thuật cao Đồng dao là những sáng tác có tính khởi phát do nhu cầu vui chơi của trẻ, chưa có kiến thức và kĩ năng sáng tác thơ ca nên lời ca còn mộc mạc, nghệ thuật đơn giản Một số lời sáng tác của người lớn dành

54 Lã Duy Lan (2008), 33 truyền thuyết tiêu biểu của Việt Nam, Nxb Công An nhân dân, H

55 Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27

56 Thông báo Văn hóa dân gian 2002, Sđd, tr.602

57 Võ Phúc Châu, Bình luận Văn học – Niên giám 2005, Nxb Văn hóa Sài Gòn & Hội nghiên cứu – Giảng dạy văn

học TP.HCM, tr.95)

58 Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 11, Giai thoại văn học Việt Nam, Khải luận, sđd,tr.25-31

Trang 31

cho trẻ thì nghệ thuật của nó gần đạt tới nghệ thuật ca dao Hiện nay, trong các tuyển tập ca dao dân ca, đồng dao đang còn xếp chung với ca dao

Đồng dao khác vè ở chỗ vè là những sáng tác chủ yếu của người lớn nên nó đề cập đến những vấn đề thời sự, lịch sử của địa phương và quốc gia Đồng dao là những sáng tác chủ yếu của trẻ con đề cập đến nhận thức và nhu cầu khám phá sự vật, cuộc sống xung quanh và thế giới qua con mắt nhìn hồn nhiên ngây thơ của trẻ em Có bộ phận vè về thói hư tật xấu thì có thể là của các em sáng tác để phê bình khuyên răn hay để đùa vui trong tầng lớp trẻ em Trẻ em là lứa tuổi hồn nhiên, thích tìm hiểu những điều mới lạ, hiếu kì nên những vấn đề gì xảy ra trong địa phương

mà có người đặt vè là các em có thể hát theo lối hát đồng dao Vì thế mà những bài vè chế giễu quan lại và những bài vè về thói hư tật xấu trong dân chúng đều có thể trở thành những bài hát của con trẻ

Như vậy, có thể thấy rằng tách đồng dao thành một thể loại riêng để thấy được nét đặc trưng về hình thức diễn xướng và nội dung biểu đạt của nó là rất cần thiết.59

1.5 Kết luận

Chương này, chúng tôi trình bày những tri thức nền tảng về thi pháp, các trường phái nghiên cứu thi pháp và lịch sử nghiên cứu thi pháp từ xưa cho đến nay của các nhà nghiên cứu Việt Nam

và thế giới Chúng tôi đưa ra những điểm chung và sự khác biệt giữa thi pháp Văn học dân gian

và văn học viết để từ đó đi đến những phác thảo về đặc trưng thi pháp VHDG Để có cái nhìn khái quát, chúng tôi nêu lên những điểm khác biệt, những điểm còn tranh cãi của một số tác phẩm VHDG giữa các thể loại Chúng tôi nêu ra các phương diện, các trường phái nghiên cứu văn học nói chung và VHDG nói riêng để thấy được phương thức nghiên cứu thi pháp nói chung và thi pháp VHDG nói riêng

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Thế nào là thi pháp và đặc trưng thi pháp

2 Đặc trưng thi pháp văn học dân gian

3 Phân biệt đặc trưng thi pháp văn học dân gian và văn học viết

4 Lịch sử nghiên cứu thi pháp văn học dân gian trên thế giới và Việt Nam

5 Phân tích các quan điểm về các thể loại văn học dân gian

6 Phân tích các phương diện nghiên cứu thi pháp văn học dân gian

7 Phân tích hai phương diện của thi pháp cấu trúc: cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dung

8 Phân biệt nhân vật với hình ảnh và biểu tượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1

1 Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, H

2 V.E Guxep (1999), Mĩ học folklore, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb Đà Nẵng

3 Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường, Nxb Giáo Dục, H

4 Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27

5 Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại học Huế

59 Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb ĐHQG, H

Trang 32

6 Lê Đức Luận (2012), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb Văn học, H

7 Đặng Văn Lung (2003), Lịch sử và Văn học dân gian, Nxb Văn học, H

8 Lê Trường Phát (2000), Thi pháp Văn học dân gian, Nxb GD, H

ĐẶC TRƯNG THI PHÁP CÁC THỂ LOẠI TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

2.1 Đặc trưng thi pháp thần thoại

2.2.1 Thi pháp cốt truyện và phương thức trần thuật

Cốt truyện thần thoại đơn giản, ngắn gọn Câu chuyện xoay quanh một nhân vật thần, tập

trung miêu tả, kể về hành động của nhân vật thần như Thần Trụ Trời, thần Biển, thần Mưa, thần

Gió Những truyện có hai nhân vật trở lên đều có dáng dấp của truyền thuyết và sử thi Đa số

truyện thần thoại, cốt truyện tập trung lí giải các hiện tượng thiên nhiên qua việc chú trọng miêu

Trang 33

tả hành động của thần Hành động và cốt cách của thần mang đặc điểm của hiện tượng tự nhiên

mà thần thể hiện Cốt truyện tập trung xây dựng nhân vật chính

a Cốt truyện lí giải nguồn gốc vũ trụ : “Thần trụ trời”…

b Cốt truyện lí giải các hiện tượng tự nhiên: Thần mưa, Thần Biển, Thần Mặt Trăng, Thần

thoại nhân sinh

2.2.2 Thi pháp nhân vật

Nhân vật thần thoại là thần Một trong những yếu tố tạo nên màu sắc hoang đường trong thần

thoại là nhân vật thần Đa số thần có nguồn gốc từ thiên nhiên như: thần Trụ Trời, thần Mặt Trăng,

thần Mặt Trời, thần Mưa, thần Núi, thần Gió, thần Biển Đây là lớp thần thoại đầu tiên, thần thoại suy

nguyên Từ một hiện tượng thiên nhiên suy ra nguồn gốc thần do đâu, từ đâu Bế tắc trong việc lí giải các hiện tượng thiên nhiên vì trình độ ấu trĩ, hiểu biết thế giới còn non nớt, ngây thơ nên người nguyên thủy cho tất cả các hiện tượng thiên nhiên mà họ luôn vừa kinh ngạc vừa khiếp sợ bắt nguồn từ hành động của thần thánh

