Đặc trưng thi pháp truyện cười

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 107 - 111)

2.5.1. Thi pháp cốt truyện và phương thức trần thuật

Nếu cốt truyện các thể loại trước xoay quanh nhân vật chính thì cốt truyện cười không hoàn toàn như vậy. Cốt truyện cười xoay quanh cái đáng cười. Cái đáng cười có thể là nhân vật đáng cười mà cũng có thể là lời nói đáng cười. Từ cái đáng cười bật ra tiếng cười. Đó là sản phẩm của trí tuệ khi phát hiện ra sự mâu thuẫn của sự vật. Kết cấu truyện cười thường được cấu tạo tuần tự như một màn kịch.

- Giới thiệu hiện tượng có mâu thuẫn tiềm tàng. Mâu thuẫn tiềm tàng là một thói hư thật xấu, chẳng hạn như thói tham ăn, ham gái, keo kiệt...

- Mâu thuẫn tiềm tàng phát triển tới đỉnh điểm. Mâu thuẫn ở đây không phải là mâu thuẫn có kịch tính mà là mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng. Ở truyện “Na mô boong”, mâu thuẫn đến đỉnh điểm là việc ba anh chàng dại gái đã vào tròng và đang ở hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo, anh thì giả làm chó, anh thì giả làm chuông, anh thì giả làm chuột.

- Mâu thuẫn bộc lộ: Đây là giai đoạn giải quyết vấn đề, các mặt nạ đã bị lộ tẩy. Anh chàng tỏ ra hùng hổ ta đây không sợ vợ lại là anh sợ vợ nhất, vừa nghe vợ hỏi đã vội từ chỗ là người bất bình đối với những bà vợ ăn hiếp chồng thành anh sợ vợ hơn cả anh hàng xóm. Còn ba anh chàng

135 Lê Đức Luận (2009), Thi pháp các thể loại truyện kể dân gian, B 2008-ĐN 03-27.

trong truyện “Na mô boong ” là lời nói và cử chỉ của những người không còn là người nữa. Cũng như truyện ngụ ngôn, cốt truyện cười là hoàn toàn hư cấu, tưởng tượng dưới sự hướng dẫn của lý trí. Thực tế, có thể có ba anh chàng dại dái nhưng cả ba anh cùng bị mắc bẫy một lúc trong tình thế éo le thì thật hiếm có. Làm sao lại có sự xử án lạ lùng ở âm phủ trong truyện “Tao thèm quá ”.

Truyện cười kết cấu như một màn kịch ngắn nên thời gian và không gian diễn ra giống như một màn kịch. Không gian diễn ra hẹp, thường chỉ trong phạm vi một gian phòng như trong truyện

Na mô boong!”, “Tao thèm quá”, “Chẳng phải tay ông”. Thời gian cũng xảy ra trong khoảnh khắc, dài nhất cũng chỉ non một trống canh. Có những truyện, tình tiết dẫn dắt trong thời gian dài nhưng khoảnh khắc để nhân vật bộc lộ mâu thuẫn đáng cười thì rất ngắn như truyện “Quan huyện thanh liên”, “Chỉ có một con ma”, “Tam đại con gà”. Truyện cười thường mở đầu ngắn, kết thúc bất ngờ, đột ngột, diễn biến sự việc nhanh, tình tiết câu chuyện không thừa, tất cả đều tập trung thể hiện cái đáng cười.

Có một kiểu truyện cười mà cốt truyện của nó được kết cấu theo kiểu như sau: Tình huống:

nhân vật gặp một tình thế khó khăn, thử thách cần giải quyết – Giải quyết tình huống: xuất hiện giải pháp – Lời giải xuất hiện một tình huống mới bật ra bản chất của sự việc. Chẳng hạn trong truyện Lấy đâu ra mà rặn kể như sau:

Có một anh học trò, thầy ra cho đối một vế đối khó quá. Anh ta nghĩ ngợi đã hai ba ngày đêm mà vẫn không ra, cứ hết đứng lại ngồi, thở vắn than dài. Vợ thấy thế thương hại mới hỏi:

- Tôi hỏi thế này thì không phải, chứ làm câu đối có khó bằng tôi rặn đẻ không anh? Chồng phì cười đáp:

- Trời ơi! Mình thật ngớ ngẩn quá! Đẻ thì còn có con trong bụng, rặn mãi nó phải ra, chứ làm câu đối, chữ đã không có lấy đâu ra mà rặn?

