Đặc biệt vớinhững tác gia lớn của nền văn học dân tộc mà tác phẩm của họ có nhiều điểmđặc sắc, đa dạng như Hồ Xuân Hương thì mối quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học viết càng cần đượ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
1.1.Về khoa học
1.1.1.Văn học dân gian và văn học viết là hai hệ thống thẩm mĩ của mộtnền văn học Hai hệ thống này độc lập nhưng không đối lập nhau, mà chúng cóquan hệ tác động qua lại với nhau Trong đó văn học dân gian được xem nhưbầu sữa mẹ ngọt ngào góp phần nuôi dưỡng nền văn học viết, thúc đẩy văn họcviết phát triển mạnh mẽ Thực tế lịch sử văn học cho thấy: những nhà văn ưu tú,
vĩ đại thường là những người gắn bó với cuộc sống nhân dân và văn hóa dân tộc
Họ là những con ong hút nhụy trong vườn văn học dân gian Đó là Sexpia,Puskin, Bồ Tùng Linh, Nguyễn Du…Ở nước Nga, từ lâu các nhà nghiên cứu đã
có nhiều thành tựu trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học viết Ở Việt Nam, vấn đề này được nhà nghiên cứu quan tâm nhưng nóvẫn cần được tìm hiểu một cách sâu sắc và hệ thống hơn nữa Đặc biệt vớinhững tác gia lớn của nền văn học dân tộc mà tác phẩm của họ có nhiều điểmđặc sắc, đa dạng như Hồ Xuân Hương thì mối quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học viết càng cần được khám phá để có những kết luận khoa học và giá trị
1.1.2.Ở nước ta, ý thức tìm về ngôn ngữ văn học dân gian có từ NguyễnTrãi Tuy nhiên, việc sử dụng nó là cả một quá trình Khi đến với văn học viết,không phải ngôn ngữ văn học dân gian đã định hình và hoàn thiện ngay Có thểnói, ngôn ngữ văn học dân gian tựa như một cơ thể sống, cũng vận động để đitới chỗ đẹp hơn, nghệ thuật hơn trong suốt thời trung đại Từ Nguyễn Trãi quacác thi nhân đời Hồng Đức, tới Nguyễn Bỉnh Khiêm… rồi đến Hồ Xuân Hương-một nữ sĩ đấy cá tính và phong cách, hệ thống ấy có được bước phát triển mới,
có những thay đổi đáng kể về chất Lúc này, ngôn ngữ văn học dân gian đã thực
sự trở nên thứ ngôn ngữ văn chương, nghệ thuật, và giàu tính thẩm mĩ Đặt ra
vấn đề “Ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (so sánh với
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn
Bỉnh Khiêm)”, chúng tôi nhằm khẳng định rõ quá trình vận động theo hướng tích
cực ấy của ngôn ngữ văn học dân gian, cũng là của ngôn ngữ văn học dân tộc
Trang 21.1.3.Hồ Xuân Hương là hiện tượng độc đáo hiếm có trong văn học trungđại nói riêng, trong nền văn học nước nhà nói chung Ngoài cuộc đời, bà là mộtphụ nữ lệch chuẩn, đầy cá tính và bản lĩnh Trong văn chương, đó là một phongcách mới mẻ, để lại dấu ấn không mờ nơi muôn thế hệ bạn đọc Tuy nhiên, bêntrong cái lệch chuẩn- phong cách- cá tính ấy không phải là cái lai căng, hỗn tạp,hướng ngoại, mà là một Xuân Hương đậm đà bản sắc dân tộc, dân chủ và nhândân sâu sắc Điều này đã khiến Xuân Hương chủ động đến với ngôn ngữ vănhọc dân gian và có những sáng tạo đầy thẩm mĩ cho văn chương nghệ thuậtnước nhà
1.2.Về thực tiễn
Hồ Xuân Hương là một tác gia lớn của nền văn học trung đại Nhiều sángtác của bà đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông Do vâỵ,chúng tôi nghiên cứu vấn đề “Ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân
Hương (so sánh với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm)” cũng nhằm mở ra những gợi ý cho quá trình
giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh tại nhà trường phổ thông Đặcbiệt, đề tài này giúp cho các em học sinh phân tích sâu sắc hơn, toàn diện hơn vềngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa văn họcdân gian và văn học viết cũng như bản chất của phong cách mới lạ Hồ XuânHương- sự sáng tạo trên cơ sở truyền thống, phát triển gắn với bản sắc văn hóanhân dân sâu sắc…
2.Lịch sử vấn đề
2.1.Về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở Việt Nam
Trên thế giới, đặc biệt ở Nga, vấn đề mối quan hệ giữa văn học dân gian
và văn học viết đã được đặt ra và nghiên cứu khá sớm Ở nước ta, tình hình cómuộn hơn: Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết được nêu ra đúngtầm của nó từ năm 1954 khi công trình “Đại cương lịch sử văn học Việt Nam”được xuất bản bởi nhà xuất bản phổ thông Từ sau đó, vấn đề này càng đượcquan tâm nhiều hơn
Trang 3H, 1976) Ông đã chứng minh và khẳng định ảnh hưởng quyết định của văn họcdân gian với nhiều thể tài văn học; thấy được quan hệ bổ sung, song song tồn tạicủa hai bộ phận văn học này dưới chế độ mới
Các tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Đỗ Bình Trị qua các côngtrình “Văn học dân gian” (Giáo trình Đại học tổng hợp, NXB Giáo dục, 1962),
“Nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học dân gian miền Nam” (NXB Đại học Sưphạm I, H, 1978) đã nêu lên vấn đề quan hệ giữa văn học dân gian và văn họcviết, tính đặc thù của văn học viết trong sự tương quan với văn học dân gianViệt Nam
Trên các báo và tạp chí, cũng có nhiều bài viết đáng chú ý nghiên cứu vềmối quan hệ giữa hai bộ phận văn học của dân tộc Tiêu biểu là Lê Kinh Khiêmvới bài viết “Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ giữa văn học dângian và văn học viết” (Tạp chí văn học, số 1, năm 1980) Tác giả nhấn mạnh:
“Không thể nghiên cứu văn học dân gian mà không tìm hiểu tác động qua lạicủa nó với văn học viết, càng không thể hiểu được đầy đủ, sâu sắc bộ phận vănhọc viết nếu không biết đến ảnh hưởng của văn học dân gian” Tiếp theo làĐặng Văn Lung với những ý kiến trong bài viết “Vai trò của văn học dân giantrong sự phát triển của văn học dân tộc” (Tạp chí văn học số 2, năm 1989):
“Văn học dân gian và văn học ý thức hệ có mối quan hệ tự nhiên Chúngphụ thuộc lẫn nhau về hệ thống mỹ học, về trình độ văn hóa và hoàn cảnh xãhội, lịch sử Chúng quy định lẫn nhau, chế ước lẫn nhau qua từng yếu tố hợpthành… Văn học dân gian và văn học viết có quuan hệ bên trong, bên ngoài theonhững quy luật nhất định.”
