2.3. Đặc trưng thi pháp cổ tích
2.3.1.1. Tiểu loại cốt truyện cổ tích kì ảo
Thần kì là một khái niệm có nhiều cách gọi khác nhau: huyền thoại, kì ảo hay huyền ảo, thần kì, hoang đường. Hầu hết các nhà nghiên cứu Folklore Việt Nam đã thống nhất về cơ bản loại cổ tích thần kì nằm trong hệ thống các loại cổ tích và có một số công trình nghiên cứu về thi pháp cổ tích thần kì nhưng chúng tôi thấy vẫn chưa thoả đáng. Theo chúng tôi cổ tích thần kì đích thực phải chịu sự tác động của nhân vật thần kì (Bụt, tiên, thiên thần ...) và các yếu tố thần kì như cung thần, đàn thần, niêu cơm thần... Nhân vật chính chịu sự chi phối của nhân vật thần kì mà thiếu nó thì cốt truyện không tiến triển được. Chẳng hạn, truyện Tấm Cám, nếu không có nhân vật Bụt giúp đỡ làm sao Tấm có thể vượt qua được những khó khăn, không có sự biến hóa kì diệu thì làm sao tránh được sự truy sát của mẹ con Cám để rồi lại đoàn tụ với Hoàng tử. Nhân vật chính trong cổ tích thần kì thường theo hướng lí tưởng hoá và khái quát hoá theo đối tuyến (nhân vật tuyến thiện hoàn toàn tốt và nhân vật tuyến ác hoàn toàn xấu, không có lẫn tuyến). Nếu không có những đặc điểm trên thì nó chỉ là loại cổ tích nằm trong địa hạt chung của văn học kì ảo (huyễn ảo, hoang đường).
Hiện nay, việc nghiên cứu loại truyện cổ tích thần kì chưa được phân giới một cách rõ rệt, hay nói cách khác, tất cả các truyện cổ tích có yếu tố kì ảo đều được gọi là cổ tích thần kì. Để phân giới loại truyện cổ tích có yếu tố kỳ ảo (hoang đường, thần kì) cần có những tiêu chí cụ thể, khoa học. Theo chúng tôi căn cứ vào các tiêu chí sau đây: 1. Tác động của yếu tố thần kỳ đối với nhân vật chính, 2. Có hay không có nhân vật thần kỳ, 3. Loại nhân vật chính được xây dựng, 4. Đặc điểm cốt truyện, 5. Vai trò của yếu tố kỳ ảo đối với chủ đề truyện. Chúng tôi đưa ra nhiều tiêu chí
92 Lê Đức Luận (2016), Đặc điểm nghệ nhân và làng nghề trong truyền thuyết, Tạp chí Thế giới Di sản, số tháng 11, tr.104-105.
93 Lê Đức Luận (2018), Văn học nhà trường theo định hướng dạy học tích hợp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
để có nhiều điểm nhìn soi chiếu. Căn cứ vào tiêu chí trên, chúng tôi thấy có 3 tiểu loại truyện có yếu tố kỳ ảo:
a. Đặc trưng cốt truyện cổ tích hóa thân
Đây là nhóm truyện thể hiện những vấn đề nhân sinh, thường có tên truyện bắt đầu với cụm từ “sự tích”. Một số truyện tiêu biểu cho nhóm này: Sự tích hòn Vọng Phu, Sự tích trầu cau, Sự tích con sam, Sự tích con muỗi, Sự tích ông táo, Sự tích cây vú sữa, Sự tích chim đa đa, Sự tích chim hít cô, Sự tích củ mài, Sự tích chim chèo bẻo…Nhóm này nói về những chuyện đời thường, con người đời thường với những sai lầm rất đời, những nỗi éo le, có cả tốt lẫn xấu. Nhân vật có những sai lầm đời thường nhưng họ rất giàu tình thương và trách nhiệm với đời như các truyện Sự tích trầu cau, Sự tích ông táo, Sự tích hòn Vọng Phu, Sự tích chim chèo bẻo…Nhân vật có tính cách xấu như các truyện Sự tích con muỗi, Sự tích bình vôi… Nhân vật tốt nhưng do hoàn cảnh, do rủi ro mà phải chịu bất hạnh như truyện Sự tích con sam, Sự tích cây vú sữa, Sự tích củ mài…Nhân vật loại này không có biện pháp lí tưởng hoá nên không có nhân vật đối tuyến như truyện Cổ tích thần kì, kết thúc bi thương nhưng được thi vị hoá bằng cách hoá kiếp. Sự hoá kiếp này như là chứng tích, nghĩa là dấu tích minh chứng để nhân dân ghi nhớ. Những chứng tích ấy có thể để lại tiếng tốt về tình nghĩa vợ chồng, anh em, cha mẹ, con cái trong các truyện như Sự tích trầu cau, Sự tích cây vú sữa, sự tích con sam…; để lại tiếng xấu như truyện Sự tích con muỗi, Sự tích bình vôi, Sự tích chim đa đa… Rõ ràng thi pháp xây dựng nhân vật, cốt truyện và chủ đề của nhóm truyện này khác xa với nhóm truyện cổ tích thần kì. Loại truyện này có đề cập đến nhân vật mồ côi là loại nhân vật điển hình của cổ tích thần kì như truyện Sự tích trầu cau nhưng không phải với mục đích lí tưởng hoá nhân vật. Ba nhân vật trong truyện không có ai xấu, không có đối tuyến và kết thúc không có hậu. Nếu cho đây là có hậu thì là có hậu theo kiểu khác, nghĩa là họ chết nhưng vẫn như sống, luôn ở bên nhau chứ không sống để hưởng thụ cuộc đời trần thế như cổ tích thần kì. Nhân vật cô vợ trong Sự tích con muỗi cũng không phải là nhân vật đối tuyến với người chồng bởi cô không đối kháng với chồng mà chỉ là loại người vong ân bội nghĩa để trở thành con vật xấu xa.