Để xây dựng nhân vật thần thoại, biện pháp chủ yếu của người nguyên thủy là thần thánh hóa

và nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên Đây là biện pháp nghệ thuật “vô ý thức” bắt nguồn từ thế giới quan thần thoại, nghĩa là thế giới quan thần linh Người ta cho tất cả mọi vật, mọi hiện tượng trong thiên nhiên đều có hồn, có thần Ít nhiều nhân vật thần cũng có dáng dấp, tính cách lấy từ khuôn mẫu

con người Thần Trụ Trời tạo ra vũ trụ bằng chính sức lao động: đào đất đá đắp cột chống trời Thần

Mặt Trăng thì tính tình nóng nảy lại hay sà xuống dòm ngó hạ giới Mặt Trời đi kiệu có người khiêng, khi nào người khiêng là thanh niên thì hành trình thần chậm hơn vì thanh niên có tính hay chơi đùa, la

cà dọc đường khi nào khiêng kiệu là người đứng tuổi thì hành trình của thần nhanh hơn vì họ không làm phí thì giờ dọc đường Ðây là lớp thần thoại suy nguyên về các hiện tượng thiên nhiên

Nhân vật thần thoại có hình dạng và hành động phi thường Fontenelle giải thích các hình tượng huyền thoại (các vị thần) như sau: trong khi muốn tìm đến tận ngọn nguồn nguyên nhân đầu tiên của những hiện tượng tự nhiên khó hiểu, họ đã cấp cho những hiện tượng này những đặc tính người, cường điệu chúng và quy cho chúng những phẩm chất kì diệu.60 Hình dạng của nhân vật thần mang tầm cỡ vũ trụ Lớp nhân vật thần thoại có nguồn gốc thiên nhiên vũ trụ không có hình hài rõ ràng, vô hạn định Hành động của thần thì biến hóa khôn lường, đi mây về gió, thoắt biến thoắt hiện Hành động của thần là nguyên do của các hiện tượng thiên nhiên Hành động đó vừa có yếu tố thực, vừa có yếu

tố hoang đường Yếu tố thực là lấy các hoạt động của con người, của thiên nhiên để miêu tả hành động của thần Yếu tố hoang đường là màu sắc thần thánh, là cách lí giải ngây thơ về các hiện tượng thiên nhiên và xã hội

Tên nhân vật và màu sắc thần thoại người Việt đã bị Hán học hóa và Nho giáo hóa Trong dân gian gọi là ông trời thì đã bị biến thành tên Ngọc Hoàng, là tên Hán- Việt Trong khi đó, thần thoại các dân tộc, tên nhân vật vẫn được gọi theo ngôn ngữ của họ Thần thoại ra đời sau đã xuất hiện nhân vật

là con người trong hoạt động của thần như truyện Thần Lúa, Chú Cuội cung Trăng, Cường bạo Đại

Vương…61

60 Dẫn theo Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, tr.2-3

61 Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H

Trang 34

2.2.3 Thi pháp ngôn từ

Ngôn từ trong thần thoại khá hồn nhiên, mộc mạc, thường theo mạch liên tưởng thần thánh Theo Mác thì “Thần thoại là nghệ thuật vô ý thức” nên ngôn ngữ nghệ thuật không được chú trọng Ngôn ngữ miêu tả các vị thần theo lối tượng trưng và phóng đại Người nguyên thủy cho rằng mưa phải bắt nguồn từ dự trữ nước và xả nước mà muốn dự trữ nước thì phải có cái hút Thế là họ miêu

tả việc mưa như là hoạt động hút nước từ biển lên Trời cất vào một cái bể lớn, khi cần mưa là trút xuống thôi Nhưng vấn đề là tại sao ống hút khổng lồ ấy lại hút nước ở biển mà lại không hút nước

ở sông Tưởng chừng như đó là một sự tưởng tượng hồn nhiên nhưng thực ra lại là tưởng tượng khoa học Chỉ có biển mới có không gian rộng của dự trữ nước và quá trình bốc hơi nước ở biển diễn ra nhiều hơn ở sông ngòi Sự bốc hơi nước và ngưng tụ nước trên không trung tạo thành mưa được miêu tả bằng hành động một vị thần dùng vòi hút nước ở biển lên Thiên Đình rồi từ trên đó

đổ mưa xuống

Nhân vật thần Trụ Trời cũng được miêu tả với sự lớn mạnh bất thường, từ trong khối đen đặc đứng dậy tách ra thành nửa, chia khối ấy thành vũ trụ có 2 phần: Trời và đất Sự tưởng tượng hồn nhiên đã chắp cánh cho sự miêu tả hành động sáng tạo vũ trụ của thần như việc chia tách vỏ trứng của một con gà sinh nở rồi lại liên tưởng đến việc tạo nên cây chống cho nó thành 2 cái tách nhau để chúng rời nhau thành hai thực thể Họ liên tưởng bầu trời như cái tàn che, mái hiên có cây chống Sự tưởng tượng này có thể bắt nguồn từ việc người xưa đã biết làm nhà có mái che và cây chống mái nhà Cho đến bây giờ, người hiện đại vẫn nói chân trời mặc dù Trời làm gì có chân mà chỉ là đường thẳng quá giới hạn tầm mắt của không gian mà thôi thì ngày xưa miêu tả Trời như là một mái che của một cái gì đó như ngôi nhà là điều hiển nhiên

