ĐẶT VẤN ĐỀ Đối với lịch sử phát triển văn học Việt Nam, văn học dân gian đóng một vai trò cô cùng quan trọng trong việc thể hiện đời sống tinh thần của nhân dân lao động.. Theo nghĩa rộn
Trang 1TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: THI PHÁP VĂN HỌC DÂN GIAN
Họ và tên: Trần Thị Thu Trang Lớp: Thạc sỹ LLPPDH môn Văn- Tiếng Việt K29
Lào Cai, tháng 1 năm 2022
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với lịch sử phát triển văn học Việt Nam, văn học dân gian đóng một vai trò cô cùng quan trọng trong việc thể hiện đời sống tinh thần của nhân dân lao động “Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Việt Nam”, ra đời từ buổi sớm của xã hội loài người, lúc con người chưa phát minh ra chữ viết, văn học dân gian là nguồn sữa trong lành nuôi dưỡng biết bao thế hệ trẻ lớn lên trong chiếc nôi tre Việt Nam, trong tiếng ru ầu ơ dân tộc Qua văn học dân gian, ta cảm nhận rõ hơn sự kì diệu của ngôn ngữ tình yêu, thấy thương hơn gốc lúa, vườn rau, yêu hơn cuộc sống bình dị quanh ta Mang trong mình lý tưởng thẩm mỹ, triết lí sống cao đẹp thông qua hệ thống thẩm mỹ Văn học dân gian Việt Nam là kho tàng tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc Văn học dân gian Việt Nam có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người
và có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc
Nghiên cứu về văn học dân gian Việt Nam, có nhà nghiên cứu cho rằng: thi pháp văn học dân gian là một hệ thống thẩm mỹ độc lập nhưng không đối lập với thi pháp văn học viết Đúng vậy, trong dòng chảy chung của nền văn học, văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc Khi chưa có chữ viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật
B NỘI DUNG
I Thi pháp văn học dân gian là một hệ thống thẩm mỹ độc lập
1 Khái niệm thi pháp
Việc xác định khái niệm thi pháp cũng có nhiều quan niệm, cách hiểu đơn giản nhất như sau:
Theo lối chiết tự: chữ “thi” dùng để chỉ văn học nói chung chứ không riêng
về thơ; chữ “pháp” chủ phương pháp, phép tắc làm văn, làm thơ Vậy “thi pháp” nghĩa là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp xây dựng tổ chức hình tượng, tổ chức tác phẩm, sử dụng ngôn từ để tạo thành tác phẩm nghệ thuật
Theo nghĩa hẹp, thi pháp là sự tổng hợp các thành tố (hoặc các cấp độ) của hình thức nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ: cốt truyện, kết cấu, các hiện tượng ngôn ngữ nghệ thuật, nhịp, vần
Theo nghĩa rộng, thi pháp không chỉ có những thành tố trên mà còn bao gồm
cả những vấn đề về loại hình, thể tài, những nguyên tắc và phương pháp phản ánh thực tại và các phạm trù: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới và con người
Trang 32 Thi pháp văn học dân gian là một hệ thống thẩm mỹ độc lập
Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được tập thể sáng tạo, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng Văn học dân gian ra đời và tồn tại gắn liền với lịch sử loài người và được nhân dân sáng tác, lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng
Về vấn đề thi pháp văn học dân gian, theo Chu Xuân Diên thì: “Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người” Theo Đỗ Bình Trị thì : “Để hiểu một thể loại văn học dân gian, trước hết cần có được một định nghĩa chính xác về nó, tức là cần nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của nó” Theo ông, để phân biệt các sáng tác văn học dân gian cần xuất phát từ những tiêu chí sau: Hệ đề tài; Thi pháp; Chức năng; Phương thức diễn xướng (nói – kể - ca – diễn)
Văn học dân gian có hệ thống thể loại hoàn chỉnh, giữa các yếu tố dấu hiệu