Trang 42.1.2.Trên thực tiễn văn học
Quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trong sáng tác của của cácnhà văn, nhà thơ đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu Họ đều kết luận: Cácnhà văn lớn bao giờ cũng tắm mình trong dòng sữa mẹ văn học dân gian Cáccông trình nghiên cứu tiêu biểu là:: “Để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn họcdân gian và văn học viết [16], “Ảnh hưởng qua lại giữa Truyện Kiều và thơ cadân gian” Với bài viết này, tác giả khẳng định: “Truyện Kiều là sự vận dụngthiên tài kho tàng văn học dân gian”
Về ảnh hưởng của văn học dân gian đến sáng tác của Nguyễn Trãi vàNguyễn Bỉnh khiêm, đã có một số công trình đề cập tới Tiêu biểu trong số đólà: Tác giả Thanh Lãng, năm 1967, trong công trình “Quốc âm thi tập” đã chorằng: “Nguyễn Trãi là ông tổ của nền văn học cổ điển, là ông tổ của nghệ thuậtdân tộc…” Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò “khai sinh một nghệ thuật
dùng ngôn ngữ dân gian của Nguyễn Trãi.” ("Nguyễn Trãi tác gia, tác phẩm",
Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu, NXBGD, H, 1999); Nguyễn ThiênThụ, khi đánh giá về tập Quốc âm thi tập đã nhận định: “Trong Quốc âm thi tập,Nguyễn Trãi đã sử dụng tài nguyên phong phú của nền văn chương Việt Nam,
đó là ca dao, tục ngữ”
Với “Bạch Vân thi tập’ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tiêu biểu là bài viết
“Âm vang tục ngữ trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Bùi Văn Nguyên(Ngôn ngữ, số 3 năm 1986), và Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn “Thơ triết lýNguyễn Bỉnh Khiêm- mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết” (Đạihọc Sư phạm Hà Nội, 1997)
Trang 5Các công trình nói trên là những gợi ý cho chúng tôi trong quá trình triểnkhai đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên, các công trình mới chỉ dừng lại ởviệc nêu ra và khẳng định chứ chưa phân tích sâu sắc, cụ thể về tác động của vănhọc dân gian đến các tác gia văn học, cũng chưa có cái nhìn hệ thống để nghiêncứu tác động của văn học dân gian đến văn học viết theo một quá trình biệnchứng trong lịch sử văn học
2.2.Về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trong sáng tác của Hồ Xuân Hương
Xung quanh tiểu sử và văn nghiệp của Xuân Hương, đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu và ý kiến đánh giá khác nhau Riêng về vấn đề mối quan hệgiữa văn học dân gian và văn học viết trong sáng tác của bà, có một số côngtrình nghiên cứu sau: “Hồ Xuân Hương với văn học dân gian” (Nguyễn Đăng
Na, Tạp chí văn học số 2, năm 1991), “Hồ Xuân Hương – Bài thơ Mời trầu cộngđồng truyền thống và cá tính sáng tạo trong mối quan hệ giữa văn học dân gian
và văn học viết” (Đặng Thanh Lê, Tạp chí văn học số 5, năm 1983)… Các tácgiả đều thống nhất khẳng định: “Hệ thống sáng tác có môtip trầu cau đã đi theocon đường lịch sử khá lôgic từ sự khẳng định của cộng đồng giai cấp đến sựkhẳng định của cộng đồng thế hệ và cuối cùng sự khẳng định của một cái tôi cánhân” Nguyễn Đăng Na cũng có những nghiên cứu rất sâu sắc khi tác giả khẳngđịnh: “Hồ Xuân Hương nghĩ cái nghĩ dân gian, cảm cái cảm dân gian”, cũng làkhẳng định mối quan hệ cao đẹp giữa văn học dân gian và văn học viết trongsáng tác của nữ sĩ
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu quan hệ giữa văn học dângian và văn học viết trong thơ Xuân Hương trên bình diện ngôn ngữ một cách hệ
thống và cụ thể Đặc biệt, việc đặt vấn đề đó trong tương quan so sánh với Quốc
âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh
Khiêm để thấy được bước phát triển của văn học dân gian ở sáng tác của XuânHương lại hầu như chưa có công trình nào đề cập tới
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đặc biệt chú ý đến thaotác so sánh nhằm chỉ ra biện chứng của quá trình vận động dần đến hoàn thiện
Trang 6của ngôn ngữ văn học dân gian từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh khiêm đến HồXuân Hương
3.Mục đích nghiên cứu
3.1.Trên cơ sở so sánh với sự vận dụng ngôn ngữ văn học dân gian (thành
ngữ, tục ngữ, ca dao) trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập, chúng tôi nhằm chỉ ra giá trị đặc sắc, độc đáo của ngôn ngữ
văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương
3.2.Đồng thời, báo cáo hướng tới khẳng định sự phát triển theo hướng ngàycàng tăng tính thẩm mĩ, nghệ thuật và dân chủ trong thơ Nôm Đường luật dưới sựảnh hưởng của ngôn ngữ văn học dân gian trong văn học trung đại Việt Nam
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4 1.Phạm vi nghiên cứu
Báo cáo nghiên cứu tập trung vào các phạm vi sau:
- Từ mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết nói chung,chúng tôi khẳng định, phân tích quan hệ giữa ngôn ngữ văn học dân gian với thơNôm Xuân Hương
- Những biểu hiện về sự phát triển của ngôn ngữ văn học dân gian trong
thơ Nôm Xuân hương so với các sáng tác trước Xuân Hương (Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm)
- Tác động của ngôn ngữ văn học dân gian với việc hình thành phongcách thơ Hồ Xuân Hương
4 2.Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện đề tài này chủ yếu trên các sáng tác thơ Nôm củaXuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trong một số văn bản sau:
- Thơ Hồ Xuân Hương- Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn
học, 1982
- Quốc âm thi tập, bản của Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điền- phiên âm
và phiên âm và chú giải, NXB Văn- Sử- Địa, H, 1956
- Thơ Quốc âm Nguyễn Trãi của Bùi Văn Nguyên biên khảo và chú giải,
giới thiệu, NXBGD, H, 1994
Trang 7- Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Văn học, H, 1983.
- Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan- Tái bản lần II, NXB
Văn học, 2003
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp chủ yếu các phươngpháp, biện pháp nghiên cứu sau:
5 1.Thống kê - phân loại
- Thống kê các từ ngữ thuộc văn học dân gian trong thơ Xuân Hương,Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và một số tác giả khác
- Sắp xếp, phân loại các lớp ngôn ngữ đó theo mục đích nghiên cứu
Đây là phương pháp rất cần thiết để tạo ra tính khoa học của đề tài
5 2.Phương pháp so sánh
So sánh là thao tác quan trọng và thường xuyên trong qua trình nghiêncứu của chúng tôi Nhờ đó mà chúng tôi có thể chỉ ra sự phát triển của ngônngữ văn học dân gian trong thơ Xuân Hương, cũng như tiến trình vận động theohướng tích cực của nó
5 3.Phương pháp liên ngành
Đề tài có vận dụng một cách linh hoạt tri thức của nhiều ngành khoa học
