Chuẩn mực và nguyên tắc cơ bản để rèn luyện đạo đức cách mạng của con người Việt Nam

Một phần của tài liệu Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay (Trang 37 - 59)

1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

1.2.2 Chuẩn mực và nguyên tắc cơ bản để rèn luyện đạo đức cách mạng của con người Việt Nam

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của con người Việt Nam

Nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chúng ta thấy Người có những lời dặn dò về các chuẩn mực đạo đức cụ thể đối với từng đối tượng như:

cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, trí thức, thiếu niên, nhi đồng…Hồ Chí Minh luôn cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái hay và đề cao những tấm gương

“người tốt, việc tốt”; song cũng không quên chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở còn mắc phải để cho mọi người tránh và tìm cách khắc phục. Bao giờ Người cũng phân biệt mặt tốt và mặt xấu, cái thiện với cái ác trong động cơ cũng như hành động của con người để làm rõ những vấn đề đạo đức cần phải xây dựng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đó là những chuẩn mực của đạo đức mới – đạo đức cách mạng Việt Nam.

Trung với nước, hiếu với dân

Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Vì vậy, “Trung”, “Hiếu” là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm của mỗi con người.

Trung – Hiếu không phải là vấn đề mới, đến thời đại Hồ Chí Minh mới có, mà nó là phẩm chất đạo đức vốn đã có từ trong tư tưởng đạo đức truyền thống phương Đông nói chung và đạo đức truyền thống Việt Nam nói riêng. Khái niệm “Trung” trong Nho giáo được hiểu là trung với vua. Trung với vua cũng có nghĩa là trung thành với nước, vì vua với nước là một, nước là nước của vua, vua là người quyết định tất cả và dân chỉ có nhiệm vụ làm theo (“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” – Vua xử bề tôi phải chết, bề tôi không chịu chết tức là không trung thành). Cho nên, đức Trung được xem là phẩm chất đạo đức hàng đầu của con người, nhưng chỉ hạn hẹp trong quan hệ Vua – Tôi. Còn khái niệm “Hiếu” trong Nho giáo được xem là cái gốc của nhân nghĩa. Khổng Tử đã từng nói: “Thực hành nhân phải lấy hiếu làm tiền đề”. Cho nên, đạo của người làm con là phải hết lòng kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ và đó là một phẩm chất đạo đức rất quan trọng trong mỗi người, song cũng chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình mà thôi. Trên cơ sở kế thừa quan điểm truyền thống đó, Hồ Chí Minh đã tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức, bổ sung và đổi mới khái niệm “Trung” và “Hiếu” với những nội dung mới, mang ý nghĩa cách mạng, đó là trung với nước, hiếu với dân.

“Trung với nước” là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên và phát triển của đất nước. Nước ở đây là nước của dân và là chủ nhân của đất nước. Hồ Chí Minh nói: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân… Bao nhiêu quyền hạn đều của dân,… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [20, 698]. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nước không đồng nhất với người đứng đầu đất nước mà họ chỉ là đại biểu của dân, do dân “ủy thác” để quản lý công việc chung của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích của dân, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của dân. Do đó, Người căn dặn, trung với nước là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,

kẻ thù nào cũng đánh thắng, chứ không phải trung thành với người đứng đầu đất nước như Nho giáo đã từng quan niệm.

Theo Hồ Chí Minh nội dung của “Trung với nước” cần phải được hiểu ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, trung với nước là phải gắn liền với yêu nước với yêu chủ nghĩa xã hội.

Tức là, phải chuyển hóa nội hàm khái niệm “Trung” từ quan niệm nước cũ sang quan niệm yêu nước mới, gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Thứ hai, trung với nước là phải biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của cách mạng lên trên hết, trước hết.

Bởi vì, ngoài lợi ích của dân tộc, của nhân dân, không còn lợi ích nào khác. Do đó, “vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng” [24, 289] và mỗi người phải “vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” [24, 285].

Thứ ba, trung với nước là phải quyết tâm phấn đấu để thực hiện và hoàn thành mục tiêu cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của cách mạng Việt Nam là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đó cũng là lý tưởng to đẹp của dân tộc ta. Người dạy: “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý lưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới [27, 109].

Thứ tư, trung với nước là phải thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có tránh nhiệm, nghĩa vụ xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.

Như vậy, khái niệm “Trung của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh tiếp thu, nhưng đã có sự bổ sung và phát triển sáng tạo với nội dung hoàn toàn mới, khác về bản chất với khái niệm “Trung” trước đây để trở thành tiêu chuẩn đạo đức cách mạng hàng đầu của con người Việt Nam.

