- Phương pháp loại hình: được áp dụng để tìm ra những nét tương đồng về mặt loại hình cảm hứng nghệ thuật, ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện trong từng giai đoạn lịch sử vă
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẢI ANH
LOẠI HÌNH TỰ SỰ TRONG VĂN HỌC
DÂN TỘC THÁI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẢI ANH
LOẠI HÌNH TỰ SỰ TRONG VĂN HỌC
DÂN TỘC THÁI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62.22.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Xuân Kính
2 PGS.TS Đào Thủy Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đƣợc nêu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NGUYỄN THỊ HẢI ANH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới GS.TS Nguyễn Xuân Kính, PGS.TS Đào Thủy Nguyên – những người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và hoàn thành luận án này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các trí thức, nhà văn người Thái và đồng nghiệp của tôi đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, đồng nghiệp, bạn
bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận án
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NGUYỄN THỊ HẢI ANH
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận án 5
6 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Môi trường địa - văn hóa và loại hình tự sự văn học dân tộc Thái ở Việt Nam 7
1.1.1 Môi trường địa - văn hóa của dân tộc Thái ở Việt Nam 7
1.1.2 Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái 12
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái 26
1.2.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu về loại hình tự sự dân gian trong văn học dân tộc Thái 26
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về loại hình tự sự trong văn học hiện đại dân tộc Thái 36
Tiểu kết 39
Chương 2 CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG LOẠI HÌNH TỰ SỰ VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI 40
2.1 Cảm hứng sử thi 40
2.1.1 Đề tài gắn với những sự kiện lớn lao có ý nghĩa đối với toàn cộng đồng 40
2.1.2 Con người “hoàn tất” trong cảm hứng sử thi 47
2.1.3 Sự rạn nứt trong quan niệm về hiện thực chiến tranh 59
2.2 Cảm hứng thế sự 62
2.2.1 Trạng thái xã hội với những khiếm khuyết, băng hoại về nhân cách và lối sống 62
2.2.2 Những “khoảng tối” nơi công quyền 65
2.2.3 Nỗi trăn trở sinh thái thời hiện đại 68
Tiểu kết 71
Trang 6Chương 3 CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG LOẠI HÌNH TỰ SỰ
VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI 72
3.1 Cốt truyện trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 72
3.1.1 Cốt truyện đơn tuyến theo trục thời gian 72
3.1.2 Cốt truyện khung 78
3.1.3 Cốt truyện gấp khúc 86
3.1.4 Cốt truyện tâm lí 90
3.2 Nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 95
3.2.1 Thế giới nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 95
3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 99
Tiểu kết 115
Chương 4 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ LỜI VĂN NGHỆ THUẬT 116TRONG LOẠI HÌNH TỰ SỰ VĂN HỌC DÂN TỘC THÁI 116
4.1 Người kể chuyện và cách tổ chức điểm nhìn trần thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 116
4.1.1 Người kể chuyện từ điểm nhìn zero 116
4.1.2 NKC từ điểm nhìn bên ngoài 120
4.1.3 Người kể chuyện từ điểm nhìn bên trong 126
4.1.4 Sự dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật 130
4.2 Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái 137
4.2.1 Lời văn đậm chất trữ tình, giàu giá trị biểu cảm 137
4.2.2 Lời văn mộc mạc, tự nhiên 144
4.2.3 Lời văn mang tính trào lộng, châm biếm 147
Tiểu kết 150
KẾT LUẬN 151
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
PHỤ LỤC 169
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTr : Cốt truyện ĐNBN : Điểm nhìn bên ngoài ĐNBT : Điểm nhìn bên trong ĐNNT : Điểm nhìn nghệ thuật ĐTNT : Độc thoại nội tâm DTTS : Dân tộc thiểu sốLHTS : Loại hình tự sự LLVH : Lí luận văn học NKC : Người kể chuyện TPTS : Tác phẩm tự sự VHDG : Văn học dân gian VHHĐ : Văn học hiện đại
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Đây là thời cơ, vận hội lớn nhưng đồng thời cũng là những thách thức không nhỏ đối với nền văn học, nghệ thuật dân tộc Để tránh bị đồng hóa trong “một thế giới phẳng”, Đảng ta chủ trương xây dựng xây dựng một “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, mà một trong những chủ trương và giải pháp được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm là
“có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viết và văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số” (Nghị quyết 23 NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/06/2008 về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới) Do vậy, nghiên cứu về văn học dân tộc thiểu số (DTTS) là một việc làm phù hợp và thiết thực nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật nói chung cũng như văn học, nghệ thuật các DTTS nói riêng
Là một bộ phận cấu thành của nền văn học Việt Nam, văn học các DTTS trong suốt quá trình vận động, phát triển đã có những đóng góp quan trọng, tạo nên một nền văn học Việt Nam bản sắc, đa dạng và thống nhất Bởi vậy, nghiên cứu văn học Việt Nam không thể không nghiên cứu văn học các DTTS
1.2 Là DTTS có số dân lớn thứ hai (chỉ sau dân tộc Tày), cư trú trong vùng
lãnh thổ rộng lớn ở miền núi phía Bắc và miền tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, người Thái ở Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước Trải qua lịch sử vận động lâu dài, dân tộc Thái đã sáng tạo nên một nền văn học dân gian (VHDG) phong phú và đa dạng với đầy đủ các loại hình và thể loại Đặc biệt, sớm hơn nhiều DTTS khác trên đất Việt Nam, người Thái đã có chữ viết với những bộ sách cổ trên lá từ hàng trăm năm trước Đây cũng là dân tộc ít người hiếm hoi ở miền Bắc sáng tạo được sử thi và nhiều truyện thơ nổi tiếng Phát huy truyền thống đó, nền văn học viết hiện đại của dân tộc Thái cũng đã đạt được những được những thành tựu đáng kể Trong số không nhiều các DTTS (19 trên tổng số 53 DTTS anh em) có văn học viết, dân tộc Thái trong hơn nửa thế kỉ phát triển văn học viết của mình đã xây dựng được một nền văn học khá toàn diện với đầy đủ các thể loại văn xuôi, thơ, kịch và một lực lượng sáng tác tương đối đông đảo (14 tác giả, chỉ đứng sau dân tộc Tày)
Trang 91.3 Trong nền văn học dân tộc Thái, tự sự là một trong những loại hình văn học
kết tinh được nhiều thành tựu Những thành tựu này có vai trò quan trọng góp phần tạo nên diện mạo hoàn chỉnh của nền văn học Thái cũng như góp phần khẳng định vai trò, vị trí của loại hình tự sự (LHTS) văn học Thái nói riêng và của nền văn học Thái nói chung trong nền văn học các DTTS cũng như nền văn học cả nước
Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về LHTS trong văn học dân tộc Thái, nhưng do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận trên những góc độ riêng lẻ Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về LHTS trong nền văn học Thái
1.4 Từ những lí do trình bày ở trên, chúng tôi thấy, việc nghiên cứu LHTS
trong văn học dân tộc Thái theo hướng tiếp cận hệ thống và mang tính chỉnh thể là hướng tiếp cận cần thiết trong việc tìm hiểu về văn học Thái Với cách tiếp cận này, chúng ta sẽ có được một cái nhìn toàn cảnh về LHTS trong văn học dân tộc Thái, về
sự ảnh hưởng của LHTS VHDG truyền thống đến LHTS trong văn học hiện đại (VHHĐ) cũng như thấy được những thành tựu, đóng góp và vai trò, vị trí của LHTS trong văn học Thái nói riêng, văn học dân tộc Thái nói chung trong nền văn học Việt Nam Đồng thời, qua đó, cũng sẽ góp phần khẳng định, tôn vinh một nền văn học, một dân tộc đã có nhiều công lao, đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn hoá, văn nghệ các DTTS nói riêng và đất nước nói chung Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề
Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái làm đề tài nghiên cứu của luận án
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện luận án Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái, chúng tôi
hướng đến đối tượng nghiên cứu là các tác phẩm thuộc LHTS VHDG và VHHĐ dân tộc Thái
2.2 Phạm vi nghiên cứu
2.2.1.Phạm vi tư liệu nghiên cứu
- Các tác phẩm thuộc LHTS trong VHDG và VHHĐ dân tộc Thái, bao gồm các tổng tập, tuyển tập, hợp tuyển, truyện cổ đã xuất bản và các tài liệu điền dã
- Các bài viết, công trình nghiên cứu về LHTS trong VHDG và văn học viết dân tộc Thái nói riêng và của văn học các DTTS nói chung
- Một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu của các dân tộc khác làm cơ sở cho việc đối chiếu, so sánh làm nổi bật những đặc điểm tiêu biểu của LHTS trong văn học dân tộc Thái
Trang 102.2.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu
- Về loại hình tự sự trong văn học dân gian dân tộc Thái
Trong VHDG dân tộc Thái, tự sự là một trong những loại hình đặc biệt phát
triển và có nhiều thành tựu Điều này được thể hiện trên cả hai mặt: diện và điểm,
lượng và chất Về diện và lượng, LHTS dân gian Thái có hầu hết các thể loại, bao
gồm: thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ, truyện cười, tục ngữ, câu đố và vè Ở mỗi thể loại, số lượng các tác phẩm được sưu tầm và công bố
cũng rất lớn Về điểm và chất, ở thể loại nào, dân tộc Thái cũng có những tác phẩm
kết tinh được tinh hoa văn hóa và trí tuệ của tộc người, được công chúng yêu mến
và được giới chuyên môn đánh giá cao
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi vấn
đề nghiên cứu ở 3 thể loại: sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ Sự lựa chọn này được xuất phát từ ba lí do chính Thứ nhất, đây là các thể loại được đánh giá là có nhiều thành tựu và phát triển hơn cả Thứ hai, đặt trong mối quan hệ hệ thống, chúng tôi nhận thấy, các thể loại này có sự ảnh hưởng khá rõ nét tới các thể loại thuộc LHTS hiện đại dân tộc Thái Do vậy, việc giới hạn phạm vi vấn đề nghiên cứu ở các thể loại trên sẽ giúp chúng tôi nhận diện rõ tầm ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của chúng đối với các thể loại thuộc LHTS hiện đại dân tộc Thái; qua đó, chỉ ra được bản sắc riêng của LHTS hiện đại dân tộc Thái Thứ ba, đây cũng là sự lựa chọn phù hợp với dung lượng và khuôn khổ của một đề tài luận án Việc nghiên cứu để làm
rõ những thành tựu trên cả hai mặt diện và điểm của loại hình đòi hỏi phải được tiến hành trong một công trình có tầm khái quát lớn hơn và đầu tư nhiều thời gian hơn Chúng tôi hi vọng sẽ có thể tiếp tục quay trở lại với hướng đề tài còn để ngỏ này