Phải nói rằng tên truyện mở đầu bằng “sự tích” không phải chỉ có ở thể loại cổ tích mà truyền thuyết cũng có. Loại truyền thuyết về địa danh, về một vùng đất, về phong tục đều có tên truyện mở đầu kiểu như thế. Nhưng điểm khác về thi pháp là nếu cổ tích sự tích nhằm lí giải một sự tích gắn liền với lí giải mối quan hệ nhân sinh còn truyền thuyết về sự tích lại chủ yếu nhằm lí giải một sự kiện hay nhân vật lịch sử gắn liền với sự tích như Sự tích Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm).
Truyện Sự tích bánh chưng bánh dày lâu nay đang tranh cãi giữa truyền thuyết và cổ tích. Vậy nó là cổ tích thì thuộc tiểu loại nào? Cổ tích hóa thân? Không phải vì nhân vật chính không hoá thân.
Cổ tích thần kì? Không thoả đáng bởi nhân vật chính là Lang Liêu là nhân vật có tên tuổi, lí lịch rõ ràng, mặc dù mẹ bị thất sủng, bị vua cha đuổi về quê sống và quãng đời của Lang Liêu gắn với làng quê nhưng không phải là kiểu nhân vật mồ côi hoặc bất hạnh đích thực. Lang Liêu vẫn được coi là Hoàng tử, được tham gia thi tài và được chọn kế vị. Ở đây không có nhân vật đối tuyến.
Lang Liêu không bị các nhân vật khác bức hại như cổ tích thần kì. Cổ tích hoang đường lại càng không đúng. Vậy truyện này là truyền thuyết về phong tục. Có một số truyện cũng bắt đầu cái tên
“sự tích” như Sự tích con khỉ thì cũng không thuộc loại cổ tích hóa thân mà thuộc loại cổ tích thần kì vì có sự đối tuyến giữa cô gái đi ở với nhà trưởng giả, cô gái được đổi đời còn nhà trưởng giả biến thành khỉ. Tuy nhiên, hiện nay một số nhà nghiên cứu cổ tích lại xếp hai nhóm truyện là cổ tích thần kì và cổ tích hóa thân vào một loại, cùng chung thi pháp và gọi với cái tên Thi pháp cổ tích thần kì.
Đây là loại truyện lí giải nguồn gốc, đặc điểm của các con vật, các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Điểm chung của loại cốt truyện này nhằm dẫn dắt người nghe nhận thức về nguồn gốc và đặc
điểm của sự vật. Kết thúc loại truyện này có dạng câu kết luận: “Từ đó dân ta có tục...” hoặc “Từ đó nhìn xuống hoặc trông lên người ta thường thấy...”. Cốt truyện xây dựng theo kiểu biến hình như truyện “Sự tích trầu cau”, “Sự tích ông bình vôi”...Cùng giống nhau ở cách lí giải sự vật nhưng loại truyện sự tích lại có cách lí giải khác loại truyện động vật. Bên trong cách lí giải sự vật, tác giả dân gian lại lí giải các mối quan hệ nhân sinh. Nhân dân không muốn những người tốt phải chết một cách oan uổng nên đã để cho họ hóa thân vào thiên nhiên, sự vật như các truyện: “Sự tích trầu cau”, “Sự tích ông bình vôi”, “Sự tích con sam”... Còn những kẻ sống phụ bạc như người vợ trong “Sự tích con muỗi” thì biến thành con muỗi. Đấy cũng là một kiểu “kết thúc có hậu” của loại truyện này.