có mối quan hệ qua lại với nhau, tạo nên một mặt là sự khác biệt giữa thể loại này với thể loại khác và mặt khác là mối liên hệ giữa các thể loại Thi pháp thể loại là tổng thể các yếu tố thuộc hình thức và thủ pháp nghệ thuật mà các tác phẩm cùng một thể loại đều thống nhất sử dụng Những yếu tố này gồm: thể văn (thơ ca, văn xuôi, câu nói vần vè); kết cấu (kết cấu gắn với nghệ thuật truyền miệng); thủ pháp nghệ thuật Mỗi thể loại văn học dân gian là cách nói riêng vì nó nhằm biểu đạt nội dung riêng - thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy
Thần thoại: được xác định là một thể loại với 2 nhóm đề tài: thần thoại suy
nguyên và thần thoại sáng tạo văn hóa Hiện thực trong truyện thần thoại là hiện thực của các hiện tượng và hoạt động của tự nhiên Hiện thực trong thần thoại cũng là hiện thực kì ảo Cốt truyện thần thoại đơn giản, ngắn gọn Câu truyện xoay quanh một nhân vật thần, tập trung miêu tả, kể về hành động của nhân vật thần như Thần Trụ Trời, thần Biển, thần Mưa, thần Gió Một trong những yếu tố tạo nên màu sắc hoang đường trong thần thoại là nhân vật thần Đa số thần có nguồn gốc từ thiên nhiên như: thần Trụ Trời, thần Mặt Trăng, thần Mặt Trời, thần Mưa, thần Núi, thần Gió, thần Biển Không gian thần thoại là không gian vũ trụ, khó xác định cụ thể kích cỡ, nơi chốn, vị trí Thời gian trong thần thoại cũng không xác định Thời gian vĩnh hằng Các truyện không chỉ ra vào thời gian nào, chỉ biết thuở xưa, thuở mới khai thiên lập địa
Truyền thuyết: là những tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật
lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử), phần lớn theo xu hướng lí tưởng hóa, qua
đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng Hiện thực trong truyền thuyết là hiện thực xã hội loài người nhưng được nhìn bó hẹp trong phạm vi từ bộ
Trang 4tộc cho đến bộ lạc rồi tiến dần lên xã hội có nhà nước chuyên chế Nếu thần thoại, cốt truyện chỉ xoay quanh một nhân vật thì cốt truyện truyền thuyết lại xoay quanh nhiều nhân vật, thậm chí có truyện có hai hệ thống nhân vật đối lập nhau như truyện An Dương Vương: Một bên là An Dương Vương, Mỵ Châu, thần Kim Quy; một bên là Triệu Đà, Trọng Thủy, con tinh Gà Trắng Đặc trưng ngôn ngữ truyền thuyết bắt nguồn từ đặc điểm lời kể truyền thuyết: truyền thuyết dân gian; bản thần tích về tiểu sử về nhân vật anh hùng Trong quá trình lưu truyền qua nhiều thế hệ thì lại xuất hiện một loại văn bản mới do sự kết hợp pha trộn hai loại văn bản kẻ vừa nêu trên Thời gian truyền thuyết là thời gian lịch sử , thời gian thời đại, triều đại nó được xác định cụ thể hơn so với thời gian thần thoại Nhân vật trong truyền thuyết xác định được thời gian sinh thành và kết thúc Nhân vật truyền thuyết là bất tử, nhưng có lý lịch rõ ràng, trải qua các bước đường của cuộc đời như Thánh Gióng, bước đường sự nghiệp như An Dương Vương, Lê Lợi, Hai
bà Trưng, Bà Triệu…Nhân vật thần thoại không có tuổi thì nhân vật truyền thuyết
có tuổi mặc dù truyện không nêu rõ bao nhiêu năm, chỉ trừ Lạc Long Quân, Âu
Cơ, Sơn Tinh, Thủy Tinh là các nhân vật theo phong cách thần thoại nên không
có tuổi
Cổ tích: là tác phẩm tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ
tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật Cốt truyện cổ tích
