2.6. Đặc trưng thi pháp giai thoại
2.6.2. Thi pháp nhân vật
Nhân vật giai thoại cười là những nhân vật thông minh, trí xảo. Mọi hoạt động của nhân vật đều dựa vào năng lực tự thân, bằng mưu mẹo. Khác với truyện cười là nhân vật bị động, bị cười thì nhân vật giai thoại là nhân vật chủ động, nhân vật đánh động để cho đối tượng phô ra bản chất đáng cười. Hành động cơ bản của nhân vật là lừa đối thủ đến chỗ sơ hở để bắt bí, chơi khăm, lý sự... Tác giả Lê Trường Phát trong cuốn Thi pháp văn học dân gian, xếp các truyện Trạng như Trạng Quỳnh, Trạng lợn và các truyện đề cao nhân vật trí xảo như Xiển Bột, Ông ó…là nhân vật truyện cổ tích sinh hoạt có kết cấu xâu chuỗi còn Hoàng Tiến Tựu trong Giáo trình văn học dân gian xếp vào nhân vật truyện cười kết chuỗi.
Nhân vật thường là tự hành động hay chủ mưu hành động trong các trò quậy phá. Nhân vật đặt đối tượng vào tình thế khó xử, bắt tội thì không xong, không bắt tội thì tức tối. Nhân vật thường đứng ở thế chông chênh giữa thắng và bại, giữa tội và không có tội khi đối mặt với vua quan phong kiến. Rồi nhờ thông minh, tài ứng xử, lí sự mà nhân vật đều vượt qua cơn hiểm nghèo, thắng lợi giòn dã, đối tượng thì bị một phen mất mặt, thất bại chua cay. Trong giai thoại chỉ có một nhân vật chính, nhân vật trung tâm. Tất cả mọi câu chuyện kể đều tập trung xây dựng nhân vật trung tâm.
Nhân vật được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật, có lý lịch như tên tuổi, quê quán, học hành, đỗ đạt, vợ con rồi dưới sự tô vẽ, sáng tạo của nhân dân trở thành một nhân vật điển hình cho lý tưởng xã hội của nhân dân lao động. Bên cạnh đó, nhân vật giai thoại là nhân vật đời thường nên cũng có những chỗ thiếu sót, chưa hoàn hảo. Sự thiếu sót, chưa hoàn hảo biểu hiện nhân vật thỉnh thoảng có những hành động chọc phá quá đà, ăn miếng trả miếng không đáng trong một số nhân vật như Thủ Thiệm chơi khăm người đàn bà góa chồng, quấy rối, phá bĩnh cả một gánh tuồng chỉ vì ông ta không thích gánh hát này mà thôi.
2.6.2.1. Các dạng nhân vật a. Nhân vật tài trí
Trạng Quỳnh là kiểu nhân vật thông minh, tuy có học hành nhưng không đỗ đạt cao, không ra làm quan. Quỳnh ứng xử nhanh trí, thông minh (Dê đực chửa); ứng xử tài trí khi tiếp vua quan Tàu (Đằng gốc, đằng ngọn, Thơ trống vần thiên, Thi vẽ rồng, Sứ Tàu mắc lỡm, Cô hàng nước, Anh lái đò, Đánh vỡ chai nước của sứ TàuTrạng chọi trâu, Chiếc vòng ngọc độc nhất vô nhị của Trung Quốc); giỏi thi phú, đối chữ nghĩa (Vần thơ gỡ bí, Dòm nhà quan Bảng, Đối đáp với Thị Điểm, Đất nứt con bọ hung, Dòm nhà quan Bảng, Đối đáp với Thị Điểm), chơi khăm vua Lê chúa Trịnh (Tiên sư thằng bảo thái, Giấu đầu hở đuôi, Đá bèo, Món đại phong dâng chúa, Chửi chúa, Ngọc người, Chúa ngủ ngày, Mừng chúa thắng trận, Lễ tế sao, Cây nhà lá vườn dâng chúa, Trạng chết chúa cũng băng hà); chửi quan, làm các quan bẽ mặt (Trên câm điếc dưới cũng câm điếc, Thừa giấy vẽ voi, Quan trường mắc lỡm, Vụ kiện chôn văn, Miệng kẻ sang, Khốn nạn thân gà
thiến, Lỡm quan thị, Quyển sách quý, Đánh bỏ mẹ các quan lớn, Chữa bệnh cho quận chúa, Đào trường thọ, Ăn bên trong ...và ăn bên ngoài), quan lại và trọc phú địa phương (Sướng đời ông nọ bà kia, Phơi sách phơi bụng, Mẹo trẩy kinh), chọc phá dân buôn bán (Ghẹo cô hàng nước chốn kinh kỳ, Voi nan); lỡm thánh thần (Phật say, Bà Đanh mất vía, Cúng Thành hoàng làng, Lại trả lễ thành hoàng, Cấy rẽ ruộng bà Chúa Liễu, Tiền múa chúa cười, Trả ơn bà Chúa Liễu, Tạ Chúa Liễu ba bò).