Mô hình của cốt truyện loại này thường mở đầu có sự thuận lợi, hạnh phúc nhưng nhân vật bất ngờ gặp phải tai ương đói kém, thiên tai, sự bất trắc, sai lầm, nhầm lẫn nên dẫn đến cái chết của nhân vật rồi hóa thân thành cây con, đánh dấu một sự kiện làm cho con người phải nhớ, nhận biết mà suy ngẫm.
a1. Loại cốt truyện xây dựng trên mối quan hệ bộ ba: Cốt truyện loại này thể hiện vai trò và thân phận của nhân vật thứ ba. Môtip cốt truyện đầu tiên là xây dựng trên mối quan hệ giữa một người đàn bà với hai người đàn ông. Trong truyện Trầu, cau và vôi là mối quan hệ giữa một người con gái họ Lưu với hai anh em Tân Lang. Sự hoá thân của họ trở thành biểu tượng cho tình cảm nồng thắm của anh em, vợ chồng. Một dị bản Trầu, cau và vôi ở Nghệ An được xây dựng từ mối quan hệ giữa người vợ với hai người chồng, người chồng trước tên là Ngược, người chồng sau là Nước. Kiểu chết của ba nhân vật này giống với truyện Ông đầu rau do người Sơn Tây kể.
Truyện cũng xây dựng trên mối quan hệ giữa một người đàn bà với hai người chồng. Một dị bản của người Sơn Tây kể về Thần bếp thì ngoài 3 người chết cháy còn có thêm một người đầy tớ cũng chết theo. Diêm Vương cho 3 người hoá thành 3 ông đầu rau, con đứa đầy tớ tên là Lốc cũng được hoá thành cái dùng để chặn đống nhấm. Còn theo bản của Nguyễn Đổng Chi thì ba người có ba cái chết khác nhau: người chồng cũ treo cổ chết, người vợ trầm mình chết, người chồng mới uống thuốc độc chết. Truyện Sự tích ông đầu rau nói về người vợ với người chồng cũ và người chồng mới. Các truyện trên đều nói về sự xuất hiện của người chồng cũ đã làm cho người vợ khó xử và vì người vợ cũng yêu hai người chồng như nhau. Giải pháp bắt buộc phải lựa chọn một trong hai người đã không thực hiện được và chọn cả hai càng khó nên cả ba cùng chết để họ được sống bên nhau. Ba cái chết này lại trở thành biểu tượng cho sự nhân hậu, bao dung của tình chồng nghĩa vợ.
Truyện Sự tích con muỗi xây dựng trên mối quan hệ giữa người đàn bà với hai người đàn ông, một người là chồng, người thứ hai là tình nhân, bà vợ bội bạc với chồng nên chết đi biến thành con muỗi. Truyện Sự tích chim quốc lại xây dựng trên mối quan hệ giữa người vợ với người chồng và người bạn thân của chồng. Hòn Trống Mái xây dựng trên mối quan hệ giữa người cha với cô con gái và người yêu của cô. Hòn Chồng hòn Vợ: xây dựng trên mối quan hệ giữa vua cha với công chúa và người lính làm vườn.
Môtíp cốt truyện thứ hai được xây dựng trên mối quan hệ giữa người mẹ ghẻ hay bố ghẻ đối với con ghẻ hoặc con nuôi. Truyện Sự tích chim đa đa xây dựng trên mối quan hệ giữa bố ghẻ với con riêng của vợ. Bố ghẻ tìm cách hại con riêng của vợ chết hoá thành chim đa đa. Dị bản truyện Sự tích chim đa đa lại xây dựng trên mối quan hệ giữa người người đàn bà với con chồng và chồng. Dị bản Sự tích chim quốc thể hiện trên mối quan hệ giữa người mẹ với con chung và con chồng. Dị bản truyện Năm- trâu - sáu cột và chim Bắt cô trói cột của đồng bào thiểu số vùng Hà Giang thể hiện mối quan hệ giữa người mẹ với hai đứa con nuôi. Dị bản Sự tích chim Năm- trâu - sáu cột và chim Bắt cô trói cột của đồng bào Việt Bắc thể hiện mối quan hệ giữa bố đẻ với con gái và người yêu của con.
a2. Loại cốt truyện xây dựng trên mối quan hệ tay đôi: Truyện nói về mối quan hệ thân thuộc trong nội tộc, gia đình: Sự tích chim hít cô. Dị bản vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình thì chim o ho, thường kêu những tiếng “O ho! O ho!”. Truyện nói về mối quan hệ vợ chồng: Sự tích con sam; Sự tích con dã tràng; Sự tích núi Vọng phu;Sự tích đá Bà rầu. Truyện nói về các mối quan hệ xã hội.