Phép nhân cách hóa và cường điệu là phép phổ biến của thần thoại Người xưa đã miêu tả hoạt động các vị thần như hoạt động của con người hay nói cách khác, họ đã lấy nguyên mẫu của mình để miêu tả các vị thần rồi phóng đại lên 62

2.2.4 Thi pháp không gian và thời gian

2.2.4.1 Thi pháp không gian

Không gian thần thoại là không gian vũ trụ, khó xác định cụ thể kích cỡ, nơi chốn, vị trí Đó là không gian thiên nhiên hoang sơ, không có bóng dáng con người, chỉ có thần linh ngự trị Trong thần thoại có ba không gian chủ yếu: không gian trên trời, không gian mặt đất, không gian dưới nước, chia thành ba cõi: cõi trời, cõi đất và cõi nước, không nói tới cõi âm phủ, mãi cho đến thể loại cổ tích mới

có Tuy nhiên ba cõi không gian đó cũng không phải là cố định, ngăn cách thành ba thế giới riêng biệt

mà nó luôn biến chuyển, hòa nhập với nhau Các thần dù được phân chia cai quản các cõi cụ thể nhưng khi cần thì thần trên trời xuống hạ giới làm nhiệm vụ như thần Thiên Lôi, thần Mưa Hoặc thần ở dưới cõi nước vẫn lên cõi đất để lấy tài sản, khoáng sản như thần nước Các thần, người, vật ở cõi đất khi cần cũng có thể lên trời như thần Thổ Công, con Cóc, Cua để làm nhiệm vụ hoặc đấu tranh Cõi đất

là nơi trung tâm của vũ trụ, chốn giao lưu đi về của các thần

Cõi trời bao la đã đành nhưng cõi đất, cõi nước cũng khó giới hạn Thần núi ngự trị ở cõi đất nhưng ở núi nào cũng có thần Thần Biển là con Rùa to lớn nằm dưới đáy biển nhưng biển cũng mênh mông Tuy là vô biên nhưng đối với thần thì có giới hạn Các thần ở dưới mặt đất hoặc trên trời, thoắt một cái là đến nơi Thần Thủy Tinh, Hà Bá có thể dễ dàng lên mặt đất Tuy nhiên thần Nước không bao giờ lên được cõi cai quản của thần Núi hoặc cõi trời Cõi đất và cõi nước tuy gần nhau nhưng có giới hạn, ngăn cách còn cõi đất và cõi trời hoặc cõi trời với cõi nước thường dễ dàng xâm nhập lẫn nhau Thần Mưa đem vòi rồng xuống hút nước ở cõi nước Thần Thiên Lôi xuống cõi đất thường xuyên, thần Thổ Công lên trời vào dịp cuối năm Trong khi thần nước chỉ lên được mặt đất chứ không

62 Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27

Trang 35

chiếm lĩnh được không gian của cõi đất, (thần Nước không bao giờ lên chiếm được nơi trú ngụ của thần Núi)

Không gian chiều dọc trong thần thoại thể hiện sự xâm nhập của các vị thần trên trời xuống mặt đất và từ mặt đất lên trời như thần mưa, thần sét, thần thổ công Nhưng không gian này biểu hiện trong thần thoại suy nguyên là biểu hiện của sự phân đôi vũ trụ, tạo thành hai khối đối lập phần trên và phần dưới: trời trên và đất dưới bằng cái cây vũ trụ trong nhiều thần thoại của các nước Ở thần thoại Việt, cây vũ trụ được biểu hiện bằng cột vũ trụ, thần Trụ Trời đã tạo nên cột chống trời để phân đôi trời đất

Không gian nhân vật mang đặc điểm của các hiện tượng tự nhiên nên tầm vóc của nhân vật, hình dáng nhân vật mang tầm vóc và hình dáng tự nhiên Thần Núi hình thể không gian là núi, thần sông hình thể không gian cũng là sông, thần Trụ Trời hình thể không gian là vũ trụ Đối với thần Mưa thì không gian hoạt động là từ biển cả đến bầu trời Thần Nước không gian bao quát tất cả không gian

có nước và hoạt động cả khu vực trên cạn và dưới nước

Không gian thần thoại mặc dù có thể xác định được nhưng quy mô và phạm vi thì khó nắm được do tính chất biến ảo của thần Các vị thần trên Trời có không gian hoạt động rộng khắp vũ trụ còn các vị thần ở cõi đất và nước thì không gian hoạt động hạn chế do chức năng của thần quy định.63

2.2.4.2 Thi pháp thời gian

Thời gian trong thần thoại cũng không xác định Thời gian vĩnh hằng Các truyện không chỉ ra vào thời gian nào, chỉ biết thuở xưa, thuở mới khai thiên lập địa Nhưng thuở khai thiên lập địa là vào khi nào rồi kết thúc ra sao, thần thoại không nói rõ bởi lẽ thế giới thần là thế giới của vĩnh hằng Đó

là thời gian của vũ trụ bất biến, cố định và khép kín Thần không có tuổi, không biết thần sinh ra khi nào Thần không bao giờ chết Theo Meletinsky thì “Thời đại của huyền thoại là thời đại của các vật thể và hành động đầu tiên…Do tính chất nguyên hợp của tư duy huyền thoại mà quá khứ trong huyền thoại được coi là khởi nguồn vạn năng…Huyền thoại nguyên thuỷ thường là truyện kể về quá khứ, còn quá khứ thì lại là cội nguồn của mọi thực thể trong hiện tại…Quan niệm về chu kì tự nhiên trong huyền thoại nguyên thuỷ thật sự phụ thuộc vào sự phân đôi quá khứ sáng tạo xa xôi và hiện tại bất động…Mô hình chu kì thời gian trong chính các xã hội cổ xưa phụ thuộc vào mô hình phân đôi…Tư duy huyền thoại về nguyên tắc là phi lịch sử, bỏ qua tính hỗn tạp của lịch sử, qui tất cả những thay đổi nhiều lần của thời gian theo kinh nghiệm phàm tục vào hành động sáng tạo một lần, được hoàn tất trong thời gian huyền thoại mang tính chất tiên nghiệm…Bất kì sự kiện lịch sử đích thực nào sau đó cũng được thu xếp vào khung cấu trúc huyền thoại có sẵn ”64 Khái niệm và những vấn đề mà Meletinsky nêu về thời gian huyền thoại tương ứng với các thể loại thần thoại và truyền thuyết suy nguyên Theo Trần Đình Sử, thời gian trong thần thoại là thời gian vũ trụ khép kín cho nên nó cũng

có tính khép kín, không liên hệ trực tiếp với thời gian lịch sử nào Bên trong thần thoại không có đầu và cuối Thời gian luôn là khái niệm chủng loại nên hành động bắt đầu từ đâu và kết thúc khi nào cũng được.65