là hệ thống những biến cố, hành động, những sự kiện,…tạo thành những bộ phận quan trọng của câu chuyện nhằm chuyển tải nội dung của câu chuyện Thời gian nghệ thuật truyện Cổ tích là lớp thời gian quá khứ có tính chất “cố sự” thể hiện rõ nhất là cụm từ mở đầu truyện: “Ngày xưa, …” hay “Ngày xửa, ngày xưa,… ” Quá khứ trong truyện cổ tích là quá khứ “phiếm chỉ” Nếu thời gian nghệ thuật truyện cổ tích là thời gian “Phiếm chỉ” thì không gian nghệ thuật truyện cổ tích là không gian định lượng, không xác định, mơ hồ và phiếm chỉ Điều này dề nhận thấy trong những yếu tố biểu thị không gian ở phần mở đầu truyện đó là: …”tại một làng nọ”,….”vùng đất kia”, …”nhà kia”, …Nhân vật trong truyện cổ tích rất
đa dạng, phong phú và sinh động Nó phản ánh hầu như toàn bộ mọi hạng người, mọi loại nghề nghiệp trong xã hội Nhân vật cổ tích còn là nhân vật của các quan
hệ gia đình, thân tộc, xã hội
Sử thi: Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn
ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng
để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại Hiện thực và tưởng tượng trong sử thi thần thoại tương ứng với tính chất của mối quan hệ giữa hiện thực và tưởng tượng trong thể loại thần thoại và truyền thuyết suy nguyên Hiện thực trong sử thi anh hùng là hiện thực lịch sử bộ lạc và các cuộc chiến tranh giành đất đai và người đẹp của các thủ lĩnh bộ lạc Cốt truyện đa dạng, phức tạp hơn cốt truyện thần thoại và truyền thuyết Nhân vật
Trang 5trung tâm của sử thi là nhân vật anh hùng: Anh hùng văn hóa và anh hùng chiến trận Ngôn ngữ sử thi thể hiện sinh động của ngôn ngữ kể chuyện Đó là loại ngôn ngữ kịch, ngôn ngữ diễn xướng của người nghệ sĩ kể khan bao gồm các yếu tố: lời nói bình thường, người Ê Đê gọi là Klay đưm; lời nói vần người Ê-Đê gọi là Klay duê, người Tày gọi là Phuối pác, người Mường gọi là Bọ mẹng ; lời hát theo các làn điệu dân ca của bộ tộc Phương thức trình diễn khan của người ÊĐê theo lối tổng hợp, ngôn ngữ có tính chất kể lể theo kiểu hát nói, hát kể Không gian sử thi có hai dạng: Không gian của sử thi thần thoại mang đặc điểm của không gian thần thoại và truyền thuyết suy nguyên; Không gian sử thi anh hùng
có cả không gian truyền thuyết anh hùng và không gian cổ tích thần kì Đó là không gian cộng đồng, không gian bao gồm tất cả mọi khía cạnh: không gian thiên nhiên, không gian xã hội Thời gian sử thi là thời gian kéo dài nhiều triều đại, nhiều biến cố Đó là thời gian lịch sử một dân tộc, bộ lạc, thời gian lịch sử của một dòng họ, một chế độ Trong suốt thời gian dài có những khoảng thời gian ngắn tương ứng với từng thời kỳ, từng cuộc đời, từng số phận con người
Truyện ngụ ngôn là truyện kể có thể kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, có tính
chất đối nhân xử thế, dùng cách ẩn dụ hoặc nhân hóa loài vật, con vật hay kể cả con người để thuyết minh cho một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thực tế xã hội hay những thói hư tật xấu của con người
Có một số truyện ngụ ngôn gây cười nhưng cũng ngụ ý bóng gió, kín đáo khuyên nhủ, răn dạy con người Trong quá trình sống gần gũi với tự nhiên và chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên, người cổ đại đã từng quan sát, tìm hiểu các con vật để dễ săn bắt và tự vệ Khi con người có ý thức mượn truyện loài vật để nói
về con người thì truyện ngụ ngôn xuất hiện
Truyện cười là thể loại truyện kể ngắn gọn vào bậc nhất trong văn học dân
gian Tuy nhiên, ngắn gọn mà vẫn bảo đảm đầy đủ một cốt truyện có mở đầu, diễn biến và kết thúc Truyện cũng có cao trào, thắt nút, đỉnh điểm, mở nút đúng theo quy trình một cốt truyện hiện đại sắc sảo.Truyện cười có khá ít nhân vật, thường
là hai (một chính, một phụ) nhưng đều là những nhân vật có “nét”, khó quên Khác với nhân vật cổ tích có cả một số phận, một cuộc đời, nhân vật truyện cười không
