2.2 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay
2.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay
Việc củng cố và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp là vấn đề được sự quan tâm của nhà trường nhằm giáo dục và đào tạo học sinh, sinh viên có “Đạo đức – Tri thức – Kỹ năng” đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong tình hình mới. Trong thời gian qua, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên của nhà trường đã được quan tâm, chỉ đạo thực hiện; có đầu tư nguồn kinh phí cho các bộ phận với chức năng cụ thể, đóng góp đáng kể việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên.
Tuy vậy, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho học sinh, sinh viên nhà trường trong thời gian qua còn những mặt hạn chế nhất định. Trên cơ sở lý luận của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mang, để củng cố và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viênnhà trường phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, tập thể sư phạm nhà trường cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ sau:
Thứ nhất, quán triệt nâng cao nhận thức của người đứng đầu các đơn vị và phát huy vai trò cụ thể từng bộ phận chức năng trong nhà trường đối với việc thực hiện giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên.
Nhằm tiếp tục và củng cố, nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên, nhà trường phải thường xuyên tổ chức việc học tập và bồi dưỡng các kiến thức liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, các nguyên tắc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 24/3/2015 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015 – 2030, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ trường CĐCNThủ Đức lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020, Luật giáo dục nghề nghiệp, Luật thanh niên (2005)… Có như thế, người đứng đầu các đơn vị trong nhà trường được tiếp cận và hiểu rõ các nội dung về vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người học. Qua đó, những lý luận, chỉ dẫn kịp thời cung cấp các phương pháp khoa học giúp cụ thể hóa nội dung thực hiện giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên thông qua công việc, nhiệm vụ của đơn vị mình lãnh đạo hoặc phụ trách. Từ đó, tạo được sức mạnh tập thể, sự thống nhất và đồng thuận về nhận thức cùng thực hiện sứ mạng phát triển của nhà trường trong thời gian tới.
Tiếp theo, giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên không phải là việc làm “lấy lệ” hay trong thời gian ngắn mà cần phải được tiến hành lâu dài, bền bỉ. Hiện nay, nhà trường với 09 phòng, 03 trung tâm, 11 khoa chuyên ngành cùng tham gia thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo học sinh, sinh viên. Đòi hỏi các bộ phận chức năng phải ý thức được tầm quan trọng và mục đích, yêu cầu về nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người học. Từ đó, nhà trườngxác định và phân công nhiệm vụ cụ thể của mỗi bộ phận chức năng phải nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng, triển khainội dung thực hiện hay phối hợp thực hiện hiệu quả giáo dục học sinh, sinh nói chung, trong đó có giáo dục đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm được yêu cầu giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cụ thể các bộ phận trực tiếp tham gia việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên phải thực hiện như sau:
Đối với các khoa chuyên ngành: Là đơn vị trực tiếp đào tạo và trang bị kiến thức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên. Mỗi khoa chuyên ngành phải xác định rõ chuyên
ngành đào tạo của khoa và từng bước xây dựng chiến lược đào tạo ngắn hạn và dài hạn của khoa theo định hướng phát triển của nhà trường. Đặc biệt đối với những ngành nghề đăng ký đạt mục tiêu kiểm định chất lượng chuẩn cấp quốc gia, ASEAN, Châu Âu, APEC hay cấp quốc tế…cần có kế hoạch cụ thể chuẩn bị nhân lực giảng dạy, cơ sở vật chất, thiết bị… nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn. Hiện nay, nhà trường triển khai tự đánh giá chất lượng chương trình đào tạo 06 ngành/nghề: Công nghệ thông tin (Khoa Công nghệ thông tin), Công nghệ kỹ thuật cơ khí (Khoa Cơ khí chế tạo), Công nghệ cơ khí Ô tô (Khoa Cơ khí Ô tô), Kế toán (Khoa Tài chính kế toán), Công nghệ kỹ thuật Điện tử và Công nghệ kỹ thuật Điện tử truyền thông (Khoa Điện – Điện tử). Vì thế, nhiệm vụ giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người học phải được quan tâm đầu tư, đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn nghề nghiệp của mục tiêu chất lượng mới; để nhân lực được đào tạo có những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp phù hợp làm việc trong môi trường lao động khu vực và quốc tế. Điều này đòi hỏi các khoa chuyên ngành phải đào sâu nghiên cứu, tham chiếu, so sánh các chương trình đào tạo, phương pháp giả ng dạy của các trường Cao đẳng, Đại học khác, trong đó chọn lọc những giá trị đạo đức nghề nghiệp cốt lõi nhằm giáo dục học sinh, sinh viên trong quá trình đào tạo phù hợp với môi trường giáo dục nghề nghiệp.