xã hội khác nhau, tạo ra sự cộng hưởng giữa văn học và văn hóa (dân gian), vănhọc và ngôn ngữ…
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
Sự tác động của ngôn ngữ văn học dân gian đến văn học viết và vấn đề ngôn ngữ văn học dân gian
trong thơ Hồ Xuân Hơng
1.1 Sự tỏc động của ngụn ngữ văn học dõn gian đến văn học viết
1.1.1 Ngụn ngữ văn học dõn gian
1.1.1.1 Khỏi niệm
Văn học là bộ mụn nghệ thuật dựng ngụn từ làm chất liệu Phương diệnhỡnh thức mà chỳng ta tiếp nhận trực tiếp ở cỏc tỏc phẩm văn học là hệ thốngngụn từ của chỳng hay cỏc đặc điểm của lời văn nghệ thuật Nếu ngụn từ là chấtliệu của văn học núi chung thỡ lời văn là hỡnh thức ngụn từ nghệ thuật của tỏcphẩm nghệ thuật Lời núi trong tỏc phẩm văn học khụng cũn là hiện tượng ngụnngữ mang chức năng giao tiếp thụng thường mà cũn cú một chức năng khỏc:chức năng nghệ thuật thẩm mĩ
Như vậy, sự phõn biệt giữa ngụn ngữ với lời văn chớnh là sự phõn biệtgiữa một bờn là cộng đồng ngụn ngữ toàn dõn với ngụn ngữ cú tớnh nghệ thuậtcủa văn học Núi văn học là nghệ thuật ngụn từ là núi đến lời văn nghệ thuậttrong tỏc phẩm văn học:
“Ngụn ngữ văn học là ngụn ngữ cú tớnh chất nghệ thuật của tỏc phẩm văn học, khỏc với ngụn ngữ học, một thuật ngữ của bộ mụn ngụn ngữ học, chỉ hỡnh thức ngụn ngữ viết của ngụn ngữ toàn dõn” [23,59]
Dựa vào khỏi niệm ấy, cú thể phõn biệt ngụn ngữ dõn gian và ngụn ngữ văn họcnhư sau:
- Ngụn ngữ dõn gian: Là cộng đồng ngụn ngữ toàn dõn, ngụn ngữ đời
sống, bao gồm thành ngữ, tục ngữ, ca dao như một hiện tượng ngụn ngữ Đõy làmột bộ phận của ngụn ngữ dõn tộc
Trang 9- Ngôn ngữ văn học: Là ngôn ngữ đã được gọt giũa, có tính nghệ thuật
cao trong tác phẩm văn học Đây là lớp từ văn chương sách vở, có tính bác học,thẩm mĩ cao
Văn học dân gian là một bộ phận của nền văn học dân tộc (bộ phận cònlại là văn học viết) Văn học dân gian là nghệ thuật tổng hợp mang tính nguyênhợp- người ta gọi văn học dân gian là hình thức ngôn từ ca- vũ- kịch… Tuynhiên, yếu tố ngôn ngữ mới đóng vai trò chủ yếu Yếu tố ngôn từ trong tác phẩmdân gian được kết tinh, gọt giũa từ ngôn ngữ dân gian, ngôn ngữ đời sống toàndân Còn sự vận dụng phải phù hợp với tiêu chuẩn hay cách lựa chọn, khả năngbiểu hiện, vì vậy chúng lại mang tính nghệ thuật cao Đó là ngôn ngữ văn họcdân gian
Ngôn ngữ văn học dân gian là ngôn ngữ được sử dụng trong sáng tác dângian Khi đi vào các tác phẩm văn học viết, chúng chủ yếu bao gồm ngôn ngữcủa thành ngữ, tục ngữ, ca dao Ngôn ngữ văn học dân gian lúc này tồn tại đanxen và được xem xét trong sự đối lập với ngôn ngữ sách vở Chúng không phảingôn ngữ đời sống sinh hoạt nhưng vẫn thuộc về ngôn ngữ dân tộc Tuy có nétgần với ngôn ngữ đời sống nhưng ngôn ngữ văn học dân gian lại ở một tầm caohơn với tính thẩm mĩ, nghệ thuật của riêng nó
1.1.1.2 Đặc điểm
Ngôn ngữ văn học dân gian phản ánh trực tiếp, cụ thể, sinh động và dễhiểu về đời sống của dân tộc, nhân dân, đặc biệt là tâm hồn và trí tuệ của họ Dovậy, ngôn ngữ văn học dân gian bao giờ cũng bình dị, tươi tắn, chân thực và gầnvới đời sống
Có người nói, văn học dân gian là cây đàn muôn điệu của người bình dân.Đúng vậy! Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học dân gian là dòng suối mát lành, tựnhiên, chảy ra từ tâm hồn, tình cảm và suy nghĩ của người lao động Dù ở thểloại nào, văn học dân gian cũng kết tinh nếp cảm, nếp nghĩ và những khúc xạ vềhiện thực đời sống của nhân dân ta
Trang 101 0
Ngôn ngữ văn học dân gian được các nhà văn, nhà thơ tiếp thu chủ yếu ởthành ngữ, tục ngữ và ca dao Mỗi loại ngôn ngữ này lại có vẻ đẹp riêng củamình:
- Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức
và nêu lên những nhận xét, phán đoán của nhân dân ta dưới hình thức những câunói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu và dễ nhớ, dễ truyền, lời ít, ý nhiều,hình thức nhỏ nhưng nội dung rất lớn, tính khái quát rất cao, nhiều khi “đáng giáhàng pho sách” (M Gorki) Chứa ngôn ngữ tục ngữ trong vă chương sẽ làm chocâu văn tăng lượng thông tin, tình ý sâu sắc mà mộc mạc, tự nhiên Sức mạnhcủa tục ngữ là sức mạnh của nguồn năng lượng dồn nén Nói chung, tục ngữ làthể loại thiên về tư duy lý trí, giàu tính trí tuệ Vì vậy, các nhà thư thường mượntục ngữ để chuyển tải những vấn đề đạo đức, triết lý…
- Thành ngữ cũng có nét giống với tục ngữ, song được phân biệt với tụcngữ ở chỗ: Về nội dung, mỗi câu thành ngữ chỉ diễn tả một khái niệm nhất định(chứ không phải một phán đoán như tục ngữ), nghĩa là chỉ tương đương với từ
Ví dụ: “Xấu như ma”, “Quê cha đất tổ”… Do vậy, kết cấu của thành ngữ lỏnghơn tục ngữ Nó mang tính mở
Thành ngữ, tục ngữ có quan hệ mật thiết với hầu hết mọi lĩnh vực đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân ta Không một thể loại nào được sử dụngthường xuyên như tục ngữ Không phải ngẫu nhiên mà ở nước ta cũng nhưnhiều nước khác, các học giả có tài thường rất quý trọng và sử dụng sáng tạothành ngữ, tục ngữ
- Được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, được gọt giũa bởihàng vạn nhà thơ dân gian vô danh, ngôn ngữ ca dao Việt Nam đã trở nên nhữngviên ngọc quý óng ánh trong kho tàng văn học dân tộc Có thể nói, ngôn ngữ ca dao
đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt: Nó có cả nhữngđặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học (cụ thể là ngôn ngữ thơ), đồng thời nó còn
là sự vận dụng linh hoạt, tài tình của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào mộtloại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ
Ở ca dao, chúng ta vừa bắt gặp cách nói mượt mà, tinh tế:
Trang 11“Tiện đây mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
Cũng đồng thời thấy những lời đao to búa lớn” đầy chất khẩu ngữ:
“Chồng gì anh, vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”
Song, nói chung, ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ “thơ” nhất trong ngôn ngữvăn học dân gian Cao hơn chức năng thông báo, ca dao hướng đến chức năngthông báo- thẩm mĩ cao đẹp
1.1.2 Sự tác động của ngôn ngữ văn học dân gian đến văn học viết
1.1.2.1 Quy luật về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
* Văn học dân gian và văn học viết là hai bộ phận cơ bản của nền văn họcdân tộc Mối quan hệ giữa hai bộ phận này là mối quan hệ tự nhiên, đồng thời làmối quan hệ sáng tạo Ở bất kì nền văn học nào, hai bộ phận này cũng có tácđộng qua lại với nhau, trong đó chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh vào tác động củavăn học dân gian vào ăn học viết dưới góc độ ngôn ngữ
