1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay

106 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự vận dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay
Tác giả Tô Thanh My
Trường học Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng ❖ Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng không chỉ phản ánh điều

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài:

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

VÀ SỰ VẬN DỤNG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP

CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC HIỆN NAY Chủ nhiệm đề tài: TÔ THANH MY

Trang 2

4 TP.HCM, TP Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh

Học sinh, sinh viên

Hợp tác doanh nghiệp

Trang 3

B DANH MỤC BIỂU BẢNG SỐ LIỆU

- Bảng 1: Thống kê tình hình số lượng học sinh, sinh viên của trường CĐCN Thủ Đức

giai đoạn 2015 – 2019

- Bảng 3: Thống kê tỉ lệ học sinh, sinh viên tham gia sinh hoạt công dân theo năm học

- Bảng 4: Bảng thống kê số lượng thanh niên học sinh, sinh viên đạt các danh hiệu thi

đua giai đoạn 2014 – 2018

- Bảng 5: Danh sách các chuyên đề tập huấn kỹ năng nghề nghiệp

C DANH MỤC CÁC HÌNH: Không có

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh – người sáng lập, giáo dục, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam – đã để lại cho Đảng và nhân dân ta những di sản tư tưởng vô cùng to lớn Trong đó, vấn đề về “đạo đức cách mạng” là một trong những nội dung cơ bản rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người

Gần 90 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng nói riêng vẫn luôn soi sáng con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân; cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển con người Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta” [6, 6] Vì vậy, “trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” [6, 21]

Tuy nhiên, kể từ khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mặc dù đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, song mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho xã hội

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Cùng với việc kích thích sản xuất phát triển, kinh tế thị trường cũng là một môi trường thuận lợi làm nảy sinh và phát triển nhiều loại tiêu cực xã hội Đã xuất hiện khuynh hướng làm giàu bất cứ giá nào, kể cả lừa đảo, gây tội ác, vi phạm pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên lương tâm và nhân phẩm Lối sống trụy lạc, chạy theo thị hiếu thấp hèn, văn hóa không lành mạnh và những hủ tục mê tín dị đoan đang phục hồi và phát triển Trong thế hệ trẻ,

có một bộ phận phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng Một bộ phận không ít

Trang 5

cán bộ, đảng viên, có chức, có quyền, trong đó có cả những người đã từng đóng góp đáng kể cho cách mạng cũng bị sa ngã và thoái hóa biến chất [5, 137-138] Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, tự chuyển hóa có diễn biến phức tạp” [6, 29]; tình trạng

“suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” [6, 179] Tiếp tục, Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII khẳng định: “Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ” [1, 98] Qua đó, cho thấy tính chất phức tạp tình hình đạo đức nói chung của con người Việt Nam trong những năm gần đây trước những biển đổi to lớn của xã hội, nhất là vấn đề kinh tế là điều khó thể tránh khỏi

Đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá Mỗi con người đã lựa chọn cho mình một nghề nào đó thì dù trong hoàn cảnh nào cũng nên hết lòng vì nghề và sống bằng nghề Nghề không chỉ là phương tiện để sống mà còn là điều kiện mà qua đó, mỗi người có thể cống hiến sức lực

và trí tuệ cho xã hội Do vậy, giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là để hình thành nhân cách nghề nghiệp của mỗi chủ thể; hướng con người vươn tới những giá trị chân, thiện,

mỹ trong hoạt động nghề nghiệp Bên cạnh đó, công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong thời gian qua tại các trường học vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót, hay chỉ tập trung đào tạo chuyên môn Lực lượng học sinh, sinh viên Việt Nam nói chung, lực lượng học sinh, sinh viên trường CĐCN Thủ Đức nói riêng là những lực lượng quan trọng và đang trong quá trình trưởng thành, cần thiết phải được bồi dưỡng, giáo dục trở thành những công dân tích cực cho xã hội

Đồng thời, trước thực trạng xã hội xuất hiện những hành vi trái đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận doanh nghiệp, cán bộ, công chức, y bác sĩ, thầy cô giáo, người nông dân, người thương nhân… Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và phát triển hiện nay đã có những

Trang 6

tiêu cực ảnh hưởng đến nhận thức về đạo đức nghề nghiệp, lối sống của một bộ phận không nhỏ lực lượng học sinh, sinh viên còn thờ ơ trong rèn luyện bản thân, suy nghĩ thực dụng cực đoan trong nghề nghiệp Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức cách mạng và vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường CĐCN Thủ Đức hiện nay

Trên tinh thần ấy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

cách mạng và sự vận dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài là nhằm làm rõ nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, từ đó đề ra được những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên Trường CĐCN Thủ Đức hiện nay

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu, tìm hiểu quan điểm

tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và rút ra giá trị tư tưởng đó để vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường CĐCN Thủ Đức hiện nay

Khách thể nghiên cứu: Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh,

sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức

4 Giải thuyết nghiên cứu

Các văn bản cũng như thực tiễn giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho thấy việc tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động giáo dục đào tạo người học của nhà trường Song thực tế kết quả hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên hiện nay còn nhiều hạn chế, do nhiều nhân tố khác chi phối, trong đó việc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong nhà trường là một yếu tố cơ bản

Trang 7

Nếu đề xuất và triển khai được những phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Công ngh ệ Thủ Đức theo hướng bám sát những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng bộ các bộ phận chức năng phù hợp với thực tiễn đào tạo của nhà trường hiện nay

sẽ nâng cao được kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ điều kiện tiền đề hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ

Chí Minh về đạo đức cách mạng

Thứ hai, phân tích làm rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho

học sinh, sinh viên trường CĐCN Thủ Đức hiện nay

Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức

nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường CĐCN Thủ Đức hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin

Ngoài ra đề tại còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như: phương pháp lịch sử

và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê số liệu, v.v… để nghiên cứu

và trình bày đề tài

7 Phạm vi ảnh hưởng

Đề tài góp phần chỉ rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên tại nhà trường Đồng thời đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp góp phần hình thành nhân cách, đạo đức cách mạng cho lực lượng học sinh, sinh viên trường CĐCN Thủ Đức

Trang 8

xã hội, làm cho Việt Nam từ một nước “phong kiến độc lập”, “có chủ quyền” trở thành một nước “thuộc địa nửa phong kiến”

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên chế điển hình Mọi

quyền hành đều nằm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn Chúng bóp nghẹt tự do dân chủ, khủng bố và nhấn chìm các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong những bể máu Vạch trần bản chất chính trị phản động của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp dã man… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của chúng ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” [18, 555] và “thanh niên nào nói đến nh ững chữ bình đẳng, tự do, cách mạng đều bị bọn thực dân và phong kiến coi là phạm tội và b ị chúng xử tội, nhẹ là bắt bớ, giam cầm; nặng là tù đày, bắn giết” [28, 389] Nói chung, “ở nước ta, đế quốc Pháp hoành hành dã man, đồng bào ta bị làm nô lệ, có Tổ quốc mà

Trang 9

không có quyền yêu nước Nhân dân ta, kể cả thanh niên, bơ vơ không có người lãnh đạo và hầu như không thấy lối ra” [25, 105]

Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền về xuất nhập khẩu về

khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện và muối Chúng ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân Việt Nam để lập các đồn điền; đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo Với mục đích là khai thác thuộc địa nên Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, mà vẫn duy trì phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Hồ Chí Minh tố cáo thực dân Pháp “đã bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu…Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn” [18, 556]

Về văn hóa, giáo dục, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” về mặt giáo

dục, “đầu độc” về mặt văn hóa Đồng thời, chúng cũng ra sức đẩy mạnh tuyên truyền ca ngợi chính sách “khai hóa” của “nhà nước bảo hộ”, du nhập văn hóa phẩm đồi trụy, khuyến khích tện nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút… Tố cáo tội ác của chế độ cai trị thực dân Pháp ở Đông Dương, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm…; Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dân tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” [16, 22-23]

Về xã hội, dưới sự tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa,

giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc Các giai cấp cũ bị phân hóa và hình thành những giai cấp và tầng lớp mới, đặc biệt là sự ra đời của hai giai cấp mới đó là giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dân tộc

Đến những năm đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt làm nảy sinh những mâu thuẫn hết sức sâu sắc và ngày càng trở nên quyết liệt Đó là mâu

Trang 10

thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt nam với thực dân đế quốc Pháp Tất cả những mâu thuẫn đó tạo tiền đề dẫn đến các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ngày càng mạnh mẽ Trước thực trạng biến đổi của xã hội Việt Nam thời bấy giờ, Hồ Chí Minh nhận định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm” [16, 28]và khi thời cơ đến, “toàn dân Việt Nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” [16, 557]