Song song đó, các khoa chuyên ngành cần rà soát và kiểm tra lại các học phần, chuyên đề, mô-đun giảng dạy của khoa. Cần chú ý xem xét tình chất hợp lý của trình tự đào tạo các học phần được phân bổ trong quá trình giảng dạy, tránh tình tr ạng chồng chéo n ội dung, lặp lại kiến thức trong giảng dạy hoặc học phần đã “lỗi thời” so với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật hiện đại hay của thị trường nghề nghiệp. Làm như vậy để chương trình đào tạo của khoa được đánh giá thường xuyên, kịp thời điều chỉnh cho hợp lý, phục vụ cho quá trình giáo dục kiến thức chuyên môn cũng như giáo dục đạo đức nghề nghiệp học sinh, sinh viên. Mỗi học phần đều truyền tải các kiến thức cũng như yêu cầu thái độ ngườ i học, từng bước hình thành nhân cách đạo đức, lòng yêu nghề cho học sinh, sinh viên.
Giảng viên chuyên ngành giảng dạy cần chú ý tránh tình trạng chỉ đề cập kiến thức chuyên môn một chiều trong quá trình giảng dạy. Giảng viên chuyên ngành cần thiết có nhiều giải pháp tổ chức hoạt động, phần thực hành nhằm rèn luyện các kỹ năng, thái độ
cho người học. Mức đánh giá điểm hoặc xếp loại học tập cần có đánh giá thái độ học tập của người học. Kịp thời chấn chỉnh những học sinh, sinh viên có thái độ học tập, kết qu ả thực hành yếu kém. Đảm bảo giảng viên chuyên ngành có thời gian tham gia chế độ làm việc, trải nghiệm tại doanh nghiệp theo quy định của chế độ làm việc của giảng viên.
Giảng viên có thể lồng ghép các câu chuyện, trường hợp cụ thể về ngành nghề được tiếp cận thông qua các kênh thông tin hay trực tiếp tham gia doanh nghiệp của bản thân đưa vào bài giảng, bài thực hành để học sinh, sinh viên tiếp cận và có những bài học cho b ản thân. Thậm chí có những giảng viên chuyên ngành đã từng tham gia thị trường lao động hoặc trực tiếp lao động cần lồng ghép, chia sẻ những trải nghiệm, bài học để học sinh, sinh viên có thể hiểu rõ hơn đặc thù ngành nghề của mình.
Các khoa chuyên ngành cần chú ý công tác cố vấn học tập và nhiệm vụ cố vấn học tập của giảng viên. Đây là công tác không thể xem nhẹ trong môi trường giáo dục nghề nghiệp, vì công tác này đảm bảo mối liên hệ giữa người học và khoa. Giảng viên thực hiện nhiệm vụ cố vấn học tập cần có biện pháp và cơ chế nắm bắt thông tin người học kịp thời, giữ mối liên hệ chặt chẽ với người học, xây dựng kênh thông tin liên lạc và giải đáp thắc mắc người học trong quá trình học tập. Tinh thần trách nhiệm, nhiệt thành của giảng viên cố vấn học tập sẽ tạo sự yên tâm, trao đổi, sự lôi cuốn đối với học sinh, sinh viên. Một khi cố vấn học tập làm tốt nhiệm vụ của mình sẽ là một kênh đặc biệt quan trọng giúp khoa chuyên ngành kịp thời nắm bắt tình hình, chất lượng giảng dạy, hoặc có những giải pháp cần thiết hỗ trợ học sinh, sinh viên.