có “bề dày” như thế mà ngược lại đơn giản hơn nhiều Truyện được sáng tác ra là
để kể chứ không phải là để đọc Vì vậy ở thể loại này vai trò của người kể và giọng kể hết sức quan trọng và mang tính quyết định Ngôn ngữ truyện cười là loại ngôn ngữ đại chúng, trong sáng, dễ hiểu nhất trong số các loại tự sự dân gian Thời gian nghệ thuật: Mỗi một truyện cười như một màn kịch ngắn diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn
Tục ngữ: Câu tục ngữ mang tính ngắn gọn, xúc tích và bền vững bao giờ
cũng có tính khái quát cao Tục ngữ là loại câu rút gọn, gạt bỏ những từ đệm, những quan hệ từ, có khi còn tỉnh lược cả bộ phận ngữ pháp chính của câu: “Vụng
Trang 6chèo khéo chống”, “Còn nước còn tát”, …- Tính vần của tục ngữ: khá phong phú
và đa dạng Tục ngữ có thể sử dụng tất cả các vần mà thơ ca dân gian hiện có Nhưng đặc biệt là vần Bằng và vần Trắc: “Quan tha ma bắt”, “Ăn chắc mặc bền”,
“Miệng ông cai vai đầy tớ”, “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”,…Tính nhịp điệu của tục ngữ: Ngoài vần, nhịp điệu cũng là yếu tố quan trọng làm tăng tính bền vững và giá trị nhạc điệu cho Tục ngữ Nhịp có tác dụng làm cho dễ nói, nhất là những câu không có vần hoặc câu dài VD, “Tre già măng mọc”, “Người khôn của khó”, “Sống lâu lên lão làng”,… - Các biện pháp tu từ của tục ngữ: Ngoài một bộ phận Tục ngữ là những nhận xét, phán đoán, kinh nghiệm được xây dựng bằng cách miêu tả trực tiếp sự kiện, hiện tượng tự nhiên, xã hội Phần lớn Tục nữ có sử dụng những biện pháp tu từ quen thuộc như: So sánh, ẩn dụ, hoán
dụ, ngoa dụ, nhân hóa,…Có 2 loại kết cấu đó là: kết cấu đơn giản và kết cấu phức hợp
Ca dao: Ca dao là những lời thơ trữ tình dân gian; được sáng tác nhằm diễn
tả thế giới nội tâm của con người và kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng Ca dao diễn tả đời sống tinh thần, tư tưởng và tình cảm của người dân trong các mối quan
hệ như: tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, gia đình, đất nước Trong ca dao truyền thống, chủ thể trữ tình (tức tác giả – hiện thân trữ tình của quần chúng nhân dân) luôn luôn đồng nhất với nhân vật trữ tình (tức là nhân vật mà cảm nghĩ của
nó được diến tả trong bài ca) Ca dao dân ca, xét chung, thường rất ngắn, ca dao dân ca trữ tình lại càng ngắn Với một dung lượng ngắn như thế nhưng nếu đặt ra vấn đề kết cấu ở cách thức tổ chức thanh điệu, vần, nhịp…, tổ chức nội dung, cấu tạo ý, tứ, đoạn, mạch, dài, ngắn thì phạm vi vấn đề nghiên cứu kết cấu ca dao sẽ rất rộng Ca dao có một số kết cấu tiêu biểu: kết cấu đối đáp, kết cấu kể Trong ca dao có một số mô tip quan thuộc: mẫu đề “Mười thương” (hoặc “mười yêu”) mẫu
đề “Ước muốn – hóa thân”, “Thân em như…”, “Trên trời có…”, “Còn duyên… hết duyên…” v.v… Ngôn ngữ ca dao vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang sắc thái địa phương; giản dị, mộc mạc, chân tình Các thể thơ trong ca dao, còn được gọi là những thể thơ dân tộc, bao gồm thể lục bát và lục bát biến thể, thể song thất lục bát và song thất lục bát biến thể, thể vãn (3, 4 hoặc 5 chữ) và cuối cùng là thể hỗn hợp (sử dụng kết hợp với các thể kể trên)
Câu đố: Câu đố là một thể loại độc đáo của văn học dân gian Ở đó vừa có
chất trí tuệ của ngụ ngôn, tục ngữ, vừa có chất trữ tình của ca dao dân ca, vừa có chất dí dỏm hài hước của truyện cười, vè…Ông Chu Xuân Diên (SGK 10 T1) cho rằng câu đố là những sáng tác dân gian ngắn gọn, miêu tả sự vật bằng lời nói chệch (nói một đằng hiểu một nẻo) Một cách định nghĩa khác thay cách “nói chệch” bằng “nửa kín nửa hở” là của ông Đỗ Bình Trị (SGK 10 T1 Ban KHXH) Theo ông, câu đố là những câu (nói) vần vè, mô tả sự vật, hiện tượng quen thuộc một cách nửa kín nửa hở thành cái gì khác lạ để… đánh đố người ta, đòi hỏi người