Việt Nam vốn là một nước nghèo, lạc hậu về kinh tế, nhưng có truyền thống yêu nước hết sức nồng nàn, có tinh thần đoàn kết dân tộc rất cao, luôn anh dũng, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nên nhân dân Việt Nam đã phát huy truyền thống vẻ vang của ông cha mà liên tiếp vùng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xêm lược nhằm bảo vệ nền độc lập nước nhà Hồ Chí Minh khẳng định: “Ông cha chúng

ta với ý chí quật cường và lòng nồng nàn yêu nước đã liên tiếp vùng dậy, luôn nêu cao ngọn cờ độc lập tự do” [24, 372] Phong trào chống thực dân Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương (1885 – 1896) do vua Hàm Nghi lãnh đạo mở đường cho các phong trào giải phóng dân tộc nổ ra Song, vì chưa có đường lối chính trị rõ ràng và chưa có được sự ủng

hộ của đông đảo nhân dân cả nước nên các phong trào cuối cùng cũng đều vì thất bại, nhân dân Việt Nam tiếp tục lâm vào tình cảnh bế tắc về con đường cứu nước

Cũng những năm đầu thế kỷ XX, các tư tưởng tư sản của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vị, Tôn Dật Tiên và tư tưởng của các nhà Khai sáng Pháp với những khẩu hiệu hết sức nhân văn được nhân dân ta tiếp nhận Đặc biệt, tư tưởng về “tự do – bình đẳng – bác ái” của các nhà tư sản Pháp đã tác động trực tiếp vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam Sự kìm kẹp của thực dân Pháp, cộng với sự biến đổi theo chiều hướng tích cực về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…của xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là tiền đề tất yếu để đi đến thiết lập một trật

tự xã hội mới, cái còn lại chỉ là việc gieo hạt giống tinh thần đến quần chúng, đến với nhân dân lao động nữa mà thôi Nhưng, “để gieo hạt giông đó đòi hỏi phải có phương pháp Phương pháp của Phan Châu Trinh là khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh

Trang 11

Phương pháp của Phan Văn Trường là dùng lý thuyết thấu nhân tâm Phương pháp của Phan Bội Châu là cầu cứu nghĩa cử đồng văn, đồng chủng, chạy đông, chạy tây, dĩ ngoại đột nội…” [34, 26] Có thể nói, phương pháp và cách thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của các phong trào đó rất phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức tiến hành Song, tất cả các phương pháp và cách thức tiến hành đó cũng chưa vượt ra phạm vụ của những cuộc cách mạng không đến nơi, đến chốn Phương pháp cách mạng của họ có nhược điểm chủ yếu là không nhận thức đúng đắn, đầy đủ về yêu cầu và nhiệm

vụ cấp bách của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Họ chưa được trang

bị phương pháp khoa học để nhận thức xã hội Việt Nam một cách toàn diện Cho nên, phong trào Đông du, phong trào Đông kinh nghĩa thục, phong trào Duy tân… vừa mới bùng lên đã bị thực dân Pháp đàn áp và dập tắt

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền – chủ nghĩa đế quốc Các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức các dân tộc thuộc địa Đến cuối thế kỷ XIX, việc bình định về quân sự của các nước đế quốc với các nước thuộc địa cơ bản hoàn thành Hầu hết các nước nhược tiểu ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế quốc Các nước

đế quốc đặt ách áp bức thực dân dưới các hình thức khác nhau ở hầu hết các nước thuộc địa Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng lên làm cho mâu thuẫn của thời đại tăng lên và xuất hiện những mâu thuẫn mới, đó là: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản chính quốc, giữa đa số người lao động với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau và mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với đế quốc thực dân Những mâu thuẫn đó, ngày càng phát triển gay gắt, tích tụ tạo điều kiện dẫn đến các cuộc cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX

Trong thời đại mà chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của tất cả giai c ấp

vô sản và các dân tộc thuộc địa thì giai cấp tư sản và hệ tư tưởng dân chủ tư sản không còn là một tư tưởng tiến bộ nữa Phong trào cách mạng thế giới cấp thiếp đặt ra là phải

có hệ thống lý luận, khoa học để làm vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản Trước bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời vào năm

Trang 12

1848, với bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” đã khẳng định giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là: thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản; thực hiện sự đoàn kết đấu tranh, dùng bạo lực lật đổ chính quyền tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản Có thể nói, Bản tuyên ngôn không chỉ là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” [23, 586].Được sự dẫn dắt soi đường bởi vũ khí lý luận của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng Con đường đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng được định hình rõ nét, đi từ tự phát đến tự giác

Đến đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin Đây là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng xã hội Nó có sức ảnh hưởng to lớn, lôi cuốn quần chúng nhân dân lao động ở những nước thuộc địa vào phong trào cộng sản Với sự thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Mười Nga (1917), đã mở ra một thời đại mới – thời đại ưu thế thuộc về giai cấp công nhân Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã ca ngợi: “Cách mạng Tháng Mười

đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” [23, 562]

Trước yêu cầu của phong trào cộng sản quốc tế, tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) được thành lập Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin trên Báo Nhân đạo, tác phẩm đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản Người khẳng định: An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế; Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản

Trang 13

Như vậy, trước hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX có nhiều mâu thuẫn, khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước đã đặt ra trước hết cho các nhà tư tưởng Việt Nam phải được trang bị phương pháp luận khoa học

để tìm hiểu, nghiên cứu và giải quyết đúng đắn mọi vấn đề của đời sống xã hội Trong

đó, có những vấn đề về “đạo đức của con người Việt Nam” để thực hiện thắng lợi mọi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho tất

cả mọi người dân Việt Nam Nhiệm vụ lịch sử đó đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận và quyết tâm thực hiện cho bằng được Tuy nhiên, giải quyết nhiệm vụ ấy bằng cách nào? Đây là một câu hỏi đầy trăn trở ở Hồ Chí Minh

Trong khi đó, trên thế giới vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và các nước đế quốc tiến hành hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược các nước nhỏ yếu, lạc hậu ở khắp các nước châu Á, Phi và khu v ực

Mỹ Latinh Song, chúng lại tuyên bố đó là các “công cuộc khai phá văn minh cao c ả” Đến đầu thế kỷ XX, dù chỉ có chín nước đế quốc là Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Nhật Bản,

Bồ Đào Nha, Hà Lan, nhưng lại thống trị và chi phố cả thế giới Từ đó, tạo ra mâu thuẫn đố i kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa các nước đế quốc và các dân tộc thu ộc địa và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau hết sức gay gắt Chính trong bối cảnh này, V.I.Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin và hoàn thiện chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản, đặc biệt là lời kêu gọi “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Đến năm 1917, V.I.Lênin và Đảng cách mạng của giai c ấp công nhân đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Ngathành công và mở ra một th ời đại mới trong lịch sử của xã hội loài người, đó là: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bả n tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Trải qua nhiều bước khảo nghiệm, cuối cùng vào những năm 20 của thế kỷ XX,

Hồ Chí Minh đã đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và cũng là hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại ngày nay Phát triển, cụ thể hóa một cách sâu sắc những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin về đạo đức của con người Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để tự giải phóng, để cải tạo xã hội

cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang; nhưng đồng thời, cũng là một nhiệm vụ

Trang 14

rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ Do đó, để làm cách mạng thành công thì mỗi người Việt Nam phải có đầy đủ bản lĩnh cách mạng Tuy nhiên, bản lĩnh cách mạng chỉ có thể có được khi họ được trang bị đầy đủ cả “đức” lẫn “tài” Trong đó, “đạo đức cách mạng” là nền tảng tinh thần, là cái quyết định sự vững vàng, kiên định, nghị lực của người cách mạng; là cái giúp cho người cách mạng vượt qua được mọi khó khăn, hiểm nguy và thử thách cam go để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm

vụ được giao Hồ Chí Minh dạy: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm

vụ cách mạng vẻ vang” [24, 239]

1.1.2 Những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng không chỉ phản ánh điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn bắt nguồn từ giá trí đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân ái, khoan dung… đã được hun đúc qua hàng nghìn năm đấu tranh kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc và bảo vệ nền văn hiến của đất nước, chống âm mưu đồng hóa của ngoại bang Việt Nam là một quốc gia được hình thành từ rất sớm, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam trở thành Tổ quốc thiêng liêng của mỗi người Việt Nam Tinh thần yêu nước trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị đạo đức của con người Việt Nam Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,

nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước… Chúng ta có quyền tự hào vì những trang sử vẻ vang thời đại, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các

vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [20, 171]

Trang 15

Việt Nam có địa hình thuận lợi, đất đai phì nhiêu, khí hậu thích hợp cho phát triển nông nghiệp, tài nguyên, khoáng sản phong phú, nhưng cũng thường xuyên xảy ra nạn thiên tai, lũ lụt, hạn hán… Đây là một trong những yếu tố vật chất căn bản làm cho dân tộc Việt Nam có được những giá trị đạo đức cao đẹp về quý trọng tình người, về lòng nhân ái, khoan dung, về tính nhân văn sâu sắc Chính những giá trị đó đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp trong các cuộc đấu tranh chống quân xâm lược của nhân dân ta Đó là mối quan hệ khăng khít giữa các cá nhân trong cộng đồng “lá lành đùm lá rách”, “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… qua những câu ca dao, tục ngữ, những lời ru, điệu hò, câu ví đã khắc sâu vào tâm trí của mỗi người Việt Nam luôn được

