Bản chất và vai trò đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam

Một phần của tài liệu Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay (Trang 29 - 37)

1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

1.2.1 Bản chất và vai trò đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam

Bản chất của đạo đức cách mạng

Xây dựng và phát triển đạo đức là nhu tất yếu, khách quan của bất cứ xã hội nào, bởi đây là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân. Nó thể hiện một cách sâu sắc nhất tính nhân văn, nhân đạo, nhân bản của mỗi xã hội và mỗi con người. Thực tiễn cho thấy, khi con người được soi sáng bởi một lý tưởng đạo đức tiến bộ; khi sự hiểu biết về cái thiện, cái ác, về lương tâm, danh dự thường xuyên được nâng cao thì hoạt động của con người sẽ ngày càng hướng tới phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vì vậy, từ xưa tới nay, các giai cấp, các dân tộc, các thủ lĩnh, các lãnh tụ… ở mọi thời đại đều hết sức quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho mỗi thành viên trong cộng đồng, hướng họ tới những việc làm có ích cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Tuy nhiên, coi trọng đạo đức đến đâu, chú trọng đến những nội dung nào của đạo đức, đề cao những phạm trụ nào, đặt đạo đức trên cơ sở thế giới quan nào thì lại tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể và lợi ích của mỗi giai cấp, mỗi tập đoàn người trong xã hội.

Tiếp nối truyền thống coi trọng đạo đức của dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa tư tưởng về đạo đức của nhân loại, đồng thời căn cứ vào thực tiễn cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh hết sức chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đạo đức mới – đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam. Khi đề cập đến đạo đức cách mạng, Người thường dùng các thuật ngữ sau: “Đạo đức mới” [20, 252] “đạo đức cách mạng” [20, 252] “đạo đức cộng sản” [25, 679] “đạo đức tập thể” [25, 306] “đạo đức vô sản” [26, 375]…

Theo Hồ Chí Minh, gọi là “đạo đức mới” bởi vì “đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu” [20, 252] nó chưa hề xuất hiện trong lịch sử mà chỉ hình thành và phát tri ển cùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

Đạo đức mới khác hẳn với đạo đức cũ: Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đứng ngẩng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi của chúng. Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho dân theo để lợi cho nước cho dân ” [20, 252]. Như vậy, sự khác nhau căn bản giữa đạo đức cũ và đạo đức mới ở chỗ: Đạo đức cũ là đạo đức do giai cấp thống trị ở địa vị ông chủ đặt ra và bắt các thần dân – những người ở địa vị đầy tớ thực hiện. Còn đạo đức mới là đạo đức theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, được đặt ra để đại diện cho lợi ích của toàn thể quần chúng nhân dân lao động và dân tộc. Đạo đức đó thể hiện sự thống nhất căn bản về lợi ích, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Cán bộ, người lãnh đạo phải gương mẫu thực hiện đạo đức đó, vì chính họ xuất thân từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Với tư cách là cán bộ, họ không chỉ là người lãnh đạo, họ không chỉ là người lãnh đạo mà còn phải là người đầ y tớ thật trung thành của nhân dân, trong khi đó, nhân dân lao động không ch ỉ ở vị trí ch ịu sự lãnh đạo của Đảng, của các bộ mà họ còn có tư cách là người làm chủ trong xã hội. Nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mới có sự kế thừa nhiều quan niệm đạo đức cũ, nhưng luôn khác về bản chất so với những tư tưởng đạo đức cũ của giai cáp tư sản, địa chủ phong kiến hoặc trong các tôn giáo.

Gọi là “đạo đức cách mạng” vì đó là đạo đức phục vụ cách mạng, đạo đức mà người cách mạng cần phải có. Đó là đạo đức được nảy sinh và phát triển trong cuộc đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh của nhân dân ta. Theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang;

nhưng đó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Để có thể làm cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, người cách mạng phải có đầy đủ bản lĩnh cách mạng. Tuy nhiên, bản lĩnh cách mạng chỉ có thể được khi người

cách mạng có đầy đủ cả “đức” lẫn “tài”. Trong đó, đạo đức cách mạng là nền tảng tinh thần của người cách mạng.