“Trung với nước” phải gắn liền “Hiếu với dân”. Chữ “Hiếu” được Hồ Chí Minh chuyển hóa từ nội hàm đạo đức phong kiến, hiếu với cha mẹ sang nội dung đạo đức cách mạng. Mỗi người khi thực hiện chữ “Hiếu” cần phải hiểu rộng hơn nghĩa hiếu với cha mẹ là hiếu với dân. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa… Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy cũng cao đẹp hơn” [27, 564]. Do đó, đạo đức ngày nay không phải chỉ có hiếu với bố mẹ mình mà “hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ” [20, 681].

Theo Hồ Chí Minh, nội dung của “Hiếu với dân” cần phải được hiểu ở các khía cạnh như sau:

Thứ nhất, hiếu với dân là phải yêu dân, kính dân, tôn trọng dân, tin dân, lắng nghe dân, học dân và lấy dân làm gốc.

Sách Kinh Thư chép: “Dân vi bang bảng, bản cố bang minh” (Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên). Phát triển tư tưởng này, Hồ Chí Minh khẳng định: Trên thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân và trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Do đó, “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do dân làm chủ” [21, 536] và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”

[22, 385]. Nói chung, do địa vị cao nhất là dân và nước lấy dân làm gốc nên mỗi cán bộ , đảng viên, ai cũng yêu dân, kính dân, tôn trọng dân, tin dân và lắng nghe dân….

Thứ hai, hiếu với dân là phải đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, có trách nhi ệm với nhân dân, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thành của nhân dân; tổ chức và vận động nhân dân cùng thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Sinh thời, Hồ Chí Minh căn dặn: Thực hiện tốt trách nhiệm với nhân dân là phẩm chất quan trọng của người cán bộ, đảng viên, cho nên “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi;

nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; n ếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” [22, 590] và “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” [19, 56]. Tóm lại, “chúng ta phải thực hiện ngay:

1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân được học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó” [19, 159].

Thứ ba, hiếu với dân là phải ra sức đấu tranh để giải phóng cho nhân dân.

Đây là mục tiêu quan trọng của chuẩn mực đạo đức hiếu với dân và Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu nhất. Có thể nói, cả cuộc đời của Người luôn toàn tâm, toàn trí vì nước, vì dân và vì nhân loại mà cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, giải phóng giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự hợp tác hữu nghị và hòa bình giữa các dân tộc anh em. Đó là tất cả những gì Người muốn và ra sức phấn đấu để đạt được.

Yêu thương con người

Yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ tư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh xác định: “Yêu thương con người” là chuẩn mực đạo đức cách mạng cao đẹp nhất.

Theo Hồ Chí Minh, yêu thương con người là một phạm trù phản ánh tinh cảm rộng lớn, từ yêu thương đồng bào mình, dân tộc mình cho đến tất cả những ai trên thế giới đang bị áp bức, bóc lột, bất công và đang chịu nhiều cảnh đọa đày, đau khổ, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo… Tuy nhiên, thương yêu con người ở Hồ Chí Minh không phải là lòng thương hại, từ “bề trên” nhìn xuống, cũng không phải là lòng trắc ẩn của những người “đứng ngoài” nhìn vào, mà là sự đồng cảm của người cùng chung cảnh ngộ, để rồi cùng nhau tố cáo mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân,

kiên quyết vạch rõ âm mưu, lên án thủ đoạn dã man của chúng đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước chính quốc và thuộc địa.

Từ tình yêu thương to lớn đó, Hồ Chí Minh đã dân thân vào phong trào đấu tranh để giải phóng dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới, với “một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [19, 161]. Khi trả lời phỏng vấn baow Ganna – Cuba ngày 14/7/1969, Người khẳng đinh: “Tôi hiến dâng đời tôi cho dân tộc tôi” [24, 560].

Tình yêu thương con người theo Hồ Chí Minh còn được thể hiện trong mối quan hệ với bạn bè, với đồng chí, đồng đội và với tất cả mọi người trong quan hệ giao tiếp, ứng xử hàng ngày. Nó đòi hỏi mỗi người phải luôn có thái độ khắt khe, nghiêm khắc với chính mình, nhưng phải khoan dung và độ lượng với người khác; phải có thái độ trân trọng con người, biết tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy hết khả năng sáng tạo của con người, chứ không phải tìm cách hạ thấp, vùi dập con người. Thậm chí, đối với những người đã từng có sai lầm, khuyết điểm, lầm đường lạc lối, nhưng nay đã hối lỗi, cho dù đó là kẻ thù đã quy hàng thì chúng ta cũng phải sẵn lòng bao dung, độ lượng và biết tha thứ cho họ. Hồ Chí Minh thường dạy: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấy, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”. Đặc biệt, là lời căn dặn sâu sắc của Người trong Di chúc thiêng liêng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đây là tình thương yêu trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình một cách chân thành, nghiêm túc giữa những người có cùng chung lý tưởng, cùng phấn đấu cho sự nghiệp chung. Điều này hoàn toàn xa lạ với thái độ “dĩ hòa vi quý”, bao che sai lầm, khuyết điểm cho nhau, càng xa lạ với thái độ yêu nên tốt, ghét nên xấu, phe phái, bè cánh để rồi gây ra những hậu quả tổn thất khôn lường cho cách mạng và cho Đảng.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là một cụm các khái niệm thuộc phạm trù luân lý đạo đức, chỉ những đức tính cần thiết của những người có trách nhiệm trong triều chính các thời.