Văn học dân gian ra đời từ rất sớm, trước khi chữ viết ra đời Các tácphẩm văn học dân gian với những giá trị thẩm mĩ đáng kể, đã trở thành dòng sữa
mẹ ngọt ngào, màu mỡ, đặt nền móng cho sự ra đời của văn học viết Đúng như
M Gorki từng viết:
“Ở văn học dân gian có sự bắt đầu của nghệ thuật ngôn từ” và “Văn học dân gian với văn học viết đúng như là dầu với lửa hoặc như đất với cây cối Dầu nuôi ngọn lửa thành ánh sáng…”
Văn học viết ra đời sau Sự tiếp thu, kế thừa những tinh hoa của văn họcdân gian là quy luật tất yếu, cũng là yếu tố giúp cho văn học viết phát triển bềnvững Bởi lẽ các nhà văn không thể tách mình ra khỏi tiếng nói của dân tộcmình, tổ tiên mình Ngược lại, những nhà văn lớn bao giờ cũng là người đắmmình trong bầu sữa mẹ văn hóa dân gian Ôđixê từng lang thang trên những nẻođường thôn quê của đất nước Hy Lạp cổ đại để làm nên hai thiên trường ca bất
Trang 121 2
hủ “Iliat” và “Ôđixê” Tác phẩm của ông được coi là “lò nung qua đó nhữngtảng quặng thô sơ của truyền thuyết dân gian và thơ ca được chảy ra thànhnhững tảng quặng nguyên chất.” Nguyễn Du, để sáng tạo nên “Truyện Kiều” vĩđại đã không thể không học hỏi những câu hát phường vải Nghệ Tĩnh, nhữngcâu ca dao tục ngữ mượt mà Chính ông cũng nhận ra: “Thôn ca sơ học tang mangữ” (Tiếng hát nơi thôn quê có thể giúp cho nghề trồng đay, trồng gai), còn lờithơ của mình chỉ là “lời quê góp nhặt dông dài” (Truện Kiều) Song, thực ra, vớingười nghệ sĩ vĩ đại ấy thì “lời quê” ầy đã hóa ngọc trong thi ca
* Trong số rất nhiều những yếu tố của văn học dân gian có tác động đếnvăn học viết như nếp cảm, nếp nghĩ dân gian, đề tài, hình ảnh… thì ngôn ngữđóng vai trò quan trọng và có giá trị vào bậc nhất Nội hàm của yếu tố ngôn ngữvăn học dân gian ở đây khá rộng Nó không chỉ bó hẹp ở ngôn từ, lời văn của tácphẩm mà là toàn bộ các phương tiện, phương thức cũng như giá trị thẩm mĩnghệ thuật … của hệ thống ngôn từ dân gian được các nhà văn nhà thơ sử dụngtrong sáng tác của mình
Trong sự phát triển của văn học, các nhà văn không ngừng học hỏi, tiếpthu nguồn ngôn ngữ văn học dân gian phong phú và sống động Từ cách đặtnhan đề đến từ ngữ, cách diễn đạt hay tổ chức lời văn đều được họ chú ý Trên
cả kế thừa, các nhà văn còn sáng tạo Chính sự sáng tạo trên cơ sở những giá trịsẵn có mới khẳng định được tài năng phong cách của nhà văn cũng như chấtlượng của tác phẩm Quá trình chiếm lĩnh kho tang ngôn ngữ dân gian tùy thuộcvào phong cách chảu nhà văn cũng như ý đồ sáng tạo của họ
1.1.2.2 Tác dụng của văn học dân gian đến quá trình dân tộc hóa, đại chúng hóa, dân chủ hóa ngôn ngữ và văn học
Ngôn ngữ văn học dân gian là tiếng nói của nhân dân, dân tộc, một thứ tiếngthuần khiết và cao đẹp Do vậy, sự có mặt của ngôn ngữ văn học dân gian trongvăn học viết làm cho văn học viết trở nên bình dị, dân dã và đậm đà bản sắc dântộc, cái bản sắc mà Êxênin gọi là “phong vị Nga” kì diệu ở tác phẩm của mình
Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ, nhất là ngôn ngữ văn học dân gian vào sáng tác
đã chứng tỏ sự lớn mạnh và giàu có của ngôn ngữ dân tộc, chứng tỏ vai trò to
Trang 13lớn của nó trong tiến trình dân tộc hóa và đại chúng hóa dân tộc Khai các nhàvăn không chỉ học hỏi, tiếp thu một cách thụ động mà còn tích cực chủ động lựachọn, sáng tạo phát triển ngôn ngữ dân gian, thì điều đó đã thể hiện sự phát triển
ở một mức nào đó của văn học Sự phát triển theo hướng truyền thống và hiệnđại, dân tộc và thời đại
Nền văn học nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn ngữ ngoại lai (ởđây xét trong phạm vi nền văn học trung đại là ngôn ngữ Hán) Chính ngôn ngữvăn học dân gian có vai trò to lớn trong việc hạn chế, khắc phục ảnh hưởng chiphối đó của ngôn ngữ ngoại nhập, và dần có khả năng thay thế yếu tố ngoại laitrong chức năng thẩm mĩ và phản ánh của văn học Ý thức tìm về ngôn ngữ vănhọc dân gian để bảo vệ, phát triển và làm đẹp ngôn ngữ dân tộc ở nước ta có từNguyễn Trãi Qua các tác giả thời Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi đến HồXuân Hương… hệ thống ngôn ngữ ấy có cả một quá trình phát triển và ngàycàng khẳng định được vai trò cũng như sức mạnh tuyệt vời của mình Ngôn ngữvăn học dân gian góp phần làm cho ngôn ngữ văn học nước ta tiến dần đến tínhdân tộc, nhân dân và dân chủ sâu sắc
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học viết là mối quan hệ hai chiều, tác động qua lại biện chứng Văn học viếtkhông chỉ học hỏi, tiếp nhận tinh hoa văn học dân gian, mà còn có những ảnhhưởng không nhỏ đến văn học dân gian Trong kho tàng tục ngữ, thành ngữ, cadao có không ít những câu lấy ngôn từ, chất liệu, hình ảnh từ văn học viết Cóthể nêu ra dẫn chứng cụ thể như câu ca:
“Anh xa em như liễu xa hồ Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi”
Có thể nói, sự tác động qua lại giữa hai bộ phận văn học như vậy là vôcùng cao đẹp Chúng bồi đắp cho nhau, tôn vinh nhau lên, tỏa sáng cho nhau.Nhờ đó, ngôn ngữ dân tộc- tiếng Việt ngày càng trở nên trong trẻo, hoàn thiện
Vẻ đẹp ấy là sự kết hợp của sự bình dị mà sâu sắc, chân thực mà bóng bẩy, gầngũi mà đầy tính nghệ thuật
1.2 Vấn đề ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương
Trang 141 4
1.2.1 Hồ Xuân Hương là nhà thơ mang những yếu tố thuộc dòng bình dân
1.2.1.1 Về tác giả
Về tác giả Xuân Hương, xưa nay đã có nhiều quan điểm ý kiến khác nhau.Người ta vẫn dè dặt gọi là “thơ Hồ Xuân Hương”, “hiện tượng Hồ XuânHương” mà tránh gọi là “tác giả Hồ Xuân Hương”, “nhà thơ Hồ Xuân Hương”,càng tránh gọi là “nữ sĩ Hồ Xuân Hương” Chung quanh là sự khác nhau vềnguồn gốc xuất thân và một số bi kịch tình duyên của nữ sĩ
* Ý kiến truyền thống cho rằng Hồ Xuân Hương có khả năng là người xãQuỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tương truyền Hồ Phi Diễn (sinhnăm 1704) là thân phụ của nữ sĩ Ông lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà làm vợ lẽ, sinh
ra Hồ Xuân Hương
Con đường tình duyên của Xuân Hương có nhiều éo le, bất hạnh Tuổithành niên, Xuân Hương gặp người bạn trai- bạn tri âm là Chiêu Hổ nhưng rấttiếc họ không đi đến cuộc tình trọn vẹn Xuân Hương hai lần làm lẽ, song đềugóa bụa
* Ý kiến của một số nhà nghiên cứu gần đây lại cho rằng Xuân Hương làcon của Hồ Sĩ Danh (1706-1783), em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786), quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Bà mẹ XuânHương cũng là người họ Hà, một cô gái xứ Bắc, làm hầu thiếp của Hồ Sĩ Danh.Khi thân phụ qua đời, Xuân Hương còn quá nhỏ Hai năm sau, Hồ Sĩ Đống cũngmất Không còn nơi nương tựa, Xuân Hương được mẹ đưa ra đất Thăng Long.Xuân Hương từng làm vợ lẽ của quan tham hiệp trấn Yên Quảng là Trần PhúcHiển Ông này bị xử tử vì bị tố cáo là ăn hối lộ