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Hồ Chí Minh cho rằng nếu phải nói một cách ngắn gọn nhất, khái quát nhất thì “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấ u tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập của Chủ nghĩa Mác – Lêninm luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [24, 285].

Cũng như C. Mác, Ph. Ăghghen và V.I. Lênin, Hồ Chí Minh coi bản chất của đạo đức cách mạng chính là biểu hiện bản chất của giai cấp công nhân – giai cấp có sứ mệnh lịch sử vĩ đại làm cách mạng để cải tạo xã hội và cải tạo bản thân mình. Hồ Chí Minh khẳng định: “Người làm cách mạng phải thấy rõ điều đó mà đững vững trên lập trường của giai cấp công nhân để hết lòng, hết sức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cho giai cấp công nhân và cho toàn thể nhân dân lao động. Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [24, 285].

Mặt khác, trên con đường cách mạng khi nào mà chẳng có vô số kẻ địch và khó khăn cản trở cách mạng tiến lên. Đó là chủ nghĩa tư bản, bọn đế quốc và tay sai của chúng, là những cái cũ, lạc hậu, lỗi thời, phản động, chủ nghĩa cá nhân còn ẩn náu trong mỗi con người. Vì vậy, đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh còn là “vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có như thế mới th ắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng” [24, 287].

Đứng ở góc độ xây dựng một đảng cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu đảng viên nhất thiết phải có đạo đức cách mạng, có tinh thần ý thức giác ngộ, kỷ luật, có trách nhi ệm cao với Đảng, với nhân dân. Người nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đề u vì lợi ích của nhân dân. Vì vây, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn

đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân [24, 288].

Đứng ở góc độ quan hệ với quần chúng nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng sự nghiệp cách mạng là của quần chúng và Đảng chỉ vững mạnh khi có quan hệ gắn bó máu thịt với quần chúng. Cho nên, “đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng” [24, 290].

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “đạo đức mới” và “đạo đức cách mạng”

đều là khái niệm nói lên tính chất mới mẻ, tiến bộ và cách mạng so với đạo đức cũ. Từ đó, Người kêu gọi tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội Việt Nam ra sức phấn đấu xây dựng nền đạo đức mới trong một xã hội mới. Và, khi nói đến đạo đức mới thường là nói đến đạo đức cách mạng với những yêu cầu cao nhất mà mỗi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên và đoàn viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thực hiện gương mẫu trước toàn thể quần chúng nhân dân.

Vai trò của đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trong đến sự nghiệp xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng cho mỗi con người Việt Nam. Ngay từ năm 1925, vấn đề “tư cách người cách mạng” là chủ đề chính trong bài giảng đầu tiên của Hồ Chí Minh. Năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng thực hiện: Cần – Kiệm - Liêm – Chính” [19, 9] để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động” [19, 56]. Tiếp đó, trong thư gửi UBND các tỉnh, huyện, Hồ Chí Minh viết: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân,

chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [19, 8]. Đầu năm 1947, trong tác phẩm hỏi đáp về “Đời sống mới”, đề giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện lối sống mới, đạo đức mới nói chung, thức hiện “cần, kiệm, liêm, chính” nói riêng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới thì dân tộc nhất định phú cường” [22, 452]. Tháng 10 năm 1947, Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, trong đó có phần quan trọng là căn dặn mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng và cùng nhau quyết tâm chống lại những thói hư, tật xấu.

Đầu năm 1955, sau khi Chính phủ từ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Hồ Chí Minh đã viết bài “Đạo đức công dân” in trên báo Nhân dân để “giáo dục nhân dân làm tròn nghĩa vụ người công dân, người chủ nước nhà” [22, 569]. Tiếp đó, Người viết bài, “Đạo đức cách mạng” để phê phán những biểu hiện suy thoái về đạo đức của một số cán bộ, đảng viên đã “quên mất tác phong gian khổ phấn đấu…., xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo dức của người cách mạng, sa vào tham ô, hủ hóa và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân” [22, 575]. Sau đó, Hồ Chí Minh viết luôn bài “Tự phê bình và phê bình” mà Người coi là “vũ khí sắc bén nhất” để giúp cho cán bộ, đảng viên “sửa chữa khuyết điểm , phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng” [22, 576]. Năm 1958, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, trong đó, Người nêu lên bản chất và nội dung của đạo đức cách mạng, đặc trưng của chủ nghĩa cá nhân và phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân” [24, 282].