- Về LHTS trong VHHĐ dân tộc Thái: chúng tôi giới hạn phạm vi vấn đề nghiên cứu qua 4 thể loại: truyện (truyện ngắn và truyện vừa), tiểu thuyết, trường ca và truyện thơ Cho đến nay, đây là 4 thể loại kết tinh được nhiều thành tựu hơn cả Ở các thể loại này, chúng tôi chủ yếu lựa chọn, khảo sát những tác phẩm, tác giả tiêu biểu đã được xuất bản thành sách và một số tác phẩm được in trên các tạp chí địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Phác hoạ diện mạo của LHTS trong nền văn học Thái;
- Làm rõ những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của các thể loại trong LHTS VHDG và văn học viết dân tộc Thái;
Trang 11- Làm rõ tính kế thừa, phát huy và phát triển các giá trị truyền thống trong VHHĐ của dân tộc Thái;
- Góp phần khẳng định, tôn vinh giá trị của văn học dân tộc Thái trong nền văn học các DTTS nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề khái quát, cơ bản về văn hóa dân tộc Thái để hình dung
vị trí, vai trò của văn học Thái trong nền văn hóa Thái Đây đồng thời cũng là cơ sở để chúng tôi nhận thức và chỉ ra được những ảnh hưởng, mối quan hệ qua lại của văn hóa dân tộc tới các tác phẩm VHDG và văn học viết dân tộc Thái;
- Tiến hành thu thập và xử lí các tư liệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở đó, tiến hành so sánh, phân tích làm sáng tỏ các luận điểm khoa học và phác thảo được diện mạo của LHTS trong văn học dân tộc Thái trên các phương diện cảm hứng nghệ thuật, nhân vật, cốt truyện (Ctr), người kể chuyện (NKC) và điểm nhìn nghệ thuật (ĐNNT);
- Khảo sát, phân tích cảm hứng nghệ thuật của LHTS văn học dân tộc Thái;
- Khảo sát, phân tích, đánh giá nghệ thuật xây dựng Ctr, nghệ thuật xây dựng nhân vật, NKC và cách tổ chức ĐNNT của LHTS văn học dân tộc Thái;
- Khảo sát, phân tích, đánh giá ngôn ngữ nghệ thuật của LHTS văn học dân tộc Thái
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: được sử dụng trong quá trình thu thập và xử lí tư liệu nhằm đưa ra được những con số, bảng biểu thống kê, phân loại
cụ thể, xác thực và đáng tin cậy phục vụ quá trình nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu điền dã và phương pháp phỏng vấn chuyên gia: được sử dụng trong quá trình thu thập tư liệu, gặp gỡ, phỏng vấn sâu với các nhà văn Thái hiện đại
- Phương pháp so sánh: được dùng để khảo sát những mối liên hệ giữa các thể loại thuộc LHTS văn học dân tộc Thái với nhau, trong mối tương quan với nền văn học của các DTTS khác và với nền văn học dân tộc Kinh Qua đó, chỉ ra những ảnh hưởng cơ bản và mối quan hệ giữa chúng với nhau, đồng thời cũng dùng để chỉ ra những ảnh hưởng của LHTS dân gian đối với LHTS hiện đại trong văn học dân tộc Thái
Trang 12- Phương pháp loại hình: được áp dụng để tìm ra những nét tương đồng về mặt loại hình (cảm hứng nghệ thuật, ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện) trong từng giai đoạn lịch sử văn học dân tộc Thái (dân gian, hiện đại), đồng thời cũng
cố gắng chỉ ra tính đặc thù của loại hình tự sự dân tộc Thái với các dân tộc khác
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Mỗi một hiện tượng, tác phẩm, thể loại văn học đều nằm trong mối quan hệ quy chiếu đa chiều với các ngành khoa học khác như dân tộc học, văn hóa học, lịch sử học…, đặc biệt là các tác phẩm VHDG với đặc trưng nguyên hợp của nó Sử dụng phương pháp này sẽ giúp tác giả nghiên cứu có thể tìm hiểu, cắt nghĩa, phân tích, lí giải các hiện tượng, tác phẩm, thể loại văn học đó trong tính phức hợp, đa chiều vốn có
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được áp dụng để phân tích các tác phẩm, tác giả cụ thể, qua đó rút ra những kết luận, nhận định khái quát chứng minh cho các luận điểm khoa học của luận án
- Phương pháp hệ thống hóa: LHTS bản thân nó đã là một hệ thống bao gồm nhiều thể loại khác nhau Trong mỗi thể loại lại bao gồm hệ thống các tác phẩm được biểu hiện qua các phương diện nội dung, hình thức nghệ thuật… Phương pháp
hệ thống hóa sẽ giúp tác giả luận án nhận thức một cách toàn diện, rõ ràng, theo hệ thống những vấn đề nghiên cứu đã đặt ra
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Áp dụng lí thuyết thi pháp học để phân tích, lí giải những phương diện nghệ thuật của loại hình (về cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ) và những đổi mới trong sáng tác của các nhà văn dân tộc Thái thời kì hiện đại
5 Đóng góp của luận án
- Trên cơ sở hệ thống, tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, luận án đã bổ sung, khái quát, tổng hợp các giá trị và thành tựu về LHTS trong văn học dân tộc Thái Đặc biệt, luận án góp một cái nhìn hệ thống, toàn diện về LHTS trong văn học dân tộc Thái
- Với cách tiếp cận trên, luận án đã trình bày diện mạo chung về LHTS trong nền văn học dân tộc Thái bao gồm cả VHDG và VHHĐ, đồng thời, qua đó, cũng chỉ ra được tính kế thừa trong việc phát huy bản sắc dân tộc của văn học Thái hiện đại - một yếu tố rất quan trọng làm nên giá trị, bản sắc của nền văn học mỗi dân tộc
Trang 13- Những kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở cho việc khẳng định, tôn vinh
và khuyến khích sự phát triển của một nền văn học đã có nhiều đóng góp cho nền văn học các DTTS nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị thực tiễn trong việc nghiên cứu, giảng dạy VHDG và văn học viết dân tộc Thái nói riêng, văn học các DTTS nói chung trong trường học các cấp ở Việt Nam
- Những kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ góp phần vào việc bảo tồn và phát huy vốn văn hoá của các DTTS
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài ba phần chính là Mở đầu, Nội dung và Kết luận, luận án còn có các phần Thư mục tham khảo và Phụ lục
Phần Nội dung của luận án được triển khai thành bốn chương Cụ thể như sau:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Cảm hứng nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái Chương 3 Cốt truyện và nhân vật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái Chương 4 Người kể chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật trong loại hình tự sự văn học dân tộc Thái
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Môi trường địa - văn hóa và loại hình tự sự văn học dân tộc Thái ở Việt Nam
1.1.1 Môi trường địa - văn hóa của dân tộc Thái ở Việt Nam
1.1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên và nguồn gốc lịch sử dân tộc
* Đặc điểm địa lí tự nhiên
Dân tộc Thái ở Việt Nam cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc Về mặt địa giới hành chính, vùng văn hóa Tây Bắc “bao gồm các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, một phần của Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái và miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An” [113, tr 47] Đây là vùng rừng núi điệp trùng hiểm trở với những ngọn núi cao nhất nước (như Phanxipăng, Yam Phình ) Xen giữa những dãy núi trùng điệp là các cao nguyên rộng lớn (Mộc Châu, Tả Phình,…) và những cánh đồng lòng chảo nổi tiếng từng đi vào câu tục ngữ: “Nhất Thanh, nhì
Lò, tam Tấc, tứ Than” Hệ thống sông suối của Tây Bắc khá dày đặc Do ảnh hưởng của địa hình nên dòng chảy của các sông suối ở Tây Bắc thường đột ngột
và dữ dội, đặc biệt là vào mùa mưa
Khí hậu nơi đây là khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt Một năm có thể chia ra hai mùa chính: mùa nóng và mưa, mùa rét và hanh khô Vào mùa rét, nhiệt độ có khi hạ xuống đến mức dưới 00C (nhiệt độ âm) gây ra hiện tượng băng tuyết Vào mùa nóng, nhiệt độ có thể lên tới 390C và mỗi tiểu vùng lại có những kiểu khí hậu khác nhau Khí hậu khắc nghiệt cùng với địa hình núi non hiểm trở khiến vùng Tây Bắc xưa từng bị coi là vùng “rừng thiêng nước độc” Người xưa có câu “Nước Sơn La,
ma Hòa Bình” nhằm nói về cái dữ dội của thiên nhiên nơi đây
Tuy có địa hình phức tạp song về tổng thể, có thể ví vùng Tây Bắc rộng lớn như “một ngôi nhà lớn có hai tầng: tầng 1 (vùng thấp), tầng 2 (vùng cao) Vùng thấp là vùng cư trú chính của các dân tộc Thái, Mường, Lào, Lự, nhưng gương mặt văn hóa vùng thấp Tây Bắc là văn hóa Thái” [113, tr 48] Vùng cao là nơi cư trú của các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Si La, Khơ Mú Gương mặt văn hóa vùng cao là văn hóa Mông
Trang 15Sống trong một vùng địa lí tự nhiên khắc nghiệt, hiểm trở nhưng cũng rất thơ mộng, trữ tình, đồng bào các DTTS Tây Bắc, trong đó có người Thái, đã sớm biết cách chung sống hài hòa với tự nhiên, khai thác các nguồn lợi từ nó để phục vụ cho cuộc sống Ở chiều ngược lại, những đặc điểm riêng về địa lí tự nhiên của vùng cũng để lại những dấu ấn đậm nét và ảnh hưởng lớn đến tập quán cư trú, canh tác, lối sống và văn hóa tộc người
* Nguồn gốc lịch sử dân tộc
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và những ghi chép trong các tập
sử thi của người Thái thì họ là cư dân cổ của vùng Tây Nam và Vân Nam (Trung Quốc) Từ đó, họ thiên di vào Tây Bắc Việt Nam theo nhiều đợt kể từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIV, trong đó có 3 đợt thiên di lớn vào thế kỉ IX đến thế kỉ XI Cũng có ý kiến cho rằng, ngành Thái Trắng và bộ phận Thái Đen Mường Thanh có nguồn gốc bản địa (tổ tiên của họ là người Tày - Thái cổ) Vào đầu thiên niên kỉ I CN, tổ tiên người Tày - Thái cổ dã từng tham gia vào việc xây dựng quốc gia Âu Lạc của Thục An Dương Vương, sau đó, một bộ phận di cư sang phía tây, tách khỏi bộ phận gốc là người Tày hiện nay Còn bộ phận Thái Đen có mặt tại Mường Lò (Văn Chấn, Yên Bái) là con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần gốc từ Vân Nam, Trung Quốc di cư sang (vì thế người Thái Đen ở Thuận Châu luôn coi Mường Lò là “quê cha, đất tổ”)
Ở Việt Nam, người Thái phân chia thành hai ngành: Thái Đen [Tay (Thay)
Đăm] và Thái Trắng [Tay (Thay) Khao hay Đón]
Từ rất lâu, nhóm Thái Đen đã theo nếp cũ coi mình thuộc dòng tộc mẹ, mang biểu tượng rồng ở nước kết hợp với dòng tộc cha mang biểu tượng chim én ở cạn (núi) Người Thái Trắng coi mình thuộc dòng dõi mẹ - chim - cạn (núi) kết hợp với cha - rồng - nước [142, tr 15] Dân số của cộng đồng người Thái là 1.550.423 người [23, tr 14]
1.1.1.2 Đặc trưng văn hóa dân tộc
* Văn hóa vật chất
Là chủ nhân của vùng thấp Tây Bắc, cuộc sống của người Thái gắn liền với núi rừng, với những dòng sông, con suối Chính địa bàn cư trú này đã tạo ảnh hướng lớn và để lại những dấu ấn đậm nét trong văn hóa dân tộc Trải qua hàng ngàn năm khai thác tự nhiên Tây Bắc, người Thái đã tạo được hệ sinh thái nhân văn thường được gọi là “văn hóa thung lũng”
Trang 16Người Thái ở Việt Nam là cư dân nông nghiệp, sống bằng nghề làm ruộng nước là chính Kĩ thuật trồng lúa của người Thái đạt đến trình độ cao so với nhiều DTTS anh em khác