b. Nhân vật giỏi ở một vài lĩnh vực
Trạng Bờ Ao tên là Vũ Đức Huyên người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, giỏi về địa lý, thường coi huyệt mộ, hướng nhà hướng đình (Để cuộc đất phát nghề thợ cạo, Để cuộc đất phát nghề đan bồ, Để cuộc đất phát nghề đóng cối, Phát mả Trạng nguyên, Huyệt trâu ngủ).
c. Nhân vật ngu dốt như ma lanh, gặp thời
Trạng Lợn: Nhân vật học hành không đến nơi đến chốn nhưng nhớ giỏi, nhanh trí (Làm thơ, Giúp vua đánh cờ), có tài ứng đối (các truyện Cầm đầu sứ bộ sang tàu, Đi sứ); gặp may trong các tình huống khó khăn (các truyện Thâm tinh huyền lý, Dốt chữ thành thần, Bắt trộm, Trạng Bói, Quýt làm cam chịu, Cứu vua), kết bạn với những tay tài giỏi, nhờ họ giúp sức nên lập công được vua phong Trạng nguyên, làm quan (Chân trạng nguyên).
d. Nhân vật cương nghị, hào hiệp
Truyện Quản Bạt: Quản Bạt là nhân vật khỏe mạnh, giỏi võ nghệ lại thầy dạy võ cho nhiều người nên được nhiều người kính nể và ngay cả những tên cướp khét tiếng cũng kiêng dè gọi là đại ca. Quản Bạt, dù không ra tay cướp nhưng lại đồng tình với cách làm của bọn cướp là lấy của người giàu làm ăn bất chính, của quan lại tham ô chia cho người nghèo (Nhà lão đông chứ, Bảo vệ nhà tri phủ họ Đặng), ghét những tên trộm cướp chỉ vì lợi mà không phân biệt phải trái, sẵn sàng xả thân để trừng trị kẻ cướp càn (Trạng ăn), trừng phạt nhưng tên quan lại hống hách, muốn dân phải phục dịch (Gửi thêm quan mày mấy đá để nhớ đời), ra tay giúp đỡ những người nghèo khó, sa cơ (Đám tang người nghèo ba mươi Tết, Ăn vạ lý trưởng), chống lại sự cai trị hà khắc của thực dân Pháp (Tên tao là ông nội), khẳng khái trước quan lại (Nếu không trả, tôi kiện quan trước đấy), thà chết chứ không chịu nhục trước bọn Nhật (Cần giữ danh thơm).
e. Nhân vật cương trực, láu lỉnh
Xiển Bột là nhân vật thông minh, có học hành nhưng không đỗ đạt, cuộc sống tha phương nghèo khó, tính tình ngay thẳng, cương trực, ghét thói tham lam hám lợi (Ăn thịt thủ lợn), xin đểu nhưng có tài ứng đối những câu xóc hiểm mà đúng nên không những được tha tội và còn được thưởng tiền (Đối, Quan đấy, Xiển vào dinh tổng đốc xin tiền, Xiển xin tiền đi thi, Chửi tri huyện Thạch, Bài thơ hay), chửi khéo và chơi khăm các quan, từ quan tỉnh đến quan địa phương (Quan thanh tra, Góp gốc, Ngày xuân chúc Tết, Chia phần cho các cụ, Đổi bò gầy lấy bò béo, Làm ma mẹ, Vả mồm quan huyện, Chửi án Tiêu, Tri phủ Trần Đức Phương, Mừng thọ, Hút thuốc lá, Mượn nón dứa của quan, Câu đối tiễn quan, Chửi quan huyện Tiền, Chơi xỏ quan huyện Hoằng Hóa, Để của), ghét thói lẳng lơ trăng hoa (Lỡm bà Bang, Thơ giễu cụ Đạo).