Năm 1961, phục vụ cho việc chỉnh huấn cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh có bài nói chuyện về vấn đề “Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa” với luận điểm quan trọng là: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa.

Đền ngày 3/2/1969, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó Người đặc biệt phê phán căn bệnh cá nhân chủ nghĩa và coi đó là một thứ giặc nội xâm rất nguy hiểm. Cuối cùng,

trong bản Di chúc để lại cho chúng ta trước khi trở về với cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta cần phải biết giữ gìn đạo đức cách mạng và chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên nói chung. Không những thế, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn hiện diện trong tất cả các vấn đề, trong mỗi dòng chữ mà Người để lại cho chúng ta, trong mỗi dòng chữ khi nói về nhân dân và khi kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Mỹ cho đến khi thắng lợi hoàn toàn; cũng như hiện diện trong điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể kết luận rằng, từ những bài giảng đầu tiên cho đến những lời căn dặn cuối cùng trong Di chúc, Hồ Chí Minh luôn dành một vị trí ưu tiên hàng đầu cho việc xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng cho mỗi con người Việt Nam.

Theo Hồ Chí Minh, mỗi người Việt Nam dù “ở cương vị nào, làm công việc gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng” [25, 5]. Tuy nhiên, để nâng cao nhận thức về đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam thì trước hết cần phải làm cho họ hiểu sâu sắc vai trò vô cùng quan trọng của đạo đức cách mạng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi con người Việt Nam. Người nói: “làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là sự nghiệp vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ” [24, 239]. Cho nên, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [24, 289] và nó cần thiết đến mức “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài gỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”

[20, 131]. Nói tóm lại, nhất thiết chúng ta phải hiểu sâu sắc rằng: Đạo đức cách mạng là cái gốc, là cái nền tảng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam. Và, chăm lo cho cái gốc, cái nền tảng ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, mỗi cá nhân trong xã hội Việt Nam.

Có phải như vậy là Hồ Chí Minh đã theo thuyết chủ nghĩa xã hội đạo đức? Hoàn toàn không phải như vậy, Người không bao giờ đặt hy vọng vào “lòng tốt” của thực dân, phong kiến, cũng như của các giai cấp bóc lột để kêu gọi sự thương cảm và ban ơn. Hồ Chí Minh cũng không bao giờ nghĩ rằng chỉ cần mọi người tu thân, tích đức là đất nước sẽ độc lập, dân tộc sẽ tự do, hạnh phúc; mà phải bằng cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạ o của Đảng Cộng sản thì mới có sụ được độc lập, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh đó thì đạo đức cách mạng là một vũ khí sắc bén nhất của người cách mạng.

Đúng như V.I.Lênin đã từng nói: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ta xã hội mới của những người cộng sản” [13, 369].

Hồ Chí Minh cho rẳng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” [25, 726] thì mới hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang của mình. Người thường nhắc lại ý của V.I.Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và của thời đại.

Nếu xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác – Lênin, những tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt Nam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Còn đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi con người cần phải có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho mọi người. Song, tùy theo từng thời kỳ cách mạng mà Người đề ra những yêu cầu đạo đức cách mạng sát hợp để mọi người phấn đấu, rèn luyện nhằm hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn, phức tạp hơn, từ đó mà giành thắng lợi càng to lớn hơn cho sự nghiệp cách mạng.

Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn là tư tưởng đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo. Cho nên, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả thực tế.

Người nói: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo

Một phần của tài liệu Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng và sự dụng đối với giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường cao đẳng công nghệ thủ đức hiện nay (Trang 29 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(106 trang)