Bên cạnh việc trồng cấy lúa nước, người Thái còn có tập quán làm nương rẫy Ngoài làm ruộng và nương, người Thái còn chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, cá ruộng,…), săn bắn (muông thú), hái lượm (lâm thổ sản, rau, măng,…) và đánh cá (ở các sông, suối)
Để tự cung tự cấp, các gia đình Thái trước đây đều làm nghề thủ công Hầu hết đàn ông đều biết đan lát, làm đồ dùng cho nông nghiệp, đánh cá Theo tập quán, người con gái Thái, khi lấy chồng phải mang theo của hồi môn bắt buộc là chăn, đệm, gối cho gia đình nhà chồng Vì vậy, con gái Thái học dệt từ rất sớm Phụ nữ Thái nổi tiếng trong việc dệt vải thổ cẩm và thêu thùa với những mặt hàng tinh xảo mang đậm bản sắc dân tộc
Đối với người Thái, nếp là lương thực chính Hiện nay, người Thái đã bắt đầu có thói quen ăn tẻ Mặc dù vậy, đối với họ, “nếp vẫn là thứ lương thực lí tưởng, đồng thời vẫn là vật đặc trưng cho văn hóa tộc người” [178, tr 169]
Người Thái ưa dùng đồ nướng Trong các món ăn của người Thái, cá có một vị trí quan trọng Ngoài ra, khi nói tới phong tục ẩm thực của người Thái không thể không nhắc tới rượu Rượu là thức uống trong các dịp vui buồn và là vật tượng trưng của các nghi thức Do đó, trong cuộc sống, với ý nghĩa nào đó, dân tộc này đã xem nó như một thức uống cần thiết hàng đầu, dùng quanh năm, ngang tầm với cơm (lảu khảu), trong
đó nổi tiếng nhất là rượu cần (lảu xá) Theo người Thái, cuộc sống sung túc lí tưởng là đạt tới mức như câu tục ngữ đã tổng kết: “Đi, ăn cá; về, uống rượu; đêm đến đắp chăn nằm đệm” (pay, kin pa; ma, kin lảu; tảu, non xứa hốm ha)
Theo truyền thống xưa thì người Thái ở nhà sàn Điều đặc biệt của kiến trúc nhà sàn cổ của người Thái là không phải dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế Thay vào đó là cả một hệ thống dây chằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo
bằng lạt tre, giang và mây hoặc vỏ những cây chuyên dùng được gọi là hu, xa, năng,
xiều Nhìn vào cấu trúc mái, ta có thể phân biệt kiểu nhà sàn của từng nhóm địa
phương khác nhau Nhà sàn của người Thái Đen và Thái Trắng ở Mộc Châu, Sơn
La thì có mái “vòm khum mai rùa” (tụp môn, côm, xlăng táu) và thường đặt ở hai
đầu hồi hình biểu tượng tạc bằng gỗ quét vôi trắng hai thanh tre, tựa như hai đôi
Trang 17sừng gọi là khau cút Nhà sàn của người Thái Trắng ở Mường Lay, Mường Tè,
Phong Thổ (Lai Châu) do có mặt phẳng cắt hình chữ nhật gần vuông nên có 4 mái
thẳng và gấp góc (tụp lặt) Nhà sàn của người Thái ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An có
mái thấp, lòng nhà hẹp, có dáng gần với nhà sàn của người Mường
Việc bố trí không gian ở trong ngôi nhà sàn của người Thái tuân theo những quy định hết sức chặt chẽ Nếu phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang, ngôi nhà
được chia thành hai nửa là bên quản và bên chan Theo quy định và phong tục, bên
quản dành chủ yếu cho các sinh hoạt đàn ông, khách quen; bên chan dành chủ yếu
cho các sinh hoạt của phụ nữ, gắn với các công việc nội trợ Nếu phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc, nhà sàn được chia thành 2 phần quy định tập quán đặt nơi ngủ Đó là “mé đầu” hay “phía trên” của thân nhà quay đầu về sườn núi dùng để đặt hướng đầu khi ngủ; còn “mé chân” hay “phía dưới” hướng về phía cánh rừng, dòng suối, sông con dùng để duỗi chân
Đối với người Thái, nếp nhà sàn không chỉ là một đơn vị không gian chứa đựng một tế bào của xã hội (nên người Thái mới gọi là “cộng đồng nhà” (chua hươn) hay mang ý niệm là “nơi chứa đựng cộng đồng những người thuộc dòng máu cha” [178, tr 124] (nên có tên “nhà tông - nhà cúng” (hươn đẳm - hươn pang) mà còn là không gian chứa đựng văn hóa tâm linh
So với nam giới, trang phục nữ của người Thái được cho là độc đáo vì đã làm tăng vẻ đẹp trời ban của người con gái Lê Ngọc Thắng đã có lí khi nhận xét rằng y phục Thái nổi tiếng “bởi sự hài hòa giữa cái che và cái phô ra, giữa cái giản dị mà không kém phần lộng lẫy” [178, tr 145] Phụ nữ của hai ngành Thái là Đen và Trắng đều mặc váy đen, áo ngắn (xửa cỏm) Áo cỏm được may khéo léo ôm bó sát người làm tôn vẻ đẹp khỏe mạnh, tự nhiên và vóc dáng “thắt đáy lưng ong” của cơ thể Dọc hai đường viền vạt áo có khuy cài bằng bạc hình bướm hoặc ve Điểm khác biệt trong chiếc áo của phụ nữ hai ngành Đen và Trắng là chi tiết cổ áo Trang phục nữ Thái Đen còn có khăn piêu mầu đen, hai đầu có thêu những hoa văn kỉ hà bằng chỉ nhiều màu sắc
Kiểu để tóc của phụ nữ Thái phân biệt khá rõ hai ngành Đen và Trắng Khi chưa chồng, nữ Thái Đen búi tóc đằng sau gáy (khót phôm), khi có chồng búi tóc ngược lên đỉnh đầu để hơi nghiêng về bên trái (tẳng cảu) Chồng chết, trong thời gian để tang thì búi ở lưng chừng giữa đỉnh đầu với gáy gọi là “búi tóc kiêng” (khót phôm me mải), hết tang lại tiếp tục búi tóc ngược như khi chồng còn sống
Trang 18Người Thái có ngôn ngữ và văn tự riêng Ngôn ngữ của dân tộc này thuộc hệ ngôn ngữ Thái - Ka đai (tức hệ ngôn ngữ Nam - Thái), bắt nguồn từ hệ chữ Sanscrit (Ấn Độ) Do có chung một cội nguồn, ngôn ngữ Thái có tỉ lệ thống nhất cao Việc có văn tự và chữ viết riêng chứng tỏ trình độ phát triển văn minh cao của người Thái
* Về văn hóa tinh thần
Khác với nhiều dân tộc khác trên dải đất hình chữ S này, người Thái không chịu ảnh hưởng của Phật giáo hay các tôn giáo ngoại lai khác Bên cạnh trạng thái tôn giáo nguyên thủy “vạn vật hữu linh”, xưa nay, “dân tộc này vẫn tin và thờ một lực lượng siêu nhiên mà thuật ngữ Thái gọi là “phi” [178, tr 403] Người Thái quan
niệm, mỗi một cá thể người có “30 hồn ở phía trước và 50 hồn ở phía sau” (xam xíp
khuôn mang nả; hả xíp khuôn mang lăng)
Khi giải thích về sự tồn tại của linh hồn, người Thái cũng tin rằng: người có linh hồn của người; bản, mường có linh hồn của bản mường và cõi trời cũng có nơi chứa đựng “những linh hồn bất biến” [142, tr 139] Khi con người còn sống, linh hồn tồn tại trong thể xác, gọi là phi khoăn Khi con người chết đi, một phần hóa thành ma ác và một phần (hồn chủ) thì trở thành ma nhà, tức tổ tiên (phi hươn) Tương tự như vậy, người Thái có Phi bản, Phi mương (Thần bản, Thần mường) và Phi phạ, Phi Then (Cõi trời),
Quan niệm và niềm tin trên về các loại phi (linh hồn) của người Thái đã dẫn đến
sự ra đời của các nghi thức và nghi lễ liên quan như: lễ “sửa hồn” (peng khuôn), lễ “gọi hồn lạc” (hiệck khuôn lông) và lễ “cúng hồn” (xên khuôn), lễ “cúng nhà” (xên hươn), nghi lễ và nghi thức liên quan đến việc cúng linh hồn bản, mường gọi là xên bản, xên
mường Ngày nay, việc cúng bản, cúng mường và cúng then đã không còn được tổ
chức trong cộng đồng người Thái Tuy nhiên, với quan điểm gìn giữ bản sắc dân tộc,
các loại lễ xên bản, xên mường đang được Nhà nước khuyến khích phục dựng
Ngoài các nghi thức, nghi lễ liên quan đến linh hồn mang đặc trưng văn hóa tộc người, đồng bào Thái còn có những lễ hội nổi tiếng khác như lễ hội Xăng khan, hay còn gọi là lễ hội Kin chiêng boóc mạy hoặc hội Chá chiêng; lễ hội Hoa ban,… Nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân của người Thái là ngoại hôn dòng họ Việc kết hôn lại tuân theo nguyên tắc hôn nhân thuận chiều trên cơ sở ba mối quan hệ cơ bản trong dòng họ của người Thái là Ải noọng - Lung ta và Nhinh xao Hôn nhân của người Thái mang “tính phụ quyền và tính mua bán, thể hiện rõ ở vai trò quyết định của cha mẹ, tiền thách cưới” [124, tr 135]
Trang 19Theo phong tục truyền thống, người Thái có tục ở rể Thời gian ở rể có thể kéo dài từ 8 đến 12 năm Ngày nay, do sự mai một của truyền thống, lễ cưới của người Thái cũng giản tiện đi nhiều và thời gian ở rể cũng được rút ngắn, nhiều nơi không quá 3 năm
Trên lĩnh vực nghệ thuật dân gian, người Thái nổi tiếng với các họa tiết hoa văn trang trí trên thổ cẩm, những điệu dân vũ và một nền âm nhạc khá phát triển, trong đó nổi tiếng nhất là những điệu xòe và những bài dân ca khắp mang đậm màu sắc Thái VHDG cổ truyền của đồng bào Thái được lưu giữ lại nhờ phương thức truyền miệng và ghi chép thành văn Cho đến nay, dân tộc này còn giữ được cả một kho tàng VHDG phong phú và độc đáo, bao gồm gần như đầy đủ tất cả các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ, tục ngữ, câu đố, truyện cười,… trong đó, có nhiều tác phẩm lớn đã được giới thiệu rộng rãi và được nhiều
bạn đọc trên cả nước yêu mến đón nhận như Xống chụ xon xao, Quam tô mương,…
Cùng với những thành tố văn hóa khác, đây được coi là những thành tựu nổi trội của một dân tộc sớm có chữ viết, có năng lực tư duy và khiếu thẩm mĩ được đánh giá cao trong cộng đồng các dân tộc anh em Việt Nam
Tóm lại, nền văn hóa của người Thái thể hiện rõ sự thích nghi, thích ứng của đồng bào đối với địa bàn cư trú và những đặc điểm riêng trong lịch sử phát triển tộc người Trải qua quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, chúng tạo thành “gen” văn hóa, thành bản sắc văn hóa dân tộc Chất “gen” ấy không chỉ ảnh hưởng và để lại dấu ấn đậm nét trong trong lối sống, trong cách cảm, cách nghĩ, trong thói quen
tư duy nghệ thuật của riêng người Thái mà còn tạo ảnh hưởng lớn đến cả một vùng văn hóa Tây Bắc
1.1.2 Loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái
1.1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về loại hình tự sự
a Vấn đề phân loại văn học và khái niệm “loại hình tự sự”
Việc phân loại văn học luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Lí luận văn học (LLVH) xưa nay đã biết đến nhiều cách phân loại khác nhau Trong đó, cổ xưa và phổ biến nhất là cách chia tác phẩm văn học ra làm ba loại là tự sự, trữ tình và kịch Người đầu tiên đề xuất sự phân chia này là Aristote
trong công trình Nghệ thuật thi ca của ông Bàn về ba “phương thức mô phỏng” của thơ ca (tức nghệ thuật ngôn từ), ông cho rằng: “Có thể mô phỏng bằng cùng một
phương tiện và cùng một đối tượng bằng cách kể về một sự kiện như về một cái gì
Trang 20tách biệt với mình như Homère đã làm, hoặc là người mô phỏng tự nói về mình mà không thay đổi ngôi nhân xưng, hoặc trình bày tất cả các nhân vật được mô phỏng bằng động tác và hoạt động của chúng” [3, tr 23] Các “phương thức mô phỏng” mà
Aristote vạch ra về sau được gọi là loại văn học “Khái niệm đó bao hàm các đặc
điểm của các thuộc tính cả nội dung lẫn hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật”
[136, tr 8] Cách chia ba của Aristote được nhiều học giả sau này như Hegel, Belinski,… tiếp tục kế thừa và phát triển Ở Việt Nam, cách “chia ba” cũng được áp dụng phổ biến trong các giáo trình về VHDG hay LLVH
Trong các công trình về VHDG, mặc dù còn những ý kiến chưa thống nhất trong việc phân loại và đặt tên các loại hình và thể loại văn học, nhưng về cơ bản, chia ba hiện đang là cách phân loại được đa số các học giả chấp nhận và hiện đang