Như vậy, cuộc đời Xuân Hương còn có nhiều điểm mà các nhà nghiêncứu chưa xác định được một cách rõ ràng Điều này làm cho tác giả XuânHương gần với tính “khuyết danh” trong văn học dân gian và truyện Nôm
Chỉ có một số điểm thống nhất giữa các ý kiến về tiểu sử của XuânHương là: Thân phụ Xuân Hương là người xứ Nghệ, lấy cô gái xứ Bắc họ Hàlàm vợ lẽ Cuộc đời Xuân Hương gắn bó sâu sắc với mảnh đất Thăng Long.Thưở nhỏ, nữ sĩ ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thụy, gần Hồ Tây Tại đây,
Trang 15Xuân Hương được cho học hành Sau đó, gia đình rời về thôn Tiên Thị, tổngTiên Túc, huyện Thọ Xuân Cuộc đời nàng có nhiều éo le trong đường tìnhduyên Xuân Hương đi nhiều nơi, đặt chân đến nhiều miền quê của đất nước,giao du với nhiều văn nhân thời bấy giờ
Tất cả những điều trên góp phần tạo nên một Hồ Xuân Hương hết sứcđộc đáo
1.2.1.2 Về tác phẩm
Có một điểm đặc biệt trong sự tồn tại của sáng tác thơ Xuân Hương, đặcbiệt là những bài thơ Nôm Thơ Nôm Xuân Hương còn lại đến ngày nay đều dolưu truyền trong dân gian và người đời sau ghi chép lại Điều này làm cho sángtác của bà rất gần với văn học dân gian- những tác phẩm được gìn giữ từ thế hệnày đến thế hệ khác bằng con đường truyền miệng Do tính chất truyền miệng,thơ Xuân Hương có những dị bản và có những lầm lẫn với các tác giả khác như
bà Huyện Thanh Quan Dựa vào sự thống nhất về phong cách, các nhà nghiêncứu cho rằng có khoảng trên dưới bốn mươi bài thơ Nôm truyền tụng là của HồXuân Hương Song, những con số này cũng chỉ là tương đối
Qua một số vấn đề về tác giả và tác phẩm như trên, chúng ta thấy Xuân Hương
có nhiều yếu tố thuộc dòng bình dân Cái chất bình dân dường như đã là máuthịt, tự nhiên trong cốt tủy con người ấy
1.2.2 Cơ sở của sự tiếp thu ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương 1.2.2.1 Yếu tố khách quan
a Đặc điểm thời đại phức tạp
Hồ Xuân Hương sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷXIX Đây là thời đại đầy bão dông, biến động và phức tạp của xã hội Việt Nam
Trong giai đoạn trước, nói đến văn hóa dân tộc, chúng ta không quên cáichân lý cơ bản do V I Lênin chỉ rõ là: “Trong mỗi nền văn hóa dân tộc, có haithứ văn hóa dân tộc” Đến giai đoạn này, chế độ phong kiến suy yếu, khủnghoảng trầm trọng và đến hồi sụp đổ cùng với triều Lê-Trịnh và Nguyễn Đâycũng là giai đoạn khủng hoảng của hệ tư tưởng chính thống cũng như nền vănhóa chính thống phục vụ giai cấp thống trị
Trang 161 6
Sự hưng phế của triều đại không đồng nhất với sự thăng trầm của lịch sửdân tộc Trong lịch sử Việt Nam “nhân dân có vai trò quyết định cả về mọimặt.” Ở giai đoạn này, khi giai cấp phong kiến đã thoái hóa thì cũng chínhphong trào nông dân vươn lên làm nhiệm vụ dân tộc và là động lực thúc đấy xãhội tiến lên phía trước Có thể gọi đây là giai đoạn toàn dân chống phong kiến
và tiếp tục chống ngoại xâm Nó có những biến đổi quan trọng so với giai đoạntoàn dân xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt (thời kỳ thế kỷ XV, XVI màNguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống)
Đặc điểm thời đại như trên là “cơ sở xã hội và tư tưởng vững chắc cho sựphát triển văn hóa dân tộc”, “tạo ra một đời sống tinh thần lành mạnh với nộidung xã hội tiến bộ và tính dân tộc sâu sắc Hồ Xuân Hương được sống trong
“đời sống tinh thần lành mạnh ấy” đã có xu hướng tìm về với ngọn nguồn vănhọc dân gian, đó cũng là điều dễ hiểu
b Sự phát triển của văn học dân gian và quy luật kế thừa trong văn học
Trong giai đoạn khởi nghĩa nông dân chống phong kiến và chống xâmlược mạnh mẽ này, văn học dân tộc nước ta phát triển huy hoàng Đặc biệt, vănhọc dân gian truyền thống đạt đến mức phát triển cao nhất, hoàn chỉnh nhất,phong phú nhất về mọi mặt: thể loại, thể tài, nội dung và hình thức nghệ thuật
So với các giai đoạn trước, văn học dân gian thời kỳ này phát triển cả về sốlượng và chất lượng Đó là yếu tố quan trọng tác động đến sự tiếp thu kế thừangôn ngữ văn học dân gian của Hồ Xuân Hương:
Về thể loại: Các thể loại văn học dân gian phát triển phong phú và đadạng, hoàn chỉnh ở cả tự sự và trữ tình Ngoài các thể loại xuất hiện từ các giaiđoạn trước (thần thoại, truyền thuyết…), thời kỳ này ra đời nhiều thể loại mớinhư truyện cười, sân khấu dân gian (chèo, tuồng…) Đặc biệt đáng chú ý là sựphát triển của tục ngữ và ca dao
Tục ngữ là hình thức phổ biến nhất của triết học bình dân Triết lý dângian là thứ triết lý xuất phát từ thực tiễn hằng ngày, trong hoạt động sản xuất vàchiến đấu, triết lý của kinh nghiệm và đời sống Con người lao động bị áp bức,đời sống của nó, giá trị và thể thống của nó- đó chính là đối tượng cơ bản, điểm
Trang 17xuất phát, mục đích, tiêu chuẩn của mọi khái quát kinh nghiệm trong tục ngữ.Như vậy, triết học bình dân căn bản là một thứ triết học thấm nhuần tư tưởngnhân bản và tinh thần thực tiễn Đó cũng là cơ sở cho giúp cho ngôn ngữ tục ngữtrong thơ Nôm Xuân Hương có sự thay đổi về chất so với ngôn ngữ tục ngữtrong văn học giai đoạn trước: Tính trữ tình tâm trạng trong thể loại dân gianduy lý
Ca dao là lĩnh vực thơ ca dân gian nêu lên vấn đề con người một cách trựctiếp, sinh động và cảm động hơn cả Sự nở rộ của các thể loại ca dao dân ca, củachất trữ tình trong các thể loại này đã đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao độngmuốn diễn tả một cách sâu sắc nỗi thống khổ cũng như khát vọng về quyềnsống, quyền tự do tinh thần của con người bị áp bức, đồng thời muốn nêu caonhững tình cảm trong sáng bắt nguồn từ sinh hoạt lành mạnh, đời sống lao động
và chiến đấu kiên cường của họ Về mặt hình thức và thể loại, đây cũng là giaiđoạn thơ ca dân gian đạt tới độ viên mãn Chính ngôn ngữ ca dao đã đem lạinhững giá trị thẩm mĩ, mới mẻ cho các nhà văn, nhà thơ trong sáng tác văn học,trong đó có Xuân Hương Đồng thời, ca dao dân ca trữ tình, ở giai đoạn phát
triển phồn vinh của nó cũng đánh dấu bước đầu của quá trình tự ngã nhận thức của số phận cá nhân trong tập thể nhân dân Đó là một mốc phát triển quan
trọng của tiến trình lịch sử văn hóa- nghệ thuật, so với thời đại của truyện cổ
tích- thể loại này ở thời kỳ nở rộ của nó đã đánh dấu quá trình tự ngã nhận thức của tập thể nhân dân bị áp bức trong cộng đồng dân tộc [20] Nói chung,
sự nở rộ đồng thời của các thể loại triết lý dân gian, các thể loại triết lý châmbiếm, các thể loại trữ tình, sự phát triển của tính chất hiện thực tạo nên mộttrong những đặc điểm của văn học dân gian thời suy tàn của xã hội phong kiến.Văn học dân gian cũng trở nên năng động hơn, có sức lan truyền xa rộng hơn