Hồ Chí Minh nâng niu, trân trọng

Đặc trưng triết lý sống của người Việt Nam là tinh thần nhân văn sâu sắc, lòng khoan dung, nhân đạo, nhân ái và những quan niệm như: “nước chảy đá mòn”, nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”…Tinh thần khoan dung của người Việt Nam được thể hiện ở quan điểm hòa hiếu, khi chiến đấu chống quân xâm lược rất anh dũng, kiên cường, nhưng khi quân xâm lược thua, rút chạy thì ta cho chúng con đường sống – “Đánh kẻ chạy đi, chứ không ai đánh người chạy lại”, làm đường, cấp lương thực, phương tiện cho chúng rút lui về nước… Những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc đã được Hồ Chí Minh nâng niu, nuôi dưỡng, phát huy và trở thành cơ sở, niềm tự hào sâu vào tâm trí, vun đắp nên triết lý sống của Hồ Chí Minh, Người khẳng định: “Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [25, 128]

Tinh hoa tư tưởng đạo đức phương Đông và phương Tây

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, còn bắt nguồn từ sự tiếp thu có chọn lọc, có phê phán những tinh hoa tư tưởng đạo đức phương Đông Sự tiếp thu đó đã góp phần tạo cho tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng một phong thái, cốt cách riêng Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình yêu nước và chuẩn mực đạo đức Nho giáo; được giáo dục trong khuôn phép của tư tưởng Nho giáo Chính vì vậy, ngay từ

Trang 16

khi còn trẻ, Người cũng đã tinh thông Ngũ kinh, Tứ thư Sau khi đã làm được thơ Đường bằng chữ Hán, Hồ Chí Minh thường dẫn các ý, thậm chí cả các mệnh đề của Khổng – Mạnh Từ học thuyết “chính danh” của Nho giáo, Người đã bỏ qua những hạn chế bởi điều kiện lịch sử xã hội như “Quân xử thần tử thần bất tử bất trung”, “Quân úy thiên mệnh”… để nâng quan điểm này lên một tầm cao mới mang tính chất cách mạng, tính dân tộc, mà ở đó chỉ còn là “Trung với nước, hiếu với dân” Hồ Chí Minh dạy: “dù là Chủ tịch nước, Bộ trưởng, công nhân, nông dân, bộ đội hay người phục vụ nấu ăn, quét rác…đều là tồi nếu không hoàn thành được nhiệm vụ của mình, còn nếu làm tốt hơn người thì đều là anh hùng, chiến sĩ thi đua, là những thánh nhân ngày nay” [25, 460]

Từ quan niệm “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”, rồi đến tư tưởng “tôi phải trung thành với vua một cách tuyệt đối”, “làm con phải hiếu thảo với cha mẹ” trong học thuyết “chính danh” của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã nâng quan điểm này lên một tầm cao mới, mang lại cho nó những nội dung mới gắn liền với đặc điểm vốn có của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội Người kêu gọi: “Trung là trung với Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người biết thương cha mẹ” [19, 640] Nếu như Nho giáo hạ thấp vai trò của người phụ nữ, đặt

ra những quy định hà khắc đối với họ thì Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm ấy, khôi phục vị trí, vai trò của người phụ nữ và thực hiện sự bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội Người viết: “Nói tới phụ nữ là nói tới phần nửa xã hội” [24, 523] Đặc biệt, những tiêu chuẩn của đạo đức Nho giáo như: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, học đi đôi với hành, phải biết yêu thương con người… đều được Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng một cách sáng tạo để xây dựng đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công,

vô tư” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển

và củng cố” [23, 293] Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa có sáng tạo một cách sinh động những tư tưởng như “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “giáo dục làm gương”, “đào tạo con người có đạo đức cho xã hội”… Những tư tưởng đó được Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng “lấy dân làm

Trang 17

gốc”, “dân là vốn quý nhất”, “đạo đức là cái gốc, là phẩm chất quan trọng nhất” của người cách mạng

Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn kế thừa tư tưởng của Phật giáo về giáo hóa con người Tư tưởng Phật giáo lấy lòng từ bi, vị tha, lấy ân báo oán thì tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện tấm lòng khoan dung, độ lượng đối với con người Quan niệm “con người sinh ra không có dấu ấn nô lệ trên trán” hay “mọi người đều có dòng máu đỏ” là quan niệm đạo đức về lòng yêu thương, về sự bình đẳng trong các mối quan hệ của con người trong tư tưởng Phật giáo Tất cả những quan niệm đạo đức về lòng yêu thương, về sự bình đẳng trong các mối quan hệ của người trong tư tưởng Phật giáo Tất cả những quan niệm đó đều được Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam Với phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”, Người nói: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo Như vậy, người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị nhường cơm xẻ áo để diệt giặc đói” [19, 31]

Phật giáo rất chú ý đến số phận con người và vấn đề “giải thoát” con người khỏi

bề khổ của trần gian Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến thân phận và nỗi khổ con người Người viết: “Đức Phật đại từ, đại bi cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu diệt lũ ác ma” [20, 197] Nhưng, khác với Phật giáo, Hồ Chí Minh đã đi tìm nguyên nhân nỗi khổ ngay bên trong xã hội, do những

áp bức, bóc lột, bất công…và tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ ấy bằng những hành động đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại

Phật giáo khuyên con người sống có đạo đức từ bi, hỷ xả, quan tâm giúp đỡ người khác, chăm làm việc thiện, trong sạch, giản dị, giữ giới… Hồ Chí Minh đã kế thừa những tư tưởng trên, thể hiện qua lối sống và cuộc đời hoạt động của Người Nhân ngày Phật đản, Người viết: “Đời sống của nhân dân ta dần dần được cải thiện, cũng giống như

Trang 18

tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thẩm mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và ấm no” [21, 290]

Ngoài Nho giáo và Phật giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn chịu ảnh hưởng tư tưởng triết lý của Lão giáo Mặc dù, tư tưởng của Lão giáo ít được nhắc đến, song nó lại có ảnh hưởng rất lớn đến lối sống, phong cách và tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh Tư tưởng cốt lõi của Lão giáo là triết lý “duy nhiên” chỉ cho mọi người xuất thế, xa lánh xã hội, chạy trốn những trách nhiệm làm người với những bổn phận và trách nhiệm vốn có của một con người – Con người chỉ hành động theo lẽ tự nhiên Quan niệm này có những hạn chế, nhưng nó cũng có những giá trị nhất định như: Dạy cho con người có lòng yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với tự nhiên, tinh thần lạc quan trước những biến cố của cuộc sống Hồ Chí Minh đã khai thác có chọn lọc, có phê phán những giá trị này vào những thời điểm và hoàn cảnh thích ứng Trong tập thơ

“Nhật ký trong tù” – tập thơ được viết khi Người bị giam giữ trong nhà lao Trung Quốc,

đã thể hiện một tinh thần lạc quan, yêu đời và luôn hướng về một ngày mai tốt đẹp Khi

đã làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn sống với một cuộc đời thường, hòa đồng với tự nhiên, vẫn là một con người giản dị, thanh tao với một ngôi nhà sàn đơn sơ, có vườn cây,

ao cá… Người từng nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gách chức Chủ tịch là vì đồng bào đã ủy thác thì tôi phải gắng sức làm” [19, 161] Đó là phong cách của một con người vĩ đại, nhưng hết sức giản dị, thanh tao,

tự tại, không thái quá, không hưởng thụ trước thiên hạ Hồ Chí Minh dạy: “Không hiếu danh, không kiêu ngạo, ít lòng ham muốn vật chất” [17, 260] “xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và thù hận…” [17, 450] Trong Di chúc, Người còn căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền Một đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô

tư Phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân” [16, 498] Nói chung, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của Lão giáo để hình thành nên phong cách, lối sống đạo đức của một vị lãnh tụ, một vĩ nhân vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Trang 19

Hồ Chí Minh không chỉ thấm nhuần những tư tưởng phương Đông, mà còn được học

và tiếp xúc với nhiều tư tưởng đạo đức tiến bộ của phương Tây, trong đó chủ yếu là tư tưởng đạo đức của các nhà khai sáng Pháp với khẩu hiệu “tự do – bình đẳng – bác ái” và những tư tưởng về dân quyền, dân ước, dân chủ, dân sinh… Ngay từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây qua sách báo Sau này, Người kể lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe ba chữ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chứ ấy Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy những con vẹt Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rút-xô và Mông-tex-ki-ơ cũng bị cấm, vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài” [16, 477]