2.2.5 Tín ngưỡng nguyên thủy trong thần thoại

Hiện thực trong truyện thần thoại là hiện thực của các hiện tượng và hoạt động của tự nhiên Tưởng tượng trong thần thoại chính là niềm tin thơ ngây của người nguyên thuỷ về đặc điểm của loài vật và sự hoạt động của chúng Hiện thực trong thần thoại cũng là hiện thực kì ảo Hoạt động

và đặc điểm của sự vật và hiện tượng tự nhiên được nhìn dưới màu sắc hoang đường, kì vĩ Vai trò

63 Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H

64 E M Meletinsky (2004), Thi pháp của huyền thoại Người dịch: Trần Nho Thìn – Song Mộc, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội., tr.226-231

65 Trần Đình Sử tuyển tập, Tập 2, Nxb GD, 2005, tr.100

Trang 36

và hoạt động của các vị thần tự nhiên là hệ quả của sự tưởng tượng rằng thế giới này mọi vật đều

có hồn và đáng sợ Nguyên liệu hay nói cụ thể hơn là hiện thực tự nhiên thời nguyên thuỷ đã chắp cánh cho sự tưởng tượng Thiên nhiên thời thần thoại kì vĩ và hoang sơ đến ghê sợ khiến con người với trình độ khoa học thấp kém không thể lí giải nổi Họ chỉ biết tôn sùng thành thần thánh Nhưng thần hoạt động như thế nào thì không ai biết nên người nguyên thuỷ đành lấy bản thân mình ra, tô

vẽ thêm một màu sắc hoang đường, kết quả thành một vị thần mà hoạt động của thần vừa mang đặc điểm hoạt động của một hiện tượng tự nhiên vừa mang hoạt động của con người Fontenelle

đã giải thích sự xuất hiện các hình tượng huyền thoại (các vị thần) ở người nguyên thuỷ như sau:

“trong khi muốn tìm đến tận ngọn nguồn nguyên nhân của những hiện tượng tự nhiên khó hiểu,

họ đã cung cấp cho những hiện tượng này những đặc tính người, cường điệu chúng và qui cho chúng những phẩm chất kì diệu” 66 Bản thân nhân vật thần thoại là phi hiện thực nhưng chất liệu xây dựng nên nó lại là hiện thực Những điều tưởng tượng trong thần thoại bắt nguồn từ hiện thực Hình thức sơ khai của thần thoại là thần thoại suy nguyên vũ trụ, lí giải vũ trụ do đâu mà có Sau khi vũ trụ đã hình thành xã hội của thần thánh thì tiến đến bộ phận thần thoại suy nguyên các hiện tượng tự nhiên gắn liền với sùng bái các vị thần thiên nhiên Meletinsky khi bàn về tính chất phản ánh hiện thực của huyền thoại cho rằng: “Phản ánh hiện thực trong các huyền thoại bị chế định bởi hiện tượng: bất kỳ một huyền thoại nào cũng đều là một hệ thống biểu tượng ngầm ẩn nào đó”.67

Biểu tượng trong thần thoại chính là hệ thống các thần mang những đặc trưng văn hoá bộ lạc Vậy, thần mang biểu văn hoá của bộ lạc

Tín ngưỡng trong thần thoại là tín ngưỡng đa thần Thần trong thần thoại phần lớn là thần

tự nhiên Con người thời kì thần thoại là con người có nguồn gốc tự nhiên và sống trong sự chế ngự của các vị thần tự nhiên

2.2 Đặc trưng thi pháp truyền thuyết

2.2.1 Thi pháp cốt truyện và phương thức trần thuật

Hiện thực trong truyền thuyết là hiện thực xã hội loài người nhưng được nhìn bó hẹp trong phạm vi từ bộ tộc cho đến bộ lạc rồi tiến dần lên xã hội có nhà nước chuyên chế Thần thoại giải thích thế giới tự nhiên thì truyền thuyết giải thích thế giới con người Mô hình thế giới con người được nhìn từ mô hình bộ lạc Durkheim cho rằng: “Về bản chất, tôtem giáo thiêng liêng hoá những khách thể đơn lẻ và mô hình thế giới xác định, tương ứng với quan niệm cho rằng mọi sự vật của thế giới chỉ là một phần của bộ tộc”68 Thần thoại thần thánh hoá thiên nhiên thì truyền thuyết thiêng liêng hoá bộ lạc Như vậy, suy cho cùng thì ở thần thoại, con người là trung tâm của vũ trụ còn truyền thuyết bộ lạc là trung tâm của xã hội Ở thần thoại có bộ phận thần thoại suy nguyên nguồn gốc vũ trụ thì ở truyền thuyết có bộ phận truyền thuyết suy nguyên nguồn gốc con người và

bộ lạc Truyện Thần trụ trời của thần thoại Việt thuộc loại thần thoại suy nguyên nguồn gốc vũ trụ

và truyện Họ Hồng Bàng của truyền thuyết Việt là truyền thuyết suy nguyên về chủng tộc của Bách Việt và Lạc Việt Bộ phận truyền thuyết suy nguyên bắt nguồn từ sự suy nguyên của thần thoại Mọi vật trong thế giới thần thoại đều là thần Thần là vô lượng, vô biên nên con người sinh

ra từ thần tự nhiên là vô lượng vô biên Nói về nguồn gốc cao quí của con người thì không gì hơn bằng gán cho mình sinh ra từ thần tự nhiên Meletinsky cho rằng: “Thuyết vật tổ xuất phát từ sự giống nhau về huyết thống của một nhóm người và một cộng đồng loài động vật hoặc thực vật”.69