Nó đã trở thành “một thứ máu của Tổ quốc” (Xuân Diệu) Thứ máu ấy đã tiếpsức, nuôi dưỡng cho nền văn học dân tộc phát triển bền vững và xanh tươi
1.2.2.2 Yếu tố chủ quan
Trang 181 8
Xuân Hương đến với văn học dân gian một cách chủ động, tích cực vàsáng tạo Chính con người Xuân Hương, cá tính Xuân Hương là cái bản lề giúpcho tài năng nghệ thuật của nữ sĩ bước vào thế giới của ngôn ngữ dân gian
a Ý thức dân chủ của Xuân Hương
Xuất thân trong một gia đình không hề bình dân- con gái ông đồ Nho xứNghệ giàu truyền thống văn hóa và bà mẹ đất Bắc tài sắc, thông minh, ở conngười Xuân Hương lại xuất hiện những yếu tố rất bình dân Đứng về phía tầnglớp bình dân, Xuân Hương mang tư tưởng phản phong, phi Nho Tất cả những gì
là quy phạm, lễ giáo khắt khe, sự phân biệt đẳng cấp dựa trên tài sản thành hiềnnhân- quân tử, sang- hèn, những khái niệm “đạo đức” … do bọn thống trị đặt rađều bị bà phản ứng lại gay gắt, lôi ra mà điểm mặt chỉ tên Bà đưa tất cả lêntrang thơ của mình mà đả kích và trào phúng:
“Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”
(Vịnh cái quạt, II)Bằng chính ngôn ngữ của mình, bà đã hạ bệ, giáng những đòn quyết liệtvào những gì xã hội phong kiến, giai cấp thống trị cho là “cao quý”, “mẫu mực”.Song hành với điều đó là việc nâng niu, làm tỏa sáng những gì mà xã hội đươngthời cho là thấp hèn, nhỏ mọn- những gì thuộc về nhân dân lao động Sự đảolộn bậc thang giá trị ở Xuân Hương chính là ý thức dân chủ sâu sắc đã trở thànhthiên tính của nữ sĩ Cũng tự nhiên như thế, khi sáng tác văn chương, XuânHương đã đến với văn học dân gian và đưa ngôn ngữ dân gian lên thành thứ
Trang 19ngôn ngữ văn chương nghệ thuật trau chuốt, giàu giá trị thẩm mĩ và mới mẻ VớiXuân Hương, không có đề tài, hình ảnh ngôn ngữ nào là cao quý hay thấp hèn.Thế giới thơ Nôm Xuân Hương là thế giới của lý tưởng cao đẹp Ở đó, tất cả đềubình đẳng với nhau: những con ốc nhồi, quả mít xù xì, cái quạt nhỏ nhoi haychiếc bách mộc lênh đênh giữa dòng… tất cả đều nằm trong hệ thống thẩm mĩcủa thơ Xuân Hương Con người ấy đã tìm thấy trong kho tàng văn học bình dânnhững yếu tố ngôn ngữ có khả năng bồi đắp, thúc đẩy vẻ đẹp của ngôn ngữ nóiriêng, văn học dân tộc nói chung
b Cá tính Xuân Hương
Sống trong xã hội phong kiến, người phụ nữ Xuân Hương không giốngnhư bao người con gái khác- lẳng lặng như trăng rằm, an phận thủ thường vớiđạo “tam tòng tứ đức” Ở Xuân Hương, yếu tố cá tính, ý thức khẳng định cáiTôi cá nhân khá nổi bật Bà là một nữ lưu khá đặc biệt thời bấy giờ: đi nhiều nơi(khắp Thăng Long, Hà Tây, động Hương Tích, đèo Ba Dội…), giao lưu vớinhiều bậc danh sĩ trong thiên hạ Bà có ý thức cao về bản thân, cá tính, ngay cảkhi đứng trước bọn nam nhi, quân tử rởm đời Có giai thoại kể rằng: Thời congái đi học chữ Nho, một hôm Xuân Hương trượt chân ngã giữa sân, bọn học tròcon trai cười rộ chế giễu, Xuân Hương ứng khẩu đọc ngay thơ chữa thẹn:
“Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài”
Lần khác, qua đền thờ Sầm Nghi Đống, Xuân Hương chỉ “ghé mắt trôngngang” nhìn rồi cất thơ:
“Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”
Cái chất ngang tang, phóng khoáng ở người nữ sĩ ấy dẫn đến việc tìm vềvới ngôn ngữ văn học dân gian như một tất yếu Ngôn ngữ Nho gia cứng nhắc,khắt khe và quy phạm có lẽ không chở được tâm hồn Xuân Hương, không hợpvới cõi lòng và cấ tính Xuân Hương… Chỉ có ngôn ngữ dân gian tự nhiên, sinhđộng mới dung được con người ấy Ngôn ngữ văn học dân gian, nhất là thànhngữ, tục ngữ cũng có những tiếng ngang tang, quyết liệt và phóng túng như thế:
Trang 202 0
“Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa”
“Duyên gì anh, phận gì tôi Phải chăng là cái nợ đời chi đây”
Cá tính là yếu tố tiên thiên Do đó, quan hệ giữa thơ Xuân Hương vớingôn ngữ văn học dân gian là mối cơ duyên tự nhiên như đất trời Về với vănhọc dân gian, Xuân Hương có được môi trường sáng tạo như “nai về suối cũ”(Chế Lan Viên), chim gặp trời, như trẻ thơ ôm bầu sữa mẹ Còn ngôn ngữ vănhọc dân gian nhờ Xuân Hương đã có sự thay đổi về chất, trở thành ngôn ngữnghệ thuật đầy thẩm mĩ
Trang 21Chương 2
Bíc ph¸t triÓn cña ng«n ng÷ v¨n häc d©n gian
trong th¬ Hå Xu©n H¬ng (so víi Quèc ©m thi tËp cña NguyÔn Tr·i vµ B¹ch V©n quèc ng÷ thi tËp
cña NguyÔn BØnh Khiªm)
2.1 Sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương
2.1.1 Về số lượng
Khảo sát về mặt số lượng, chúng tôi đi đến kết luận: Trong sự phát triểncủa thơ Nôm Đường luật từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, ngôn ngữ vănhọc dân gian có sự phát triển về số lượng
2.1.1.1 Ngôn ngữ văn học dân gian trong QÂTT và BVQNTT
Trước Xuân Hương, số lượng ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Nômcòn chưa nhiếu Thống kê số liệu ở hai tập thơ QÂTT của Nguyễn Trãi vàBVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi có kết quả sau:
- Trong QATT: Cứ 79 5 câu thơ thì có một câu thơ chứa thành ngữ, tục ngữ
- Trong BVQNTT: Cứ 47 2 câu thư thì có một câu thơ chứa thành ngữ,tục ngữ
Như vậy, từ QATT đến BVQNTT, tần số xuất hiện của thành ngữ, tụcngữ trong thơ Nôm đã tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, con số 47 2 vẫn cho thấy:Lượng ngôn ngữ văn học dân gian được sử dụng trong thơ còn nghèo, chưaphong phú
Ngoài ra, khi khảo sát “Hồng Đức quốc âm thi tập”, số liệu thu được cònthấp hơn: 516 câu thơ mới có một câu chứa thành ngữ, tục ngữ, đến bà HuyệnThanh Quan- người cùng thời với Hồ Xuân Hương thì hầu như không có thànhngữ, tục ngữ
Có lẽ, các tiến sĩ thời Hồng Đức cũng như bà Huyện Thanh Quan “trangnghiêm, cao quý” không dễ gì chấp nhận cái dân dã, bình dị của tiếng nói văn
Trang 222 2
học dân gian (?!) Cho nên, chiếm tuyệt đại đa số trong tác phẩm của họ là ngônngữ Hán trang trọng, cổ kính và quy phạm
2.1.1.2 Đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Khảo sát thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi thu được kết quả sau:
- Cứ 29 8 câu thơ thì có một câu chứa thành ngữ, tục ngữ
- Không phải bài thơ nào Xuân Hương cũng dùng thành ngữ, tục ngữ.Song, có những bài Xuân Hương sử dụng với tần số cao Khảo sát các bài thơ cóchứa yếu tố ngôn ngữ văn học dân gian của Hồ Xuân Hương, chúng tôi thu đượcnhững kết quả cụ thể sau:
STT Tên tác phẩm Số đơn vị ngôn ngữ
văn học dân gian
Số câu thơtrong bài
Như vậy, có thể kết luận:
- Lượng ngôn ngữ văn học dân gian được Xuân Hương sử dụng kháphong phú, đa dạng
- Ý thức sử dụng văn học dân gian trong thơ Xuân Hương là tự giác, tíchcực và chủ động nhằm tạo ra hiệu quả thẩm mĩ nhất định