Chính tư tưởng đạo đức “tự do – bình đẳng – bác ái” của phương Tây đã thôi thúc

Hồ Chí Minh hướng về phương Tây để xem xét, học hỏi và tìm con đường cứu nước giải phóng cho dân tộc Hơn mười năm bôn ba khảo sát ở các châu lục như châu Á, châu Âu, châu Mỹ Latinh và châu Phi, đặc biệt có một số nước tư bản như Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của chúng Hồ Chí Minh đã rút ra được những nhận định hết sức sâu sắc, tìm

ra được những “tinh hoa” tốt đẹp cần tiếp thu và những gì còn hạn chế cần khắc phục Sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ trong đó đề cập đến

“quyền bình đẳng”, “quyền sống”, “quyền tự do”, “quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người, “quyền công dân kiểm soát Chính phủ”, “hễ Chính phủ nào có hại cho dân chúng thì dân chúng phải lật đổ Chính phủ ấy đi và gây nên Chính phủ khác” [21, 321] Hồ Chí Minh rất khâm phục ý chí giành độc lâp, tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oasinhtơn, Jepphesơn, Lincôn Nhưng, Người cũng phát hiện những mâu thuẫn đằng sau những từ ngữ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng, nghèo đói của hàng triệu người lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn nhân phân biệt chủng tộc ghê gớm

Những tư tưởng đạo đức ở thời Phục hưng của thế kỷ Khai sáng như: chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng tự do, tư tưởng bình đẳng của các đại văn hòa nổi tiếng như Vônte, Điđơrô, Rútxô và Môngtexkiơ, đặc biệt là Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền

Trang 20

của Nhà nước Pháp đã để lại cho Hồ Chí Minh những ấn tượng khá sâu sắc Bởi thế, Người đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo những tư tưởng đạo đức tiến bộ đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Song, Người cũng không quên chỉ ra những hạn chế của nó Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người nhận xét về cách mạng Mỹ:

“Tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công vẫn cực khổ, vẫn cứ

lo tính cách mệnh lần thứ hai Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là cách mệnh chưa đến nơi”[17, 270] Về cách mệnh Pháp, Người cũng chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng nhưng cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là Cộng hòa và Dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [17, 274] Do đó, Hồ Chí Minh căn dặn: “Cách mạng An Nam nên nhớ những điều ấy” [17, 274]

Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn bắt nguồn từ sự tiếp thu

tư tưởng “nhân ái” cao cả của Đức Chúa Giêsu, với nội dung cốt lõi là dạy cho con người có lòng bác ái, yêu thương người khác như yêu thương chính bản thân mình, phải thật sự công bằng trong đối xử giữa những con người với nhau Hồ Chí Minh viết: “Đức Giêsu đã nói ta phải mến các kẻ thù của chúng ta” [16, 272] và kêu gọi “phải thực hành bác ái” [16, 644] Với tinh thần ấy, Hồ Chí Minh cho rằng: Trước lòng bác ái thì máu người Pháp hay máu người Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người Do đó, theo

“theo tinh thần cao thượng của Đức Chúa Giêsu [16, 121] thì “đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do, hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh chiến đấu [19, 30] Nói cách khác, “yêu chúa”, “phụng sự Thượng đế” và “yêu nước”, “phụng sự Tổ quốc” là một, bởi tất cả đều hướng tới mục đích tự do và hạnh phúc của con người

Cùng với quan điểm “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”, Hồ Chí Minh đón nhận Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn “Dân tộc – độc lập, Dân quyền – tự do, Dân sinh – hạnh phúc” để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Người cho rằng: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là người cha của cách mạng Trung Quốc, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu, thì luôn trung thành với nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất Cương lĩnh của Đảng ông – Quốc dân đảng – là một cương lĩnh cải cách Cương lĩnh đó gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ

Trang 21

rệt Đây đó lớn tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức” [16, 319] Từ những

tư tưởng đạo đức tiến bộ của Chủ nghĩa Tam dân và chính sách thân Nga, liên cộng, phù trợ công nông của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào cách mạng Việt Nam

để giải phóng dân tộc, giải phóng con người Mặt khác, Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn cũng có nhược điểm, nó cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư sản, nằm trong hệ thống đạo đức tư tương tư sản nên còn nhiều hạn chế và Hồ Chí Minh đã thấy những hạn chế đó Cho nên, khi cụ Phan Bội Châu định chuyển Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Đan Đảng theo Cương lĩnh của Tôn Trung Sơn thì Người đã có những lời khuyên chân tình là không thể dừng lại ở những chủ trương của Quốc Dân Đảng Trung Quốc Hơn nữa, khi vận dụng chính sách mà Hồ Chí Minh cho là thích hợp với Việt Nam như khẩu hiệu “Dân tộc – độc lập, Dân quyền – tự do, Dân sinh – hạnh phúc” rút ra từ Chủ nghĩa Tam dân và tư tưởng “tự do – bình đẳng – bác ái” của cách mạng tư sản Pháp thành tiêu ngữ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã phát triển khái niệm “độc lập – tự do – hạnh phúc” lên một trình

độ mới mang tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính cách mạng triệt để, dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Các nguyên lý đạo đức cộng sản của Chủ nghĩa Mác – Lênin

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được nâng lên một bước phát triển

về chất khi Người tiếp thu các nguyên lý đạo đức của Chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX như một tất yếu của lịch

sử, do điều kiện kinh tế - xã hội quy định, đồng thời kế thừa và phát triển những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại nhằm giải đáp về lý luận những vấn đề của thời đại đặt ra Chủ nghĩa Mác tiếp tục được V.I Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển trong giai đoạn lịch sử mới

C Mác và Ph Ăngghen vừa là nhà khoa học, vừa là những chiến sĩ cách mạng kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Các ông nhận thấy những giá trị đạo đức của giai cấp vô sản dưới chủ nghĩa tư bản sẽ hình thành nên đạo đức của xã hội tương lai, đó là đạo đức cộng sản, một kiểu đạo đức mang tính nhân văn, nhân đạo

Trang 22

nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại Đứng vững trên lập trường duy vật và phương pháp biện chứng, C Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa những hạt nhân hợp lý trong đạo đức tiến bộ của nhân loại và bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới để tiến hành một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng về đạo đức Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C Mác và Ph Ăngghen chỉ rõ: Sự sản xuất ra đời sống tinh thần luôn biến đổi theo quá trình sản xuất vật chất; những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, tư tưởng đạo đức thống trị chính là tư tưởng đạo đức của giai cấp thống trị Tuy nhiên, cùng với

sự vận động, phát triển của xã hội, địa vị chủ đạo của các giai cấp cũng luôn biến đổi Theo đó, đạo đức xã hội không phải là cái bất biến, mà thường biến đổi theo tồn tại xã hội C Mác và Ph Ăngghen còn chỉ rõ cơ sở hình thành đạo đức là nền tảng kinh tế-xã hội, gắn liền với quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức và hoạt động thực tiễn của con người Nền tảng đó đóng vai trò to lớn đối với sự hình thành, phát triển của đạo đức mới

- đạo đức cộng sản Theo Ph Ăngghen, “nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn

bộ đạo đức, thì do đó, cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp v ới lợi ích của toàn thể loài người” Những giá trị tốt đẹp đó chỉ có thể được phát triển đầy

đủ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa

C Mác và Ph Ăngghen nhận thấy vị trí, vai trò to lớn của đạo đức nói chung và đạo đức cộng sản trong tiến trình phát triển của xã hội Trong nhiều tác phẩm kinh điển, các ông đã phân tích sâu sắc các luận đề: đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa người và người; sự phong phú trong quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng xã hội tạo điều kiện để phát triển đời sống tinh thần - đạo đức của mỗi cá nhân; sự rèn luyện đạo đức trong lao động sản xuất có kỷ luật, kỹ thuật và tự giác Trong giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức, nhân cách của người cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh đến vấn

đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ, bởi nó có ý nghĩa quyết định đến tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại Theo các ông, trong giáo dục nói chung cũng như giáo dục đạo đức, cần có sự kết hợp giữa 03 loại giáo dục: giáo dục trí óc, giáo dục thể dục và giáo dục kỹ thuật Việc kết hợp giữa lao động sản xuất được trả công với các loại

Trang 23

giáo dục trí óc, thể dục và kỹ thuật sẽ nhanh chóng nâng trình độ nói chung của giai cấp công nhân lên cao hơn trình độ nói chung của các giai cấp trong xã hội

C Mác và Ph Ăngghen nhấn mạnh: Trong xã hội có giai cấp, đạo đức trước hết phản ánh và bảo vệ lợi ích, địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội đó Khi đạo đức đứng ra bảo vệ lợi ích của các giai cấp tiến bộ, cách mạng, thì đạo đức đó đóng vai trò thúc đẩy xã hội phát triển Trong xã hội tư bản, chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tắc

cơ bản của đạo đức tư sản Trong buổi bình minh của xã hội tư bản, chủ nghĩa cá nhân tư sản đóng một vai trò tích cực Dưới khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng

tư sản, động lực lợi ích của chủ nghĩa cá nhân tư sản đã chiến thắng những quan hệ đẳng cấp chật hẹp của chế độ phong kiến Nhưng cũng chính sự phát triển phiến diện của chủ nghĩa tư bản đã đẩy chủ nghĩa cá nhân tư sản đến đỉnh điểm của nó Ngoài mặt tích cực

là thúc đẩy sản xuất phát triển, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được bảo đảm bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy đồi Sự bình đẳng chỉ mang tính chất hình thức chứ không được thực hiện trong thực tế cuộc sống

C Mác và Ph Ăngghen đã chỉ rõ vị trí, vai trò của đạo đức trong mối quan hệ với chính trị Theo đó, từ khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp, đạo đức chủ đạo trong xã hội luôn luôn là đạo đức của giai cấp thống trị xã hội Đạo đức từ chỗ là sự biểu hiện những lợi ích cơ bản của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội đã trở thành đại biểu cho lợi ích giai cấp, trước hết là lợi ích của giai cấp thống trị xã hội Mặc dù phản ánh đời sống xã hội dưới các hình thức khác nhau nhưng đạo đức và chính trị đều biểu hiện lợi ích kinh tế của một giai cấp nhất định và phục vụ mục đích của nó Khi đó, ý thức đạo đức được thấm sâu vào ý thức chính trị, biến đổi dưới ảnh hưởng của ý thức chính trị

và làm cho ý thức chính trị được hiện thực hóa bởi hành động tự nguyện, tự giác của mỗi người Đạo đức với vai trò của một quan hệ tinh thần sâu sắc luôn tồn tại xuyên suốt và điều tiết tất cả các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ chính trị Mặc dù ý thức chính trị luôn giữ vai trò chi phối tính chất và định hướng hoạt động của ý thức đạo đức, nhưng điều đó không làm thay đổi hoàn toàn bản chất đích thực của đạo đức - với tư cách là một trong những yếu tố tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội Ý thức chính trị luôn duy

Trang 24

trì mối quan hệ mật thiết với ý thức đạo đức, thậm chí có lúc muốn đồng nhất tiêu chí, chuẩn mực đạo đức của công dân với tiêu chí, phẩm chất chính trị của công dân Chính trị, do đặc tính của mình, luôn giữ vai trò là một mặt, một phần của đời sống xã hội công dân Muốn trở thành ý thức thống trị và mang tính phổ biến trong xã hội, ý thức chính trị không thể xuất phát từ chủ nghĩa vị kỷ, độc đoán của một giai cấp, mà phải hàm chứa trong nó những giá trị nhân văn, những giá trị đạo đức

Đứng trên thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C Mác và Ph Ăngghen đã có những tư tưởng sâu sắc về đạo đức xã hội Trong các tác phẩm của mình, các ông đã lên án chế độ tư bản bởi sự bóc lột giá trị thặng dư, làm tha hóa con người và lấy đồng tiền làm chuẩn mực

Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tập trung những tư liệu sản xuất

cơ bản của xã hội vào trong tay các nhà tư bản (chiếm số ít trong xã hội) và làm cho tuyệt đại đa số người lao động trở thành những người vô sản Nhu cầu sinh tồn đã buộc những con người không có tư liệu sản xuất này tự nguyện một cách cưỡng bức đến với các nhà tư bản và họ trở thành những người làm thuê cho nhà tư bản Từ đây, quá trình người bóc lột người, quá trình lao động bị tha hóa diễn ra Trước tình hình đó, C Mác và

Ph Ăngghen đã chủ trương thực hiện một cuộc cách mạng lĩnh vực đạo đức, xây dựng một kiểu đạo đức hoàn toàn mới so với đạo đức của các giai cấp bóc lột Đó là kiểu đạo đức tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị, thoát khỏi sự tha hóa con người, đạt tới sự giải phóng và phát triển toàn diện của con người Ph Ăngghen nói: “Tất cả thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ đạo đức hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản – là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân

tố hứa hẹn một sự lâu dài” [15, 136]

Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện tàn ác và tinh vi hơn Từ đó, V.I Lênin có những tác phẩm lý luận về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Đồng thời, trên cơ

sở kế thừa các quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về đạo đức, V.I.Lênin cũng đã đưa ra một kiểu “đạo đức mới”, đạo đức của giai cấp công nhân và hoàn toàn đối lập với kiểu đạo đức của các giai cấp bóc lột V.I Lênin viết: “Chúng ta nói rằng đạo đức của

Trang 25

chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra… Cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục và nhiệm vụ của chúng ta làm cho tất cả mọi lợi ích phải phục tùng cuộc đấu tranh này Do đó, đạo đức cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này” [13, 367]

V.I Lênin đã kế thừa xuất sắc và vận dụng sáng tạo, phát triển toàn diện các quan điểm, tư tưởng của đạo đức học mác-xít nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới, nền văn hóa mới, con người mới trong chế độ mới xã hội chủ nghĩa V.I Lênin từng chỉrõ: Phải xây dựng đảng cầm quyền thật sự là một đảng tiêu biểu cho

“trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại” Bằng thiên tài sáng tạo của một lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, V.I Lênin đã khởi thảo nhiều nguyên lý của đạo đức nói chung và đạo đức cộng sản nói riêng Qua đó, đưa đạo đức học mác-xít phát triển lên một tầm cao mới - sự thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận đạo đức với thực tiễn đạo đức; sự thống nhất, gắn kết đó còn được thể hiện một cách sinh động bằng chính tư tưởng và tấm gương đạo đức mẫu mực của V.I Lênin

Đặc biệt, từ khi thực hiện Chính sách Kinh tế mới (NEP), V.I Lênin đã đề cập đến một số chuẩn mực đạo đức cơ bản trong giai đoạn cách mạng mới, đó là sự trung thành với lý tưởng, với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, với hạnh phúc của con người, lên án thói kiêu ngạo cộng sản, chống các tệ nạn quan liêu và tham ô V.I Lênin cũng cho rằng, cái gì phục vụ cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản thì cái ấy là đạo đức

Cơ sở nền tảng của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cô và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản Nền đạo đức cộng sản ấy đối lập với chủ nghĩa vị kỷ của đạo đức tư sản và ông xác định những nguyên tắc của đạo đức mới đó là: chủ nghĩa tập thể với phương châm mình vì mọi người và mọi người vì mình; lao động tự giác và sáng tạo; chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả…

V.I Lênin cho rằng, người cộng sản có đạo đức trước hết phải là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ tri thức ngày càng cao và có năng lực hành động đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh Để tiến

Trang 26

hành công tác giáo dục đạo đức cộng sản có hiệu quả, ông nêu ra một số vấn đề cơ bản

có tính nguyên tắc, như vấn đề gắn giáo dục đạo đức cộng sản với những tiến bộ về đạo đức của nhân loại và truyền thống đạo đức của dân tộc; vấn đề đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội làm động lực trong giáo dục đạo đức cộng sản; vấn đề kết hợp quá trình tổ chức giáo dục, rèn luyện đạo đức của tập thể với quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức của cá nhân Ông nêu rõ: trong giáo dục đạo đức cộng sản, phải kiên quyết đấu tranh chống bệnh phô trương hình thức, thói kiêu ngạo, công thần, những biểu hiện thủ tiêu đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, lạc hậu trong cuộc sống, hoặc thái độ phủ nhận các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc và nhân loại

Trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền và lãnh đạo đất nước, một trong những vấn đề cấp thiết được V.I Lênin nêu lên là phải kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí xảy ra ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Ông cảnh báo: “Toàn bộ các công việc của tất cả các cơ quan kinh tế của chúng ta bị khốn khổ trước hết về quan liêu Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó” [13, 235] Ông còn nhấn mạnh: “Nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được Trong trường hợp này thậm chí cũng không thể nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì” [13, 218] Đặc biệt, ông nhiều lần căn dặn: Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình, thì không ai có thể hạ thấp được uy tín của họ, không một thế lực phản cách mạng nào ở trong nước và quốc tế có thể phá vỡ được mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với quần chúng nhân dân

Đối với Hồ Chí Minh, sự hấp dẫn của Chủ nghĩa Mác – Lênin về những quan điểm đạo đức chính là ở chỗ giải phóng triệt để con người, mà trước hết là giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động Điều này làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng thể hiện được mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa Tổ quốc và nhân loại, giữa cá nhân và xã hội, giữa truyền thống và hiện đại

C Mác và Ph Ăghghen là những người đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của những tư tưởng về “đạo đức mới” – đạo đức cộng sản và

Trang 27

V.I.Lênin là người đã kế tục xuất sắc những tư tưởng này Tuy nhiên, cả tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen và V.I Lênin cũng chỉ mới dừng lại ở góc độ những cộng sản ở chính quốc để nhìn và lý giải về thuộc địa Vì vậy, sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã bổ sung cho lý luận về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin bằng cách nhìn mới, đó là cách nhìn từ phía các dân tộc thuộc địa đang áp bức, bóc lột bởi chủ nghĩa đế quốc thực dân

Phẩm chất và nhân cách đặc biệt của Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là kết quả của sự kết hợp bởi nhiều yếu tố Trong đó, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là cội nguồn

để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; tinh hoa tư tưởng đạo đức của thế giới là tiền đề lý luận quan trọng để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; còn các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin chính là tiền đề lý luận cơ bản để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chỉ đề cập đến những tiền đề trên mà không nói đến phẩm chất, nhân cách đặc biệt của Hồ Chí Minh Bởi vì, bất cứ một học thuyết, tư tưởng nào cũng đều là sản phẩm của con người – “Con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể của hoàn cảnh” Cho nên, phẩm chất, nhân cách đặc biệt của Hồ Chí Minh có thể được xem là nhân tố quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Ngay từ thuở nhỏ, với tư chất thông minh và được giáo dục trong một gia đình có truyền thống hiếu học, Hồ Chí Minh đã sớm có tư duy sáng tạo và độc lập; biết tiếp cận, nghiên cứu nhiều luồng tư tưởng khác nhau trên thế giới và đã biết chắc lọc những gì là tinh túy nhất của nhân loại để vận dụng một cách sáng tạo vào tình hình cụ thể của nước

ta Trong suốt những năm tháng bôn ba nơi đất khách quê người, vượt qua năm châu bố n biển, Người đã quan sát, học hỏi và đúc rút thành những kinh nghiệm quý báu cho bản thân mình, cũng như cho công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người đã nỗ lực học tập, nghiên cứu và hoạt động không biết mệt mỏi để tìm ra con đường chân lý để cứu dân, cứu nước, đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc

Trang 28

Hồ Chí Minh với tài năng trí tuệ, đạo đức trong sáng biểu hiện ở sự kiện kiên trì học tập, tiếp thu vốn tri thức phong phú của dân tộc và nhân loại, là tư duy độc lập, tự chủ trong tiếp thu, phê phán, chọn lọc các giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại, trí tuệ của thời đại để trên cơ sở đó chắt lọc và phát triển thành những giá trị tư tưởng mới vì mục tiêu độc lập dân tộc và giải phóng triệt để con người Nhân cách đạo đức Hồ Chí Minh được hình thành, bồi đắp, hoàn thiện trong cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ cho sự nghiệp giải phóng con người để cho con người vươn tới tự do, vươn tới những giá trị đích thực Nhân cách đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện đậm nét, có sức lan tỏa mãnh liệt, liền mạch, được thử thách, được rèn giũa, được bồi đắp, nó luôn luôn tỏa sáng suốt cả cuộc đời của Hồ Chí Minh, từ thuở niên thiếu cho đến giây phút cuối cùng trên giường bệnh ở Nhà 67 Phủ Chủ tịch

Xuất phát từ lòng nhân ái bao la và tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, Hồ Chí Minh đã tìm đến với những nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin Bằng một nhân cách sáng ngời và phong cách sống giản dị, trong sạch và vô cùng liêm khiết, Người đã kiên quyết lên án và ra sức đấu tranh chống lại mọi biểu hiện chủ nghĩa

cá nhân Vì thế mà Hồ Chí Minh đã trở thành một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng – Trọn đời tận tụy với nước, tận hiếu với dân Trong buổi Khai mạc míttinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 90 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 5 năm 1980, đồng chí Lê Duẩn đã nêu lên niềm tự hào: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất và là một trong những người đẹp nhất trong mọi thời đại của chúng ta, một người cộng sản mẫu mực, có tư tưởng sáng suốt, tâm hồn cao thượng, ý chí kiên cường, tình cảm trong trẻo, tác phong kiêm tốn, cuộc sống giản dị Đó là một tấm gương tuyệt vời con người mới, con người yêu nước sâu sắc nhất và chủ nghĩa xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân, con người lao động, tình thương và lẽ phải, kết hợp đúng đắ n cuộc sống của cá nhân với cuộc sống tập thể và của toàn xã hội

Tựu chung lại, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là kết quả hội tụ của rất nhiều yếu tố, nhiều học thuyết đạo đức từ cổ chí kim, cả Việt Nam lẫn thế giới, nhưng nổi bật vẫn là các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng những phẩm chất, nhân cách đặc biệt của Người Có thể nói,

Trang 29

nhờ vận dụng sáng tạo các nguyên lý về đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin

mà Hồ Chí Minh tránh được những giáo điều trong nhận thức và hành vi đạo đức; đồng thời, bổ sung và phát triển thêm những nội dung mới vào hệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

1.2.1 Bản chất và vai trò đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam

Bản chất của đạo đức cách mạng

Xây dựng và phát triển đạo đức là nhu tất yếu, khách quan của bất cứ xã hội nào, bởi đây là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân Nó thể hiện một cách sâu sắc nhất tính nhân văn, nhân đạo, nhân bản của mỗi xã hội và mỗi con người Thực tiễn cho thấy, khi con người được soi sáng bởi một lý tưởng đạo đức tiến bộ; khi sự hiểu biết về cái thiện, cái ác, về lương tâm, danh dự thường xuyên được nâng cao thì hoạt động của con người sẽ ngày càng hướng tới phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Vì vậy, từ xưa tới nay, các giai cấp, các dân tộc, các thủ lĩnh, các lãnh tụ… ở mọi thời đại đều hết sức quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho mỗi thành viên trong cộng đồng, hướng họ tới những việc làm có ích cho sự tồn tại và phát triển xã hội Tuy nhiên, coi trọng đạo đức đến đâu, chú trọng đến những nội dung nào của đạo đức, đề cao những phạm trụ nào, đặt đạo đức trên cơ sở thế giới quan nào thì lại tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể và lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi tập đoàn người trong xã hội

Tiếp nối truyền thống coi trọng đạo đức của dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa tư tưởng về đạo đức của nhân loại, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh hết sức chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đạo đức mới – đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam Khi đề cập đến đạo đức cách mạng, Người thường dùng các thuật ngữ sau: “Đạo đức mới” [20, 252] “đạo đức cách mạng” [20, 252] “đạo đức cộng sản” [25, 679] “đạo đức tập thể” [25, 306] “đạo đức vô sản” [26, 375]…

Trang 30

Theo Hồ Chí Minh, gọi là “đạo đức mới” bởi vì “đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu” [20, 252] nó chưa hề xuất hiện trong lịch sử mà chỉ hình thành và phát tri ển cùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta Đạo đức mới khác hẳn với đạo đức cũ: Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đứng ngẩng lên trời Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi của chúng Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho dân theo để lợi cho nước cho dân ” [20, 252] Như vậy, sự khác nhau căn bản giữa đạo đức cũ và đạo đức mới ở chỗ: Đạo đức

cũ là đạo đức do giai cấp thống trị ở địa vị ông chủ đặt ra và bắt các thần dân – những người

ở địa vị đầy tớ thực hiện Còn đạo đức mới là đạo đức theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, được đặt ra để đại diện cho lợi ích của toàn thể quần chúng nhân dân lao động và dân tộc Đạo đức đó thể hiện sự thống nhất căn bản về lợi ích, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Cán bộ, người lãnh đạo phải gương mẫu thực hiện đạo đức đó, vì chính họ xuất thân từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động Với tư cách là cán bộ, họ không chỉ là người lãnh đạo, họ không chỉ là người lãnh đạo mà còn phải là người đầ y tớ thật trung thành của nhân dân, trong khi đó, nhân dân lao động không ch ỉ ở vị trí ch ịu sự lãnh đạo của Đảng, của các bộ mà họ còn có tư cách là người làm chủ trong xã hội Nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mới có sự kế thừa nhiều quan niệm đạo đức cũ, nhưng luôn khác về bản chất so với những tư tưởng đạo đức cũ của giai cáp tư sản, địa chủ phong kiến hoặc trong các tôn giáo

Gọi là “đạo đức cách mạng” vì đó là đạo đức phục vụ cách mạng, đạo đức mà người cách mạng cần phải có Đó là đạo đức được nảy sinh và phát triển trong cuộc đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh của nhân dân ta Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang; nhưng đó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Để có thể làm cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, người cách mạng phải

có đầy đủ bản lĩnh cách mạng Tuy nhiên, bản lĩnh cách mạng chỉ có thể được khi người

Trang 31

cách mạng có đầy đủ cả “đức” lẫn “tài” Trong đó, đạo đức cách mạng là nền tảng tinh thần của người cách mạng

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Hồ Chí Minh cho rằng nếu phải nói một cách ngắn gọn nhất, khái quát nhất thì “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấ u tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập của Chủ nghĩa Mác – Lêninm luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [24, 285]