Bộ phận truyền thuyết nói về sự xây dựng quốc gia phong kiến, sự tranh chấp giữa các bộ lạc và

sự xâm lấn giữa các quốc gia là bộ phận có yếu tố hiện thực cao hơn, yếu tố hoang đường huyền

66 Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.2-3

67 Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.222

68 Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.42

69 Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.216

Trang 37

thoại giảm đi rõ rệt Bộ phận truyền thuyết này thường ca ngợi công tích của vị lãnh tụ bộ lạc và những người anh hùng chiến trận Yếu tố thần thánh trong nhân vật anh hùng là sự suy tôn cá nhân

có tài có công với cộng đồng Ở thần thoại là sùng bái các vị thần tự nhiên thì truyền thuyết là sùng kính các vị lãnh tụ bộ lạc và các anh hùng xuất chúng Nhân vật thần trong truyền thuyết chỉ là sự hình tượng hoá tượng trưng cho một phát minh cải tạo vũ khí như nhân vật rùa vàng, cho một thế lực thù đich như tinh con gà trắng trong truyền thuyết An Dương Vương Hình tượng nhân vật anh hùng một phần là hiện thực, một phần là ước mơ của con người muốn bộ lạc mình có một nhân vật anh hùng siêu việt có tài đủ sức chống lại kẻ thù và giúp dân sống hạnh phúc và thanh bình Theo Lê Trường Phát, nhân vật và sự kiện của truyền thuyết lịch sử là những con người và sự kiện

có thật ngoài đời…lựa chọn những nhân vật lịch sử xuất phát từ quyền lợi, nguyện vọng, tư tưởng tình cảm của mình Truyền thuyết lịch sử là sự tái tạo lịch sử trên cơ sở cái cốt lõi lịch sử rồi tiến hành sắp xếp lại để dựng lên tầm vóc của sự kiện và nhân vật, đưa thêm vào đó những gì mà tâm tình, thái độ của nhân dân đối với đối tượng phản ánh Không những thế, truyền thuyết dân gian còn gắn vào nhân vật những yếu tố thần kỳ lấp lánh…Những yếu tố ấy không có thực ngoài đời nhưng có thực trong tâm tình của dân gian đối với lịch sử.70

Nếu thần thoại, cốt truyện chỉ xoay quanh một nhân vật thì cốt truyện truyền thuyết lại xoay quanh nhiều nhân vật, thậm chí có truyện có hai hệ thống nhân vật đối lập nhau như truyện

An Dương Vương: Một bên là An Dương Vương, Mỵ Châu, thần Kim Quy; một bên là Triệu Đà, Trọng Thủy, con tinh Gà Trắng Như vậy cốt truyện của truyền thuyết phức tạp, đa dạng hơn thần thoại Cốt truyện truyền thuyết thường theo ba đoạn đời nhân vật chính Theo Lê Trường Phát, cốt truyện truyền thuyết xây dựng theo 3 giai đoạn của cuộc đời nhân vật Đoạn đời thứ nhất kể về hoàn cảnh và thân thế của nhân vật chính bao gồm một số môtip Môtip sự thụ thai kỳ lạ của mẹ người anh hùng do quan hệ bí ẩn, bất thường với một hiện tượng, một sự vật nào đó Môtip về tướng lạ có từ khi lọt lòng như gan bàn chân có ba sợi lông trắng, có nốt ruồi đỏ trong vành tai, trên trán có ba đường chỉ ngang, tay dài quá gối,…Môtip về sự biểu hiện khác thường, hơn người khi còn trẻ như: nâng cối đá lên cao, tay không giết cọp dữ, nhảy cao và xa khác thường, có phép

lạ, không nói không cười, có chí lớn…Môtip về hoàn cảnh xã hội: loạn lạc liên miên, giặc ngoại xâm sắp xâm lược hoặc đang thống trị hà khắc, triều đình mục nát, dân chúng lầm than…Môtip xuất thân của nhân vật chính hoặc là con nhà nghèo đã qua thử thách cuộc đời hoặc là con nhà nòi

có truyền thống thượng võ, yêu nước thương nòi, gia đình mang mối thù với giặc ngoại xâm… Đoạn đời thứ hai là quá trình hoạt động của nhân vật chính Phần này kể lại hành động, chiến công,

kì tích của nhân vật chính với nhiều tình huống thăng trầm, gian nguy, thất bại rồi thành công Đoạn đời thứ ba là sự kết thúc của nhân vật chính Có nhiều môtip về giai đoạn này như môtip về

sự hoá thân, thăng hoa của nhân vật (Dóng bay lên trời, người anh hùng bị chém đầu nhưng tay vẫn giữ đầu rồi phi đến chỗ đất thiêng mới hoá, hai Bà có hai đám mây ngũ sắc cuộn lên trời); môtip về sự hiển linh, hiển thánh giúp con cháu làm ăn và đánh giặc; môtip về sự vinh phong, gia phong tên hiệu của các triều đại sau cho người anh hùng; môtip về nghi lễ thờ cúng liên quan đến tôn vinh, nhớ ơn người anh hùng71