Đối với khoa Khoa học cơ bản: Hiện nay, với đặc thù giảng dạy các học phần chung bắt buộc cho học sinh, sinh viên như: Chính trị, Pháp luật, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng – An ninh, Kỹ năng giao tiếp. Những môn chung góp phần trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức nền tảng về lý luận chính trị, bản lĩnh cá nhân, lòng tự hào và yêu đất nước, thái độ tôn trọng pháp luật, đam mê rèn luyện sức khỏe…Có thể thấy, tầm quan trọng của các môn học mà khoa phụ trách đào tạo trong việc góp phần hình thành thái độ, tình cảm, kỹ năng của học sinh, sinh viên. Bắt đầu năm 2017, nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường, khoa đã từng bước tiếp cận và đổi mới nội dung, phương pháp, thời lượng giảng dạy các môn chung theo yêu cầu đào tạo
của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Do đó, giảng viên khoa phải không ngừng đổi mới và đầu tư phương pháp giảng dạy, tiếp cận các kiến thức thời sự nhằm tạo sự hấp dẫn trong các tiết giảng. Đồng thời, khoa cần tập trung tổ chức các câu lạc bộ Thể dục – Thể thao, câu lạc bộ Lý luận trẻ… là môi trường tập hợp học sinh, sinh viên yêu thích thể dục, thể thao, đam mê kiến thức lý luận chính trị.
Đối với phòng Công tác Chính trị Học sinh, sinh viên:Cần thiết xây dựng các chuyên đề tập huấn, báo cáo chuyên đề liên quan đến kiến thức nghề nghiệp, giới thiệu, giao lưu những tấm gương thành công, vượt khó trong ngành nghề. Đó là cơ hội giúp học sinh, sinh viên tiếp cận đến kiến thức ngành nghề, hình thành ý chí phấn đấu, tạo cảm hứng học tập. Thực hiện tốt việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá công tác cố vấn học tập của giảng viên chuyên ngành. Đổi mới và điều chỉnh công tác đánh giá điểm rèn luyện học sinh, sinh viên theo từng học kỳ, để người học dễ dàng, thuận tiện tham gia các hoạt động và tích lũy kết quả tham gia. Tổ chức thực hiện tốt công tác kỷ luật học sinh, sinh viên khi có vi phạm để nhằm tạo nề nếp và tính giáo dục cao trong nhiệm vụ học tập và rèn luyện của người học.Qua đó, thiết thực tạo phong trào thi đua và rèn luyện sôi nổi bằng những hoạt động cụ thể, giúp học sinh, sinh viên hình thành những thái độ, phẩm chất cần thiết.
Đối với Trung tâm Đào tạo Nguồn nhân lực và Hợp tác doanh nghiệp:Nhà trường tạo được mối quan hệ hợp tác toàn diện với hệ thống các doanh nghiệp hay Hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh, thành sẽ tạo điều kiện rất lớn cho công tác giới thiệu việc làm, tư vấn, hướng nghiệp, tuyển dụng cho người học đã được đào tạo. Trung tâm cần nghiên cứu đẩy mạnh hơn nữa công tác tiếp xúc và làm việc với nhiều doanh nghiệp hoạt động các lĩnh vực. Bởi chính môi trường các doanh nghiệp sẽ là cơ hội giúp giảng viên và học sinh, sinh viên hoàn thành tốt việc tham quan thực tế, thực tập thực tế, hoàn thành chương trình “Học kỳ doanh nghiệp”. Hiện nay, nhà trường đang tiến hành chương trình đào tạo theo mô hình “Đào tạo kép” ngành Truyền thông và mạng máy tính (Khoa Công nghệ thông tin) và ngành Logistics (Khoa Quản trị kinh doanh).
Đầu tư có hệ thống hơn nữa nhu cầu người học về các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết nhằm kịp thời tổ chức đào tạo các lớp kỹ năng thực hành xã hội, kỹ năng nghề nghiệp. Quan tâm hơn việc mời doanh nghiệp đến trực tiếp giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm làm việc, giúp học sinh, sinh viên sớm ý thức về đặc điểm, yêu cầu nghề nghiệp của bản thân trong tương lai.
Cần đầu tư hàm lượng khoa học cho công tác khảo sát doanh nghiệp có sử dụng nguồn nhân lực đào tạo của nhà trường nhằm đánh giá khả năng đáp ứng yêu công việc, trong đó chú ý đến các câu hỏi khảo sát liên quan đặc điểm đạo đức nghề nghiệp, lòng yêu nghề. Đó chính là căn cứ quan trọng nhằm đánh giá chất lượng đào tạo, trong đó có ý thức đạo đức nghề nghiệp giúp kịp thời tham mưu nhà trường trong việc điều chỉnh hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của nhà trường.