Mân Nhụy có tài văn chương nhưng không đỗ đạt, sống cuộc đời phóng túng nghèo nàn, thấy sự việc bất nghĩa thì can thiệp (Chữa bệnh oan gia), ghét thói hợm hĩnh, khoe khoang, trọng của khinh người, keo kiệt (Ai thua cuộc, Chỉ có bọn đàn bà mới như thế, Thuốc gió).
g. Nhân vật nghịch ngộ, láu cá
Thủ Thiệm, Tên thật là Nguyễn Nhơn, quê xã An Hòa, nay là xã Tam Hòa, Núi Thành, Quảng Nam. Tên Thủ Thiệm vì ông có lần đi thi hương lấy tên là Thiệm và sau nàu giữ chức thủ sắc. Ông sinh vào khoảng cuối thập niên 40 của thế kỷ XIX và mất vào khoảng giữa thập niên đầu thế kỷ XX. Ông thuộc loại nhân vật thông minh, có tài lý sự, bắt bẻ nhưng cũng là nhân vật nghịch ngộ đôi khi chơi hơi quá đà. Chế giễu quan lại: Bầy gà có chấm phẩm, Chia bánh cho lý hương.
Chơi khăm quan lại: Biết ý quan, Quan huyện giả, Đợi một tí, Bớ cha, chạy bớ cha. Lí sự, trả đũa:
Thủ Thiệm đánh cá, Chơi biển Thủ Thiệm gặp đối thủ, Thái quá thì phải chấp, Giam đầu chớ không giam đít, Trừng trị quan lại và những người giàu có, đanh đá: Mua quần, Mua tôm, Trừng phạt lý trưởng, Quan huyện giả. Những trò nghịch ngộ: Gói mắm cái, Mo cơm, Đi gặt râu rồi mới hát được, Dóng chiêng mà không hát, Ai cúng; Chu cha, hung he; Hôn một lúc tám cô gái, Làm thơ tặng bạn học… Những truyện chơi khăm, thù vặt kiểu truyện như Cho thầy bói ngủ bàn thờ, Chuyển giùm cây sào cho đám hát là quá đà, gây phản cảm, có khi tạo ra một dạng truyện hài hước, pha trò thái quá.
h. Nhân vật kể chuyện vui, hài hước
Ông Ó: Khi hai vợ chồng đến ở xóm Dưa, thuộc làng Phước Hội, tổng Minh Đạt, nay là ấp An Thới, xã Định Thủy, Mõ Cày, Bến Tre thì họ đã xấp xỉ tuổi 50, không có con cái. Ông làm nghề bẫy chim ó biển đem ra chợ bán. Ông ít học nhưng sáng dạ, tính khí can trường, có tài ứng phó đối đáp nhanh nhạy. Ông chế giễu những thói hư tật xấu của con người, đặc biệt thường chĩa vào bọn trọc phú, có chức có quyền. Nói láo lừa quan: Bữa nay bể đập Kỳ Hà, Nói láo có sách, Ông Ó ở Huế, Nói gạt quan lớn. Chơi khăm quan và những người giàu có: Quan hưu trí mắc lừa, Lời dặn của thầy tôi, Tham thì thâm. Ba Phi: Tên thật là Nguyễn Long Phi, sinh năm 1890, mất năm 1968, định cư ở vùng Rạch Lùm, Kinh Ngang, Khánh Bình, huyện Sông Đốc, tỉnh Cà Mau.
Ông có tài kể chuyện trạng, chuyện phóng đại nhưng hài hước, dí dỏm, thú vị: Ôm cổ rắn, Cây mận biết đi, Gác kèo ông mật, Tôm U Minh,…Chuyện ông kể thể hiện một thiên nhiên Nam bộ giàu có, con người Nam bộ sống yêu đời, phóng khoáng.
i. Nhân vật quan tài trí công minh
Quan Thượng Nành, ca ngợi vị quan công tâm, phân xử thông minh bằng các mẹo để cho kẻ gian phơi bày tội lỗi của mình (Bê về với bò mẹ, Kẻ bắt trộm gà, Bàn tay đã chặt trộm chuối).