Tình huống câu chuyện này là anh chồng được giao một vế câu đối khó. Tình thế khó khăn, anh chồng không thực hiện được. Lời của bà vợ là một câu hỏi hàm chứa giải pháp: cố mà rặn như rặn đẻ, đẻ khó mà còn rặn được thì việc này cũng như thế, nó ở trong đầu, cố mà rặn. Lời giải là câu trả lời của chồng đưa ra tạo nên một tình huống mới làm bật ra sự ngớ ngẩn của bà vợ và sự ngu dốt của anh chồng.

Mấu chốt của nghệ thuật gây cười ở chỗ là làm sao cái đáng cười tự nó bộc lộ ra một cách cụ thể, sống động và thật tức cười để người nghe tự mình phát hiện ra mà cười. Muốn thế, trước hết người ta phải đặt nhân vật có thói xấu hoặc nhược điểm vào hoàn cảnh thích hợp, nghĩa là đặt nhân vật vào một tình thế khiến nó trở thành một hiện tượng có mâu thuẫn tiềm tàng. Đến đây nhân vật đã bị đẩy tới chỗ phải hành động, đây là điểm nút của nó và phải gỡ nút. Truyện cười mở nút bằng hành vi buồn cười của nhân vật và kết thúc ở đó. Như vậy, truyện cười có dáng dấp một màn hài kịch. Khi cái cười nổ ra tức là mục đích của truyện đã đạt và câu chuyện kết thúc ở đấy.

Kết thúc của truyện cười dứt khoát, trọn vẹn. Có những truyện cười chỉ gây cười ở điểm kết (Có nuôi được không, Ông huyện thanh liêm, Ai nuôi tôi, Đậu phụ…); có những truyện gây ra một chuỗi cười (Nói có đầu có đuôi, Thầy đồ liếm mật, Trả lời vắn tắt, Mời bác xơi ngọc…).136

2.5.2. Thi pháp nhân vật

Nhân vật trong truyện cười không giống như nhân vật ở truyện cổ tích. Nếu ở cổ tích, nhân vật có cả một thân phận với những quãng đời, hoàn cảnh thì nhân vật truyện cười chỉ được xây dựng trong một hoàn cảnh, một hành động, một khoảnh khắc nhất định mà thôi. Xây dựng nhân vật tác giả dân gian nhằm chú ý đến cái đáng cười chứ không quan tâm đến việc miêu tả toàn bộ tính cách đặc điểm nhân vật. Dù có miêu tả ngoại hình thì cũng vì mục đích gây cười. Nhân vật truyện cười có hai loại: nhân vật hài hước và nhân vật bị châm biếm, đả kích. Dạng nhân vật hài hước, tác giả

136 Đỗ Bình Trị, Sđd, tr.122-125.

dân gian chỉ chú ý đến những yếu tố bên ngoài hoặc một nét tính cách. Đó là lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười, nét tính cách đáng cười.

Khai thác lời nói đáng cười trong truyện “Tay ải tay ai”, “Sang cả mình con”, “Đánh chết nửa người”, “Tôi khiêng bà”...Truyện “Sang cả mình con” kể rằng có một cậu bé ở hầu cho một lão phú ông. Lão phú ông đi chơi về trời nắng nực đổ mồ hôi liền sai cậu bé đi ở quạt. Quạt một lúc ông ta bay hết mồ hôi, lão phú ông hỏi “Mồ hôi tao đi đâu cả rồi?”. Cậu bé nhìn ông lão thì thấy ông ta hết mồ hôi mà mình thì mồ hôi đầm đìa nên liền trả lời “Dạ, sang cả mình con rồi ạ”.