Dị bản Sự tích chim quốc xây dựng trên mối quan hệ giữa hai người bạn. Truyện Năm- trâu - sáu cột và chim Bắt cô trói cột thể hiện mối quan hệ với cô chủ tá điền với bác lực điền. Biến thể của mối quan hệ tay đôi là truyện so sánh giữa người tu hành với người không tu hành: Sự tích cá he;
Sự tích ông bình vôi.
a3. Loại cốt truyện chỉ có một nhân vật chính: Nhân vật là nhà sư, người tu hành: Sự tích con nhái. Truyện này nhưng người miền Bắc có tên là Sự tích con ếch Sự tích chim tu hú.
Nhân vật là người dân: Sự tích con kiến.
b. Đặc trưng cốt truyện cổ tích thần kì
Tiểu loại này là nhóm truyện thể hiện lí tưởng xã hội của nhân dân “Ở hiền gặp lành”. Một số truyện tiêu biểu cho nhóm này: Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt… Đây là nhóm truyện mà nhân vật chính là những con người bình dân, bất hạnh: mồ côi, xấu xí, nghèo.
Nhân vật chính được ưu ái. Cốt truyện xây dựng nhằm mục đích lý tưởng hoá, nhân vật chính tốt đẹp, hoàn thiện và cuối cùng được đổi đời, sống sung sướng, kết thúc có hậu. Nhân vật thần kì có tác động làm thay đổi số phận nhân vật, dẫn đến kết thúc tốt đẹp, thực hiện được ước mơ của nhân vật chính. Truyện Cây khế không phải là truyện cổ tích thần kì đích thực bởi cổ tích thần kì đích thực thì số phận nhân vật phải được giải quyết bởi nhân vật thần kì. Chim đại bàng trong Cây khế không thiên vị ai, cả anh và em đều được đối xử như nhau. Người anh chết do tham lam, không nghe theo lời chim dặn, mang vàng bạc quá nặng, cánh chim chao đảo nên người anh bị rơi xuống biển. Cùng kiểu truyện Cây khế nhưng truyện Chim Phùng náo của người Nùng mới là cổ tích thần kì đích thực vì ở truyện này có sự can thiệp của yếu tố thần kì là thần Mặt trời, người anh tham lam bị thần thiêu cháy. Truyện Cây khế là một kiểu trung gian giữa cổ tích thần kì và cổ tích hiện thực, chim đại bàng chỉ như là biện pháp nghệ thuật để phân định tính cách nhân vật tham lam và thật thà. Kết cấu truyện cổ tích thần kì thường diễn ra ba phần. Theo Đỗ Bình Trị thì sơ đồ phổ biến của cổ tích thần kì như sau: Phần đầu giới thiệu sự xuất thân của nhân vật chính. Môtip xuất thân thấp hèn trong loại nhân vật bất hạnh như trong truyện Cây khế, Tấm Cám, Lấy vợ Cóc, Cây tre trăm đốt… Môtip sự ra đời thần kì trong loại nhân vật kì tài như Thạch Sanh, Năm anh em, Sọ Dừa. Phần giữa là cuộc phiêu lưu của nhân vật trong thế giới cổ tích: gồm có những môtip sự ra đi của nhân vật chính, mô típ nhân vật chính gặp thử thách, môtip chiến thắng thử thách và lực lượng thù địch bằng trợ thủ thần kì, bằng phẩm chất tốt đẹp của người em trong Cây khế. Phần kết là sự đổi đời bao gồm mô tip thưởng cho nhân vật chính lương thiện và phạt đối với nhân vật ác.94
Những yếu tố quan trọng tạo nên cốt truyện dân gian là: nhân vật, sự kiện, và tình huống.
Mỗi loại nhân vật chi phối cấu trúc cốt truyện tương ứng. Nhân vật trong truyện kể dân gian là nhân vật kiểu loại chứ không phải nhân vật cá nhân. Vì vậy, nhân vật trong từng truyện của mỗi kiểu loại chỉ đóng vai trò như một tình tiết. Như vậy, sẽ hình thành nên từng kiểu cốt truyện. Kiểu cốt truyện và kiểu nhân vật tương ứng với nó có tính phổ quát. Mỗi sự kiện có những tình tiết bao quanh. Sự kiện cũng mang dấu hiệu phổ quát nhưng tình tiết lại mang dấu hiệu đặc trưng văn hoá dân tộc. Có thể nói rằng: cốt truyện, nhân vật, sự kiện có tính Quốc tế nhưng tình tiết lại có tính dân tộc. Chẳng hạn, nhân vật mồ côi trong mối quan hệ với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ có chung một cốt truyện và sự kiện cơ bản giống nhau, nhưng tình tiết thể hiện trong mỗi sự kiện lại
94 Đỗ Bình Trị, Trần Đình Sử: Văn học, Tập II, tr.154.