ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp, so sánh trước – sau, không nhóm chứng
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Thư viện ĐH Thăng Long α: Mức ý thức thống kê, α=0,05, ⁄ =1,96
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thành vào năm 2014 về can thiệp châm cứu cho bệnh nhân rối loạn nuốt do đột quỵ não, tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện rối loạn nuốt được ghi nhận là p0 = 0,53 Với lực mẫu 1-β = 0,8, tỷ lệ của giả thuyết thay thế được xác định là pa = 0,7.
Ta tính được: cỡ mẫu n = 65
Chọn mẫu thuận tiện người bệnh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu trong thời gian tiến hành nghiên cứu để đủ 65 đối tượng.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm tại khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương, thời gian nghiên cứu từ 01/06/2022 đến 22/02/2023.
Quy trình nghiên cn
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán mắc ĐQN đều có triệu chứng rối loạn nuốt và đã được thăm khám cũng như hỏi bệnh theo mẫu bệnh án nghiên cứu chuyên biệt cho đề tài này (Phụ lục 1).
- Bệnh nhân được đánh giá RLN theo thang điểm GUSS tại thời điểm trước can thiệp (N0)
- Bệnh nhân được tập phục hồi chức năng nuốt với chế độ dinh dưỡng tại khoa Hồi sức cấp cứu
- Đánh giá kết quả chăm sóc tại thời điểm sau 15 ngày (N15)
Tiến hành can thiệp là quá trình quan trọng trong việc hướng dẫn và giám sát người bệnh đột quỵ não có rối loạn nuốt thực hiện các bài tập phục hồi chức năng và dinh dưỡng Các bài tập này giúp cải thiện khả năng nuốt và tăng cường sức khỏe cho bệnh nhân.
* Can thiệp gián tiếp (8 phút)
Kỹ thuật bù trừ là những phương pháp có khả năng cải thiện nhanh chóng và hiệu quả quá trình nuốt, đồng thời tạo cảm giác an toàn, tuy nhiên hiệu quả của chúng chỉ mang tính chất tạm thời.
Chỉ định: BN có rối loạn nuốt nặng
Hướng dẫn: Nằm ngửa với đầu nâng lên một góc khoảng 30 độ
Mục đích: Viên thức ăn dễ dàng di chuyển từ khoang miệng xuống họng, giảm nguy cơ trào ngược
Đầu ở tư thế trung gian hoặc nghiêng về bên bệnh (dưới sự hướng dẫn của KTV) và hơi cúi về phía trước
Vai hơi đưa về phía trước
Nâng đỡ tốt ở phần dưới cơ thể (sử dụng gối kê hoặc các dụng cụ hỗ trợ khác)
Nâng đỡ khuỷu tay hoặc giá đỡ trên bàn hoặc mặt bảng
Tay bên bệnh giạng ra và gập khuỷu
Khung chậu ở tư thế trung gian, gập 90 và hơi ngả về phía trước
Chân được đặt trên giá kê hoặc giá đỡ trên mặt sàn
Thư viện ĐH Thăng Long
Chậm trễ nuốt ở pha hầu
Giảm sự co lại của gốc lưỡi
Sát với thành sau hầu
Tăng khả năng bảo vệ đường thở
Gập cằm vào ngực trong quá trình nuốt
Tăng khả năng đóng lại của thanh quản
Đẩy gốc lưỡi về phia trước thành hầu
Làm hẹp đường vào thanh quản do đi chuyển nắp thanh thiệt về phía sau
Cẩn thận khi áp dụng cho người bệnh có khả năng kiểm soát môi k m
Quay đầu sang bên liệt
Yếu một bên thanh quản
Rối loạn chức năng cơ nhẫn hầu
Hướng dẫn: Quay đầu sang bên yếu như nhìn sang vai
Mục đích: Ngăn không cho viên thức ăn đi vào bên yếu do việc ép vào thành hầu bên liệt
Can thiệp trực tiếp trong 20 phút sử dụng các kỹ thuật điều trị nhằm tạo ra thay đổi sinh lý trong cơ chế nuốt Các bài tập điều trị này đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng nuốt.