2.2.1.1 Xét về kết cấu

a Loại cốt truyện xâu chuỗi: Những chuỗi truyện về Lê Lợi tập trung nói về người anh

hùng Lê Lợi Các chuỗi truyện về Hùng Vương, về An Dương Vương cũng có kết cấu như vậy Với kiểu kết cấu này thì nhân vật lịch sử là nhân vật trung tâm, còn các nhân vật khác là nhân vật phụ Đối với chuỗi truyền thuyết về Hùng Vương thì vai trò xuất hiện của nhân vật Hùng Vương tương đối mờ nhạt trong các truyện đơn lẻ nhưng tập hợp các truyện lại, chúng ta sẽ thấy vai trò

70Lê Trường Phát (2000), Thi pháp Văn học dân gian, Nxb GD, H., tr 20-22

71 Lê Trường Phát, Thi pháp Văn học dân gian, tr 28-29

Trang 38

của Hùng Vương càng rõ hơn Đối với loại chuỗi truyện về Hùng Vương thì Hùng Vương là nhân vật trung tâm còn trong từng truyện thì Hùng Vương chỉ là nhân vật phụ mà nhân vật chính lại là

nhân vật được chú ý của truyện đó Ví dụ truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh thì hai nhân vật này là nhân

vật chính còn nhân vật Hùng Vương vẫn là nhân vật phụ

b Loại cốt truyện đơn: Tập hợp các truyện kể về thời kì Hùng Vương có các truyện đơn: Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Thánh Gióng, Bánh chưng bánh dày, Sự tích dưa hấu, Chữ Đồng Tử… Tập

hợp các truyện kể về thời kì An DươngVương có Mị Châu Trọng Thủy, Thần Kim Quy…

2.2.1.2 Xét về đặc điểm lưu truyền

a Loại truyền thuyết lưu hành trong dân gian Loại này thường phổ biến và được tác giả dân gian sáng tác theo tâm thức cộng đồng, khác với truyền thuyết thần tích là sáng tác của các nhà Nho dựa vào huyền tích dân gian

b Loại truyền thuyết thần tích của các làng mà nhân vật lịch sử sinh ra và có công trạng Lâu nay, loại truyền thuyết lưu hành trong dân gian được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn loại truyền thuyết thần tích vì thần tích bó hẹp trong một khu vực nhất định Tuy nhiên cũng có nhân vật vừa lưu truyền tron dân gian vừa có trong thần tích các làng Truyền thuyết thần tích được chế

độ phong kiến phong thần và gắn với tín ngưỡng dân gian các làng, một khu vực dân cư nhất định

2.2.1.3 Xét về đặc trưng phản ánh và nội dung thể hiện

a.Truyền thuyết suy nguyên nguồn gốc dân tộc, giống nòi như: truyền thuyết Họ Hồng

Bàng, Lạc Long Quân và Âu Cơ…

b.Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử: Các truyền thuyết về thời kì Hùng Vương,

An Dương Vương, Lê Lợi…

c Truyền thuyết về địa danh: Truyền thuyết về nguồn gốc đất: Gốc tích ruộng thác đao hay

là truyện Lê Phụng Hiểu (NĐC)72; Ông tổ họ Hoàng giúp làng Thượng Nguyên (NĐC) Truyền thuyết về lí do của tên gọi: Sự tích Hồ Gươm (NĐC); Sự tích Hồ Ba Bể (NĐC); Sự tích Đầm Nhất

Dạ và bãi Tự Nhiên (NĐC); Sự tích Đầm Mực (NĐC); Sự tích sông Nhà Bè hay truyện Thủ Huồm;

Sự tích thành Lồi (NĐC); Hang Thái Đức (TTDGNV)73; Đồng Bông, đống Bài; Ông Khổng lồ đúc

chuông hay là sự tích trâu vàng Hồ Tây…Truyền thuyết về đặc điểm địa danh: Tại sao sông Tô Lịch và sông Thiên Phù hẹp lại (NĐC); Sự tích núi Ngũ Hành (NĐC); Truyện cái khiên

(TTDGNV); Núi Phượng Hoàng (TTDGNV); Mã Yên Sơn (TTDGNV); Sự tích núi Vàng

d Truyền thuyết về nhân vật tài năng: Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, Sự tích bánh chưng bánh dày,

Sự tích dưa hấu, Nàng Ả Long và Chàng Vương Lạp, Nàng hát hay làm quay muôn giáo, Lê Như

Hổ, Yết Kiêu…

e Truyền thuyết về nghề và làng nghề: Truyện ông tổ nghề rèn (TTDGNV), Nói về sự tích

nghề thợ bạc ở nước Nam (TTDGN); Ông tổ nghề in là ai ; Bà chúa Dệt thụ La công chúa, Bà chúa dệt vải; Sự tích tổ sư nghề tiện thời Lê: Thực Nghiệp Đỉnh Phiêu, Ông tổ nghề làm lọng; Bà chúa nghề tằm, Bà chúa Thiên niên, Bà chúa Mía…

g.Truyền thuyết về vật thiêng: Truyện về gươm thần (NĐC) của đồng bào Tây Nguyên,

Truyện chiếc gươm thần của Lê Lợi, Ấn vàng kiếm bạc (thanh gươm của Nguyễn Huệ), Thanh gươm kì lạ (thanh gươm củaNguyễn Nhạc), Người đơm đó được gươm vàng, Nắm đất hơn mười cót vàng (TTDGNV),…

h Truyền thuyết về tôn giáo, tín ngưỡng: Truyện Man Nương, Sự tích Man Nương (Thần tích làng Đặng Xá, huyện Ân Thi, Hưng yên), Tích truyện Man Nương (Thần tích làng Văn Giáp, phủ Thường Tín, Hà Đông), Man Nương và Tứ pháp (TTDGNV), Truyện thần Chính Khí Long

72 Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1 và 2, Nxb GD, H., Viết tắt NĐC

73 Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tập 4, Truyền thuyết dân gian người Việt, (2004), Nxb Khoa học xã hội,