Lời nói hồn nhiên nhưng thật phi lí ở chỗ làm sao mồ hôi của lão phú ông lại sang người cậu bé được. Sự phi lí này làm cho người nghe bật cười nhưng cười xong chúng ta thấy ngậm ngùi, chua xót. Truyện “Tay ải tay ai ” khai thác lời nói đáng cười của đôi vợ chồng trẻ và tên ăn trộm. Hiếm ai nũng nịu nhau bởi trò chơi và lời nói kỳ quặc như kiểu “Tay ảnh tay anh”, “tay ẻm tay em”, rồi tên trộm cũng tham gia vào trò chơi và nói “Tay ổng tay ông”.

Trong truyện “Kén rể lười” tác giả dân gian khai thác tư thế và cử chỉ đáng cười. Truyện kể rằng có một ông già tính vốn lười nên muốn kén rể lười. Nhiều chàng đến thi tài lười nhưng chẳng ai vừa ý ông. Chỉ có anh chàng với tư thế đi thụt lùi là được ông ta chấp nhận. Tư thế đi thụt lùi của chàng trai thật tức cười kết hợp với cách lý giải có vẻ hợp lý với cách lười “Tôi đi như vậy để nếu cụ không chọn tôi làm rể thì ra về đỡ phải quay lại, mệt sức lắm”. Cái phi lí ở chỗ là ở nhà anh ta đến nhà ông già kén rể anh ta đi bình thường, đến cổng ông già anh ta lại có công quay lại đi giật lùi. Tư thế anh ta trái tự nhiên và lập luận anh ta tỏ ra hợp với cách lười nhưng lại phi lí.

Nét tính cách đáng cười thể hiện trong các truyện “Chẳng phải tay ông”, “Ba quan thôi”.

Thực ra, trong cuộc sống, vợ chồng thường nể nhau mà nhịn nhau những lúc cần thiết nhưng làm sao lại có chuyện sợ nhau. Trong xã hội phong kiến, thường là vợ sợ chồng chứ chồng sợ vợ là trái lẽ mà lại sợ đến mức quá đáng. Ban đầu khi nghe anh bạn hàng xóm kể chuyện mình ở nhà mà quên không đem áo quần vợ vào lúc trời mưa. Anh ta than thở rằng bị vợ mắng rất nhục. Khi nghe bạn nói vậy, anh này tỏ ra mình là người không sợ vợ, nói một cách hùng hổ: “Chẳng phải tay ông...” có lẽ anh ta định nói “Chẳng phải tay ông thì ông quát hay đánh cho vợ một trận vì thói hỗn xược” nhưng vừa lúc ấy bà vợ anh này đi ra nghe được hỏi dồn “Chẳng phải tay ông thì ông làm sao?”. Anh này sợ quá bèn nói “Chẳng phải tay ông thì ông đem vào khi trời chưa mưa”.

Nhân vật bị châm biếm đả kích ngoài các đặc điểm của nhân vật hài như có lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười, tính cách đáng cười mà còn là bản chất đáng cười, đáng bị lên án. Truyện