được áp dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu về VHDG như: cuốn Văn
học dân gian Việt Nam (1991) của PGS Đỗ Bình Trị, bộ sách Tổng tập văn học dân gian người Việt (2001 - 2002), 19 tập, của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
(phần phân loại do GS.TS Nguyễn Xuân Kính chấp bút), Giáo trình Văn học dân
gian (2012) do GS.TS Vũ Anh Tuấn (chủ biên), Giáo trình Văn học dân gian
(2012, in lần thứ ba) của PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà,… Theo cách phân loại này, LHTS trong văn học dân gian bao gồm các thể loại sau: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ, tục ngữ, câu đố, vè [39, tr 17]
Các tác giả cuốn Lí luận văn học (GS.TSKH Phương Lựu chủ biên) cũng áp
dụng cách chia ba, nhưng chọn trình bày bốn thể loại tiêu biểu: thơ trữ tình, kịch, tiểu thuyết và kí [89, tr 350] Đây đồng thời cũng là cách chia của GS.TS Trần Đình Sử trong các sách giáo khoa về văn viết cho trung học phổ thông, các năm
1991, 1992 GS.TSKH Lê Ngọc Trà gọi tên ba loại là: truyện, thơ và kịch Theo đó, LHTS bao gồm các thể loại cơ bản như: khúc ca anh hùng (anh hùng ca), trường ca, truyện (tiểu thuyết đoản thiên), tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn,… [89, tr 380]
Về cơ bản, cách “chia ba” được dựa trên những tiêu chuẩn phân loại tương đối nhất quán Đó là phân chia dựa vào các quy luật xây dựng hình tượng, phương thức phản ánh đời sống của tác phẩm văn học Trong luận án, chúng tôi chọn phân loại này
để tiếp cận LHTS trong văn học dân tộc Thái Bởi qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về nền văn học dân tộc Thái nói chung, LHTS văn học dân tộc Thái nói riêng, chúng tôi nhận thấy, đây là cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả
Trang 21Về mặt thuật ngữ, “tự sự” là khái niệm được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ,
espos có nghĩa là lời nói, lời kể Dựa vào kết quả phân loại văn học như trên đã
trình bày, tự sự được hiểu là một trong những “phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [43, tr 385] Về phương diện thể loại văn học, trên cơ sở phương thức phản ánh tự sự đã hình thành LHTS [43, tr 386]
Theo quan điểm này, trong luận án, khái niệm “loại hình” được dùng tương đương với khái niệm “loại”, mang ý nghĩa là cấp độ lớn nhất trong phân chia văn học, gồm nhiều thể loại Thuật ngữ “loại hình” là cách dùng của tác giả Cao Huy Đỉnh
(1974) trong sách Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam [36, tr 224], của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học
[43, tr 385,406], Thuật ngữ “loại” là cách dùng của tác giả Đỗ Bình Trị (1991)
trong sách Văn học dân gian Việt Nam, tập 1 [179, tr 40], của các tác giả trong sách
Lí luận văn học (Phương Lựu (chủ biên) [89, tr 348]),…
Như vậy, về mặt thuật ngữ, trong luận án, thuật ngữ “loại hình tự sự” được chúng tôi sử dụng có ý nghĩa tương đương với thuật ngữ “loại tự sự”, mang ý nghĩa là một loại hình văn học, bên cạnh hai loại hình còn lại là trữ tình và kịch
Nằm trong loại hình văn học, tác phẩm tự sự mang những đặc điểm riêng so với các tác phẩm thuộc hai loại hình trữ tình và kịch
Nếu như tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các sự kiện thì tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó Thế giới của TPTS là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật, không phụ thuộc vào ý muốn và tình cảm của họ Tất cả những sự việc của đời sống được nhà văn kể lại như một đối tượng khách quan ở bên ngoài mình Bàn về điều này,
Belinski viết: “Thơ tự sự chủ yếu là thơ khách quan, bề ngoài cả trong quan hệ với
chính nó, với nhà thơ và với cả người đọc… Ở đây không thấy nhà thơ; thế giới được xác định một cách lập thể, tự nó phát triển, và nhà thơ dường như chỉ là người trần thuật giản đơn những gì đã tự nó xảy ra” (Dẫn theo [89, tr 375]) Tuy
nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, tính khách quan ở đây chỉ mang nội dung tương đối Về bản chất, đời sống khách quan được tái hiện lại thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, tức thông qua sự nhận thức, khái quát, đánh giá, thể hiện mang tính chủ quan của nhà văn Trong TPTS, nhà văn cũng thể hiện tư tưởng và
Trang 22tình cảm của mình Bởi vậy, tác phẩm văn học là sự thống nhất biện chứng giữa tính chủ quan và tính khách quan Nhấn mạnh tính khách quan của TPTS là trên cơ sở đối sánh bản chất so với tác phẩm trữ tình, đồng thời được hiểu với nghĩa là nội dung được phản ánh trong tác phẩm mang tính khách quan so với NKC Tính khách quan chính là nguyên tắc tái hiện đời sống của TPTS
b Các yếu tố cơ bản của cấu trúc tác phẩm tự sự
Ðể có cái nhìn khách quan, TPTS tập trung phản ánh đời sống qua các sự kiện,
hệ thống sự kiện Sự kiện “là những sự việc xảy ra trong đời sống, là những hành
động, việc làm, những sự gặp gỡ có khả năng làm bộc lộ bản chất nhân vật, thay đổi mối quan hệ người và người, làm thay đổi cảm xúc, tình cảm, nhận thức, thậm chí số phận nhân vật” [132, tr 160] Đó có thể là những biến cố, sự kiện bên ngoài,
tức là phần tồn tại vật chất với các việc làm, hành động cụ thể có thể thấy được, cũng có thể là những biến cố, sự kiện bên trong bao gồm tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ Những biến cố, sự kiện bên trong thường không được biểu hiện trực tiếp mà được xem như một đối tượng để đem ra phân tích, nhận biết Nhờ việc miêu tả cuộc sống qua các sự kiện, hệ thống sự kiện mà TPTS mở ra một phạm vi hết sức rộng lớn trong việc miêu tả hiện thực khách quan
Cốt truyện (plot) là "hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng
và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của các tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch" [43, tr 99]
Về mặt cấu trúc, CTr thường có các thành phần cơ bản như: trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Trật tự CTr thường được kể theo trật tự tuyến tính, theo dòng lịch sử Trong truyện tự sự hiện đại, năm thành phần cơ bản này có thế thiếu vắng một thành phần và việc kể chuyện có thể không theo trật tự trước sau của câu chuyện, mà có sự đảo ngược, xen lẫn các thành phần
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại CTr như tiêu chí sự kiện, tiêu chí thời gian, tiêu chí nhân vật,… Căn cứ theo thời gian, CTr được phân thành CTr tuyến tính, CTr khung và CTr gấp khúc Theo tiêu chí nhân vật, có CTr đơn tuyến, CTr đa tuyến, CTr hành động, Ctr tâm lí và CTr dòng ý thức [147, tr 185-186] Trong luận án, chúng tôi căn cứ vào hai tiêu chí trên để nghiên cứu về mô hình CTr trong LHTS văn học dân tộc Thái Kết quả cho thấy, CTr tuyến tính, CTr khung, CTr gấp khúc và CTr tâm lí là những mô hình CTr tiêu biểu trong LHTS văn học dân tộc Thái
Trang 23Nhân vật là “phương tiện tất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong
TPTS và kịch - nó là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm ấy, quyết định phần lớn vừa CTr vừa lựa chọn chi tiết vừa phương diện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa” [136, tr 15] Trong tác phẩm văn học, nhân
vật là phương tiện khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng So với nhân vật trữ tình và nhân vật kịch, nhân vật tự sự được tập trung khắc hoạ đầy đặn, tương đối cụ thể ở nhiều phương diện: ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, nội tâm và đặc biệt là trong mối quan hệ với các nhân vật khác Chỉ có trong mối quan hệ với các nhân vật khác, nhân vật mới bộc lộ hết bản chất của mình, những biến đổi trong cuộc đời nhân vật cũng tùy thuộc mối quan hệ này Sự phân loại nhân vật trong tác phẩm có thể dựa vào vai trò của nhân vật trong kết cấu tác phẩm, sự phục vụ của nhân vật cho việc thể hiện lí tưởng xã hội của nhà văn, hình thức cấu trúc nhân vật,… Với mỗi tiêu chí, nhân vật lại được phân loại khác nhau Theo hình thức cấu trúc, nhân vật được chia thành hai loại nhân vật dẹt
và nhân vật tròn Nhân vật dẹt “là loại nhân vật không được khắc họa đầy đặn các mặt ít “giống thực” nhất theo đánh giá của một kiểu tri giác đơn giản về nghệ thuật” [148, tr 90] Loại nhân vật này lại được chia thành hai loại là nhân vật chức năng và nhân vật loại hình Về bản chất, nhân vật tròn chính là loại nhân vật tính cách Đây là “loại nhân vật được khắc họa, nhìn ngắm trên nhiều phương diện, đưa tới độc giả cảm tưởng “thực” [148, tr 92] Từ hai loại cơ bản trên, các tác giả
trong giáo trình Lí luận văn học, tập II (phần Tác phẩm và thể loại văn học), còn
nói tới hai loại nhân vật khác là nhân vật tâm lí và nhân vật tư tưởng Cách phân loại nhân vật này được chúng tôi áp dụng trong luận án để tìm hiểu về hệ thống nhân vật trong LHTS văn học dân tộc Thái
Trong TPTS, người kể chuyện (NKC) là một loại nhân vật đặc biệt, đồng thời
là một thành tố quan trọng Không có người kể chuyện thì không có trần thuật
Đánh giá về vai trò của người kể chuyện, Timofiev khẳng định: “Hình tượng này có
tầm quan trọng hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện” [158, tr 44]
Khái niệm về NKC và các phạm trù liên quan đến nó đã được nhiều nhà lí luận trong và ngoài nước quan tâm đề cập một cách toàn diện và có hệ thống Quan tâm đến người kể chuyện với vai trò là người tường thuật lại câu chuyện, các nhà lí luận phương
Trang 24Tây như W.Kayser, R.Bathes, Todorov,… đều khẳng định có sự khác biệt và khoảng cách giữa tác giả thực với NKC [70, tr 244-245] Ở Việt Nam, khái niệm NKC cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm đề cập và bàn bạc trong nhiều công trình (xem [4,
tr 360], [43, tr 221], [46, tr 215], [176, tr 89],…)
Nhìn chung, mỗi định nghĩa nhấn mạnh khái niệm NKC ở một phương diện khác nhau, nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau về NKC trong TPTS: (1) NKC là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong TPTS; (2) Trong phạm
vi tác phẩm, NKC là chủ thể của lời kể, là người đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ chức, kết cấu cấu trúc của văn bản tự sự; (3) NKC giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc
Trong TPTS, tương quan giữa nhà văn và chủ thể trần thuật hay giữa điểm nhìn của NKC với những gì anh ta kể là điều đặc biệt quan trọng Không thể hiểu được sâu sắc tác phẩm văn học nếu ta không tìm hiểu điểm nhìn nghệ thuật, bởi lẽ,
để miêu tả, trần thuật, nhà văn buộc phải xác định, lựa chọn điểm nhìn hợp lý Điểm
nhìn nghệ thuật (the point of view) là “vị trí người kể dựa vào để quan sát trần
thuật các nhân vật và sự kiện” [147, tr 61] Bàn về vai trò quan trọng của điểm nhìn
trần thuật trong TPTS, Pospelov khẳng định “Trong TPTS, điều quan trọng là tương
quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay, nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [136, tr 90] Có thể nói, điểm
nhìn chính là nơi khởi nguồn cho việc xây dựng cấu trúc nghệ thuật trong TPTS Nó xác lập “điểm rơi” cái nhìn của chủ thể kể chuyện vào đối tượng trần thuật, vào thế giới khách thể hư cấu được tái hiện trong sáng tác Trong trường hợp này, hệ thống các chi tiết, sự phân bố và kết nối thưa dày của các sự kiện, sự thay thế loại chi tiết này bằng loại chi tiết khác trở thành biểu hiện của ĐNNT Đến lượt mình, ĐNNT biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể, cách xưng gọi sự vật, cách dùng
từ ngữ, kiểu câu… Nó cung cấp một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật của tác phẩm, nhận ra những đặc điểm phong cách, quan niệm về nghệ thuật và nhân sinh của nhà văn Liên quan đến vấn đề này, nhà nghiên cứu Huỳnh
Như Phương đã có một nhận xét xác đáng: “Sự trần thuật câu chuyện bao giờ cũng
được tiến hành từ một điểm nhìn nào đó Kết cấu văn bản có liên quan mật thiết đến điểm nhìn đó, nó liên kết ngôn ngữ NKC và ngôn ngữ trực tiếp của các nhân vật trong một mối thống nhất hỗ tương Miêu tả mối quan hệ hỗ tương đó sẽ góp phần làm sáng tỏ kết cấu ngôn từ của sự trần thuật” [44, tr 201]
Trang 25Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, người ta chia ĐNNT thành các loại như điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn tư tưởng,… Dựa trên lý thuyết về tiêu điểm (thực chất là điểm nhìn) của nhà lý luận người Pháp G.Genette, thi pháp văn xuôi hiện đại phân chia điểm nhìn thành ba loại chính: (1) Điểm nhìn zero (phi tiêu điểm): điểm nhìn từ phía trên hoặc phía sau Trong mối tương quan với các nhân vật của tác phẩm, NKC có vai trò như một thượng đế biết hết mọi chuyện - NKC toàn tri Nhân vật không thể che giấu được gì đối với NKC vì NKC hiểu thấu được những điều mà chính nhân vật cũng không ý thức được hết NKC ở đây biết nhiều hơn nhân vật biết về chính nó Todorov gọi đây là loại người kể lớn hơn nhân vật; (2) Điểm nhìn nội quan (nội tiêu điểm): Ở đây, NKC đồng thời là một nhân vật trong tác phẩm, cho nên diện nhìn là đồng nhất với các nhân vật Anh ta chỉ nói lên những điều anh ta biết và thấy, không được kể những điều ngoài tầm hiểu biết của nhân vật Cái nhìn của NKC thiên về chủ quan theo tư tưởng, thái độ nhân vật
mà anh ta nhập thân Todorov gọi đây là loại người kể bằng nhân vật; (3) Điểm nhìn ngoại quan (ngoại tiêu điểm): điểm nhìn từ bên ngoài NKC chỉ đề cập đến những gì bên ngoài, không đề cập đến thế giới bên trong của nhân vật NKC không hướng đến việc khai thác thế giới nội tâm nhân vật, tỏ ra hiểu biết ít hơn nhân vật hiểu về chính nó nhưng chính từ những gợi mở bề ngoài ấy, người đọc có thể liên tưởng đến những gì nhân vật đang suy nghĩ và cảm nhận Todorov gọi đây
là loại NKC nhỏ hơn (hoặc bằng) nhân vật Trên cơ sở kế thừa cách phân loại của các nhà lí luận như Pouilion, Friedman, G.Genette, Greimas… tác giả Phương Lựu còn tiếp tục bổ sung các dạng cụ thể cho mỗi loại điểm nhìn [147, tr 190-195] Chúng tôi tiếp thu cách phân loại trên để tìm hiểu về ĐNNT của NKC trong LHTS văn học dân tộc Thái
Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi lựa chọn các vấn đề nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật để tìm hiểu và làm nổi rõ những đặc điểm cơ bản của LHTS văn học dân tộc Thái Yếu tố sự kiện được chúng tôi trình bày trong phần cốt truyện Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểu một số đặc điểm về lời văn nghệ thuật để làm rõ hơn những đặc điểm cơ bản của LHTS văn học dân tộc Thái; qua đó, dựng nên một diện mạo chung của loại hình trong nền văn học dân tộc Thái, đồng thời cũng luôn nhìn nó trong sự vận động, biến đổi trong lịch sử phát triển
Trang 26c Về mối quan hệ gữa văn học dân gian và văn học viết
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử dân tộc Thái nói riêng, bộ phận văn học dân gian ra đời có thể nói là cùng với sự ra đời của lịch sử dân tộc và tồn tại, phát triển trong một thời gian dài trước khi có văn học viết Đối với văn học viết, văn học dân gian chính là nền tảng, cội nguồn, “là bộ phận mở đường, đặt nền móng cho văn học viết hình thành và phát triển” [39, tr.18]
Trong cộng đồng các dân tộc ít người Việt Nam, Thái là một trong số không nhiều dân tộc có chữ viết riêng Tuy nhiên, có một điều đặc biệt là, mặc dù có chữ viết riêng song do những lí do khác nhau, bộ phận văn học viết dân tộc Thái lại ra đời muộn (khoảng giữa thế kỉ XX) Bởi vậy mà trong gần suốt chiều dài lịch sử dân tộc, bộ phận văn học dân gian luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là một món ăn không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Thái, đồng thời có vai trò chi phối, ảnh hưởng mạnh mẽ trên cả bề rộng và chiều sâu đối với văn học viết Từ những tác giả đóng vai trò gạch nối đầu tiên giữa văn học dân gian và văn học thành văn (Ngần Văn Hoan, Lường Duy Thứ) cho đến tác giả hiện đại như Vương Trung, La Quán miên, Kha Thị Thường, Sa Phong Ba,… không một ai không chịu ảnh hưởng từ văn học dân gian Vai trò và sự ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn học viết dân tộc Thái nói chung, loại hình tự sự văn học dân tộc Thái nói riêng được thể hiện rõ trên cả hai phương diện nội dung (đề tài, nguồn cảm hứng, tư tưởng nhân ái, tình cảm lạc quan, yêu đời, tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình yêu con người, ) và nghệ thuật (ngôn ngữ, phương pháp xây dựng nhân vật, hình ảnh, cách nói, các biện pháp tu từ, thể loại, ) Trong mối quan hệ giữa hai bộ phận, văn học dân gian cho nhiều hơn nhận Điều này, một mặt, tạo nên bản sắc, tạo nên những trang viết mang hương vị đậm đà của núi rừng và cái cốt cách Thái rất riêng; mặt khác, ở một phương diện nhất định, cũng sẽ
là một thách thức không nhỏ đối với bộ phận văn học viết còn non trẻ
1.1.2.2 Khái quát về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái
a Loại hình tự sự trong văn học dân gian dân tộc Thái
Là một trong số không nhiều các DTTS anh em có chữ viết riêng, người Thái đã xây dựng và lưu giữ được một kho tàng văn học dân gian đặc biệt phong phú, đa dạng với đầy đủ các loại hình, trong đó có LHTS Đây là một trong những phương thức tái hiện đời sống quan trọng nhất và là loại hình văn học có nhiều thành tựu quan trọng góp phần tạo nên diện mạo hoàn chỉnh, giàu bản sắc của nền VHDG dân tộc Thái
Trang 27Xét ở cấp độ thể loại, LHTS trong văn học dân tộc Thái có tương đối đầy đủ các thể loại, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, sử thi, truyện cổ tích, truyện thơ, truyện cười, tục ngữ, câu đố và vè
Theo quy luật phổ biến, thần thoại của người Thái chủ yếu ra đời trong xã hội
nguyên thủy Cho đến nay, dân tộc này vẫn còn bảo lưu một được kho truyện thần thoại khá phong phú, trong đó có cả một hệ thống truyện kể về các Then Đây là điểm độc đáo của thần thoại Thái so với thần thoại của nhiều dân tộc anh em khác Cũng giống như ở nhiều DTTS khác, thần thoại của người Thái không phải là một thể loại VHDG mà phần ngôn từ có cuộc sống độc lập, nó sống ngay trong sinh hoạt của đời sống cộng đồng, gắn bó với vận mệnh của cộng đồng và tồn tại với dạng là một tổng thể nguyên hợp các yếu tố văn hóa của dân tộc [125, tr 94-98] Tiếp nối sau thần thoại là sự ra đời của truyền thuyết và sử thi
Thể loại truyền thuyết của người Thái bao gồm: truyện về địa danh giải thích
sự hình thành, lịch sử các vùng đất, bản, mường và truyền thuyết về những người anh hùng có công lao to lớn trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ
vững bản mường như truyền thuyết Nàng Han, Thanh gươm Xứ Đáng,…
Sử thi là một thể loại có vị trí quan trọng trong kho tàng VHDG của dân tộc
Thái Cho đến nay, người Thái còn lưu giữ được ba bản sử thi lớn là: Khủn
Chưởng, Chương Han và Táy Pú Xấc Những tác phẩm này đều thuộc loại sử thi
thiết chế xã hội (hoặc sử thi anh hùng) Trong đó, Khủn Chưởng và Chương Han
là những tác phẩm có cùng cội nguồn với sử thi Tạo Hùng hay Chương ở Thái
Lan, tạo thành một bộ ba anh hùng ca Chương tiêu biểu cho thể loại sử thi và là niềm tự hào của người Thái ở Đông Nam Á Về mặt nội dung, sử thi phản ánh quá trình hình thành và đấu tranh phát triển, mở rộng địa bàn cư trú của người Thái trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Nhân vật trung tâm của sử thi Thái là những người thủ lĩnh tài ba, những anh hùng tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí quyết tâm, trí thông minh và lòng dũng cảm của cộng đồng người Thái Đối với cộng đồng người Thái Việt Nam, Chương và Chưởng là những hiện tượng văn hóa giàu ý nghĩa
Truyện cổ tích và truyện thơ của người Thái ra đời khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp, phân hóa giàu nghèo
Kho tàng truyện cổ tích của người Thái hết sức phong phú và đa dạng với đầy
đủ các tiểu loại và type truyện (căn cứ theo chủ đề và nhân vật chính) Trong đó,
Trang 28tiểu loại truyện cổ tích loài vật chiếm một số lượng đáng kể, bao gồm đầy đủ các lớp truyện: lớp truyện phản ánh đặc điểm các loài vật, lớp truyện nói về mối quan
hệ giữa con người với con vật và lớp truyện đối chiếu quan hệ của xã hội loài người vào quan hệ loài vật
Truyện thơ là thể loại kết tinh những thành tựu đặc biệt quan trọng của nền
VHDG dân tộc Thái Các tác phẩm như Xống chụ xon xao, Khun Lú - nàng Ủa,…
không chỉ là những tập đại thành, những sản phẩm tinh thần kết tinh trí tuệ và tinh hoa văn hóa tộc người mà còn là niềm tự hào của riêng người Thái trong cộng đồng các DTTS Việt Nam Xét về nguồn gốc, truyện thơ Thái có thể được chia thành hai loại cơ bản Đó là các truyện được sáng tác dựa trên nội dung dân ca và các truyện cổ
dân gian của chính người Thái như Xống chụ xon xao, Khun Lú - nàng Ủa,…; các
truyện do trí thức dân gian sáng tác trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng văn hóa ngoại lai
(văn hóa của người Kinh, văn hóa Trung Quốc,…) như Quam Chang Nguyên, U
Thền, Quam Chiêu Quân,… Về nội dung, truyện thơ đề cập đến nhiều mặt trong hiện
thực xã hội của cộng đồng người Thái: đấu tranh chinh phục tự nhiên, hiện thực gia đình - xã hội, quan niệm tôn giáo tín ngưỡng, số phận con người,… Trong đó, đề tài
về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương và quyền sống của người phụ nữ là đề tài khá phổ biến và mang nhiều giá trị hơn cả Về nghệ thuật, tính chất trữ tình là đặc điểm phổ biến nhất của thể loại Không chỉ được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng và được hát lên trong các dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng, truyện thơ của người Thái còn được lưu truyền bằng hình thức chữ viết Tuy khuyết danh nhưng nhiều tác phẩm “đã mang dấu ấn của các sáng tác cá nhân khá rõ” và “ít nhiều mang phong cách bác học” [125, tr 395] Bởi vậy, thể loại này được coi là “dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn” [125, tr 391]
Tuy không có số lượng phong phú như nhiều thể loại tự sự dân gian khác nhưng
truyện cười vẫn là một thể loại có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng văn hóa, VHDG
Thái Trong tập 20 về Truyện cười, Truyện ngụ ngôn của bộ Tổng tập VHDG các
DTTS, Thái là một trong số ít các dân tộc (6 dân tộc) có truyện cười được giới thiệu
Ngoài ra, Thái cũng là một trong hai dân tộc hiếm hoi trong số 53 DTTS có sách biên soạn riêng cho thể loại truyện cười Sự có mặt của thể loại này, một mặt, góp phần làm phong phú, đầy đặn hơn diện mạo của LHTS trong VHDG dân tộc Thái, mặt khác, chứng tỏ trình độ phát triển tư duy ở mức độ cao, đồng thời bộc lộ đời sống tinh thần phong phú, khiếu hài hước và tinh thần lạc quan của cộng đồng cư dân Thái
Trang 29Bên cạnh những truyện cười mang tính giải trí, người Thái cũng tập trung tiếng cười vào hai nội dung khác là đả kích thói lợi dụng tục ở rể và đả kích tầng lớp trên
Người Thái gọi thể loại tục ngữ là “koám chiến láng” (có nghĩa là lời người
xưa truyền lại) Đối với họ, đó là những lời nói, những câu nói quý hơn vàng bạc cần phải lưu giữ “koám chiến láng nhá vang xịa lạ” (lời xưa truyền lại chớ bỏ phí hoài) Với ý thức đó, cho đến nay, người Thái vẫn còn lưu giữ được một kho tàng tục ngữ hết sức phong phú và đa dạng
Ngoài các thể loại trên, người Thái còn có câu đố và vè Đây là những thể loại có
nội dung phong phú, gần gũi với đời sống sinh hoạt thường ngày của người Thái Về nghệ thuật, ngôn ngữ của các câu đố và bài vè Thái thường rất mộc mạc, gần gũi Tóm lại, tự sự là một loại hình văn học kết tinh nhiều thành tựu và có vai trò đặc biệt quan trọng của VHDG dân tộc Thái Sự góp mặt khá đầy đủ cũng như sự phát triển đồng đều của các thể loại đã tạo nên một diện mạo tương đối hoàn chỉnh, đầy đặn cho loại hình
b Loại hình tự sự trong văn học hiện đại dân tộc Thái
Chính thức ra đời từ những năm đầu thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước, cho đến nay, sau chặng đường năm mươi năm vận động và phát triển, loại hình tự sự trong văn học hiện đại dân tộc Thái đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Những thành tựu này được thể hiện khá rõ nét trên nhiều phương diện khác nhau như: sự lớn mạnh về đội ngũ sáng tác, sự phát triển phong phú về thể loại, sự mở rộng phạm vi phản ánh và nâng cao dần về chất lượng nghệ thuật của các tác phẩm văn học Với những thành tựu đó, loại hình văn học này đã từng bước khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong nền văn học các DTTS nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung
Lần đầu tiên xuất hiện, tự sự hiện đại dân tộc Thái góp mặt trên văn đàn dân tộc với hai gương mặt là Vương Trung và Lò Văn Sỹ Từ số lượng ban đầu ít ỏi đó, sau hành trình nửa thế kỷ, đến nay, loại hình văn học này đã tập hợp được một lực lượng sáng tác khá đông đảo gồm hàng chục tác giả như Sa Phong Ba, La Quán Miên, Cầm Hùng, Vi Hợi, Kha Thị Thường,… Trong số đó, không ít nhà văn có trình độ, đa tài, vừa sáng tác thơ, vừa viết văn xuôi, vừa nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu VHDG như Vương Trung, La Quán Miên, Cầm Hùng, Trên cơ sở bám chắc vào cội nguồn văn hoá, VHDG truyền thống, các nhà văn dân tộc Thái cũng đã có ý thức trong việc tìm hiểu, tiếp thu, khai thác những ảnh hưởng của các dòng văn học
Trang 30khác như dòng văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán của người Kinh và của cả văn học nước ngoài vào trong sáng tác Bởi vậy mà các tác phẩm văn xuôi dân tộc Thái ngày càng phong phú về nội dung và nâng cao dần về chất lượng nghệ thuật Nhiều tác phẩm và nhà văn Thái cũng đã giành được giải thưởng cao, được giới nghiên cứu, phê bình và bạn đọc yêu mến, khẳng định
Xuất hiện vào những năm đầu của thập niên 60 với những truyện ngắn Hoa
trong men của Vương Trung, Người bán hàng trên Cờ Mạ của Lò Văn Sỹ [29]
nhưng phải đến tận năm 1982, tập truyện ngắn đầu tiên của dân tộc Thái mới chính
thức được ra mắt Đó là tập truyện Những bông ban tím của tác giả Sa Phong Ba
Từ đó cho đến hết thập kỉ 80, không có thêm một tập truyện nào được xuất bản Thể loại truyện (truyện ngắn, truyện vừa) của dân tộc Thái chỉ thật sự nở rộ vào thập niên 90 và những năm 2000 với hàng loạt tập truyện ngắn được xuất bản của các tác
giả như: La Quán Miên với Hai người trở về bản (truyện và kí, 1996), Vùng đất hoa
Cờ Mạ (1997), Trời đỏ (truyện và kí, 1998), Bản nhỏ tuổi thơ (2000), Năm học đã qua (2003); Cầm Hùng với Con thuyền lá (1995), Cửa hàng dược trong nghĩa trang
(1998); Sa Phong Ba có Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005), Nhà ấy có ma xó (2010); Kha Thị Thường có Đêm canh ba (tập truyện ngắn
in chung, 2000), Lũ núi (2002), Mùa hoa lù cù (2008), Cho đến nay, truyện ngắn
là thể loại gặt hái được nhiều thành công nhất của văn xuôi dân tộc Thái
Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học Thái là tác phẩm Mối tình Mường Sinh
của tác giả Vương Trung xuất bản năm 1994 Mười ba năm sau, tác giả Vương Trung mới cho ra đời cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông và cũng là của văn học Thái
là Đất bản quê cha (2007) Hai năm sau đó (2009) đánh dấu sự ra đời của cuốn tiểu thuyết thứ ba - Cơn lốc đen của tác giả Cầm Hùng Năm 2014, nhà văn Thái Tâm cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tiếp theo là Tiếng thét Tồng Lôi
Thể loại truyện thơ, cho đến nay, mới ghi nhận một trường hợp duy nhất là
Ing Éng (1967) của Vương Trung Các tác giả Cầm Hùng và Vương Trung đóng
góp cho thể loại trường ca hai tác phẩm là Sóng Nặm Rốm (1979) và Những
người con của bản (2000)
Có thể nói, với sự có mặt đầy đủ các thể loại, LHTS hiện đại dân tộc Thái đã phát triển khá phong phú Đây đồng thời cũng là một động lực thúc đẩy loại hình văn học này tiến gần hơn, nhanh hơn, hội nhập sâu hơn vào dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam
Trang 31Cùng với sự phát triển phong phú, đa dạng về diện, lượng và bước đầu khẳng định về chất, nội dung phản ánh của văn xuôi dân tộc Thái thời kỳ hiện đại cũng ngày càng được mở rộng
Bám sát những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, văn xuôi của các tác giả dân tộc Thái, một mặt, đã tập trung phản ánh được những thay đổi lớn lao trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và cả trong đời sống tinh thần của người dân tộc Thái nói riêng và của đồng bào các DTTS miền Bắc nói chung như làm thuỷ lợi, trồng rừng, xây dựng quê hương mới, cuộc sống định canh, định cư, chống mê tín, dị đoan, chống lạc hậu, bảo thủ,…; mặt khác, nội dung của các tác phẩm cũng đi sâu khai thác và phản ánh các phong tục, tập quán truyền thống, những nét văn hoá đặc sắc của người dân miền núi như cách
tỏ tình, phong tục cưới xin, ma chay, tục cúng ma trừ tà, lễ hội,…
Bên cạnh xu hướng tiếp cận hiện thực cuộc sống một cách đơn giản, xuôi chiều, các tác giả Thái cũng đã kịp thời phản ánh những ảnh hưởng và tác động tiêu cực của cuộc sống hiện đại, của kinh tế, của quyền lực, của đồng tiền đối với nhân
cách con người Điều này được phản ánh khá rõ nét trong các truyện ngắn Cú điện
thoại bỏ ngỏ, Gói quà bí mật, Một hội bí mật của những người giàu, Chuyện ông Póm tếu ở Nà Cút của Sa Phong Ba; Hai người trở về bản, Chuyện về ông Phí Hà
của La Quán Miên; Hoa nở trái mùa, Người trong họ của Kha Thị Thường; tiểu
thuyết Cơn lốc đen của Cầm Hùng;…
Bên cạnh những nội dung trên, trong văn xuôi dân tộc Thái còn có những trang
viết trong trẻo dành cho thiếu nhi trong các tập truyện Bản nhỏ tuổi thơ và Mùa hoa
lù cù của các tác giả La Quán Miên, Kha Thị Thường; những dòng viết chân thực,
xúc động về Hồ Chủ tịch trong Câu chuyện đêm bản Pha, Năm học đã qua của La
Quán Miên,…; những trang viết đầy tâm huyết và cảm động của Cầm Hùng về
những người lính trong Con thuyền lá, Má con bé Lai, Biên Hoà trong anh, “Tù
binh” của mẹ, Ăn mừng ngày chiến thắng 30-4,…
Như vậy, có thể thấy, các nhà văn dân tộc Thái đã đem đến cho người đọc một bức tranh khá hoàn chỉnh với đủ các gam màu tối sáng về cuộc sống của đồng bào các DTTS nói chung và của dân tộc Thái nói riêng Đồng thời, cũng qua những trang văn, người đọc có dịp cảm nhận, hiểu sâu hơn và thêm trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các DTTS anh em Viết được như vậy, các nhà văn dân
Trang 32tộc Thái, một mặt, đã chứng tỏ được tâm huyết, tài năng và bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật của mình, mặt khác, đã giúp văn học dân tộc Thái nói chung và văn xuôi dân tộc Thái nói riêng bắt nhịp được với sự phát triển của văn học và văn xuôi dân tộc, đưa văn học Thái đến gần hơn với độc giả cả nước
Về mặt nghệ thuật, bên cạnh những đặc điểm như: sự ảnh hưởng đậm nét của VHDG, sự ngắn gọn và sự linh hoạt trong cách kể, cách tả và dựng truyện, các nhà văn dân tộc Thái cũng đã có sự tìm tòi, thử nghiệm, đổi mới trong sáng tác và bước đầu đã đạt được những thành công nhất định
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công kể trên, các thể loại thuộc LHTS hiện đại dân tộc Thái vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế
Mặc dù luôn có ý thức phản ánh và khai thác tính đa diện, đa sắc và đa thanh của hiện thực cuộc sống song nhìn chung, tính phê phán trong các tác phẩm vẫn còn chưa sắc, chưa sâu, thậm chí, ở một số truyện ngắn của Cầm Hùng, La Quán Miên còn mang nặng tính thuyết lý khô khan, thiếu tính khái quát, thiếu khả năng hư cấu
và tính sáng tạo Sự ảnh hưởng của VHDG, một mặt, đã tạo nên sức hấp dẫn, gần gũi và bản sắc riêng của tự sự hiện đại dân tộc Thái, song mặt khác, sự vận dụng nhiều khi quá đậm của các nhà văn trong sáng tác lại là nguyên nhân cản trở sức sáng tạo nghệ thuật Bên cạnh đó, không hiếm tác giả, tác phẩm, trong những trường hợp cụ thể, đã xa rời bản sắc dân tộc, hoặc thể hiện nó một cách xơ cứng
như một số truyện ngắn: Một hội bí mật của những người giàu, Chuyện một người
nuôi thú bị thất nghiệp của Sa Phong Ba, Ngựa ôm, Từ một pô ảnh của Cầm Hùng
hay một số tác phẩm khác của La Quán Miên,…
Tất nhiên, những tồn tại và hạn chế trên không phải của riêng tự sự dân tộc Thái
mà là tồn tại và hạn chế chung trong nền văn xuôi còn non trẻ của nhiều DTTS anh em
