2.3. Đặc trưng thi pháp cổ tích
2.3.6. Những vấn đề văn hóa trong truyện cổ tích
Triết lí sống nhân quả “ác giả ác báo”, “ở hiền gặp lành” không phải nhân vật thiện tự tay báo thù mà thần linh trừng phạt hoặc tự nhân vật trừng phạt. Việc nhân vật Tấm tự tay trừng phạt mẹ con Cám bằng mẹo lừa không nằm trong truyền thống nhân văn của người Việt. Trong truyện cổ tích người Việt chỉ có trừng phạt chứ không có trả thù, việc Tấm tự tay giết em dã man là hành động trả thù.
Ở hiền gặp lành thể hiện quan điểm sống nhân từ, cho đi sẽ nhận lại và chịu thiệt sẽ có ngày được phúc. Vì thế nên có quan niệm “tham thì thâm”. Những truyện “Cây khế”, “Hà rầm hà rạc” chứng minh cho quan niệm tham thì thâm chứ không nằm trong quan niệm “ác giả ác báo”
vì nhân vật chết do quá tham chứ không bị trừng phạt do ác. Tuy nhiên, tham quá cũng sẽ dẫn đến
121 Chu Xuân Diên (1999), Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám, Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 2; in trong Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 19, tr.784-800.
122 Tăng Kim Ngân (1997), Cổ tích thần kì người Việt. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb. Giáo dục, H., tr.73-121.
ác nhưng nó chỉ làm cho nhân vật thiện nghèo khổ chứ không gây cho nhân vật thiện nguy hiểm đến tính mạng.
2.3.6.2. Tín ngưỡng
a. Đạo đức của người tu hành và thành chín quả
Diệt dục, xa rời những ham muốn xác thịt trần thế thể hiện trong truyện Sự tích con nhái kể về một vị hoà thượng trẻ tuổi, vì không kiềm chế nỗi sắc dục nên Phật bà bắt hoá thành con nhái. Truyện này nhưng người miền Bắc có tên là Sự tích con ếch kể về một nhà sư sẽ đắc đạo sau dự một cuộc thi trên Thiên đình. Sư chợt nghĩ mình cái gì cũng tinh thông, duy chỉ chưa từng biết cơ thể đàn bà. Nếu lên thiên đường, người ta hỏi, không biết đường nào trả lời nên nhờ thủ tự giúp.
Thủ tự tìm nhưng không ai chịu đành về nhà dỗ vợ đến với sư. Từ ngày tìm hiểu được cơ thể người đàn bà, nhà sư đâm ra ngớ ngẩn, kinh kệ, cúng bái không thiết. Phật biết chuyện cho sét đánh chết rồi bắt hoá làm con ếch. Truyện Sự tích con nhái, nhà sư đã không cưỡng được sự cám dỗ của gái đẹp, nghĩa là anh ta chưa thật sự giác ngộ triết lí Phật giáo mặc dù anh ta đã tu nhiều năm, trải qua bao thử thách. Truyện Sự tích con ếch lại nhấn mạnh đến khía cạnh rằng đã tinh thông Phật pháp nhưng lại làm trái đạo đức, xao nhãng kinh kệ vì sắc dục thì càng bị trừng phạt nặng.
Người tu hành phải tu cho chúng sinh, vì chúng sinh mà khổ ải nhưng nhân vật nhà sư tu hành trong truyện Sự tích cá he vì không thấu được sự thành tâm của mẹ con quỷ Ác Lai và thiếu niềm tin và sự nhẫn nại đem điều gửi gắm của chúng sinh đến dâng Phật nên đã vất đi bộ lòng của Ác Lai xuống biển. Phật tổ Như Lai sai sư về nơi vất bộ lòng ấy tìm lại đem về Phật mới thành chín quả. Nhà sư phải ngụp lặn mãi giữa lòng biển sâu, tìm mãi nhưng không thấy đâu, sau đó chết hóa thành cá he, còn gọi là cá ông sư. Nhà sư không thấu cảm lòng thành của chúng sinh thì thuyết pháp cũng chỉ là cách cứu mạng mình chứ không cứu rỗi tâm hồn mình được. Tu hành mà không chịu được sự khổ ải, không vượt qua thử thách thì sao thành Phật.
Đức tính kiên nhẫn, chịu khổ luyện là sự thử thách đối với người tu hành. Trong truyện Sự tích chim tu hú, một người đàn ông được một sư già khuyên muốn thay đổi tính tình nóng nảy thì phải kiên nhẫn, chịu nhẫn nhục, chịu khổ tu hành. Muốn tu hành nhưng lại không biết nhẫn nhịn, không kìm chế được sự tức giận nên trong giây phút nóng nảy đã phá tan công sức tu hành. Bất Nhẫn bị Phật trừng phạt cho biến thành con tu hú.