H., Viết tắt: TTDGNV

Trang 39

Đỗ, Quảng lợi thánh hựu Uy Tế Phu ứng Đại vương, Nói về sự tích ông thần Long Đỗ, Bạch Mã thần, Sự tích Bạch Mã Đại vương, Truyện Tô Lịch; Bảo quốc trấn linh định bang quốc đô Thành Hoàng Đại vương; Tô Lịch giang thần, Sự tích Huyền Thiên Đế quân , Sự tích Sóc Thiên vương, Thánh Võng Thị, Thánh Linh Lang, Sự tích Thần Linh Lang (Thần tích trại Thủ Lệ), Sự tích đền Linh Lang, Sự tích Linh Lang (thần tích làng Bạch Mai, tổng Kim Liên, huyện Hoàn Long, Hà

Đông), Sự tích hoàng tử Linh Lang (thần tích làng Gia Thượng và Cầu Lỗi, tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh), Thần Hậu Thổ, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương

Không Lộ và Nguyễn Giác Hải, Sự tích công chúa Liễu Hạnh 74

2.2.1.4 Xét về đặc trưng nhân vật

Căn cứ vào đặc trưng nhân vật thì truyền thuyết có mấy loại sau:

a Truyền thuyết huyền thoại: Loại này có các truyện: Họ Hồng Bàng; Lạc Long Quân và

Âu Cơ; Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

b Truyền thuyết về văn hóa: Sự tích bánh chưng bánh dày; Sự tích dưa hấu, Truyện Man

Nương, Chử Đồng Tử…

c Truyền thuyết lịch sử: Các truyền thuyết về thời kỳ Hùng Vương, An Dương Vương, Lê Lợi… Bộ phận này, phương thức trần thuật là truyền thuyết huyền sử, Đinh Gia Khánh cho là cổ tích lịch sử

Nhìn chung, phương thức trần thuật của truyền thuyết là dựa vào một sự kiện, nhân vật lịch

sử nhưng theo cách thức phù hợp Truyền thuyết huyền thoại, phương thức trần thuật gần giống với thần thoại Nhân vật được kể gắn với nhiều yếu tố huyền thoại, hoang đường mà khó tìm ra tính xác thực, ảnh hưởng trực tiếp từ thế giới quan thần thoại, câu chuyện được kể chủ yếu dựa vào niềm tin về những vị thần, chỉ có khác là thần thoại thì kể về những vị thần sáng tạo ra tự nhiên

và muôn loài còn truyền thuyết bộ phận này lại kể về những vị thần tổ tiên của bộ lạc Truyền thuyết về văn hóa, phương thức trần thuật gần giống với cổ tích thần kì Nhân vật được kể về một tài năng nào đấy gắn với sản vật, món ăn, địa danh, tín ngưỡng Nếu bộ phận truyền thuyết huyền thoại gắn với nhân vật sáng tạo huyền thoại thì đến bộ phận truyền thuyết này, những sáng tạo đó được xác thực và đi vào đời sống phong tục tập quán của người Việt Truyền thuyết lịch sử được

kể gắn với những nhân vật lịch sử ít nhiều xác tín, được nhân dân tôn vinh và phê phán, yếu tố huyền thoại giảm sút rõ rệt nhưng niềm tin về tài năng thần kì của nhân vật vẫn được hiện hữu

2.2.2 Thi pháp nhân vật

2.2.2.1 Nhân vật khởi nguyên và anh hùng văn hóa

Đây là bộ phận truyền thuyết về nguồn gốc các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, các thuỷ

tổ các nghề và làng nghề thủ công truyền thống Truyền thuyết về thị tộc, bộ lạc, gia tộc thường là

loại nhân vật khởi nguyên Tư tưởng bái vật, tôn thờ một vật thành vật tổ và xem các vật khác có

quyền linh kì diệu Người Lạc Việt nói riêng và Bách Việt nói chung ban đầu xem các con vật dạng rắn làm vật thiêng sau đó hình tượng hóa thành Long rồi Rồng Lí do người Bách Việt, trong

đó có Lạc Việt tôn thờ rắn rồi tổng hợp các con vật sống ở nước lẫn cạn như trăn, cá sấu, ba ba, rùa thành Long Ông vua người Việt phương Nam là Lạc Long Quân, con của mẹ Thần Long Long kết hợp với chim bay được thành Rồng và vì thế mà biến hóa khôn lường Đó là tô tem giáo

và bái vật giáo Người Việt, vật tổ là con Rồng (Long)

Hiện thực trong truyền thuyết là hiện thực xã hội loài người nhưng được nhìn bó hẹp trong phạm vi từ bộ tộc cho đến bộ lạc rồi tiến dần lên xã hội có nhà nước chuyên chế Thần thoại giải thích thế giới tự nhiên thì truyền thuyết giải thích thế giới con người Mô hình thế giới con người được nhìn từ mô hình bộ lạc Durkheim cho rằng: “Về bản chất, tôtem giáo thiêng liêng hoá những

74 Truyền thuyết dân gian người Việt, Sđd

Trang 40

khách thể đơn lẻ và mô hình thế giới xác định, tương ứng với quan niệm cho rằng mọi sự vật của thế giới chỉ là một phần của bộ tộc” 75 Thần thoại thần thánh hoá thiên nhiên thì truyền thuyết thiêng liêng hoá bộ lạc Như vậy, suy cho cùng thì ở thần thoại, con người là trung tâm của vũ trụ còn truyền thuyết bộ lạc là trung tâm của xã hội Ở thần thoại có bộ phận thần thoại suy nguyên nguồn gốc vũ trụ thì ở truyền thuyết có bộ phận truyền thuyết suy nguyên nguồn gốc con người và

bộ lạc Truyện Họ Hồng Bàng là truyền thuyết suy nguyên về chủng tộc của Bách Việt và Lạc Việt Bộ phận truyền thuyết suy nguyên bắt nguồn từ sự suy nguyên của thần thoại Mọi vật trong thế giới thần thoại đều là thần Thần là vô lượng, vô biên nên con người sinh ra từ thần tự nhiên là

vô lượng vô biên Nói về nguồn gốc cao quí của con người thì không gì hơn bằng gán cho mình sinh ra từ thần tự nhiên Meletinsky cho rằng: “Thuyết vật tổ xuất phát từ sự giống nhau về huyết thống của một nhóm người và một cộng đồng loài động vật hoặc thực vật”

