2.6. Đặc trưng thi pháp giai thoại
2.6.3. Thi pháp ngôn từ
Ngôn ngữ giai thoại chặt chẽ, ngắn gọn, là dạng ngôn ngữ trí tuệ lại vừa là ngôn ngữ gây cười. Đó là dạng ngôn ngữ đối thoại, lí lẽ, lí sự. Đó là ngôn ngữ trào lộng nên hay dùng biện pháp chơi chữ, nói lái, nói tục thường gặp trong các truyện “Trạng Quỳnh”, “Thủ Thiệm”.
Ngôn ngữ giai thoại chặt chẽ, ngắn gọn, là dạng ngôn ngữ trí tuệ lại vừa là ngôn ngữ gây cười. Đó là dạng ngôn ngữ đối thoại, lý lẽ, lý sự. Đó là ngôn ngữ trào lộng nên hay dùng biện pháp chơi chữ, nói lái, nói tục thường gặp trong các truyện “Trạng Quỳnh”, “Thủ Thiệm”. Giai thoại có yếu tố bất ngờ, mang kịch tính.
2.6.3.1. Khoa trương phóng đại
Giai thoại Chép lại văn tự cháy kể kể rằng Lê Qúy Đôn lúc còn là học trò, có lần Lê Qúy Đôn tìm hộ một phú ông bản văn tự ghi nợ, do đó phải dọc cả bó văn tự để lục tìm. Sau phú ông bị cháy nhà, bó văn tự cháy sạch thế mà Lê Qúy Đôn vẫn nhớ tất cả số văn tự ấy. Nhờ thế, phú ông không bị mất nợ. Chúa Trịnh nghe tin liền đưa cho Lê Qúy Đôn đọc một cuốn quan lịch. Ông chỉ liếc qua rồi đọc lại không sót một chữ. Khi đi sứ nhà Thanh. Sau khi thăm phòng để sách quý của một tú tài người Trung Quốc, lúc về nước Lê Qúy Đôn đã viết lại toàn bộ những pho sách quý đó để dùng.
2.6.3.2. Chơi chữ
Giai thoại Trên chó dưới chó kể rằng có hai vị quan trong triều cãi nhau rồi đánh nhau. Lúc vua Tự Đức phân xử, biết Cao Bá Quát chứng kiến cảnh đó nên bắt ông làm nhân chứng viết tờ khai. Được dịp, Quát làm bài thơ như sau: Trước Quát không biết/ Sau Quát chẳng hay/ Nửa chừng Quát đến/ Quát thấy thế này: Bàn trên chửi chó/ Bàn dưới cũng chó/ Trên dưới đều chó/ Rồi choảng nhau luôn/ Thần can chẳng bỏ/ Thần thấy thế nguy/ Thần hoảng thần chuồn. Tự Đức đọc lời khai, biết Quát có ý xược, đã mượn lối chơi chữ “Thượng hạ giai cẩu” để chửi suốt lượt từ trên xuống dưới mà cả vua cũng ở trong đó. Nhưng đó là ý ngầm hiểu, còn nghĩa hiển ngôn chỉ là bàn trên bàn dưới đều chửi chó. Vì thế, Tự Đức giận tím gan cũng không bắt bẻ Quát được. Đây là cách chơi chữ mà ý nghĩa hàm ngôn thực sự có tác dụng trong một hoàn cảnh phù hợp
Giai thoại Đầu nhà sư móm kể rằng nhà sư nọ là người không có đạo hạnh, nhân dân không kính trọng. Sư rụng hết răng cửa thành móm, lại nuôi một chú tiểu ngọng líu. Nguyễn Khuyến đến thăm sư, làm đôi câu đối đùa: Phất phất phóng phong phan, pháp pháp phi phù, phù phụng phật/
Căn căn canh cổ kệ, cao ca kỷ cứu, cứu cùng kinh (Phất phới phóng phan bay, phù phép phá bùa, bùa phụng phật/ Khề khà ca kệ cổ, nghêu ngao nghiền ngẫm, ngẫm ngầm kinh). Chỗ thú vị của đôi câu đối là ở âm đọc, câu trên nghe có tiếng phều phào của người móm, còn câu dưới nghe ngúc ngắc, cứng quèo như giọng của người ngọng. Sư biết Nguyễn Khuyến trêu chọc cũng bực nhưng
141 Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Sđd.
vì câu đối dùng chữ tài tình quá nên sư tỏ ra hết sức kinh ngạc và kính phục, chỉ cười xòa mà không trách cứ gì.
Giai thoại Chi chi giã kể chuyện Tư Hồng, một me Tây nổi tiếng ở Hà Thành hồi đầu thế kỷ XX. Nhân chạy cho mình được hàm “Tứ phẩm nghi nhân”, hàm ngang với chức quan án sát tỉnh, lại chạy cho bố đẻ hàm “Hàn lâm thị độc”. Thế là có giàu lại có sang. Tư Hồng về làng khao vọng rất linh đình. Nguyễn Khuyến được mời dự, ông cáo bệnh không đi, cho người đến mừng ba chữ “Chi chi giã” để đề vào bức hoành phi và đôi câu đối Nôm: Có tàn có tán có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng hăm sáu tỉnh/ Nào biển nào cờ nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người. Các quan khách dự tiệc đều xúm đến xem văn chương Tam Nguyên Yên Đỗ nhưng không ai hiểu chi chi giã là gì. Chỉ có một ông đốc học tình cờ đọc lái lại thành cha cha đĩ. Còn câu đối Nôm vì nôm na dễ hiểu nên ai cũng khen hay, cho rằng ca tụng như thế là hết lời. nhưng chỉ có ông đốc học nọ là biết, đó cũng là một kiểu chơi chữ rất thâm thúy. Bởi câu đối trên chỉ là một phần của câu tục ngữ: Làm đĩ có tàn có tán có hương án thờ vua. Hóa ra Nguyễn Khuyến đã chửi xỏ chứ không phải ca ngợi. Rồi học theo cụ Yên Đỗ, ông đốc học cũng mừng cha con Tư Hồng một đôi câu đối Nôm rằng: Ngũ phẩm sắc phong hàm cụ lớn/ Ngàn năm công đức của bà to. Mọi người cũng trầm trồ khen hai câu này. Mà bố con Tư Hồng thấy câu đối nôm na dễ hiểu cũng thích lắm. Song họ có biết đâu là ông đốc học cũng chơi chữ. Đây là lối song quan ngữ, tức dùng chữ nước đôi, hai nghĩa. “ Hàm cụ lớn” là phẩm hàm cụ to lớn mà cũng có thể hiểu là quai hàm của cụ to. Còn “của bà to” thì cũng có thể hiểu theo nghĩa tục: cái của kia của bà to thì thật quá xược, quá xỏ xiên.
a. Dùng cách đối chọi đồng âm và đồng nghĩa. Mục đích sử dụng là bài bác nhau giữa các quan. Giai thoại Quan võ và quan thị sử dụng lối đối chọi đồng âm đồng nghĩa. Truyện kể rằng một hôm, tan buổi chầu, viên quan võ ra về thì gặp quan thị. Quan thị đọc một vế câu đối: Vũ cậy mạnh, vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa, vũ ướt cả lông. Ở đây vế đối đã sử dụng lối đồng âm khác nghĩa của chữ Hán và lối đồng nghĩa giữa tiếng Hán Việt và tiếng Việt. Vế này có bốn chữ “vũ” khác nhau, đồng âm nhưng khác nghĩa. Vũ thứ nhất là võ, ám chỉ quan võ, nghĩa là mạnh. Vũ thứ hai nghĩa là múa. Vũ thứ ba nghĩa là mưa. Vũ thứ tư nghĩa là lông. Các từ theo cặp: vũ = mạnh, vũ = múa, vũ = mưa, vũ = lông là các cặp từ đồng nghĩa. Quan võ cũng nhờ một anh quan văn giỏi chữ bày cho đối lại, cũng dùng lối đồng âm khác nghĩa và đồng nghĩa khác âm: Thị vào hầu, thị đứng thị trông, thị cũng muốn, thị không có ấy. Vế đối này cũng dùng bốn chữ “thị” có các nghĩa khác nhau. Thị thứ nhất nghĩa là hầu. Thị thứ hai là trông. Thị thứ ba là thích muốn. Thị thứ tư là ấy.
Các cặp từ đồng nghĩa: thị = hầu, thị = trông, thị = muốn, thị = ấy. Đây không phải là cách đối chọi trực tiếp giữa hai vế đối mà cách đối chọi về thái độ và cách sử dụng từ ngữ. Một bên lấy chức quan ra làm vế đối với ngụ ý mỉa mai thì bên này đối lại cũng đem chức quan ra làm vế đối với ngụ ý mỉa mai tương ứng. Một bên dùng từ “vũ” để chơi chữ thì bên này đáp lại cũng dùng từ
“thị” để chơi chữ.
b. Sử dụng tính chất hai mặt của từ ngữ, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Nghĩa hàm ẩn có mục đích châm chọc, so sánh và ngầm để răn đe đối phương. Giai thoại Ông Nghè ông Cống kể rằng: Xưa có ông quan huyện xuất thân Hương cống nhưng thường lên mặt hay chữ. Một hôm có hai học trò có việc đến quan, quan bày ra trò hỏi chữ nghĩa rồi bảo hai người đối cho quan nghe.
Một anh liền ra vế đối Nôm: Đá xanh xây cống, hòn dưới chống hòn trên. Nghĩa tường minh nói đến việc xây cống nhưng từ “cống” lại có cùng âm với Hương cống. Nghĩa hàm ẩn mà anh học trò muốn nói dù quan có giỏi thì cũng chỉ đỗ đến Hương cống, sau tôi có đỗ Hương cống thì sẽ xuất sắc hơn quan. Quan huyện đã hơi bực thì tiếp theo anh học trò thứ hai đối lại: Ngói đỏ lợp nghè, lớp sau đè lớp trước. Nghĩa tường minh là nói đến lợp nghè miếu nhưng từ “nghè” lại cùng âm với ông Nghè. Câu đối ngầm nói tôi chẳng chịu đỗ Hương cống như ông đâu, tôi sẽ đỗ Tiến sĩ và
tất nhiên ông Nghè sẽ đè ông Cống rồi. Hai câu đối rất chỉnh về cấu trúc cú pháp, vế sau dùng cấu trúc cú pháp tương ứng với vế trước.
c. Dùng cách chiết tự chữ Hán nhằm mỉa mai nhau. Giai thoại Mắng quan trường kể rằng:
Có anh học trò tên là Lỗi tính tình ngang bướng, không chịu nhượng nhịn ai. Khi vào thi, viên quan Thừa ty được cử là sơ khảo kỳ thi ấy lại là kẻ coi thiên hạ bằng nửa con mắt, thấy Lỗi có vẻ nghênh ngang liền nói mỉa bằng một vế đối rằng: Lỗi kia đã nặng bằng ba thạch. Chữ “lỗi” viết ba chữ “thạch” chồng lên nhau. Ý quan cảnh cáo khéo anh học trò rằng tội ngông nghênh của anh đáng được trừng trị. Anh học trò lập tức trả miếng ngay: Ty nọ xem khinh đáng nửa đồng. Chữ
“ty” lại là một nửa chữ “đồng”, anh học trò chủ tâm nói xỏ rằng giá trị của viên quan chỉ đáng nửa đồng tiền thôi.
d. Dùng cách ngầm ghép từ đứng liền nhau nhằm xỏ quan. Giai thoại Thiên lý nhân lương kể rằng: Nguyễn Thân là viên quan khét tiếng tàn ác, chính y đã thiêu xác Phan Đình Phùng nhồi thuốc súng bắn xuống sông La. Lúc Nguyễn Thân nhận chức Tổng đốc Bình Định có người gửi đến mừng một bức đại tự đề là Thiên lý nhân lương có nghĩa là danh tiếng nhân từ vang xa ngàn dặm. Nguyễn Thân rất lấy làm đắc ý. Nhưng một nho sĩ đã giải thích cho y là bốn chữ này rất thâm. Đây là trò chơi chữ, ghép chữ “thiên lý” với nhau thành chữ “trọng”; ghép chữ nhân lương với nhau thành chữ “thực”, nghĩa là tham ăn.
e. Dùng cách nói lái chữ Hán thành chữ Nôm nhằm mỉa mai. Giai thoại Mạc bất...hà như kể rằng: Có một anh học trò dốt nhưng cứ muốn thi đậu để kiếm danh nên bố mẹ đã mất bao nhiêu của cải lo lót nên cũng đỗ được tú tài. Giai định mở tiệc ăn mừng, có người gửi đến câu đối:
Ất bảng đề danh, phù mạc bất Song đường cập kiến cánh hà như
Có một ông đồ giải rằng đây là câu chữ Hán nói lái thành chữ Nôm: “mạc bất” nghĩa là mất bạc, “hà như” nghĩa là hư nhà:
Ất bảng ghi tên than ôi mất bạc Mẹ cha kịp mừng rốt cuộc hư nhà
Ý nói đậu tú tài là do mất bạc, con thành dạt thì hư hại cửa nhà.
2.6.3.3. Ứng đối từ ngữ
a. Sử dụng từ ngữ cùng lĩnh vực tương ứng: Vế đối dùng các từ ngữ vừa miêu tả sự vật vừa chứa các quẻ trong Kinh Dịch vế đáp cũng sử dụng cách thức tương ứng. Mục đích là bố vợ thử tài con rể. Giai thoại Cô dâu gà chú rể kể có một anh học trò đi gửi rể gặp ông bố vợ hay chữ. Một bữa ông cho chàng rể được ngồi hầu rượu để thử tài anh ta. Khi thấy con chó lớn nhà hàng xóm đứng ở bên kia giậu, con chó nhỏ của nhà thì ở bên này dậu, ông liền ném một miếng xương ra chỗ chân giậu cho hai con chó tranh cắn nhau rồi đọc một câu: Đại xúc cách ly phệ tiểu xúc (Chó lớn cách rào cắn chó con). Câu này dùng các từ chứa các quẻ Kinh Dịch như: “Đại xúc”, “cách”,
“ly”, “phệ”, “tiểu xúc” nên rất khó đối. Cô thấy chồng bí nên định gà cho nên chõ xuống bếp gọi to lên rằng: Bảo ai ra giếng gọi người nhà về ăn cơm nhé. Anh chồng hiểu ý liền đọc luôn: Đồng nhân ly tỉnh hoán gia nhân (Người nhà ra giếng gọi người ở). Câu này cũng dùng các từ ngữ trong quẻ Kinh Dịch như: “Đồng nhân”, “ly”, “tỉnh”, “hoán”, “gia nhân”. Đây không phải là cách đối chọi từ ngữ trực tiếp giữa hai vế mà là cách đối ứng sử dụng từ ngữ.
b. Dùng các từ ngữ chứa điển tích văn học để đối: Mục đích là vợ thử tài chồng. Giai thoại Dâu thử tài rể kể có anh học trò nọ nổi tiếng hay chữ. Khi cưới vợ, tối động phòng hoa chúc, cô dâu đóng cửa buồng ra một câu đối bảo hễ đối được thì mở cửa cho vào. Câu đối dùng điển “Lưu thần nhập Thiên Thai” làm vế đối: Hang Thiên Thai then khóa động đào, đóng chặt lại kẻo chàng Lưu quen lối cũ. Chú rể lấy ngay tích “Bái Công nhà Hán dẫn quân vào cửa Hàm Cốc” để chọi lại:
Cửa Hàm Cốc lỏng khuôn tạo hóa mở toang ra cho ông Bái dẫn quân vào. Hai vế đối khá chuẩn về cấu trúc ngữ nghĩa.
c. Dùng từ láy và lặp từ theo cách nhấn từ và đảo cấu trúc nhằm hạch hỏi xách mé nhau:
Giai thoại Thằng quan huyện kể rằng: Có một chức quan huyện lấy tiền mua được gọi là quan
“huyện thằng”. Vùng Hoan Châu có viên huyện thằng tính hay hóng hách, nhân một hôm có cô bé con cắp sách đi học về gặp hắn mà không chào, hắn tức lắm liền gọi lại ra câu đối: Học trò là học trò con, tóc bỏ lon xon là con học trò. Rồi bắt cô bé đối ngay, không thì sẽ bị đánh đòn vì tội vô lễ. Bị hắn bắt ức lại ra câu đối có ý châm chọc, cô bé liền đối lại: Quan huyện là quan huyện thằng, xử kiện lằng nhằng là thằng quan huyện. Đây là câu đối khá chỉnh về ý nghĩa và cấu trúc cú pháp.
Cả hai câu đối đều nói về thân phận, một bên là nói phận “học trò con” đối lại là phận “quan huyện thằng”. Vế đối trước dùng cấu trúc danh là danh, bắt đầu từ có phần vần với âm “on”, dùng chính âm này xây dựng từ láy: “lon xon” rồi láy đảo cấu trúc “học trò con - con học trò”. Vế đối sau cũng dùng cấu trúc danh là danh, bắt đầu từ có phần vần với âm “ăng”, dùng chính âm này xây dựng từ láy: “lằng nhằng” rồi láy đảo cấu trúc “quan huyện thằng – thằng quan huyện”. Vế đối sau nói đau hơn, “thằng” vừa tên một chức quan vừa là tiếng gọi miệt thị “thằng” để đối với “con”,
“tóc bỏ lon xon” chỉ là lời trêu chọc phù hợp với lứa tuổi học sinh còn “xử kiện lằng nhằng” thì phê phán bản chất làm việc của quan khi làm việc ở công đường.
d. Dùng cách đối trực diện cùng cấu trúc cú pháp nhằm gậy ông đập lưng ông: Giai thoại Miệng ông huyện Thạch Hà kể rằng quan huyện Thạch Hà rất sính văn chương. Một hôm nhân buổi trà dư tửu hậu ngài bèn bảo các thông đề nha lại đối câu: Miệng ông huyện Thạch Hà, hà.
Các quan chưa kịp đối, thấy anh lính lệ cũng đang hóng chuyện, ông bèn bảo anh đối. Anh ta hỏi quy tắc đối rồi nói: Đồ bà già Kim Động, động. Câu đối rất chuẩn, cả cấu trúc cú pháp lẫn phép đối từ ngữ. Quan tức lắm nhưng đành thưởng cho anh lính lệ như đã hứa.
e. Dùng cách ngắt nhịp, nhấn mạnh từ cần nói: Giai thoại Vả bây giờ kể rằng có cô hàng nước đẹp người nhưng cũng mồm mép chua ngoa đáo để, chưa có ai địch lại. Một anh thư sinh nọ qua đường vào quán nghỉ chân, cô gái lại giở giọng đàn chị ra trêu chọc nhưng thò câu nào đều bị anh chàng đập lại. Cuối cùng cô đọc một câu Kiều:
Khen cho con...mắt tin đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới tài
Khi đọc, cô nhấn mạnh ba tiếng “khen cho con”, nghỉ một tý rồi đọc nốt ba tiếng sau.
Chàng nho sinh nhanh trí, hiểu ngay ý xỏ xiên liền tương kế tựu kế, cũng sử dụng lối chơi chữ bằng cách đọc nhấn, ngừng hơi rồi đọc ngay một câu kiều:
Vả bây giờ...mới thấy đây
Mà lòng đã chắc những ngày một hai
Lúc đọc anh nhấn mạnh ba tiếng “vả bây giờ” cũng nghỉ một tý rồi đọc tiếp. Cô gái vừa phục vừa thẹn, mặt đỏ au lên và lặng thin ngồi mâm mê tà áo chẳng biết trả lời sao nữa.142
2.6.4. Thi pháp không gian và thời gian 2.6.4.1. Thi pháp không gian
Khác với không gian truyện cười, không gian giai thoại không bó hẹp khép kín mà là không gian mở. Trong truyện Trạng Quỳnh là không gian từ cung vua, phủ chúa đến tư gia, từ chốn quan trường đến nơi vui chơi. Đó là những không gian thử thách tài trí của nhân vật, để nhân vật chứng tỏ năng lực của mình. Ngay cả không gian linh thiêng như đền miếu cũng đưa vào để trêu chọc thần. Nhân vật Quỳnh hoạt động trong những không gian đa dạng và khá rộng. Không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nước Tàu trong truyện “Sang sứ tàu”.
142 Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27.