Cũng như C Mác, Ph Ăghghen và V.I Lênin, Hồ Chí Minh coi bản chất của đạo đức cách mạng chính là biểu hiện bản chất của giai cấp công nhân – giai cấp có sứ mệnh lịch sử vĩ đại làm cách mạng để cải tạo xã hội và cải tạo bản thân mình Hồ Chí Minh khẳng định: “Người làm cách mạng phải thấy rõ điều đó mà đững vững trên lập trường của giai cấp công nhân để hết lòng, hết sức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cho giai cấp công nhân và cho toàn thể nhân dân lao động Đạo đức cách mạng

là tuyệt đối trung thành là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [24, 285]

Mặt khác, trên con đường cách mạng khi nào mà chẳng có vô số kẻ địch và khó khăn cản trở cách mạng tiến lên Đó là chủ nghĩa tư bản, bọn đế quốc và tay sai của chúng, là những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời, phản động, chủ nghĩa cá nhân còn ẩn náu trong mỗi con người Vì vậy, đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh còn là “vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu Có như thế mới th ắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng” [24, 287]

Đứng ở góc độ xây dựng một đảng cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu đảng viên nhất thiết phải có đạo đức cách mạng, có tinh thần ý thức giác ngộ, kỷ luật, có trách nhi ệm cao với Đảng, với nhân dân Người nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đề u vì lợi ích của nhân dân Vì vây, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn

Trang 32

đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân [24, 288]

Đứng ở góc độ quan hệ với quần chúng nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng sự nghiệp cách mạng là của quần chúng và Đảng chỉ vững mạnh khi có quan hệ gắn bó máu thịt với quần chúng Cho nên, “đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng” [24, 290]

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “đạo đức mới” và “đạo đức cách mạng” đều là khái niệm nói lên tính chất mới mẻ, tiến bộ và cách mạng so với đạo đức cũ Từ

đó, Người kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam ra sức phấn đấu xây dựng nền đạo đức mới trong một xã hội mới Và, khi nói đến đạo đức mới thường là nói đến đạo đức cách mạng với những yêu cầu cao nhất mà mỗi người, đặc biệt là cán

bộ, đảng viên và đoàn viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thực hiện gương mẫu trước toàn thể quần chúng nhân dân

Trang 33

chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [19, 8] Đầu năm 1947, trong tác phẩm hỏi đáp về “Đời sống mới”, đề giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện lối sống mới, đạo đức mới nói chung, thức hiện “cần, kiệm, liêm, chính” nói riêng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới thì dân tộc nhất định phú cường” [22, 452] Tháng 10 năm 1947, Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, trong đó có phần quan trọng là căn dặn mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng và cùng nhau quyết tâm chống lại những thói hư, tật xấu

Đầu năm 1955, sau khi Chính phủ từ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Hồ Chí Minh đã viết bài “Đạo đức công dân” in trên báo Nhân dân để “giáo dục nhân dân làm tròn nghĩa vụ người công dân, người chủ nước nhà” [22, 569] Tiếp đó, Người viết bài, “Đạo đức cách mạng” để phê phán những biểu hiện suy thoái về đạo đức của một số cán bộ, đảng viên đã “quên mất tác phong gian khổ phấn đấu…., xa rời Đảng, xa rời quần chúng Dần dần họ mất cả tư cách và đạo dức của người cách mạng, sa vào tham ô,

hủ hóa và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân” [22, 575] Sau

đó, Hồ Chí Minh viết luôn bài “Tự phê bình và phê bình” mà Người coi là “vũ khí sắc bén nhất” để giúp cho cán bộ, đảng viên “sửa chữa khuyết điểm , phát triển ưu điểm, tiến

bộ không ngừng” [22, 576] Năm 1958, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, trong đó, Người nêu lên bản chất và nội dung của đạo đức cách mạng, đặc trưng của chủ nghĩa cá nhân và phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân” [24, 282]

Năm 1961, phục vụ cho việc chỉnh huấn cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh có bài nói chuyện về vấn đề “Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa” với luận điểm quan trọng là: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa Đền ngày 3/2/1969, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó Người đặc biệt phê phán căn bệnh cá nhân chủ nghĩa và coi đó là một thứ giặc nội xâm rất nguy hiểm Cuối cùng,

Trang 34

trong bản Di chúc để lại cho chúng ta trước khi trở về với cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta cần phải biết giữ gìn đạo đức cách mạng và chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên nói chung Không những thế, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn hiện diện trong tất cả các vấn đề, trong mỗi dòng chữ

mà Người để lại cho chúng ta, trong mỗi dòng chữ khi nói về nhân dân và khi kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Mỹ cho đến khi thắng lợi hoàn toàn; cũng như hiện diện trong điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh

Như vậy, có thể kết luận rằng, từ những bài giảng đầu tiên cho đến những lời căn dặn cuối cùng trong Di chúc, Hồ Chí Minh luôn dành một vị trí ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng cho mỗi con người Việt Nam

Theo Hồ Chí Minh, mỗi người Việt Nam dù “ở cương vị nào, làm công việc gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng” [25, 5] Tuy nhiên, để nâng cao nhận thức về đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam thì trước hết cần phải làm cho họ hiểu sâu sắc vai trò vô cùng quan trọng của đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi con người Việt Nam Người nói: “làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là sự nghiệp vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ” [24, 239] Cho nên, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [24, 289] và nó cần thiết đến mức “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài gỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì” [20, 131] Nói tóm lại, nhất thiết chúng ta phải hiểu sâu sắc rằng: Đạo đức cách mạng là cái gốc, là cái nền tảng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam Và, chăm lo cho cái gốc, cái nền tảng ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, mỗi cá nhân trong xã hội Việt Nam

Trang 35

Có phải như vậy là Hồ Chí Minh đã theo thuyết chủ nghĩa xã hội đạo đức? Hoàn toàn không phải như vậy, Người không bao giờ đặt hy vọng vào “lòng tốt” của thực dân, phong kiến, cũng như của các giai cấp bóc lột để kêu gọi sự thương cảm và ban ơn Hồ Chí Minh cũng không bao giờ nghĩ rằng chỉ cần mọi người tu thân, tích đức là đất nước

sẽ độc lập, dân tộc sẽ tự do, hạnh phúc; mà phải bằng cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạ o của Đảng Cộng sản thì mới có sụ được độc lập, tự do, hạnh phúc Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh đó thì đạo đức cách mạng là một vũ khí sắc bén nhất của người cách mạng Đúng như V.I.Lênin đã từng nói: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp

vô sản đang sáng tạo ta xã hội mới của những người cộng sản” [13, 369]

Hồ Chí Minh cho rẳng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” [25, 726] thì mới hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang của mình Người thường nhắc lại ý của V.I.Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và của thời đại Nếu xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác – Lênin, những tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt Nam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi Còn đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi con người cần phải có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho mọi người Song, tùy theo từng thời kỳ cách mạng mà Người đề ra những yêu cầu đạo đức cách mạng sát hợp để mọi người phấn đấu, rèn luyện nhằm hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn, phức tạp hơn, từ đó mà giành thắng lợi càng to lớn hơn cho sự nghiệp cách mạng

Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn là tư tưởng đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo Cho nên, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả thực tế Người nói: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo

Trang 36

sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình Hãy kiên quyết chống lại bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất” [25, 312] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực luôn đi liền với nhau Trong đó, đức là cái gốc của tài, hồng là cái gốc của chuyên, phẩm chất là cái gốc của năng lực và tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành động

Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn phong phú về mối quan hệ giữa đức và tài trong việc giáo dục, đào tạo, rèn luyện và sử dụng con người Luôn luôn gắn tài với đức, Người thường dùng từ ghép: “bậc tài đức”, “kẻ hiền năng”, “tài khác nhau nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng” Giữa tài và đức thì theo Hồ Chí Minh, đức là gốc, là nền tảng Người đã phân tích: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước” [23, 192] “Có tài không có đức ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi, nhưng lại đi thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa” [24, 172] Ngược lại, người nào “có đức mà không có tài ví như Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có gì làm lợi người” [24, 172] Người thực sự kêu gọi những cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa “chính trị” và “chuyên môn”, giữa “hồng” và “chuyên” cũng là mối quan hệ giữa “đức” và “tài” Người cho rằng,

“chính trị là cái linh hồn, chuyên môn là cái xác Có chuyên môn mà không có chính trị như cái xác mà không có hồn Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn Chính trị là đạo đức, chuyên môn là tài Có tài mà không có đức là hỏng” [24, 442]

Trong quan niệm Hồ Chí Minh, đức không phải là cái bẩm sinh, cũng không phải là cái ý thức tự có sẵn, mà là cái luôn phải được trau dồi qua đấu tranh, rèn luyện hằng ngày, trong hoạt động thực tiễn, trong đấu tranh giai cấp, giai phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới công bằng, văn minh Đức là cái nền cho tài năng nảy nở và phát triển Bởi thế, theo Người, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Với quan niệm nhất quán về mối quan hệ giữa đức và tài, khi nói về công tác lực