Đối với Đoàn thanh niên – Hội Sinh viên nhà trường:Tổ chức chính trị -xã hội Đoàn thanh niên – Hội Sinh viên tích cực, sáng tạo, thiết kế các phong trào, góp phần tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Đoàn thanh niên – Hội Sinh viên tiếp tục phát huy vai trò và thành công đã đạt được trong thời gian qua, là sân chơi có tính giáo dục, phát động được thi đua cho học sinh, sinh viên nhà trường thực hiện.
Chính thông qua các hoạt động phong trào cụ thể, học sinh, sinh viên được trải nghiệm, thu hoạch những kiến thức, trau dồi những cảm xúc, kỹ năng cần thiết. Tổ chức Đoàn – Hội cần lưu ý tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh, sinh viên nói chung cũng như giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng tinh thần yêu nghề nghiệp phải xuất phát từ thực tế nhu cầu, nguyện vọng của học sinh, sinh viên; đặc biệt phải quan tâm đến đối tượng h ọc sinh bậc trung cấp chuyên nghiệp.
Tiếp tục phát huy vai trò chủ trì, phối hợp tổ chức với các khoa chuyên ngành trong việc giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nghề nghiệp thông qua các Hội thi học thuật cấp khoa. Có sự phối hợp nhuần nhuyễn với các khoa chuyên ngành trong việc tổ chức ôn luyện học sinh, sinh viên tiêu biểu tham gia các Hội thi tay nghề cấp thành phố và cấp quốc gia. Son g song đó, Đoàn – Hội tổ chức các hoạt động tình nguyện cộng đồng, hoạt động bảo vệ môi trường, hoạt động vì an sinh xã hội được tổ chức thường xuyên và đều tay hơn nữa,
có sự phân cấp đô hoạt động từ cấp Chi đoàn, Chi hội đến cấp Liên chi đoàn, Liên chi hội khoa như: Chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh, Chiến dịch Xuân tình nguyện, Hiến máu nhân đạo, hoạt động tình nguyện ngắn ngày, hoạt động quyên góp tại chỗ…Kịp thời tuyên dương, khen thưởng học sinh, sinh viên tích cực tham gia các hoạt động. Từ đó, tạo được phòng trào thi đua rèn luyện chuyên môn, lối sống cống hiến, sẻ chia, góp phần đắc lực vào việc lan tỏa lòng yêu nghề, yêu lao động trong học sinh, sinh viên.
Thứ hai, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác của học sinh, sinh viên nhà trường trong việc tự rèn luyện đạo đức nghề nghiệp
Có thể thấy, học sinh, sinh viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp.Việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp có hiệu quả, thành công hay không là tùy thuộc vào ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác và tự rèn luyện của bản thân học sinh, sinh viên đối với các hoạt động mà tập thể sư phạm nhà trường tổ chức. Bởi vai trò học sinh, sinh viên rất quan trọng, họ phải ý thức được trách nhiệm, tinh thần tự giác, tự rèn luyện của bản thân trong học tập chuyên môn cũng như các vấn đề liên quan đến ý thức, thái độ nghề nghiệp của mình. Đó là sự kết hợp giữa yếu tố khách quan và tự thân chủ thể mới đạt được kết quả cao. Ngược lại, bản thân chủ thể của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp thờ ơ, ỷ lại, xem nhẹ vai trò, vị trí của đạo đức nghề nghiệp, thì dù có nhà trường, giảng viên, các tổ chức đoàn thểcó cố gắng, nỗ lực đến đâu thì hiệu quả vẫn không cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nguyên tắc tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất trong xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng, đó là phát huy vai trò chủ thể trong quá quá trình tự rèn luyện, tự giáo dục. Theo Hồ Chí Minh, việc xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng phải được dựa trên tinh thần giác ngộ, sự tự nguyện; dựa vào lương tâm, trách nhiệm của mỗi người.
Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, học sinh, sinh viên có ý thức trách nhiệm, có tinh thần tự giác, tự rèn luyện trong học tập cũng như rèn luyện đạo đức nghề nghiệp thì học sinh, sinh viên ấy có những kết quả học tập, rèn luyện tích cực và hiệu quả. Do vậy, ý thức trách nhiệm và tinh thần tích cực, tự giác rèn luyên, học tập tham gia các hoạt động của bản thân từng học sinh, sinh viên là nội lực, là sức mạnh nội sinh, nhân tố