Đặc điểm loại nhân vật này là nhân vật bán thần trong truyền thuyết “Lạc Long Quân và

Âu Cơ”, loại nhân vật không rõ hình hài, tính cách thì người nhưng hành động, hình dáng thì thần

Đây là nhân vật mang ảnh hưởng kiểu nhân vật thần thoại Đây là lớp truyền thuyết suy nguyên về nguồn gốc con người và các tộc người Đó là tô tem giáo và bái vật giáo Người Việt, vật tổ là con rồng (Long), con Nêga của người Khơme, con Nagary của người Chăm, con Ngược của người Thái Đây là hình thức sơ khai của tôn giáo nguyên thủy về thần và vật linh, vật tổ Nhân bản người rồi thần thánh hóa con người là con đường nghệ thuật của truyền thuyết suy nguyên Việc nhân bản hóa từ vật sinh ra người bắt nguồn từ thần thoại suy nguyên, quan niệm con người có nguồn gốc từ động vật, thực vật Bước cuối cùng, thần thánh hóa con người là bước nhân vật thần thoại mang màu sắc truyền thuyết và sử thi Nhân vật anh hùng văn hoá gắn liền với bộ phận truyền thuyết suy nguyên về nguồn gốc dân tộc, bộ lạc Meletinsky chỉ ra rằng “ Việc diệt trừ quái vật, yêu ma, việc tạo ra con người và dạy nghề và nghệ thuật cho họ, tạo ra các phong tục, trật tự các sông ngòi, biển cả, tạo ra khí hậu, v.v…đã thuộc vào số những hoạt động quan trọng nhất của anh hùng văn hoá Bằng cách đó, các huyền thoại tương ứng trước hết sẽ kể về sự xuất hiện của những cái trước đây chưa hề có hoặc vượt quá khả năng của của con người, thứ đến nhấn mạnh vào sự điều chỉnh môi trường tự nhiên (nước cường, và nước ròng, mùa đông và mùa hè) và xã hội, tập trung vào các nghi thức cần để liên tục duy trì trật tự

đã được thiết lập Như vậy là tính hiệu chỉnh này gắn bó một cách đặc biệt với hoạt động của các anh hùng văn hoá”76 Trong bộ phận truyền thuyết suy nguyên của người việt có nhân vật Lạc Long Quân

là dạng nhân vật anh hùng văn hoá Đây là nhân vật khai sáng, là thuỷ tổ của người Việt, có công diệt

Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh, dạy dân làm ăn Khi bàn về môtíp huyền thoại, Meletinsky cho rằng:

“Trong các huyền thoại tôtem thì giống nửa người nửa chim thường xuất hiện với tư cách là tổ tiên bộ

tộc” Truyện truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ thì nhân vật Âu cơ là một dạng nhân vật như thế

Âu Cơ là một giốmg chim lớn kết hợp với Lạc Long Quân là giống Rồng đẻ ra bọc trăm trứng đẻ ra

trăm con, nguồn gốc của các dân tộc Việt Trong sử thi thần thoại Mo đẻ đất đẻ nước của người Mường

thì cũng nói đến chuyện đẻ ra trứng Tiếng nở ra người Cũng theo Meletinsky thì “Trong hàng loạt các huyền thoại cổ xưa (vùng Thái Bình Dương, Indonesia, truyện của người da Đỏ châu Mỹ, một phần truyện của Ấn Độ, Trung Quốc) thì tổ tiên loài người xuất hiện từ trứng, còn trong những huyền thoại muộn hơn về sau thì chính Đấng tạo hoá, Mặt trời…Brakhma trong thần thoại Ấn Độ, thần Eros trong huyền thoại Hy Lạp, thần Bàn Cổ trong huyền thoại Trung Quốc…”77

Nhân vật khai nguyên, khai sáng, mở đầu cho dòng Việt phương Nam là Kinh Dương Vương Kinh là tên gọi châu Kinh, Dương là mặt trời, ánh dương hồng mà biểu trưng là chim Hồng Lạc Nhân vật có đặc tính của Đất và Nước nên ở trên cạn nhưng “có tài đi dưới Thủy phủ” lấy con gái Long

75 Dẫn theo E.M.Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.42

76 Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.261

77 Thi pháp của huyền thoại, Sđd, tr.266

Ngày đăng: 03/11/2023, 18:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb. Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2003
2. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb. GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 2000
3. Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian
Tác giả: Lê Đức Luận
Năm: 2009
4. Lê Đức Luận (2015), Tiếp cận văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp, Nxb. Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học nhà trường theo phương pháp phức hợp
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2015
5. Lê Đức Luận (2017), Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
6. Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
7. Lê Đức Luận (2018), Văn học nhà trường theo định hướng dạy học tích hợp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhà trường theo định hướng dạy học tích hợp
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
8. E. M. Meletinsky (2004), Thi pháp huyền thoại. Người dịch: Trần Nho Thìn – Song Mộc, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp huyền thoại
Tác giả: E. M. Meletinsky
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Tăng Kim Ngân (1997), Cổ tích thần kì người Việt. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb. Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ tích thần kì người Việt. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện
Tác giả: Tăng Kim Ngân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
10. Triều Nguyên (2004), Góc nhìn cấu trúc về truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góc nhìn cấu trúc về truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 2004
11. Phan Đăng Nhật (2009), Văn hoá các dân tộc thiểu số, những giá trị đặc sắc, Nxb.KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc thiểu số, những giá trị đặc sắc
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: Nxb.KHXH
Năm: 2009

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w