“Cần, kiệm, liêm, chính” vốn có trong các tác phẩm Nho giáo dưới thời phong kiến được các nhà tư tưởng phong kiến Việt Nam kế thừa và sử dụng. Những khái niệm này đã được Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc, kết hợp với những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, nhưng đưa vào thêm những nội dung và yêu cầu mới nhằm giải quyết những nhiệm vụ của lịch sử đặt ra.

Điểm khác biệt trong quan niệm của Hồ Chí Minh so với quan điểm của chế độ phong kiến nước ta ở chỗ: Người không chỉ đưa ra khái niệm, những câu chữ mà rất coi trọng việc thực hành những yêu cầu ấy. Hồ Chí Minh chỉ ra: “Bọn phong kiến ngày xưa đưa ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi của chúng. Ngày nay, đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân để lợi cho nước, cho dân” [21, 320]. Nói chung, trong thời đại mới, mối người cần phải hiểu và ra sức thực hành cần, kiệm, liêm, chính, bởi nó rất cần thiết đối với tất cả mọi người.

“Cần” là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai… dù khó khăn mấy cũng làm được. Do đó, “người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no. Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh. Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu” [20, 632].

Nhưng, “Cần” chỉ phát huy được sức mạnh khi biết tính toán, sắp đặt, bố trí công việc một cách có kế hoạch, vì chỉ như thế thì mới không tốn thời gian, hao sức lực và mất tiền bạc. Trong đó, công việc nào gấp thì thực hiện trước, việc gì chưa gấp, có thể hoãn được thì sau… Cho nên, “Cần” và “Chuyên” luôn đi đôi với nhau, tức là phải gắn liền với sự dẻo dai, bền bỉ. Nếu chưa nhận thức được đầy đủ như vậy, dẫn đến cố sức, sinh bệnh, rồi bỏ việc thì không phải là “Cần”. Tóm lại, “Cần” là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm, cả đời, nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình để làm việc cho lâu dài” [20, 634]. Tuy nhiên, thực hiện “Cần” mà chưa

“Kiệm” thì “làm chừng nào xào chừng ấy” [20, 636]. Vì vậy, cùng với “Cần”, mỗi người còn phải tuân thủ “Kiệm”.

“Kiệm” là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình: phải biết tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đến việc tiết kiệm tiền bạc, sức lực mà không chú ý đến việc làm sao có thể tiết kiệm được thời gian. Bởi lẽ, “của cải nếu hết còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồ, không thể kéo nó trở lại được nữa…

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm và cũng là Cần” [20, 637]. Song, Người cũng lưu ý, về tiền bạc, việc đúng lý phải tiêu mà không tiêu là bủn xỉn chứ không phải là tiết kiệm. Như vậy, xa xỉ, hoang phí sẽ sinh ra tham lam, do đó “Kiệm” rất quan trọng. Và, chỉ khi nào thực hành được chữ “Kiệm” thì mới có “Liêm” được.

“Liêm” là trong sạch, không tham lam” [20, 325]. Theo Hồ Chí Minh, trong khi đời sống của nhân dân còn đang gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn mà một ai đó, đặc biệt là cán bộ, đảng viên lại tham tiền, tham ăn của ngon, thích mặc thứ đẹp, tham danh vọng, muốn có được địa vị cao, ham đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi… thì đều nằm trong cái nghĩa là bất liêm. Cho nên, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành chữ “Liêm” để làm kiểu mẫu cho quần chúng nhân dân noi theo.

Nhưng, nhân dân cũng phải biết quyền hạn của mình mà cùng với chính quyền các cấp tăng cường kiểm soát cán bộ, đảng viên để giúp cho họ thực hiện nghiêm túc được chữ

“Liêm”. Muốn thế, pháp luật nghiêm minh, phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, cho dù kẻ ấy là ai. Có thể nói, một dân tộc biết thực hiện “Cần”, “Kiệm”, “Liêm” là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần và là một dân tộc văn minh, tiến bộ. Song, trong dân tộc đó, “một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn” [20, 643].

“Chính” là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Bất kỳ ai, một khi đã làm những việc thiếu đúng đắn, không thẳng thắn thì đều là Tà – người Ác; còn những ai thường xuyên ra sức thực hiện các công việc đúng đắn, thẳng thắn thì đều là Chính – người Thiện. Từ đó, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi: “Việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù có lợi

Một phần của tài liệu Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay (Trang 37 - 59)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(106 trang)