2.1.2 Về loại thể ngôn ngữ văn học dân gian
Văn học dân gian khá đa dạng về loại thể, gồm 12 thể loại khác nhau:
Trang 23Song, các nhà văn, nhà thơ thường tiếp thu ngôn ngữ văn học dân giannhiều nhất ở thành ngữ, tục ngữ và ca dao Có thể nói, đây là ba điểm sáng thẩm
mĩ thu hút nhiều nhà văn tài năng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của thơNôm Đường luật, các loại thể này được các nhà thơ tiếp thu khác nhau, tạo nênđặc điểm riêng cho mỗi giai đoạn thơ Nôm Đường luật thời trung đại
2.1.2.1 Trước Xuân Hương
Trước Xuân Hương, trong hệ thống ngôn ngữ văn học dân gian, các nhàthơ tiếp thu chủ yếu ở thành ngữ, tục ngữ
Thành ngữ, tục ngữ nước ta “đáng giá hàng pho sách” (M Gorki), có thểxem như cuốn bách khoa toàn thư về mọi mặt của đời sống: thiên nhiên, laođộng sản xuất, tình yêu hôn nhân, đạo đức… Tuy nhiên, không phải lĩnh vựcnào của thành ngữ, tục ngữ cũng được các thi nhân học tập Nguyễn Trãi, cáctác giả thời Hồng Đức, cũng như Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ thiên về tiếp nhận bộphận tục ngữ, thành ngữ có nội dung răn dạy, triết lý, giáo huấn
Về ca dao: Hầu như ngôn ngữ thể loại này rất ít hoặc không được các nhàthơ trước Xuân Hương chú ý đến
Có thể dẫn ra những ví dụ cụ thể về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trongQATT và BVQNTT như sau:
“Cơm ăn chẳng quản mùi xa bạc
“Tốt danh hơn lành áo”
“Đói cho sạch rách cho thơm”
Trang 242 4
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại thêm nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
“Anh em như thể tay chân
Vợ chồng như áo cởi ngay tức thì”
Tuy nhiên, xét những câu thơ của Nguyễn Trãi ta thấy, hình thức là ca daosong lại có nội dung tục ngữ rất rõ Bởi lẽ, yếu tố ca dao bao giờ cũng làm cho ýthơ trở nên trữ tình đằm thắm, còn ý thơ của Nguyễn Trãi mang tính răn dạy,triết lý, thiên về tư duy duy lý của tục ngữ
Như vậy, trước Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật sử dụng tục ngữ làchính, thành ngữ ít hơn, còn ca dao hầu như không có Điều này có thể lý giảinhư sau:
Thứ nhất, tục ngữ là những câu châm ngôn ngắn gọn, cân đối về hìnhthức, hàm súc về nội dung, thiên về trí tuệ, kết cấu tương đối chặt chẽ, “khép”hơn thành ngữ, dồn nén hơn ca dao Do vậy, tuc ngữ hợp với thơ Đường luật-thứ thơ có kết cấu rất chặt, âm- dương cân xứng, đa nghĩa, hợp với phong cáchcủa các Nho gia phong kiến (trầm mặc, sâu sắc, thâm thúy và giữ trọn chữ “lễ”)
Thứ hai, ca dao chưa phát triển mạnh ở thế kỷ XV, XVI- thời NguyễnTrãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Phải đến thế kỷ XVIII, ca dao mới có bước tiếnmới cả số lượng và chất lượng Do đó, những ảnh hưởng của ca dao đến QATT
và BVQNTT không sâu sắc cũng là điều dễ thấy
Trang 252.1.2.2 Đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương được coi là cái mốc quan trọng trong việc sử dụng ngônngữ văn học dân gian
Đến Hồ Xuân Hương, ngôn ngữ văn học dân gian được tiếp thu đa dạnghơn về loại thể: Không chỉ thành ngữ, tục ngữ mà cả ca dao cũng được vận dụngtrở thành ngôn ngữ nghệ thuật của thơ Đường luật Sự xuất hiện của ca dao làmột yếu tố quan trọng của ngôn ngữ thi ca bởi đó là thứ ngôn ngữ trữ tình, đằmthắm Nó giúp thơ tách dần râ khỏi vòng quy phạm “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tảiđạo” của văn học trung đại, xích gần về với bản chất nghệ thuật- thẩm mĩ củavăn học
* Trong hai thể loại thành ngữ và tục ngữ, Xuân Hương hầu như sử dụngrất ít tục ngữ, mà chỉ sử dụng thành ngữ Tương quan so sánh này là điểm đángchú ý:
Tục ngữ thường là một câu diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, mộtkinh nghiệm, luân lý… Chúng được xem như những chân lý dân gian, mọingười đều mặc nhiên thừa nhận mà không cần kiểm chứng Do đó, nghĩa củachúng rất khó thay đổi Đó là một cấu trúc khép về ý nghĩa Khi mượn tục ngữ,các nhà thơ thường ít có khả năng thêm bớt, thay đổi và sáng tạo trên nền cấutrúc ấy
Thành ngữ chỉ là một thành phần của câu sẵn có, tự nó không diễn đạttrọn vẹn một ý Đó là một cấu trúc “mở” về ý nghĩa Đây là ưu thế của thànhngữ so với tục ngữ Chỗ mở của thành ngữ chính là điều kiện cho các nhà thơsáng tạo Cái ý không trọn vẹn của thành ngữ có thể được người đọc làm cho trởnên trọn vẹn theo ý của mình Do vậy, Xuân Hương đã khai thác thành ngữ, biếnchúng trở thành kho báu ngôn từ cho thơ mình
Thành ngữ, dưới bàn tay Xuân Hương, được vận dụng linh hoạt, sáng tạomột cách đa dạng Tác giả không chỉ thêm, bớt mà còn thay đổi cả hình thức vànội dung thành ngữ, làm cho ngôn ngữ thành ngữ có sức biểu đạt phong phú
Trang 262 6
Ví dụ: Các thành ngữ “làm mướn không công”, “thăm ván bán thuyền”,
“bạc như vôi”, “nòng nọc đứt đuôi”, “cố đấm ăn xôi”, ngoài ý nghĩa vốn có, naylại có thêm tầng nghĩa mới trong thơ Xuân Hương:
“Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi”
(Mời trầu)
“Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn, mướn không công”
(Lấy chồng chung)Như vậy, sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ văn học dân gian trong thơXuân Hương thể hiện cả bề rộng và bề sâu, trên số lượng và loại thể Đó cũng lànhững biến đổi, phát triển về lượng của ngôn ngữ văn học nói chung trong vănhọc trung đại
2.2 Sự phát triển về nội dung, chủ đề của thơ Hồ Xuân Hương qua ngôn ngữ văn học dân gian
2.2.1 Trước Hồ Xuân Hương: Ngôn ngữ văn học dân gian mang nội dung triết lí, giáo huấn
Lấy Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm làm hai đại diện tiêu biểu nhất chovăn học trung đại trước Hồ Xuân Hương, chúng tôi nhận thấy đặc điểm nổi bậtcủa việc sử dụng ngôn ngữ văn học dân gian của hai tác giả là tính triết lý, giáohuấn Cũng như các yếu tố Hán ngữ, ngôn ngữ dân gian trở thành chất liệu giúpnhà thơ biểu đạt cái “chí”, “đạo” phong kiến của mình
2.2.1.1 Tính triết lý, giáo huấn trong QATT của Nguyễn Trãi
Theo khảo sát của Giáo sư Bùi Văn Nguyên, cứ 1908 câu thơ trongQATT có 50 câu chứa tục ngữ- chiếm 25% Như vậy, QATT dùng tục ngữ làchính, ít dùng thành ngữ, hầu như không sử dụng ca dao, với tỷ lệ không nhiều
QATT gồm nhiều phần khác nhau Trong đó, tục ngữ được dùng nhiều vàtập trung nhất ở chùm thơ “Bảo kính cảnh giới”- gương báu răn mình Đây làphần thơ tác giả viết để tự “răn” mình, khi đứng trước những tấm “gương báu”theo quan điểm nho giáo phong kiến Điều này phản ánh nội dung giáo huấn
Trang 27trong ngôn ngữ QATT nói chung, tục ngữ trong QATT nói riêng Theo đó,hướng tiếp thu nội dung chủ yếu về nội dung của tục ngữ trong QATT gồm cácmặt sau:
a Khẳng định những quy luật tất yếu của cuộc sống
Quy luật của cuộc sống rất đa dạng, gồm quy luật tự nhiên, xã hội và tưduy Tục ngữ phản ánh hầu hết các quy luật ấy- từ những sự vật, hiện tượng ,nhỏ
bé như cây kim, ngọn cỏ: “cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”, “có công màisắt có ngày nên kim”… đến những cái to lớn, kì vĩ: “thuận vợ thuận chồng tát bểđông cũng cạn”… Song, khi tiếp thu tục ngữ,Ức Trai có xu hướng nói về nhữngqui luật xã hội,nhất là những kinh nghiệm, tư tưởng mang tính khuyên răn,giáodục Từ đó nhà thơ muốn khẳng định những chân lí khách quan được chiêmnghiệm từ thực tiễn
“Ở bầu thì tròn ở ống thì dài”, “thuốc đắng dã tật”, “có mống ắt có cây Đây lànhững câu tục ngữ đượ nhân dân ta kết đúc từ những trải nghiệm thực tế xã hội.Nguyễn Trãi tiếp thu ý tứ dân gian, lại thêm những từ “thì… ắt’’, “được… nhờ”,
“tự nhiên lại”- những phụ từ nhằm nhấn mạnh vào nội dung ý nghĩa Chúng làmcho tính triết lý trở nên sâu sắc và cụ thể
b Soi chiếu những quan hệ xã hội, ứng xử giữa người và ngươì trên nhiều bình diện
Trong quy luật phức tạp của cuộc sống xã hội, Nguyễn Trãi quan tâmnhiều nhất đến các quan hệ xã hôi, ứng xử giữa người và người Con người
“trong tính hiện thực của nó, là tổng hòa các quan hệ xã hội’’ (C Mac) Quan hệcủa con người rất phong phú phức tạp, đặc biệt, trong xã hội phong kiến “quanh
Trang 282 8
co”, với cương vị của Nguyễn Trãi- bậc đại thần của triều Lê “đêm ngày cuồncuộn nước triều Đông”, tấm lòng luôn trăn trở về cuộc đời và thế đạo, nhữngmối quan hệ xã hội được mở ra càng rộng và phức tạp hơn Nguyễn Trãi đã soichiếu chúng trên nhiều bình diện khác nhau:
“Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp”
(Bảo kính cảnh giới, 15) Rút từ ý tục ngữ “một điều nhịn chin điều lành”, Nguyễn Trãi soi chiếuvấn đề ấy trên bình diện xã hội, làm cho vấn đề ấy trở thành vấn đề khái quátphổ biển: “ở thế”, “muôn” Như vậy, tầm của nội dung triết lý trong tục ngữ dângian đã đượ mở rộng trong thơ Nguyễn trãi
Ở bài khác, Nguyễn Trãi viết:
“Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”
Bài học ứng xử “đền ơn” cao đẹp vốn được nói nhiều trong văn học dân gian:
“Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Và:
“Sông có nguồn cây có cội”
Đến Nguyễn Trãi, nhà thơ mượn ý tứ ấy để soi chiếu chúng trên bìnhdiện: Quan hệ giữa kẻ “ăn lộc” với “người cấy cày” Đây là mối quan hệ cơ bảntrong xã hội, là điểm chủ đạo trong tư tưởng Nguyễn Trãi Từ quan hệ “đền ơn”
ấy, Nguyễn Trãi nâng lên thành tư tưởng “thân dân” cao đẹp “Đền ơn” là mộtdạng triết lý của “thân dân” Điều đó làm nên tính tư tương riêng cho tác phẩmNguyễn Trãi thông qua việc sử dụng ngôn ngữ văn học dân gian
c Đưa ra các quan niệm, bình giá về con người trong các hoàn cảnh hay cách ứng xử
Với nội dung, chủ đề triết lý giáo huấn, đối tượng mà Nguyễn Trãi tìmđến trước hết và quan trọng nhất là con người Nhờ tục ngữ, tác giả nêu lênnhững quan niệm, bình giá về con người, nhằm mục đích giáo dục, răn dạy và tựgiáo dục, tự răn mình
Những chân lý ông đưa ra thật sâu sắc:
Trang 29“Vàng thực âu chi lửa thiêu”
(Tự thuật 5)
“Tay ai thì lại làm nuôi miệng”
(Bảo kính cảnh giới 22) “Lửa thử vàng gian nan thử sức”, “tay làm hàm nhai, tay quai miệngtrễ”, “an cư lạc nghiệp”- ấy là những triết lý thiết thực cuẩ nhân dân mà tác giảmuốn gửi đến con người qua thơ Song với ngòi bút của ông, những ý niệm ấytrở nên cụ thể, rõ ràng và sâu sắc hơn, bởi những từ “âu chi”, “hực”, “thì lại”,
“mới” Những cách diễn đạt gấn với khẩu ngữ giúp Ức Trai chuyển tải “chí”,
“đạo” của Nho gia một cách giản dị hơn
2.2.1.2 Tính triết lý trong BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong nền văn học trung đại, Nguyễn Bỉnh Khiêm được đánh giá làmột “nhà đạo đức làm thơ” Sáng tác của ông gồm cả chữ Hán và chữ Nôm,trong đó mảng thơ Nôm với khoảng 170 bài thơ trong BQNTT được coi là giátrị nhất Nội dung chủ đề lớn nhất mà tác giả hướng đến trong tập thơ đó là chủ
đề triết lý giáo huấn và chủ đề thế sự Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác nhằm bộc lộcái chí- cái chí của ông vừa giống các nhà nho khác vừa có nét riêng Ông làngười hiểu sâu nghĩa lý Kinh Dịch, tinh thông lý học, vừa là người tiếp thu, amhiểu triết lý thực tiễn và quan niệm thực tiễn của nhân dân Với Nguyễn BỉnhKhiêm, triết học vừa là công cụ để tư duy, để nhân thức, vừa là công cụ để giảiquyêt những vấn đề do tư duy và nhận thức đặt ra Cho nên, mọi phương tiệnngôn ngữ trong sáng tác của ông đều được dùng để hướng tới những vấn đề triếthọc hay thế sự, cuộc đời; trong đó có ngôn ngữ văn học dân gian Nguyễn BỉnhKhiêm học hỏi ở nhân dân vốn thành ngữ, tục ngữ phong phong để đưa vào thơmình, biến triết lý dân gian sinh động thành triết lý của một Nho gia, một nhàđạo đức cầm bút sáng tác
Có hai kiểu tư duy triết lý nằm trong ngôn ngữ văn học dân gian củanguyên Bỉnh Khiêm là: triết lý trực tiếp và gián tiếp
Trang 303 0
a Triết lý trực tiếp
BVQNTT với khoảng 170 bài thơ Nôm thì có hơn 469 câu thơ triết lý,trong đó có khoảng 50 câu thơ dùng yếu tố thành ngữ, tục ngữ để triết lý mộtcách trực tiếp- chiếm 11%
Nguyễn Bỉnh Khiêm ít tiếp thu những câu tục ngữ nói về tự nhiên Cácvấn đề xã hội nhân sinh mới là mục đích chính của nhà thơ Do vậy, hoặc là ôngdùng những câu trực tiếp triết lý về xã hội, hoặc là ông dùng quy luật tự nhiên
để lý giải các hiện tượng xã hội Các sự vật, hiện tượng tự nhiên trong thơ ôngtrở thành công cụ của triết lý khái quát:
“Hoa càng khoe nở hoa nên rữa Nước chứa cho đầy nước ắt vơi”
(Bài 48)
“Sen mùa trước nở mùa sau rụng Triều cửa này ròng cửa khác cường”
(Bài 98) Viết “hoa”, “sen”, “nước”, “triều”, tác giả muốn khái quát quy luật đổithay, thịnh suy ở đời: xã hội không bao giờ đứng yên, con người chớ có cậy tài,khoe khoang, thời vận ắt sẽ có lúc thay đổi
Dùng yếu tố dân gian trong thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm triết lý về rất nhiềuvấn đề của cuộc sống Đặc biệt là vấn đề thực tế xã hội, về thói đời cùng bao trịgiá nóng bỏng khác của thời đại Quan hệ xã hội thế kỷ XVI đầy tiêu cực, cơm
áo gạo tiền lăn tròn trên miệng lưỡi con người, trở thành thước đo phẩm chấtđạo đức của con người…Từ đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng chính những ý tứ củangôn ngữ dân gian mà thốt lên những tiếng day dứt, nhức nhối tim gan, tố cáochế độ xã hội đang xuống dốc và thức tỉnh mọi người không nên vì tiền bạc màquên đi tình nghĩa Những câu thơ của ông thật sâu cay:
“Thớt có tanh tao ruồi đậu đến Ang không mật mỡ kiến bò đi”
(Bài 53)