- Kích thích xúc giác miệng (2 phút)
+ Sử dụng tăm bông tẩm nước chanh như một dụng cụ để kích thích, chia cung lợi của BN thành 4 gúc ẳ
Bắt đầu từ đường giữa của cung lợi phía trên, chà sỏt ẳ cung lợi bằng tăm bông tẩm nước chanh với lực mạnh về phía trước và sau, thực hiện 3 lần Sau đó, bỏ tăm bông và cho bệnh nhân 5 giây để nuốt Quay lại đường giữa và lặp lại 3 lần ở mỗi ẳ, thực hiện tổng cộng 6-10 lần mỗi liệu trình, 3 liệu trình mỗi ngày Phương pháp này nên được thực hiện không liên tục và trước mỗi bữa ăn Cần tránh di chuyển qua đường giữa xương hàm trên và dưới để không gây ra lắng cặn, đồng thời hạn chế kích thích về phía sau để tránh phản xạ nôn ọe.
- Kích thích xúc giác nhiệt (2 phút)
Thư viện ĐH Thăng Long
Kích thích cung khẩu cái hai bên bằng gương soi thanh quản lạnh hoặc tăm bông lạnh từ 3 đến 5 lần, sau đó nuốt khan Nhúng gương lạnh vào đá trong vài giây và lặp lại quy trình Thực hiện 3 đến 5 lần cho mỗi liệu trình, với 4 đến 5 liệu trình mỗi ngày, trước mỗi bữa ăn chính hoặc bữa ăn nhẹ.
- Các bài tập vận động miệng (6 phút)
Mục đích: tăng sức mạnh, độ bền cơ vân của lưỡi, môi, hàm Động tác lặp lại: thụ động, tích cực, đối kháng, lặp đi lặp lại
+ Tập vận động lưỡi (2 phút)
Đưa lưỡi ra trước càng xa càng tốt, lập lại nhiều lần giữu sao cho đầu lưỡi ở chính đường giữa cơ thể
Đưa lưỡi của bệnh nhân sang hai bên niêm mạc má, trong khi kỹ thuật viên dùng tay để kháng lại bên ngoài má Yêu cầu bệnh nhân sử dụng lưỡi để đẩy tay của kỹ thuật viên.
Nói các cung điệu khác nhau
Nói các từ âm kh(quả khế) hoặc âm l (la, la)
Yêu cầu bệnh nhân thực hiện bài tập đẩy hàm dưới ra phía trước tối đa có thể, giữ nguyên vị trí này trong 5 giây, sau đó trở về trạng thái bình thường và lặp lại quá trình.
- Các bài tập làm sạch họng và giảm tồn đọng
Nuốt gắng sức trong 2 phút là bài tập giúp cải thiện khả năng nuốt Để thực hiện, hãy thu thập nước bọt trong miệng vào giữa lưỡi, giữ môi thật chặt và tưởng tượng như đang nuốt một quả nho Cố gắng thực hiện động tác nuốt mạnh mẽ, với số lần tùy thuộc vào khả năng của từng bệnh nhân.
Tập nhóm cơ hỗ trợ nuốt trong 2 phút bằng động tác gập cổ giúp tăng cường cơ ức đòn chũm và bám da cổ Bệnh nhân nằm ngửa, cố định vai trên giường, nâng và gập đầu về phía trước, cố gắng nhìn ngón chân, sau đó nghỉ và lặp lại động tác.
+ Bài tập Masako (2 phút) Đưa lưỡi ra trước và giữ cố định giữa 2 hàm răng Thưc hiện động tác nuốt trong khi giữ cố định lưỡi tại chỗ
Mục đích là bệnh nhân nuốt với lưỡi ở 1/3 trước Tăng sự chuyển động của thanh quản ra sau
Bài tập Mendelsohn là một phương pháp hiệu quả để cải thiện chức năng nuốt Để thực hiện, đặt ba ngón tay giữa của tay vào vùng da dưới cằm và yêu cầu bệnh nhân nuốt Trong khi bệnh nhân nuốt, kỹ thuật viên sẽ nhẹ nhàng đẩy vùng họng của bệnh nhân lên cao nhất có thể Bài tập này giúp tăng cường vận động của lưỡi và họng, đồng thời cải thiện khả năng di chuyển của xương móng.
Bài tập Supraglottic giúp tăng cường khả năng khép thanh môn bằng cách thu thập nước bột trong miệng, hít một hơi sâu, giữ hơi thở và nuốt, sau đó thực hiện động tác ho Chế độ ăn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình cải thiện sức khỏe và chức năng nuốt.
Chế độ ăn quốc tế cho rối loạn nuốt theo hiệp hội dinh dưỡng hoa kỳ chia làm 4 mức độ:
+ Mức độ 1: Rối loạn nuốt – Nhão, đồng nhất, có độ kết dính cao, dạng pudding, yêu cầu nhai rất ít
+ Mức độ 2: Rối loạn nuốt – Mềm, Thay đổi về mặt cơ học Kết dính, ẩm, mềm, cần nhai một chút
+ Mức độ 3: Rối loạn nuốt – Mềm, Tiến bộ, thức ăn mềm đòi hỏi nhai nhiều hơn
+ Mức độ 4: Bình thường, không hạn chế, cho phép mọi loại thức ăn
+ Các mức độ chất lỏng:
2 Đặc nhẹ (Nectar): Si-ro/ nước hoa quả
3 Đặc vừa (Honey): sữa chua, mật ong, sinh tố bơ, xoài
4 Rất đặc (Pudding): sữa trứng đặc, caramen, thạch
1 Không sử dụng bất kỳ chất lỏng nào
Thư viện ĐH Thăng Long
2 Rất đặc: 3 thìa chất làm đặc với 200ml nước
3 Đặc vừa: 2 thìa chất làm đặc với 200ml nước
4 Đặc nhẹ: 1 thìa chất làm đặc với 200ml nước
Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bệnh nhân ĐQN được chẩn đoán có rối loạn nuốt
Lâm sàng Cận lâm sàng
Ngày 0: Đánh giá chăm sóc rối loạn nuốt bằng thang điểm GUSS trước can thiệp
Chăm sóc phục hồi chức năng nuốt và dinh dưỡng Đánh giá chăm sóc sau 15 ngày bằng thang điểm
Tuổi: Chia theo nhóm tuổi < 50, 50 - 70, >75 tuổi
Nghề nghiệp: Lao động trí óc và lao động phổ thông
Địa dư: Thành Thị, Nông thôn
Phân bố bệnh nhân theo thông tin sức khỏe người bệnh
BMI (Cân nặng và chiều cao)
Thể đột quỵ não: NMN, XHN
Phân bố bệnh nhân theo Glasgow
Vị trí tổn thương: Bán cầu não trái, bán cầu não phải, hai bán cầu
Đặc điểm mức độ rối loạn nuốt theo thang điểm GUSS
Tình trạng đặt sode dạ dày
Tình trạng yếu liệt nửa người
Tình trạng liệt dây VII
Tình trạng viêm phổi, hít sặc, suy dinh dưỡng
* Đánh giá sự cải thiện chức năng nuốt
Điểm GUSS trung bình trước và sau can thiệp
Mức độ rối loạn nuốt theo thang điểm GUSS trước và sau can thiệp
Nguy cơ hít sặc theo thang điểm GUSS trước và sau can thiệp
Khuyến cáo về chế độ ăn theo thang điểm GUSS trước và sau can thiệp
Sự cải thiện rối loạn nuốt theo thang điểm GUSS
Tình trạng đặt sonde dạ dày trước và sau can thiệp
Thời gian bệnh nhân được rút sode dạ dày
Sự cải thiện về viêm phổi do hít sặc trước và sau can thiệp
Sự cải thiện về BMI trước và sau can thiệp
Tỷ lệ các triệu chứng rối loạn nuốt trước và sau can thiệp với thức ăn đặc
Tỷ lệ các triệu chứng rối loạn nuốt trước và sau can thiệp với thức ăn lỏng
Thư viện ĐH Thăng Long
Tỷ lệ các triệu chứng rối loạn nuốt trước và sau can thiệp với thức ăn rắn
* Một số yếu tố liên quan đến sự cải thiện chức năng nuốt
Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tuổi
Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với bán cầu tổn thương
Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tình trạng đặt sode dạ dày
Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tình trạng nói khó
Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tình trạng liệt dây VII
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chăm sóc trên lâm sàng theo thang điểm GUSS
- Tiêu chuẩn đánh giá cải thiện rối loạn nuốt (tham khảo theo Đặng Thị Thanh Tú năm 2020)
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của chăm sóc rối loạn nuốt
Tốt Chuyển từ 2 mức độ trở lên
Khá Chuyển từ 1 mức độ trở lên
Không hiệu quả Kém Không chuyển mức độ hoặc biến chứng viêm phổi do hít sặc
- Thời gian rút sode dạ dày (tham khảo theo Đặng Thị Thanh Tú năm
+ Đánh giá kết quả chăm sóc trên thời gian rút sode dạ dày
- Tiêu chuẩn đánh giá theo thang điểm GUSS
Bảng 2.2 Bảng đánh giá kết quả thử nghiệm theo thang điểm GUSS Điểm Diễn giải Mức độ khó nuốt
20 Nuốt được với cả 3 dạng thức ăn : sệt, lỏng, cứng Không Rất ít
15-19 Nuốt được hai dạng thức ăn sệt, lỏng, khó nuốt với thức ăn cưng Nhẹ Thấp
10-14 Chỉ nuốt được thức ăn sệt, khó nuốt với thức ăn lỏng Trung bình Trung bình
0-9 Thất bại với thử nghiệm nuốt nước bọt cơ bản và khó nuốt với thức ăn dạng sệt Nặng Cao
Phương pháp xử nghiệm nuố
- Dùng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý số liệu
Để tính toán tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình với các biến định lượng, bạn có thể sử dụng phép kiểm t-student để kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm Ngoài ra, nếu dữ liệu không tuân theo phân phối chuẩn, phép kiểm định phi tham số Mann-Whitney là một lựa chọn phù hợp.
Whitney (khi các biến số định lượng không có phân phối chuẩn)
- Với các biến định tính: Dùng phép kiểm định x hoặc phép kiểm chính xác Fisher (khi tần số trong bất kỳ ô nào < 5)
- Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 0,05
3.2.10 Triệu chứng rối loạn nuốt trước và sau can thiệp với thức ăn sệt
Bảng 3.25 Triệu chứng rối loạn nuốt trước và sau can thiệp với thức ăn sệt
Nuốt trực tiếp với thức ăn đặc
Trước can thiệp Sau can thiệp p
Sau 15 ngày chăm sóc, triệu chứng rối loạn nuốt đối với thức ăn đặc đã cải thiện rõ rệt, với số lượng người gặp khó khăn khi nuốt giảm từ 5 người (chiếm 7,7%) xuống còn 1 người.
Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng chiếm 1,5%, trong đó số lượng bệnh nhân ho giảm từ 10 người (15,4%) xuống còn 4 người (6,2%) Triệu chứng chảy dãi cũng giảm từ 8 người xuống còn 1 người (1,5%), và triệu chứng thay đổi giọng nói giảm từ 6 người (9,2%) xuống còn 1 người Sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.2.11 Triệu chứng rối loạn nuốt trước và sau chăm sóc với thức ăn lỏng
Bảng 3.26 Tỉ lệ các triệu chứng rối loạn nuốt với thức ăn lỏng trước và sau can thiệp
Nuốt trực tiếp với thức ăn lỏng
Trước chăm sóc Sau chăm sóc p
Sau 15 ngày chăm sóc, tất cả các triệu chứng rối loạn nuốt liên quan đến thức ăn lỏng đã cải thiện Cụ thể, tỷ lệ người không nuốt được giảm từ 12 người bệnh, chiếm 18,5%, xuống còn mức thấp hơn.