Trang 7ta đoán ra nó Hay tác giả Trần Hoàng (ĐHSP Huế) cho đó là một loại sáng tác nghệ thuật dân gian ngắn gọn phản ánh các sự vật hiện tượng khách quan bằng một lối nói đặc biệt, lối nói chệch, lối nói gần với ẩn dụ Cách “nói chệch” hay
“nửa kín nửa hở” đó, theo ông Lê Chí Quế (ĐHSP H), được hình thành từ sự quan sát những nét tương đồng giữa các sự vật, giữa vật đố với vật được miêu tả, và đó chính là phương thức khám phá van phản ảnh các sự vật hiện tượng khách quan
bằng những hình tượng nghệ thuật đặc biệt
Vè: Vè là một hình thức sáng tác dân gian bằng văn vần với những thể thơ,
luật thơ đa dạng Vè cũng diễn xướng theo một làn điệu nhất định qua con đường truyền miệng của các tác giả dân gian Vè có một số đặc trưng: tính thời sự, tính xác thực cụ thể, tính địa phương là những đặc điểm chung, hết sức nổi bật của thể loại này Ngôn ngữ vè giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ và quá trau chuốt, sử dụng nhiều tiếng địa phương quen thuộc, nôm na Thể thơ trong vè là nói đến sự phong phú với các thể văn vần khác nhau Có thể kể đến là 4 chữ (có xen 3 chữ), 5 chữ, lục bát, song thất lục bát, nói lối, hỗn hợp…Kết cấu của vè đi theo công thức kết cấu của một tác phẩm tự sự Tức là có mở đầu, diễn biến và kết thúc Đa phần nội dung trong một bài vè – đặc biệt là vè lịch sử và vè thế sự- thường là một câu chuyện kể có tình tiết, có nhân vật, có mâu thuẫn, xung đột
Ngoài ra, còn một số thể loại sân khấu dân gian: chèo, cải lương, tuồng, ca Huế,… mỗi thể loại đều có những đặc trưng thi pháp riêng và mang tính địa phương
Như vậy, thi pháp văn học dân gian là một hệ thống thẩm mỹ độc lập, đó là
hệ thống thi pháp thể loại tương đối hoàn chỉnh với những đặc trưng riêng và các thể loại văn học dân gian cũng là phương diện tiền đề cho sự phát triển thể loại của văn học viết
II Thi pháp văn học dân gian độc lập nhưng không đối lập với thi pháp văn học viết
Văn học việt Nam là sự tích hợp giữa hai dòng văn học dân gian và văn học viết Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chứng, phát sinh từ thời công xã nguyên thuỷ, phát triển qua các thời kì lịch sử cho tới ngày nay Tuy văn học dân gian ra đời trước vặn học viết nhưng hai bộ phận này lại tồn tại song song và phát triển trong nền văn học Việt Nam nói riêng
và văn học thế giới nói chung Trên mỗi thặng đường lịch sử, có lúc chứng hoà hợp ở xu hướng này nhưng đôi khi lại đối lập hoàn toàn ở xu hướng khác Nói chung giữa văn học dân gian và văn học viết có mối quan -hệ mật thiết với nhau Văn học dân gian là cơ sở vững chắc cho sự hình thành và phát triển của văn học viết
Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian; khi
Trang 8có chữ viết nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết
Văn học viết chịu ảnh hưởng của văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật Văn học viết cũng có tác động trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc
âm
Do vậy, hệ thống thi pháp văn học dân gian độc lập nhưng không đối lập với thi pháp văn học viết Nhận xét về ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn học thành văn Việt Nam, giáo trình Văn học dân gian nhận định: “ Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian” Đó là một nhận định xác đáng thể hiện rõ mối quan hệ máu thịt gắn bó giữa văn học dân gian và văn học thành văn trong suốt tiến trình phát triển của văn học dân tộc Văn học dân gian chính là nền tảng của văn học viết và có tác động lớn đến sự hình thành và phát triển của văn học viết, là nguồn cảm hứng dồi dào, tiếp thêm chất liệu và cảm hứng sáng tạo cho văn học viết Như vậy, trong quá trình phát triển, hai bộ phận văn học dân gian và văn học viết luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển Văn học dân gian là nền tảng cho văn học viết tiếp thu Trái lại, văn học viết có tác động trở lại làm văn học dân gian thêm phong phú, đa dạng