“Na mô boong” là truyện sử dụng cả lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười trong một hoàn cảnh đáng cười. Cả ba nhân vật này đều nói những lời trái với lẽ thường. Lí trưởng thì sủa gâu gâu, thầy đồ thì giả chí chí như chuột, nhà sư thì giả tiếng chuông. Cái cử chỉ làm cho chui gậm giường của lý trưởng, cử chỉ thầy đồ đội cả đống áo váy phụ nữ và nhà sư bị treo lên giữa nhà thật đáng cười. Cả ba anh chàng này đều giống nhau trong một hoàn cảnh thật đáng cười. Trong truyện này vừa có cái cười của các yếu tố hài biểu hiện bên ngoài, vừa có cái cười khi phát hiện ra giữa mâu thuẫn giữa cái đạo mạo của thầy đồ, giữa vẻ trang nghiêm đạo đức của nhà sư, giữa vẻ oai vệ hống hách của lý trưởng với cái bản chất dâm ô truỵ lạc và hèn yếu của những anh chàng lâm vào hoàn cảnh éo le. Như vậy, truyện này không chỉ vạch mặt bản chất xấu xa của từng nhân vật mà còn vạch rõ bản chất xấu xa của hàng ngũ quan chức, lễ giáo, đạo đức phong kiến. Truyện “Tao thèm quá ”, bản thân lời nói “Thôi thôi, đừng nói nữa...tao thèm quá” không phải là lời nói đáng cười nhưng nhờ lời nói này mà người nghe phát hiện ra bản chất của tên vua mà từ đầu người ta tưởng là nghiêm minh vì ông ta tỏ ra quan tâm, thông cảm với nạn nhân bị hại.

Giữa cái hài hước và cái châm biếm, trong việc xây dựng nhân vật truyện cười không phải bao giờ cũng rạch ròi. Cái hài hước chỉ bộc lộ bên ngoài như lời nói, cử chỉ đáng cười trong các truyện “Cháy”, “Tay ải tay ai”, “Tôi khiêng bà”, “Sang cả mình con”, “Đánh chết nửa người”,

“Kén rể lười”...Nhưng cũng có khi lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười lại thể hiện tính cách như thói sợ vợ, thói tham ăn, thói keo kiệt trong các truyện “Chẳng phải tay ông”, “ba quan thôi”.

Như vậy, ở đây không còn là hài hước mà đã chuyển sang châm biếm. Còn các truyện như “Đẻ ra sư”, “Na mô boong” cũng là sử dụng cử chỉ đáng cười, lời nói đáng cười nhưng lại là nhân vật bị đả kích.137

2.5.3. Thi pháp ngôn từ a. Ngôn ngữ đối thoại

Đối thoại bao gồm cả độc thoại đóng vai trò quan trọng trong truyện cười. Lời văn kể chuyện gồm 2 phần: phần đối thoại là tiêu điểm của hành động và diễn hóa hành động của nhân vật, phần còn lại của lời văn kể chuyện là những chỉ dẫn về hoàn cảnh và diễn hóa của hoàn cảnh.

Lời nói đối thoại của nhân vật đóng vai trò chính trong việc thể hiện tính cách nhân vật, biểu hiện hành vi buồn cười của nhân vật.138

b. Khai thác yếu tố ngôn ngữ gây cười

Tạo nên câu trả lời hồn nhiên: “sang cả mình con” trong truyện cùng tên để thấy sự bất công. Ở đây dân gian tạo nên câu nói ngây thơ của con trẻ để gây cười nhưng sau đó là sự cảm thông chua xót cho hoàn cảnh của đứa trẻ đi ở.

Từ “cháy” trong truyện cùng tên tạo nên sự bất hợp lí trong cái hợp lí, cái hợp lí là miếng giấy cháy nhưng cái bất hợp lí là ông khách nghĩ đến người chủ nhà cháy để tạo tiếng cười. Cái sự vô lí là không thể có một ai sắp chết đuối mà cố tình ngoi lên để trá giá cho mạng sống của mình

“ba quan thôi”. Nhưng cái có lí là trong cuộc sống của mình, ai đó, đâu đó, vào những lúc nào đó, ta keo kiệt với sức khỏe, mạng sống của ta mà ta không hề biết.