Vai trò của người tu hành và Phật pháp đối với việc hướng thiện, khuyên răn con người tránh xa điều ác, làm điều thiện. Truyện Sự tích cá he kể về một nhà sư trên đường đến đất Phật để được chính quả, trời chiều tối giữa rừng vắng vào trú ngôi nhà mẹ con Ác Lai. Người con trai mụ chuyên đi bắt thú rừng và cả người ăn thịt. Được thuyết pháp, Ác Lai giác ngộ cải tà, quy thiện và nguyện rạch bụng mình lôi ra bộ ruột gan và nhờ sư dâng lên Phật để tỏ lòng thành. Thấu rõ lòng thành của mẹ con Ác Lai, Phật cho thành chính quả. Truyện này nêu lên vai trò của thuyết pháp trong việc cải hóa con người, giác ngộ chúng sinh.
Đố kị là một tật xấu của con người, Phật giáo khuyên con người cần hi sinh mình vì mọi người. Thế nhưng cô sư nữ trong truyện Sự tích ông bình vôi vẫn còn tính đố kị, ghen ghét, hiếu thắng nên không những không được lên Niết bàn mà còn bị Phật bắt hoá thành bình vôi để cho người đời móc ruột. Đáng lí ra, người tu hành không những tu cho mình thành chín quả mà còn giác ngộ cho chúng sinh thành chín quả thì lại chỉ muốn cho mình được. Điều này trái với tôn chỉ của Phật giáo đại thừa là vì chúng sinh.
Ăn chay, niệm Phật, chống sát sinh là tư tưởng quan trọng của Phật giáo đại thừa. Nhân vật nhà sư trong truyện Sự tích cây huyết dụ là một người nhân từ, tin vào lời báo mộng, đã không đánh chuông vào giờ mà ông đồ tể nhờ chuông chùa mà thức giấc để giết lợn, cứu được mấy mạng lợn. Đối với Phật, con người và sự vật đều cần sống và bình đẳng về quyền được sống. Ông đồ tể
trong truyện nhờ nhà sư mà thức tỉnh, nhận ra sự huyền diệu của thế giới tâm linh, thấy được công việc giết mổ là tàn ác nên từ bỏ nghiệp chướng ấy.
Cũng là kể về sự tích bình vôi nhưng truyện kể của người Nam Bộ muốn đề cập đến lòng thành thật, biết hối cải khi mình làm điều sai trái. Anh ăn trộm, bỏ nghề ăn trộm xin vào chùa tu.
Mấy năm trôi, anh luôn làm tròn phận sự, và chính sự cần cù siêng năng của anh khiến một chú sãi phải ghen ghét, tìm cách hại anh. Chú sãi được toại nguyện khi cọp chặn đường đòi ăn thịt ngay lần đầu anh đi sang Truông Cát xin lửa về nhóm nước cúng Phật. Anh bằng lòng, và xin hứa đem lửa về nấu nước cúng Phật xong sẽ lại nộp mạng. Phật thấy tấm lòng thành ấy nên anh không chết mà được Phật rước về cõi Phật. Chú sãi nọ thấy vậy liền làm theo, cũng qua Truông Cát xin lửa, gặp cọp, giữ lời hứa, nhưng chính bản chất ích kỉ, ghen ghét người ngay của mình đã bị trừng phạt thích đáng. Đây là một trong ngũ giới mà Phật giáo muốn loại trừ là sự gian dối, lòng tham nảy sinh ra trộm cắp .
Triết lí Phật giáo nêu lên là theo Phật cốt thành tâm. Người tu hành mà không thành tâm thì không bằng người dân thường ngộ đạo, cảm nhận được Phật pháp mà tu theo. Những truyện trên cho thấy, dù tu kiên trì, lâu dài, sắp thành chín quả nhưng không vượt qua được những thử thách chứng thực được bản chất của Phật thì sẽ không những phá hỏng công lao tu hành mà còn bị trừng phạt. Trái lại, người dân thường chưa trải qua tu hành nhưng nhận thức được triết lí Phật giáo, tâm hướng về Phật thì sẽ thành Phật. Không có tâm trong sáng thì tu hành cũng vô ích mà thôi.
Thể xác con người là phàm tục, chết đi sẽ thối rữa nhưng khi đã tu thành thì xác ấy không còn phàm tục nữa. Truyện chùa Bối Khê kể rằng Hành thiện Bồ tát Chân nhân, quê ở xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, tu ở núi Tiên Lữ, huyện An Sơn. Khi xây dựng nhà cửa, có hơn 100 thợ làm mà chỉ thổi một nồi nhỏ nhưng ông lại bảo để nhiều thúng to để đựng cơm. Mọi người tưởng ông đùa nhưng sau quả thực hóa ra cơm chay, ai cũng ăn no nê. Dựng xong chùa, ông làm một cái khám gỗ rồi ngồi vào trong, gọi các tăng ni đến bảo rằng mình đến lúc siêu hóa, các đạo tràng đóng cửa khám đủ 3 tháng, sau đó mở ra thấy thơm tho thì thờ cúng, còn tanh hôi thì đem chôn. Sau 3 tháng, họ mở ra thì chỉ thấy mùi thơm ngào ngạt bay khắp xa gần, họ cùng nhau tạc tượng để thờ, về sau rất linh hiển. Như vậy, người tu thành, sống thanh tao, có phép thuật cao siêu có thể biến thân xác mình thành xá lợi.
b. Luân hồi, nhân quả
Về phần lí, danh từ "luân hồi" dịch ở chữ Samsera của Phạm ngữ. "Luân" là bánh xe, "hồi"
có nghĩa xoay tròn. Tất cả loài hữu tình đều theo luật sanh, trụ, dị, diệt, khi ở cõi này, lúc đến nẻo khác, sự sống chết mãi tiếp nối không biết khi nào cùng tận, dường như bánh xe lăn. Theo Phật giáo, chúng sanh tùy nơi nghiệp thiện ác mà luân hồi trong sáu nẻo. Loài hữu tình sở dĩ bị sống chết xoay vần, là bởi còn có tâm chấp ngã. Nếu dứt trừ ngã chấp, hành giả sẽ trở về tánh bản chân thanh tịnh, mà thoát khỏi luân hồi.
Truyện Tấm Cám là truyện ảnh hưởng của thuyết luân hồi quả báo. Tấm sinh diệt biến đổi thân phận qua 5 lần, lần cuối là quả, biểu trưng hình ảnh quả thị thành người trở lại. Truyện này cũng nói lên rằng sự tham lam ắt sinh họa, hạnh phúc phải qua khổ đau.
Truyện Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông kể về hai người bạn là Giáp và Ất rất thân nhau, Giáp giúp Ất nhưng sau khi khá giả không những quên bạn mà khi bạn tưởng anh ta còn nghèo tìm đến thì tiếc phải trả nợ cũ nên giết bạn, thế nhưng khi Ất sinh con trai đầu lòng lại do Giáp đầu thai, vạch tội anh ta với quan huyện rồi tìm về nhà cũ. Con của Ất nhưng linh hồn lại là Giáp, cuối cùng Giáp được phục sinh với một thể trạng khác. Câu chuyện tái sinh của người tốt chết oan và kẻ ác sẽ phải bị trừng phạt nhưng lại đề cao những con người có
tấm lòng nhân hậu sẽ được bất tử. Như vậy, gieo nhân nào sẽ gặp quả đó, đứa con của mình lại là người bị giết hại đầu thai trở lại để kết tội mình.
c. Từ bi, cứu nhân độ thế
Tư tưởng từ bi, cứu khổ cứu nạn thể hiện rõ ở nhân vật Bụt trong truyện kể dân gian. Nhân vật Bụt thường giúp đỡ người nghèo, mồ côi, người gặp lúc hoạn nạn. Trong truyện Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Bụt xuất hiện để giúp nhân vật mồ côi, nghèo vượt qua khó khăn, tủi nhục. Bụt đã cho gà bới tìm xương bống rồi bảo Tấm cho vào lọ chôn dưới chân giường. Bụt cũng đã cho đàn chim xuống nhặt thóc giúp Tấm để cô còn kịp giờ đi dự hội... Trong truyện Cây tre trăm đốt cũng thế, khi anh Khoai một mình ngồi khóc hu hu thì Bụt cũng đã kịp thời hiện ra bày anh cách làm thành cây tre trăm đốt…Bụt là nhân vật thực hiện công lí, đem lại sự công bằng cho người yếu thế, thể hiện lí tưởng của nhân dân là giải phóng áp bức, loại trừ bất công. Đó cũng là quan niệm “Ở hiền gặp lành” của nhân dân.
Tuy nhiên, sự từ bi không phải vô lượng mà có điều kiện. Những người vô tình phạm sai lầm có thể từ bi hỉ xả nhưng những kẻ làm sai Phật pháp, bản chất độc ác thì phải bị trừng phạt.
Các nhà tu hành phạm sai lầm đều bị Phật Tổ Như Lai hoặc Quan âm Bồ tát trừng phạt, biến thành các con vật. Kẻ độc ác thì bị trừng phạt còn ai hiền lành, thương người thì được cứu nạn. Nhân vật Đức Phật thường hóa thân vào hình dạng một ông bà già nghèo khổ, rách rưới, hôi hám, đói khát để thử lòng người. Truyện Sự tích Hồ Ba Bể, Sự tích con khỉ là truyện điển hình cho điều này.
Trong Sự tích Hồ Ba Bể đám người giàu có vô nhân trong hội vô già đều bị nhấn chìm chết còn mẹ con bà góa thì được cứu sống. Trong truyện Sự tích con khỉ, cô gái nghèo khổ được hóa thành xinh đẹp còn gia quyến nhà trưởng giả ác độc tham lam thì thành khỉ phải chạy vào rừng ở. Như vậy, cứu khổ cứu nạn thường kèm theo trừng phạt. 123