Trạng Lường Lương Thế Vinh: Giai thoại Sư sử sứ, phụ phù phu kể như sau: Tương truyền vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng Sơn Nam Hạ ghé thăm làng Cao Hương, quê hương của Trạng Lường tức Trạng nguyên Lương Thế Vinh lúc bấy cũng đang theo xa giá. Khi vua đến thăm chùa làng thì vừa gặp lúc sư cụ đang mải miết tụng kinh. Bỗng sư cụ sẩy tay làm văng chiếc dùi gõ mõ ra ngoài bục. Sư cụ vừa tiếp tục tụng kinh vừa lấy tay ra hiệu cho chú tiểu nhặt dùi. Nhưng một vị quan tùy tòng của vua Lê Thánh Tông đã nhanh tay nhặt chiếc dùi cho sư. Nhà vua thấy vậy liền nổi hứng nghĩ ra một vế đối: “Đường thượng tụng kinh, sư sử sứ” (Trên điện đọc kinh, sư khiến sứ) rồi trong bữa tiệc hôm đó thách các quan đối). Ý hài hước, nói nhà sư sai khiến được sứ thần của vua. Câu này oái ăm ở ba chữ điệp âm sư sử sứ. Các quan đều chịu, mãi vẫn chẳng ai nghĩ ra câu gì. Trạng Lường cứ để cho họ suy nghĩ chán chê. Ông cứ ung dung ngồi uống rượu chẳng nói năng gì. Vua Lê Thánh Tông bảo đích danh Lương Thế Vinh phải đối vì chắc mẩm là ông đã chịu bí. Nhưng ông chỉ cười trừ. Một lát sau, ông cho lính hầu chạy về nhà mời vợ ông đến. Bà Trạng đến, ông lấy cớ quá say, xin phép cho vợ dìu mình về nhà. Thấy Trạng Lường là một tay ứng đối mà hôm nay cũng đành đánh bài chuồn, nhà vua lấy làm đắc ý lắm, liền giục “Thế nào? Khanh đối được hay không thì nói rồi hẵng về chứ”. Trạng Lường gãi đầu giã tai rồi chắp tay ngập ngừng:
“Dạ, thần đối rồi đấy...chứ...ạ!”. Vua và các quan đều lấy làm lạ, bảo Trạng Lường thử đọc xem.
Còn Trạng Lường thì cứ ấp a ấp úng. Sau nhà vua gạn mãi, Trạng Lường mới chỉ vào người vợ đang dìu mình mà đọc rằng: “Đình tiền túy tửu, phụ phù phu” (Trước sân say rượu, vợ dìu chồng).
Câu đối lại cũng theo phép chơi chữ của vế ra, dùng ba chữ điệp âm phụ phù phu rất tài mà ý nghĩa cũng rất hóm hỉnh. Nhà vua không nhịn được cười, thưởng cho Trạng Lường rất hậu.
Ông nghè Từ Ô: Giai thoại Nhờ có râu mà thoát đòn kể như sau: Tiến sĩ Từ Ô về quê Thanh Miện, Hải Dương. Nghe nói tri huyện Thanh Miện hách dich lắm, ai qua cổng huyện cũng phải hạ mã, xuống ngựa, xuống cáng, không thì phải đánh đòn. Ông nghè Từ Ô bèn mượn một con bò cưỡi
qua, nghênh ngang không chịu xuống. Lính bắt ông vào trình quan huyện. Ông khai là thầy đồ già đi dạy học ở xa mới về, nên không biết lệ, vả lệ quan chỉ bắt xuống ngựa, chứ có bắt xuống bò đâu. Quan huyện nghe ăn nói trôi chảy bèn bảo lẽ ra phải đánh đòn nhưng nể cái bộ râu của ông nên tha, tuy vậy phải đối một câu để tạ ơn rồi hắn đọc một câu rằng: Huyện quan Thanh Miện kiến vô lễ nhi dục công (Quan huyện Thanh Miện thấy kẻ vô lễ nên muốn đánh). Ông nghè Từ Ô nghe tri huyện nói nể cái bộ râu liền ứng khẩu đối lại: Tiến sĩ Từ Ô hạnh hữu tu nhi đắc thoát (Tiến sĩ Từ Ô may nhờ có bộ râu mà thoát đòn). Quan nghe đối, biết đó là tướng công Trần Văn Trứ, đại thần trong triều, sợ toát mồ hôi, sụp lạy xin tha tội.