Dùng biện pháp vật hóa trong thể hiện câu nói của nhân vật để tạo tiếng cười. Truyện “Na mô boong” các nhân vật lí trưởng, thầy đồ, thầy chùa đã bị vật hóa. Truyện đẩy nhân vật vào một tình thế oái ăm. Thầy đồ thì làm tiếng kêu con chuột, lí trưởng thì làm tiếng chó sủa, thầy chùa làm tiếng kêu của cái chuông chùa. Đây cũng là biện pháp tương phãn giữa tư cách nhân vật với hành động thực tế của họ. Biện pháp này làm tăng tính hài hước, châm biếm khiến cho câu chuyện gây cười một cách sảng khoái.

c. Khoa trương phóng đại

Biện pháp khoa trương hoặc nói quá sự thật có tác dụng gây cười. Truyện “Hội sợ vợ” đã cường điệu hóa sự sợ vợ của 5 anh chồng. Thực tế làm gì có chuyện cả 5 ông chồng sợ vợ đến mức 4 ông ngồi chết điếng không chạy được còn một ông sợ đến nỗi chạy bán sống bán chết đi nấp để vợ không thấy.139

2.5.4. Thi pháp không gian và thời gian a. Thi pháp không gian

Không gian trong truyện cười chủ yếu là không gian gia đình, không gian sinh hoạt, nơi nhân vật hoạt động mà biểu lộ cái đáng cười, tính cách đáng cười. Truyện “Ba quan thôi” nhân vật hoạt động trong quá trình đi nhưng tình huống diễn ra trên dòng sông và tiếng cười bật ra khi nhân vật bị ngã xuống sông đuối nước xin được cứu giúp. Mặc dù không gian dòng sông là không gian tự nhiên nhưng lại là không gian đi lại chủ yếu của người Việt nên nó vẫn là không gian sinh hoạt.

Không gian trong truyện cười thường đóng khung trong một phạm vi hẹp, cụ thể như ngôi nhà, trong phòng. Truyện “Na mô boong” chỉ xẩy ra trong gia đình của người đàn bà, dụng cụ cũng chỉ có cái giường và cái tủ quần áo. Khi nhân vật vào thế bí thì chỉ trốn vào dưới gầm giường và trong tủ quần áo. Còn anh nhà sư lại phải chui vào rọ treo lên trần nhà giả làm cái chuông chùa.

137 Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội

138 Đỗ Bình Trị, Sđd, tr. 132-134.

139 Lê Đức Luận (2017), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Sđd.

Có một số truyện không gian xảy ra ở một khu rừng trong truyện “Thần bia trả nghĩa

nhưng lại không phải không gian thực tế mà không gian được tạo ra cho nhân vật diễn xuất. Ngay cả không gian âm phủ trong truyện “Tao thèm quá” cũng là không gian được dựng lên.

b. Thi pháp thời gian

Thời gian tạo ra tiếng cười rất ngắn, chỉ trong phạm vi từ vài phút cho đến một tiếng. Thời gian ấy không phải là thời gian nhân vật vận động mà là thời gian gây cười thể hiện trong khoảnh khắc ngắn. Truyện “Na mô boong” chỉ thật sự tạo ra tiếng cười khi anh chồng về và mọi chuyện xử lí trong khoảng 5 phút đến 10 phút. Truyện “Ba quan thôi”, khoảng thời gian gây cười cũng chỉ trong 5 phút khi anh chàng bị ngã xuống sông chới với kêu cứu rồi mặc cả giá người cứu mình.

Truyện “Tôi khiêng bà” dù hành trình khiêng bà khá dài nhưng thời điểm gây cười chỉ là lúc bà bị khiêng ra khỏi nhà, trên cánh đồng mà vẫn nói “đêm năm canh bà nằm không nhắp và thằng ăn trộm trả lời “tôi khiêng bà đi khắp mọi nơi”.

Cũng như truyện dân gian nói chung, thời gian xảy ra sự việc và thời điểm gây cười đều không được nói cụ thể. Chúng ta chỉ ước đoán thời gian qua các tình huống gây cười mà thôi. Bởi lẽ, thời gian xảy ra vào ngày tháng năm nào không quan trọng, ban ngày hay ban đêm cũng chỉ là khung cảnh sự tình mà quan trọng là thời khắc tiếng cười bộc phát.140

Một phần của tài liệu Giáo trình thi pháp văn học dân gian (Trang 107 - 111)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)