Trong nghiên cứu, tỷ lệ các triệu chứng đã giảm rõ rệt: nuốt khó giảm từ 3,1% (2 NB) xuống 1,5% (1 NB), ho giảm từ 44,6% (29 NB) xuống 24,4% (16 NB), chảy dãi giảm từ 25 NB xuống còn 12 NB, và thay đổi giọng nói giảm từ 27,7% (18 NB) xuống 8 NB Những thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Thư viện ĐH Thăng Long
3.2.12 Triệu chứng rối loạn nuốt với thức ăn rắn trước và sau can thiệp
Bảng 3.27 Triệu chứng rối loạn nuốt với thức ăn rắn trước và sau can thiệp
Nuốt trực tiếp với thức ăn rắn
Trước can thiệp Sau can thiệp
Sau 15 ngày chăm sóc, tất cả các triệu chứng rối loạn nuốt đối với thức ăn rắn đều có sự cải thiện rõ rệt Cụ thể, triệu chứng không nuốt được giảm từ 33 NB xuống còn 16 NB, trong khi nuốt khó giảm từ 4 NB (chiếm 6,2%) xuống còn 3 NB (chiếm 4,6%) Bên cạnh đó, ho giảm từ 59 NB (chiếm 90,8%) xuống còn 22 NB (chiếm 33,8%), và chảy dãi cũng giảm từ 46 xuống còn 21.
NB chiếm 32,2% và thay đổi giọng nói từ 45 NB chiếm 83,1% xuống còn 27 NB
Sự thay đổi này có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Một số yếu tố liên quan đến sự cải thiện chức năng nuốt
3.3.1 Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tuổi của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tuổi
Có cải thiện Không cải thiện OR
Nhận xét: Ở nhóm tuổi < 65 tuổi, có 85,7% NB có cải thiện Ở nhóm tuổi ≥ 65 tuổi có
Trong một nghiên cứu với 51 bệnh nhân, tỷ lệ cải thiện được ghi nhận là 80,4% (41 bệnh nhân), trong khi 19,6% (10 bệnh nhân) không có cải thiện Đặc biệt, nhóm bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên có tỷ lệ cải thiện cao hơn 1,46 lần so với nhóm dưới 65 tuổi, tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với OR=1,46, 95% CI (0,28 - 7,61) và p > 0,05.
3.3.2 Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với bán cầu tổn thương của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với bán cầu tổn thương
Bán cầu cải thiện tổn thương
Có cải thiện Không cải thiện OR
Thư viện ĐH Thăng Long
NB điều trị có hiệu quả có tổn thương ở 1 bán cầu có hiệu quả chăm sóc ngang với NB có tổn thương ở 2 bán cầu, với OR=0,99, CI (0,27 - 3,54).p > 0,05
3.3.3 Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tình trạng đặt sode dạ dày của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa sự cải thiện chức năng nuốt với tình trạng đặt sonde dạ dày
Có cải thiện Không cải thiện OR
Qua bảng ta thấy tỉ lệ NB có cải thiện chiếm 71,1%, không cải thiện chiếm 96,3% sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05
3 3.4 Mối liên quan giữa sự cải thiện chăm sóc với tình trạng nói khó
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa sự cải thiện chăm sóc với trình trạng nói khó
Có cải thiện Không cải thiện OR
Theo bảng 3.31, nhóm không nói khó có tỷ lệ cải thiện cao hơn so với nhóm nói khó, lần lượt là 92,3% và 74,4% Tỷ lệ điều trị cải thiện ở nhóm không có tình trạng nói khó cao gấp 1,31 lần so với nhóm có nói khó, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với OR= 1,31; 95% CI (0,25 - 6,86), p >0,05.
3 3.5 Mối liên quan giữa sự cải thiện chăm sóc với tình trạng liệt VII
Bảng 3.32 Mối liên quan sự cải thiện chăm sóc với trình trạng liệt VII
Kết quả Cải thiện Tình trạng
Có cải thiện Không cải thiện OR
Qua bảng 3.32 thấy tỉ lệ NB có liệt dây VII cải thiện chiếm 95,5%, không liệt dây VII cải thiện đạt 74,4%
Thư viện ĐH Thăng Long
BÀN LUẬN
Kết quả cải thiện chức năng nuốt trước và sau can thiệp
4.2.1 Điểm GUSS trung bình trước và sau can thiệp
Thang điểm GUSS, được phát triển bởi Michaela Trapl và các cộng sự, cho thấy giá trị cao trong việc sàng lọc rối loạn nuốt và nguy cơ hít sặc với độ nhạy đạt 96,5% và độ đặc hiệu 55,8% Do đó, nhiều nghiên cứu đã áp dụng thang điểm GUSS để đánh giá và hạn chế sự tiến triển của rối loạn nuốt trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.
Theo bảng 3.16, điểm GUSS trung bình trước và sau can thiệp đã cải thiện rõ rệt, từ 14,38 ± 3,94 lên 17,54 ± 3,63, với độ chênh lệch là 3,15 ± 2,15 Sự khác biệt này giữa điểm GUSS trước và sau là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Thư viện ĐH Thăng Long
Theo bảng 3.20, kết quả cải thiện RLN trên lâm sàng theo GUSS cho thấy sự cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ bệnh nhân cải thiện đạt 81,5% Chỉ có 18,5% bệnh nhân không có sự cải thiện, tuy nhiên, nhóm này cũng ghi nhận sự tiến triển về số điểm khi đánh giá theo thang điểm GUSS.
Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Tú, điểm GUSS trung bình trước điều trị là 9,16 ± 3,42 và sau điều trị là 18,40 ± 3,20, cho thấy sự cải thiện rõ rệt với độ chênh lệch 8,82 ± 2,68 điểm Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc phục hồi chức năng nuốt và dinh dưỡng, giúp bệnh nhân cải thiện khả năng ăn uống và tránh sử dụng thực phẩm không phù hợp Nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng suy kiệt hoặc rối loạn chuyển hóa, ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ dinh dưỡng.
4.2.2 Cải thiện mức độ RLN và nguy cơ hít sặc theo thang điểm GUSS trước và sau can thiệp
Qua phân tích bảng 3.17 và bảng 3.18, chúng ta nhận thấy sự cải thiện rõ rệt về mức độ rối loạn nuốt (RLN) và nguy cơ hít sặc sau khi được chăm sóc Cụ thể, số bệnh nhân nặng giảm từ 12 (chiếm 18,5%) xuống còn 4 (chiếm 6,2%) Mức độ nhẹ cũng giảm từ 33 bệnh nhân (chiếm 50,8%) xuống còn 15 bệnh nhân (chiếm 23,1%) Đặc biệt, số bệnh nhân không có rối loạn nuốt sau chăm sóc đã tăng lên, cho thấy hiệu quả tích cực của quá trình điều trị.
Từ 0 NB lên 34 NB, tỷ lệ bệnh nhân chiếm 52,3%, cho thấy sự chuyển biến rõ rệt từ mức độ hít sặc thấp, trung bình và cao trước khi được chăm sóc sang nguy cơ hít sặc rất ít, đạt tới 50,8%.
Trong nghiên cứu, nhóm đã áp dụng các bài tập phục hồi chức năng nuốt và dinh dưỡng Tập nuốt thông thường được chứng minh là hiệu quả cho rối loạn nuốt Nghiên cứu Shaker cho thấy, trong hai nhóm bệnh nhân, nhóm nhận bài tập giả không có sự thay đổi chức năng nuốt, trong khi nhóm thực hiện bài tập thật cải thiện đáng kể độ mở của cơ thắt thực quản trên, giúp bệnh nhân có thể ăn trở lại Ngoài ra, Margareta đã chỉ ra rằng nuốt gắng sức làm giảm độ sâu khi có xâm nhập đường thở.
Masako Fujiu đã chỉ ra hiệu quả trong việc khắc phục đáy lưỡi và thành vách sau hầu Bài tập Mendelsohn, theo nghiên cứu của Karen M, đã cải thiện đáng kể quỹ đạo và thời gian chuyển động của xương móng Jeri A cho biết việc gia tăng nhận thức về cảm giác đã giúp cải thiện thời gian pha miệng, giảm thời gian trì hoãn ở hầu họng, cũng như thời gian vận chuyển qua miệng và ở hầu họng, đồng thời nâng cao hiệu quả nuốt Mariana S nhấn mạnh rằng tư thế bù trừ có lợi cho bệnh nhân có giai đoạn hầu kém, độ di động thanh quản hạn chế, và những người gặp khó khăn khi nuốt chất lỏng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2014), mức độ rối loạn nuốt được đánh giá bằng thang điểm MASA cho thấy 14,6% trường hợp nhẹ, 22% trung bình và 19,5% nặng Trong khi đó, Bùi Thị Hồng Thúy (2019) ghi nhận tỷ lệ rối loạn nuốt với 46,3% mức độ nhẹ, 41,5% mức độ trung bình và 12,2% mức độ nặng.
4.2.3 Khuyến cáo về chế độ ăn trước và sau can thiệp
Khuyến cáo chế độ ăn dựa trên điểm GUSS của bệnh nhân Đối với mức độ khó nuốt và nguy cơ hít sặc trung bình, bệnh nhân nên áp dụng chế độ ăn kiêng Nếu khó nuốt nhẹ và nguy cơ hít sặc thấp, chế độ ăn mềm, đặc là phù hợp Trong trường hợp không có khó nuốt, chế độ ăn bình thường được khuyến nghị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước khi chăm sóc, tất cả các bệnh nhân rối loạn nuốt đều có chế độ ăn riêng, trong đó 50,8% (33 bệnh nhân) ăn chế độ ăn mềm với mức độ khó nuốt nhẹ 30,8% (20 bệnh nhân) ăn chế độ ăn với khó nuốt trung bình, và 12 bệnh nhân gặp khó nuốt nặng phải ăn qua sonde dạ dày Sau 2 tuần phục hồi, 52,3% (34 bệnh nhân) đã chuyển sang chế độ ăn bình thường, trong khi chế độ ăn kiêng và ăn đặc mềm giảm Tình trạng rối loạn nuốt và dinh dưỡng của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, không ghi nhận trường hợp nào bị viêm phổi hay viêm phổi do hít sặc trong quá trình phục hồi chức năng nuốt.
Thư viện ĐH Thăng Long
Nghiên cứu của Warnecke và cộng sự chỉ ra rằng khuyến cáo chế độ ăn uống theo GUSS thận trọng hơn so với các khuyến cáo sau khi đánh giá nuốt qua nội soi Một trong những điểm mạnh của GUSS là sử dụng nhiều tính chất đồ ăn, bắt đầu với bánh pudding, nhằm giảm nguy cơ hít sặc xuống mức tối thiểu trong quy trình sàng lọc và cho phép đánh giá từng bước được phân loại Hơn nữa, GUSS có khả năng đồng thời sàng lọc rủi ro nuốt và đưa ra các khuyến nghị về chế độ ăn uống, tạo nên sự khác biệt giữa GUSS và các phương pháp sàng lọc khác.
Một số ý kiến cho rằng các khuyến cáo về chế độ ăn uống dựa trên GUSS có thể thận trọng hơn so với tình trạng thực tế của bệnh nhân, dẫn đến việc sử dụng sonde dạ dày thường xuyên hơn mức cần thiết.
Thang điểm GUSS, mặc dù không có độ đặc hiệu cao, nhưng rất dễ thực hiện và có thể được sử dụng để đưa ra khuyến nghị chế độ ăn cho bệnh nhân rối loạn nuốt, từ đó giúp an toàn hơn và giảm thiểu các biến chứng liên quan đến rối loạn này.
4.2.4 Tình trạng đặt sode dạ dày trước và sau can thiệp, thời gian người bệnh được rút sode dạ dày
Tỷ lệ bệnh nhân (NB) đặt sonde dạ dày trước khi chăm sóc là 58,5% (38/65) Sau khi chăm sóc, 19 NB được rút sonde dạ dày, chiếm 29,2%, trong khi 19 NB tiếp tục nhận dinh dưỡng qua sonde Không có bệnh nhân nào tiến triển nặng thêm trong quá trình chăm sóc dẫn đến việc đặt sonde dạ dày Sự khác biệt trong tình trạng đặt sonde dạ dày giữa trước và sau chăm sóc có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Qua bảng 3.22 thấy thời gian rút sode dạ dày trước 10 ngày chiếm 36,7% và sau 10 ngày chiếm 63,3% Kết quả này có sự khác biệt so với một số tác giả:
Theo Nguyễn Văn Thành (2014) ở 30 NB nhóm NC, có 9 NB đặt sonde dạ dày Số bệnh nhân được rút sonde trước 10 ngày là 3 NB (33,34%), sau 20 ngày có