1 Về nội dung
Văn học dân gian ảnh hưởng đến văn học viết về nhiều phương diện, nổi bật nhất là phương diện nội dung
1.1 Đề tài
Đề tài của các tác phẩm dân gian hết sức đa dạng: chuyện con người, loài vật, cây cỏ, chim muông, các hiện tượng đời sống xã hội, là cơ sở để khái quát những chủ đề, tư tưởng, xây dựng tác phẩm Văn học dân gian là bức tranh sinh động về cuộc sống và con người Qua đó các tác giả dân gian muốn gửi gắm những tình cảm, tư tưởng và ước mơ của mình trước cuộc sống Nó được các tác giả trong nền văn học viết vận dụng một cách sâu sắc để nói về tình cảm của mình trước cuộc sống có bao nhiêu hiện tượng xã hội là có bấy nhiêu đề tài được các tác giả xây dựng nên các tác phẩm, các tác phẩm của văn học viết chứa đựng rất nhiều đề tài phong phú lấy từ văn học dân gian
Người phụ nữ là một đề tài khá phổ biến trong văn học dân gian, ta biết đến
số phận bất hạnh và số kiếp lênh đênh chìm nổi của họ qua chùm ca dao than thân:
Thận em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Trang 9Thân em như hạt mưa rào Hạt bay xuống giếng, hạt vào vườn hoa
Bằng cảm nhận sâu sắc về thân phận của người phụ nữ, Nguyễn Du đã viết
nên kiệt tác “Truyện Kiều” có sức lay động tâm hồn con người Thuỷ Kiều một
cô gái tài sắc nhưng phải chịu số kiếp “hồng nhan bạc mệnh”, người đời và xã hội phong kiến quay lưng lại với những con người tài hoa này, cuộc đời Kiều không
có lối thoát trong nghịch cảnh phũ phàng thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần Học
hỏi kết thúc có hậu từ văn học dân gian, Nguyễn Du đã tạo ra kết thúc được độc giả mong đợi, mười lăm năm đoạn trường có bao sóng gió, thăng trầm, khó khăn, truân chuyên của Kiều thực sự thay đổi khi gặp thanh gươm công lí của Từ Hải
và cuối cùng sau cũng được đoàn tụ với gia đình
Vận dụng từ những bài ca dao than thân và thân phận chìm nổi bấp bênh của
người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã cho ra đời bài thơ “Bánh trôi nước” viết về
quy định làm chiếc bánh trôi nhưng đồng thời thấy được những bất hạnh của người phụ nữ và nổi bật hơn hết là tấm lòng son sắt thuỷ chung của họ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Từ truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn Dữ đã xây dựng hình tượng
Vũ Nương – một người con gái công dung ngôn hạnh, hết lòng với chồng và gia đình nhà chồng nhưng chỉ vì lời nói ngây thơ của con trẻ và cái bóng vô tình đã đẩy cơn ghen của Trương Sinh lên đỉnh điểm, chàng mắng nhiệt, lăng nhục Vũ Nương buộc nàng phải tìm đến cái chết để minh oan cho mình bằng cách trầm mình ở bến Hoàng Giang Và rồi, Trương Sinh cũng nhận ra sai lầm của mình nhưng đã quá muộn khi hạnh phúc đã tuột khỏi tầm tay Tác phẩm đã thể hiện đầy
đủ cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến khi mà người phụ nữ không có quyền định đoạt cuộc sống của mình mà phải phụ thuộc vào chế độ nam quyền
Hình ảnh con cò là mệt hình ảnh khá quen thuộc trong văn học dân gian Việt Nam, nó tượng trưng cho hình ảnh người nông dân và người phụ nữ
“Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Ai làm cho bể kia đầy Cho ao kia cạn cho gầy cò con?