Tóm lại, mặc dù còn tồn tại những hạn chế nhất định song về cơ bản, trải qua hành trình nửa thế kỷ, LHTS hiện đại dân tộc Thái đã đạt được những bước tiến dài, quan trọng trong quá trình hội nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại Điều đáng quý ở đây là, song song với những nỗ lực tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn dân tộc Thái vẫn luôn có ý thức bám rễ sâu vào vốn văn hoá, VHDG truyền thống Đây chính là điều quan trọng giúp văn xuôi dân tộc Thái vừa hội nhập thành công vừa giữ được bản sắc và sức hấp dẫn riêng
Trang 331.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại hình tự sự trong văn học dân tộc Thái
1.2.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu về loại hình tự sự dân gian trong văn học dân tộc Thái
Trước Cách mạng tháng Tám, công tác sưu tầm VHDG nói chung, LHTS dân gian các DTTS nói riêng chưa được quan tâm thích đáng Kể từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay, cùng với chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ đối với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và sự thay đổi trong nhận thức của giới khoa học, công tác sưu tầm, nghiên cứu VHDG các DTTS nói chung đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Tình hình sưu tầm, giới thiệu và nghiên cứu về LHTS trong VHDG Thái cũng nằm trong bối cảnh chung đó
Nhìn chung, các công trình sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu các tác phẩm, thể loại LHTS dân gian các DTTS nói chung, dân tộc Thái nói riêng có thể phân ra làm hai loại chính Đó là những công trình sưu tầm, giới thiệu tổng thể và những công trình sưu tầm, giới thiệu riêng cho từng thể loại cụ thể Ở đây, chúng tôi chú ý đến các công trình riêng về từng thể loại
Các thể loại thuộc LHTS dân gian dân tộc Thái đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trên nhiều phương diện khác nhau như: nguồn gốc, tầm ảnh hưởng của tác phẩm, các giá trị nội dung và nghệ thuật, Tuy nhiên, để phù hợp với dung lượng cũng như mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ chú trọng đến các đánh giá, nhận định về giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác
phẩm và thể loại
1.2.1.1 Thể loại sử thi
Công tác sưu tầm, công bố sử thi Thái đã đạt được những thành tựu đáng ghi
nhận Cho đến nay, dân tộc Thái đã có 3 bộ sử thi được các tác giả, nhóm tác giả
công bố Đó là sử thi Chương Han, sử thi Khủn Chưởng và sử thi Táy pú xấc
Tính đến thời điểm năm 2016, sử thi Chương Han được công bố 2 lần vào các
năm 2003 và 2005 với hai bản dịch của tác giả và nhóm tác giả Phan Đăng Nhật, Đồng Văn Tuấn và Vương Trung Về độ dài, cuốn do nhóm tác giả Phan Đăng Nhật công bố dài 2515 câu, còn cuốn do Vương Trung sưu tầm và công bố dài 2371 câu
Sử thi Táy pú xấc được nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành vào năm 2003
do tác giả Vương Trung sưu tầm và dịch Công trình được công bố bao gồm bản
Trang 34phiên âm tiếng Thái và bản dịch tiếng Việt với độ dài 3586 câu Gần mười năm sau (2012), bản phiên âm và bản dịch này được nhà xuất bản Lao động in lại trong cuốn
Táy pú xấc - Kẻn Kéo Trong đó, Kẻn Kéo là truyện thơ Chương Han và Táy pú xấc
đều là những thiên sử thi lớn của người Thái Tây Bắc, Việt Nam
Về việc phân định thể loại Táy pú xấc, trên thực tế, vẫn còn những vấn đề tồn
tại Ở lần xuất bản đầu của cuốn sách, trong lời giới thiệu về xuất xứ của tác phẩm,
Vương Trung đã nói rõ đây là “tác phẩm sử thi lớn của dân tộc Thái vùng Tây Bắc”
[188, tr 5] Lời giới thiệu này vẫn được giữ nguyên ở lần xuất bản sau, năm 2012
Tuy nhiên, bìa ngoài của cuốn sách xuất bản năm 2012 lại được ghi là: Táy pú xấc -
Kẻn Kéo truyện thơ Thái ở Tây Bắc Không rõ vì lí do này hay còn những căn cứ
nào khác, các nhà nghiên cứu đang có sự thiếu thống nhất khi bàn tới tác phẩm này
Tập 4, Sử thi Thái - Mường trong bộ Tổng tập văn học các DTTS do GS.TSKH
Phan Đăng Nhật chủ biên không hề nhắc tới tác phẩm, mặc dù nó đã được xuất bản
trước tập 4 của bộ Tổng tập cách đó 4 năm Năm 1983, trong giáo trình Văn học
dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, PGS.TS Võ Quang Nhơn cũng xếp tác
phẩm này vào mục truyện thơ, thuộc nhóm truyện thơ gắn liền với sinh hoạt nghi lễ dân gian Căn cứ vào những đặc trưng về thể loại trên các phương diện nội dung và nghệ thuật và lời giới thiệu của Vương Trung trong lần xuất bản đầu tiên, chúng tôi nhận thấy đây là tác phẩm thuộc thể loại sử thi, không phải truyện thơ
Năm 2005, sử thi Khủn Chưởng lần đầu tiên được công bố trong cuốn sách
Khủn Chưởng anh hùng ca Thái Sách do GS.TKH Phan Đăng Nhật làm chủ biên,
gồm các phần chữ Thái cổ, chữ Thái La tinh và chữ quốc ngữ, dài 750 trang Đây là tác phẩm sử thi được sưu tầm ở miền Tây Nghệ An Gần mười năm sau, bản dịch và
được tác giả Phan Đăng Nhật chọn đưa vào nội dung bộ Tổng tập Văn học dân gian
các DTTS, Tập 4, Sử thi Thái - Mường (2007) và in lại trong công trình Sử thi Thái
do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2013
Bản sử thi Khủn Chưởng thứ hai được ra mắt bạn đọc là cuốn Lai Khủn
Chưởng (Truyện Khun Chương) do Quán Vi Miên chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa
ấn hành Tác phẩm này được hai nhà xuất bản Văn hóa dân tộc và Nghệ An đồng thời ấn hành ra mắt bạn đọc với độ dài 3917 câu thơ Sách bao gồm phần phiên âm chữ Thái La tinh và bản dịch chữ quốc ngữ Nội dung cuốn sách được chia thành hai phần, tám chương
Trang 35Như vậy, với công sức của các nhà sưu tầm trung ương và địa phương, công tác sưu tầm sử thi dân tộc Thái đã đạt được những thành tựu quan trọng Trong sự thành công đó, không thể không nhắc tới đóng góp của các trí thức dân tộc Thái, tiêu biểu là Quán Vi Miên và Vương Trung
Về tình hình nghiên cứu, thể loại sử thi dân tộc Thái bước đầu đã nhận được
sự quan tâm, chú ý của các học giả, tiêu biểu như tác giả Đặng Nghiêm Vạn với
cuốn Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam, Võ Quang Nhơn với cuốn Văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Cầm Cường với cuốn Tìm
hiểu văn học dân tộc Thái ở Việt Nam, Phạm Đặng Xuân Hương với luận án tiến sĩ Đặc điểm thể loại của sử thi Chương ở Việt Nam qua một trường hợp cụ thể Chương Han (Thái - Tây Bắc), nhà nghiên cứu Cầm Trọng với công trình Văn hóa Thái Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật với phần Dẫn luận sử thi Thái - Mường, Tập 4, bộ Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số… Về cơ bản,
các nhà nghiên cứu đều thống nhất cao trong việc khẳng định vị trí, vai trò cũng như những giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm
Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật Chương Han, các nhà nghiên cứu cho rằng, bằng trí tưởng tượng táo bạo, các nghệ nhân dân gian đã xây dựng nhân
vật này “thành một biểu tượng kì vĩ, hào hùng, nói lên sức mạnh vô địch và ý chí
kiên cường bất khuất của nhân dân Chương Han là một nhân vật anh hùng cho đến hơi thở cuối cùng” [125, tr 372], “là người anh hùng của quần chúng nhân dân” [31, tr 165] Đánh giá cao vai trò của người anh hùng, tác giả Phạm Đặng
Xuân Hương cho rằng, Chương Han là “hình ảnh kiểu mẫu của một thủ lĩnh liên
mường tiêu biểu” [69, tr 83] Về phương diện thể loại, sau khi xem xét, phân tích
cụ thể dựa trên văn bản, tác giả luận án cho rằng, Chương Han là một trong những
“sử thi thiết chế xã hội cổ xưa tiêu biểu” mà cụ thể là “thiết chế liên minh hướng
tâm các mường luông” [69, tr 148]
Bàn về nội dung của sử thi, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: sử thi
Thái tập trung “phản ánh lịch sử chiến chinh của người Thái, qua đó ca ngợi truyền
thống anh hùng dũng cảm trong chiến đấu và sản xuất, chiến đấu để sản xuất, để
“đảy khẩu kín’ của đồng bào.” [116, tr 423], đồng thời “mô tả về chuyện đánh giặc nội chiến và chống ngoại xâm” của người Thái trong một giai đoạn lịch sử dài, từ
Trang 36“lịch sử chinh chiến và di dân Thái Đen xuống Mường Ôm, Mường Ai xuống chiếm
và khai phá đất Mường Lò thành cánh đồng lúa” đến giai đoạn người Thái “trở về xây dựng trung tâm Mường Muổi” [178, tr 374-375]
Về thẩm mĩ, sử thi Thái là “sự biểu hiện phạm trù thẩm mỹ cái hùng - anh
hùng ca ở mức độ cao” [116, tr 69]
Như vậy, công tác nghiên cứu sử thi dân tộc Thái đã đạt được những thành tựu
quan trọng Những giá trị nội dung và nghệ thuật của sử thi Thái về cơ bản đều được giới nghiên cứu ghi nhận và đánh giá thống nhất Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử thi Thái vẫn còn những vấn đề tồn tại Đó là: các vấn đề liên quan đến bản chất thể loại và
tên gọi sử thi Táy pú xấc; sự thiếu thống nhất giữa các học giả trong cách giải thích về nguồn gốc nhân vật, tích truyện và bản chất thể loại của Chương Han Hơn nữa, tính
đến thời điểm này, chưa có một chuyên luận, công trình nghiên cứu tập trung nào về sử thi dân tộc Thái trong cái nhìn tổng thể về một thể loại văn học
1.2.1.2 Thể loại truyện cổ tích
Truyện cổ tích là một trong những thể loại văn học có số lượng tác phẩm phong phú nhất của LHTS trong VHDG dân tộc Thái Điều này được thể hiện rõ
qua các công trình sưu tầm công bố về thể loại này của các nhà chuyên môn, trong
đó có công lao lớn của chính các trí thức dân tộc Thái
Trước năm 1975, truyện cổ tích của người Thái chủ yếu được bạn đọc biết đến qua một số tác phẩm lẻ được tuyển chọn trong các công trình về truyện cổ tích các
dân tộc nói chung được công bố sớm như cuốn Truyện cổ tích miền núi (1958) do thầy trò Trường Sư phạm miền núi trung ương thực hiện hay bộ Truyện cổ dân gian
các dân tộc Việt Nam (1963-1967), 4 tập, do Tổ VHDG các dân tộc, Viện Văn học
tuyển chọn (dẫn theo [197, tr 26-29])
Lần đầu tiên, thể loại truyện cổ tích dân tộc Thái xuất hiện trong một cuốn
sách in riêng là vào năm 1976 Đó là cuốn Truyện cổ dân tộc Thái do Ty Văn hóa
Sơn La xuất bản Cho đến nay, ngoài một số tác phẩm được tuyển chọn, giới thiệu trong các tuyển tập, tổng tập về VHDG và tập truyện kể trên, các nhà sưu tầm đã công bố thêm được 5 đầu sách in riêng cho thể loại truyện cổ tích của dân tộc Thái
Đó là các cuốn: cuốn Truyện cổ Thái do các tác giả Ninh Viết Giao, Phan Kiến
Giang, Hoàng Tam Khọi, Lò Văn Sĩ, Bùi Tiên biên soạn, xuất bản năm 1980, cuốn
Truyện dân gian Thái (4 tập) do tác giả Cầm Cường công bố năm 1986, các cuốn Đám cưới trên núi (1998) và Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Nghệ An
(2010) do trí thức người Thái là Quán Vi Miên sưu tầm, công bố
Trang 37Điểm qua tình hình sưu tầm, giới thiệu truyện cổ tích dân tộc Thái trong thời
gian qua, có thể đưa ra một số nhận xét khái quát như sau:
Trước năm 1975, thể loại truyện cổ tích dân tộc Thái bước đầu nhận được sự quan tâm của các tác giả, nhà nghiên cứu thông qua các công trình sưu tầm, giới thiệu chung về văn học các DTTS, song nhìn chung vẫn còn rất hạn chế Từ 1975 đến nay, công tác sưu tầm, giới thiệu truyện cổ tích dân tộc Thái thu được nhiều thành tựu đáng kể Con số hàng trăm truyện được giới thiệu trong các công trình đã công bố chứng tỏ sự đa dạng, phong phú và vị trí quan trọng của thể loại truyện cổ tích trong kho tàng VHDG Thái nói riêng và kho tàng VHDG các DTTS nói chung Bên cạnh sự quan tâm của các nhà sưu tầm, nghiên cứu trung ương, thể loại truyện cổ tích dân tộc Thái còn nhận được sự chú ý của các nhà sưu tầm địa phương, trong đó có công lao đóng góp lớn của chính các trí thức dân tộc Thái, tiêu biểu như Cầm Cường, Quán Vi Miên Điều này đã khẳng định nhu cầu sưu tầm, lưu giữ và ý thức tự hào về các giá trị văn hóa dân tộc của người Thái
Với tinh thần lao động khoa học nghiêm túc của các tác giả, hầu hết các truyện
cổ tích được giới thiệu trong 5 đầu sách in riêng đã công bố đều ghi rõ xuất xứ và NKC, số lượng truyện bị trùng lặp ít (dưới 10 truyện) Tuy nhiên, số lượng truyện song ngữ không nhiều Bên cạnh đó, trong quá trình sưu tầm, công tác phân loại cũng chưa được làm tốt Điều này gây ra những khó khăn không nhỏ trong quá trình nghiên cứu về thể loại
Về tình hình nghiên cứu, theo tổng hợp tư liệu của chúng tôi, cho đến nay,
chưa có một chuyên luận nào nghiên cứu về thể loại truyện cổ tích các DTTS nói chung và dân tộc Thái nói riêng Phần lớn đó mới chỉ là những chương sách nằm trong hai công trình nghiên cứu tổng quan về văn học các dân tộc các DTTS của hai tác giả Phan Đăng Nhật và Võ Quang Nhơn được thực hiện vào những năm 80 của thế kỉ XX (xem [114], [125]) Ngoài ra, nó cũng được đề cập đến trong lời giới thiệu của một số tuyển tập, tổng tập và luận án nghiên cứu về truyện cổ dân gian các DTTS trong thời gian qua
Trong luận án tiến sĩ Truyện kể dân gian các DTTS miền núi phía Bắc Việt
Nam, tác giả Nguyễn Thị Minh Thu đã chọn ba thể loại tiêu biểu trong LHTS
VHDG các DTTS miền núi phía Bắc làm đối tượng nghiên cứu chính của đề tài Đó
là thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích Ở thể loại cổ tích, một số truyện của dân tộc Thái đã được tác giả dùng làm cứ liệu để để phân tích, chứng minh cho các
luận điểm khoa học của công trình Chẳng hạn, các truyện Chàng rể sóc, Ông vua
túi, Chàng rùa vàng là những truyện tiêu biểu cho motip cái lốt, trong đó truyện
Trang 38Ông vua túi với hình ảnh người đội lốt cái túi là “một sáng tạo riêng của đồng bào Thái” [166, tr 101]; các truyện Con rể và bố vợ, Chàng rể - bố vợ, Mẹ vợ - con rể
là những tác phẩm tiêu biểu cho loại truyện về nhân vật thông minh, cụ thể là nhóm truyện kể về chàng rể thông minh Lí giải về sự xuất hiện của nhóm truyện này trong mối liên hệ với truyền thống văn hóa, tác giả Nguyễn Thị Minh Thu cho rằng,
đây là những truyện liên quan đến “tập tục phổ biến trong đời sống nhiều DTTS như
Dao, Thái, đó là tục ở rể” [166, tr 104]…
Như vậy, ngoài việc chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về
thể loại truyện cổ tích của người Thái, số lượng truyện cổ tích Thái được nhắc tới trong các công trình nghiên cứu cũng còn rất khiêm tốn Theo thống kê của tác giả luận án, con số truyện cổ tích của người Thái được điểm tên trong các công trình nghiên cứu về VHDG các DTTS chỉ khoảng chục tác phẩm Điều này rõ ràng chưa tương xứng với tiềm năng của thể loại quan trọng này trong VHDG dân tộc Thái
1.2.1.3 Thể loại truyện thơ
Quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ các DTTS nói chung, truyện thơ
Thái nói riêng đã được GS Nguyễn Xuân Kính trình bày hệ thống trong phần Dẫn
luận về truyện thơ, in trong bộ Tổng tập Văn học dân gian các DTTS, Tập 21, Truyện thơ (2008) Bài viết này sau được tác giả in lại dưới tựa đề Quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ các DTTS, trong sách Một nhận thức về văn học dân gian (nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2012) Trên cơ sở kế
thừa những kết quả khảo sát của tác giả bài viết, chúng tôi sẽ tiến hành bổ sung, cập nhật những thông tin mới về tình hình sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ Thái trong những năm gần đây, cụ thể là từ năm 2009
Về tình hình sưu tầm, từ năm 2009 cho đến nay, theo thống kê của chúng tôi,
đã có thêm 16 truyện thơ nữa được xuất bản Đó là các truyện và tập truyện sau:
Truyện thơ Cẩu tô cốp (Chín con ếch) do Vi Hoàng Sương sưu tầm, biên dịch, Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Lai Châu xuất bản năm 2009 Truyện thơ Tạo Sông Ca
nàng Si Cáy do Lương Thị Đại sưu tầm và dịch được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
công bố năm 2010 Truyện thơ Kẻn Kéo do Vương Trung sưu tầm và biên dịch
được công bố năm 2012 Cũng năm 2012, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc công bố
công trình dày dặn Truyện thơ dân gian dân tộc Thái do Đỗ Thị Tấc chủ biên Cuốn sách giới thiệu sáu truyện thơ: Tiễn dặn người yêu (bản dịch của Mạc Phi, 1961); các truyện Chàng Đông Vinh và nàng Tiên Út, Tạo Hoàng Tiu và nàng công chúa,
Trang 39Tạo An Đức và nàng Chiêu Công, Tạo Xam Lương và nàng Anh Đài và Lang Chang Nguyên Ngoài tác phẩm Xống chụ xon xao có phần giới thiệu ghi rõ nguồn
gốc, xuất xứ của văn bản, các truyện thơ còn lại đều không ghi rõ người kể và địa phương sưu tầm Năm 2013, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin công bố truyện thơ
Lai Xứ Thôn (Chàng Xứ Thôn) do Quán Vi Miên biên dịch Năm 2014, cuốn sách Truyện thơ dân gian Thái Nghệ An do Quán Vi Miên sưu tầm, dịch và giới thiệu,
Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành được ra mắt Công trình giới thiệu sáu truyện thơ
Thái, trong đó có 3 tác phẩm mới do tác giả sưu tầm, biên dịch là Khủn Tưởng -
Khủn Tinh - Nàng Ni, Chàng Khủn Tinh và Trạng Nguyên
Như vậy, tính từ năm 1957 đến năm 2014, đã có 38 truyện thơ Thái được
công bố, trong đó có 15 truyện chỉ mới được công bố bản chữ Thái cổ (chưa có bản phiên âm tiếng Việt và bản dịch) Con số công bố trên chứng tỏ sự quan tâm, đầu tư, yêu mến của các nhà sưu tầm trung ương, địa phương đối với truyện thơ dân tộc Thái, đồng thời cũng chứng tỏ sức hấp dẫn đặc biệt của thể loại văn học này đối với công chúng Trong số 23 truyện thơ còn lại được dịch ra tiếng Việt, hầu hết đều đã có bản phiên âm tiếng Thái La tinh (hoặc chữ Thái cổ) và phần lớn đều được chú thích thông tin đầy đủ Điều này, một mặt, chứng tỏ thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học của các tác giả; mặt khác, đảm bảo tính tin cậy thông tin của các truyện thơ Thái đã được xuất bản Tác phẩm được công bố sớm nhất và nhiều
lần nhất là Tiễn dặn người yêu với 19 lần Tác phẩm được công bố sớm thứ hai và nhiều thứ hai là Khun Lú - Nàng Ủa với 12 lần Trong số các nhà sưu tầm, Quán
Vi Miên (còn có bút danh là La Quán Miên), một trí thức dân tộc Thái tỉnh Nghệ
An, là người giàu tâm huyết và những đóng góp đáng ghi nhận Ông đã sưu tầm được 7 truyện thơ ở vùng miền núi Nghệ An
Về tình hình nghiên cứu, trong hơn nửa thế kỉ qua, truyện thơ dân tộc Thái
luôn là đối tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có những học giả uy tín như GS.TSKH Phan Đăng Nhật, PGS.TS Võ Quang Nhơn,… Bên cạnh đó, con
số hàng chục công trình trực tiếp hoặc gián tiếp bàn về truyện thơ dân tộc Thái xuất hiện ở nhiều dạng như: các bài giới thiệu, nghiên cứu in ở đầu các tác phẩm hoặc tuyển tập, tổng tập; các bài viết công bố trên các tạp chí; các cuốn sách viết về VHDG các DTTS, trong đó có truyện thơ nói chung và truyện thơ Thái nói riêng; các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ,… đã chứng tỏ sự quan tâm của giới nghiên cứu đối với thể loại truyện thơ dân tộc Thái
Trang 40Ở đây, chúng ta có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như: bài giới thiệu
Giá trị truyện thơ Xống chụ xon xao (1961) đăng trên Tạp san Nghiên cứu văn học
số 5 của Mạc Phi; bài viết Truyện thơ Khăm Panh - Khúc ca bi tráng của đồng bào
Thái chống chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của tác giả Đỗ Hồng Kì đăng trên tạp
chí Văn hóa dân gian, số 2 năm 1984; bài viết Thử tìm hiểu nguồn gốc của truyện U
Thềm của người Thái ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Tấn Đắc đăng trên tạp chí
Văn hóa dân gian, số 4 năm 1991; luận án tiến sĩ Nghiên cứu một số truyện thơ của
dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ nôm dân tộc Kinh của tác giả
Ngô Thị Phượng năm 2013; luận án tiến sĩ Khảo sát và nghiên cứu một số truyện
thơ tiêu biểu của người Thái ở Việt Nam của tác giả Lê Thị Hiền năm 2013,… Qua
các công trình nghiên cứu kể trên, truyện thơ Thái đã được xem xét, nghiên cứu và tiếp cận trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Nhìn chung, những vấn đề cơ bản
về giá trị nội dung, nghệ thuật đã được làm rõ ở các công trình nghiên cứu kể trên
Bàn về giá trị nội dung truyện thơ Xống chụ xon xao, Mạc Phi cho rằng: truyện thơ đã thể hiện một cách sâu sắc “mối tình rất mực thuỷ chung, trong trắng” và là “tác
phẩm duy nhất trực tiếp thể hiện ca ngợi những con người quần chúng bình dị, những con người mà cả tài lẫn sắc, số phận đều không có gì trội hơn số đông” [135, tr 30]
Ông cũng cho rằng, Tiễn dặn người yêu còn là “một tiếng hát đấu tranh” chống lại những “đạo lí phong kiến bầy ra như một trận đồ bát quái”, trong đó “tình yêu và
quyền làm người không còn lấy một chỗ len chân” [135, tr 38] Về một truyện thơ
khác là Khun Lú - nàng Ủa, ông đánh giá cao tác phẩm trên hai phương diện: ca ngợi
tình yêu và giá trị tố cáo Bàn về giá trị tố cáo của tác phẩm, Mạc Phi cho rằng, truyện
thơ đã “vạch rõ bản chất tàn ác dâm bạo của giai cấp tạo, phìa phong kiến thống trị”
và coi đó chính là “nguồn gốc của mọi nỗi khổ” [135, tr 19] Nghiên cứu các truyện thơ Ngu háu, Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm, Trạng Nguyên và Trạng Tư, tác giả Nguyễn Thị Xuân Phượng nhận thấy, các tác phẩm đều “phản ánh một xã hội biến động phức
tạp, ca ngợi tình yêu, lòng chung thủy, ca ngợi vẻ đẹp của người lao động” đồng thời
“chú ý nhiều tới khát vọng chinh phục tự nhiên, chú ý đưa vào sáng tác nhận thức về
tôn giáo tín ngưỡng” [139, tr 157]
Nhận xét về CTr của truyện thơ Khun Lú - nàng Ủa, Mạc Phi đã chỉ ra, mặc dù dựa trên CTr của truyện cổ Xá nhưng các tác giả truyện thơ đã “sáng tạo ra cả một thế
giới mới, một thế giới có thực với đầy đủ mọi chi tiết, mọi uẩn khúc giống như cái thế giới hàng ngày tác giả đang sống” [134, tr 22] Đây cũng là điều được ông đánh giá
cao Cùng với nhận xét của ông về nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật trong truyện thơ
Tiễn dặn người yêu, ý kiến này đã góp phần làm rõ một trong những đặc điểm thi pháp