Trang 37

chọn và sử dụng nhân tài, Hồ Chí Minh cho rằng việc đề ra tiêu chu ẩn cán b ộ không d ựa trên ý muốn chủ quan của mình mà phải xuất phát từ thực tiễn, từ những yêu c ầu của cách mạng Tiêu chuẩn chung nhất mà người cán bộ phải có là phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo mà Người gọi là đức và tài Người thường nêu đức trước tài, Người cán bộ cách mạng cần có phẩm chất đạo đức tốt nhưng đồng thời phải có tài Người cán bộ có tài mà thiếu đức thường gây ra những tác hại không nhỏ Những người tài giỏi, có học vấn cao đến đâu mà thiếu đạo đức thì không nên giao cho họ những công việc quốc gia đại sự Tài năng, thông minh hơn người nhưng nóng nảy, thô lỗ, tự tư, tư lợi thì cái ấy có thể sẽ biến thành

“tai họa” Những người đức nhỏ mà ngồi cao sẽ gây tai họa cho thiên hạ

Như vậy, đạo đức cách mạng có vai trò và sức mạnh vô cùng to lớn Đạo đức cách mạng giúp con người vững vàng trong mọi thử thách Hồ Chí Minh viết: “Người có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”; mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”

1.2.2 Chuẩn mực và nguyên tắc cơ bản để rèn luyện đạo đức cách mạng của con người Việt Nam

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của con người Việt Nam

Nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chúng ta thấy Người có những lời dặn dò về các chuẩn mực đạo đức cụ thể đối với từng đối tượng như: cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, trí thức, thiếu niên, nhi đồng…Hồ Chí Minh luôn cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái hay và đề cao những tấm gương

“người tốt, việc tốt”; song cũng không quên chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở còn mắc phải

để cho mọi người tránh và tìm cách khắc phục Bao giờ Người cũng phân biệt mặt tốt và mặt xấu, cái thiện với cái ác trong động cơ cũng như hành động của con người để làm rõ những vấn đề đạo đức cần phải xây dựng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Đó là những chuẩn mực của đạo đức mới – đạo đức cách mạng Việt Nam

Trang 38

Trung với nước, hiếu với dân

Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất Vì vậy, “Trung”, “Hiếu” là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm của mỗi con người

Trung – Hiếu không phải là vấn đề mới, đến thời đại Hồ Chí Minh mới có, mà nó

là phẩm chất đạo đức vốn đã có từ trong tư tưởng đạo đức truyền thống phương Đông nói chung và đạo đức truyền thống Việt Nam nói riêng Khái niệm “Trung” trong Nho giáo được hiểu là trung với vua Trung với vua cũng có nghĩa là trung thành với nước, vì vua với nước là một, nước là nước của vua, vua là người quyết định tất cả và dân chỉ có nhiệm vụ làm theo (“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” – Vua xử bề tôi phải chết,

bề tôi không chịu chết tức là không trung thành) Cho nên, đức Trung được xem là phẩm chất đạo đức hàng đầu của con người, nhưng chỉ hạn hẹp trong quan hệ Vua – Tôi Còn khái niệm “Hiếu” trong Nho giáo được xem là cái gốc của nhân nghĩa Khổng Tử đã từng nói: “Thực hành nhân phải lấy hiếu làm tiền đề” Cho nên, đạo của người làm con

là phải hết lòng kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ và đó là một phẩm chất đạo đức rất quan trọng trong mỗi người, song cũng chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình mà thôi Trên cơ sở

kế thừa quan điểm truyền thống đó, Hồ Chí Minh đã tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức, bổ sung và đổi mới khái niệm “Trung” và “Hiếu” với những nội dung mới, mang ý nghĩa cách mạng, đó là trung với nước, hiếu với dân

“Trung với nước” là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên và phát triển của đất nước Nước ở đây là nước của dân và là chủ nhân của đất nước Hồ Chí Minh nói: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân… Bao nhiêu quyền hạn đều của dân,… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [20, 698] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nước không đồng nhất với người đứng đầu đất nước

mà họ chỉ là đại biểu của dân, do dân “ủy thác” để quản lý công việc chung của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích của dân, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của dân Do

đó, Người căn dặn, trung với nước là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,

Trang 39

kẻ thù nào cũng đánh thắng, chứ không phải trung thành với người đứng đầu đất nước như Nho giáo đã từng quan niệm

Theo Hồ Chí Minh nội dung của “Trung với nước” cần phải được hiểu ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, trung với nước là phải gắn liền với yêu nước với yêu chủ nghĩa xã hội

Tức là, phải chuyển hóa nội hàm khái niệm “Trung” từ quan niệm nước cũ sang quan niệm yêu nước mới, gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội Bởi vì, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân

Thứ hai, trung với nước là phải biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của cách

mạng lên trên hết, trước hết

Bởi vì, ngoài lợi ích của dân tộc, của nhân dân, không còn lợi ích nào khác Do

đó, “vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích

cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng” [24, 289] và mỗi người phải “vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” [24, 285]

Thứ ba, trung với nước là phải quyết tâm phấn đấu để thực hiện và hoàn thành

mục tiêu cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của cách mạng Việt Nam là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đó cũng là lý tưởng to đẹp của dân tộc ta Người dạy: “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý lưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta

và trên thế giới [27, 109]

Thứ tư, trung với nước là phải thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, có tránh nhiệm, nghĩa vụ xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước

Trang 40

Như vậy, khái niệm “Trung của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, nhưng

đã có sự bổ sung và phát triển sáng tạo với nội dung hoàn toàn mới, khác về bản chất với khái niệm “Trung” trước đây để trở thành tiêu chuẩn đạo đức cách mạng hàng đầu của con người Việt Nam

“Trung với nước” phải gắn liền “Hiếu với dân” Chữ “Hiếu” được Hồ Chí Minh chuyển hóa từ nội hàm đạo đức phong kiến, hiếu với cha mẹ sang nội dung đạo đức cách mạng Mỗi người khi thực hiện chữ “Hiếu” cần phải hiểu rộng hơn nghĩa hiếu với cha

mẹ là hiếu với dân Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa… Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy cũng cao đẹp hơn” [27, 564] Do đó, đạo đức ngày nay không phải chỉ có hiếu với bố mẹ mình mà “hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ” [20, 681]

Theo Hồ Chí Minh, nội dung của “Hiếu với dân” cần phải được hiểu ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, hiếu với dân là phải yêu dân, kính dân, tôn trọng dân, tin dân, lắng nghe

dân, học dân và lấy dân làm gốc

Sách Kinh Thư chép: “Dân vi bang bảng, bản cố bang minh” (Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên) Phát triển tư tưởng này, Hồ Chí Minh khẳng định: Trên thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân và trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Do đó, “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do dân làm chủ” [21, 536] và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ” [22, 385] Nói chung, do địa vị cao nhất là dân và nước lấy dân làm gốc nên mỗi cán bộ , đảng viên, ai cũng yêu dân, kính dân, tôn trọng dân, tin dân và lắng nghe dân…

Thứ hai, hiếu với dân là phải đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, có trách nhi ệm với

nhân dân, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thành của nhân dân; tổ chức và vận động nhân dân cùng thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Ngày đăng: 13/10/2023, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liện học tập các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liện học tập các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
2. Bộ Chính trị (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội, ngày 09/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
3. Bộ Chính trị (2015), Chỉ thị số 42-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015 – 2030, Hà Nội, ngày 24/3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 42-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015 – 2030
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2015
4. Bộ Chính trị (2016), Chỉ thị 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,Hà Nội, ngày 15/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2016
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
7. Đảng bộ Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020, (tài liệu nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020
8. Đảng bộ Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, Văn kiện Đại hội Đảng bộ trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020, (tài liệu nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020
9. Đoàn thanh niên trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2017 – 2018 (tài liệu nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2017 – 2018
10. Trần Thị Hà (2013), Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay, luận văn Thạc sĩ CNXHKH, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 2013
11. Phạm Hữu Hoàng (2015), Sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên Việt Nam hiện nay, tạp chí Triết học, số 3 (286) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Hữu Hoàng
Năm: 2015
12. Vũ Thị Phương Lê (2009), Những giá trị cần định hướng cho sinh viên sư phạm Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tạp chí Khoa Giáo dục chính trị, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí Khoa Giáo dục chính trị
Tác giả: Vũ Thị Phương Lê
Năm: 2009
13. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
14. C. Mác (1983), Sức sống mùa xuân, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống mùa xuân
Tác giả: C. Mác
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1983
15. C. Mác vàPh. Ăngghen (1994), Toàn tâp , tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. ̣ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tâp", tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Tác giả: C. Mác vàPh. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
16. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
17. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
19. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Sơ đồ tổ chức trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức - Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay
Bảng 2 Sơ đồ tổ chức trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w