Ông Nghè Tân, giai thoại kể rằng có một ông quan đã nhiều tuổi mới đẻ một đứa con trai, mở tiệc ăn mừng. Nghè Tân được mời đến dự, ông chỉ cắm cổ chén tỳ tỳ, chẳng mừng chẳng nói gì hết. Lúc khách ra về, chủ nhà vào buồng thì thấy bài thơ Nôm dán ở cửa như sau: Mừng ông nay mới đẻ con trai/ Thực giống con nhà chả giống ai/ Mong cho chóng lớn mà ăn cướp. Chủ nhà đoán là thơ xỏ của Nghè Tân, sớm hôm sau cho mời ông đến. Cả quan ông quan bà đều xúm vào trách, Nghè Tân chỉ cười. Sau mới phân bua rằng vì chưa nghĩ được câu kết hay nên mới về nghĩ thêm cho thật hay rồi lấy bút mực điền nốt câu cuối như sau: Cướp lấy khôi nguyên kẻo nữa hoài.
Bài thơ hóa ra hay quá, lời chúc mừng như thế thì còn gì hơn nữa. Cả hai vợ chồng quan đều vui sướng hớn hơ, giữ Nghè Tân lại đánh chén một bữa phè phỡn rồi mới cho về.
2.6.2.2. Đặc điểm nhân vật giai thoại
Nhân vật Trạng hay nhân vật giai thoại cười là những nhân vật thông minh, trí xảo. Mọi hoạt động của nhân vật đều dựa vào năng lực tự thân, bằng mưu mẹo. Khác với truyện cười là nhân vật bị động, bị cười thì nhân vật giai thoại là nhân vật chủ động, nhân vật đánh động để cho đối tượng phô ra bản chất đáng cười. Hành động cơ bản của nhân vật là lừa đối thủ đến chỗ sơ hở để bắt bí, chơi khăm, lý sự... Tác giả Lê Trường Phát trong cuốn Thi pháp văn học dân gian, xếp các truyện Trạng như Trạng Quỳnh, Trạng lợn và các truyện đề cao nhân vật trí xảo như Xiển Bột, Ba Gia Tú Xuất, Ông ó…là nhân vật truyện cổ tích sinh hoạt có kết cấu xâu chuỗi còn Hoàng Tiến Tựu trong Giáo trình văn học dân gian xếp vào nhân vật truyện cười kết chuỗi.
Nhân vật thường là tự hành động hay chủ mưu hành động trong các trò quậy phá. Nhân vật đặt đối tượng vào tình thế khó xử, bắt tội thì không xong, không bắt tội thì tức tối. Nhân vật thường đứng ở thế chông chênh giữa thắng và bại, giữa tội và không có tội khi đối mặt với vua quan phong kiến. Rồi nhờ thông minh, tài ứng xử, lí sự mà nhân vật đều vượt qua cơn hiểm nghèo, thắng lợi giòn dã, đối tượng thì bị một phen mất mặt, thất bại chua cay. Trong giai thoại chỉ có một nhân vật chính, nhân vật trung tâm. Tất cả mọi câu chuyện kể đều tập trung xây dựng nhân vật trung tâm.
Nhân vật được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật, có lí lịch như tên tuổi, quê quán, học hành, đỗ đạt, vợ con rồi dưới sự tô vẽ, sáng tạo của nhân dân trở thành một nhân vật điển hình cho lí tưởng xã hội của nhân dân lao động. Bên cạnh đó, nhân vật giai thoại là nhân vật đời thường nên cũng có những chỗ thiếu sót, chưa hoàn hảo.
Nhân vật giai thoại thường mang đặc điểm trí xảo sau đây:
- Đấu trí: Nhân vật tài trí thể hiện rõ nhất là các nhân vật Trạng đi sứ. Trạng đi sứ và tiếp sứ phải đấu trí với vua quan các triều đại phong kiến Trung Hoa. Về gia thoại Trạng Quỳnh tiếp sứ là phương thức phản đòn: Truyện Dê đực chửa, Sứ Tàu mắc lỡm, Trạng chọi trâu. Nhanh trí, ứng xử thông minh: Cầm đầu sứ bộ sang tàu, Giúp vua đánh cờ, Thơ trống vần thiên, Thi vẽ rồng, Đánh vỡ chai nước của sứ Tàu, Anh lái đò. Giỏi chữ nghĩa thơ phú, ứng đối tài tình: Đất nứt con bọ hung, Cô hàng nước:
- Phân xử tài tình: Bê về với bò mẹ, Kẻ bắt trộm gà, Bàn tay đã chặt trộm chuối.
- Ma lanh, mẹo vặt: Làm thơ, Chân trạng nguyên, Quýt làm cam chịu, Cứu vua.