“Cung oán ngâm” một tác phẩm đặc sắc viết về hình tượng người cung nữ
trong xã hội phong kiến Sống ở nơi lầu son, gác tía nhưng người cung nữ không được hưởng hạnh phúc, chỉ biết chờ đợi trong mỏi mòn, trong cô đơn tuyệt vọng
Trang 10Khúc ngâm lên án sâu sắc cái xã hội phong kiến và chế độ cung nữ đã trói buộc người phụ nữ vào vòng xoáy éo le, muốn thoát ra chẳng được mà tiếp tục chờ đợi cô đơn cũng không xong
1.2 Nguồn cảm hứng
Cảm hứng trong các tác phẩm dân gian thể hiện ở niềm say mê gắn liền với cảm xúc mãnh liệt của tác giả dân gian Trong những tác phẩm văn học viết có những cảm xúc chủ quan và khách quan của người viết, nhưng nó vẫn có nguồn cảm hứng chủ đạo khai thác từ văn học dân gian Hai nguồn cảm hứng lớn trong văn học dân gian được các tác giả văn học viết khai thác và vận dụng là chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu nước
* Tình yêu thiên nhiên
Tình yêu thiên nhiên là một mảng đề tài lớn, những bức tranh sơn thuỷ hữu tình chiếm số lượng khá lớn trong văn học dân gian Khi xây dựng nên hình ảnh thiên nhiên, các tác giả không chỉ miêu tả về hình sắc mà còn miêu tả linh hồn của
nó Thiên nhiên trở thành tư tưởng đạo đức, tình cảm và triết lí Thể hiện vẻ đẹp của quê hương đất nước Tình yêu thiên nhiên là một đề tài được rất nhiều tác giả của nền văn học viết tìm hiểu và viết nên những tác phẩm có giá trị to lớn
Nguyễn Trãi đã khai thác nguồn cảm hứng chủ đạo trong văn học dân gian,
từ tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước được diễn tả qua ca dao dân ca ngợi
ca vẻ đẹp của quê hương:
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biết như tranh hoạ đồ
Hay:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”
Từ đó mà ông đã viết nên “Bài ca Côn Sơn” để ngợi ca vẻ đẹp của quê hương
mình nơi vùng núi Chí Linh – Hải Dương có suối chảy qua các hòn đá như tiếng đàn cầm bên tai trên đá rêu bám nhiều như là chiếu êm, có thông và cả bóng trúc râm Thật là phong cảnh sơn thuỷ hữu tình
* Tư tưởng nhân ái tình yêu thương con người, tấm lòng nhân đạo, tinh thần lạc quan
Tư tưởng nhân ái tình yêu thương con người; tấm lòng nhân đạo, tinh thần lạc quan của con người được các tác giả dân gian thể hiện sâu sắc qua tác phẩm của mình Tình yêu quê hương đất nước, tình cảm con người được vận dụng một cách sâu sắc khi sáng tác những tác phẩm của các nhà thơ nhà văn trong nền văn học viết
Tình cảm yêu thương giữa con người với con người được thể hiện khá rõ nét trong kho tàng văn học dân gian:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương